Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Không tính Việt Nam:


10 quốc gia trả lương cao nhất & 10 quốc gia có lương tối thiểu cao nhất thế giới

10 quốc gia trả lương cao nhất thế giới
Mỹ, Ireland hay Luxembourg đang là những quốc gia có chế độ lương cho người lao động tốt nhất thế giới với hàng chục ngàn USD mỗi năm
Mức lương trung bình ở mỗi quốc gia là thước đo thể hiện sức mạnh tài chính cũng như mức sống của người dân nước đó. Đó có nghĩa là khi bạn có nhiều tiền hơn để chi tiêu hay tiết kiệm. Mặc dù vậy, lương cao không hẳn đã đồng nghĩa với một cuộc sống tuyệt vời, vì bên cạnh đó còn rất nhiều yếu tố để cân nhắc như thuế, an ninh, phúc lợi xã hội...
1. Hà Lan - 29.269 USD

Mặc dù thu nhập hàng năm lên tới 47.056 USD, các khoản khấu trừ bắt buộc tại quốc gia này lại lên tới 37,8%. Thực phẩm, hàng hóa, điện, máy móc, du lịch và hóa chất thống trị nền kinh tế ở Hà Lan. Ngoài ra, nó có cảng biển lớn nhất châu Âu nằm tại Rotterdam và vị trí kinh tế chiến lược gần Anh và Đức.
2. Hàn Quốc - 31.051 USD
Hàn Quốc là đất nước trả lương cao nhất trong khu vực châu Á và cũng là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới từ sau những năm 60 đến thập niên 90. Theo thống kê, Hàn Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ 6 thế giới và nhập khẩu lớn thứ 10 thế giới, do đó nước này có nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào thương mại quốc tế. Thu nhập trung bình ở đây chỉ là 35.406 USD mỗi năm, nhưng khoản khấu trừ lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ: 12,3%.
3. Nauy - 31,101 USD
Nauy là đất nước rất giàu tài nguyên với dầu, thủy điện, cá và khoáng chất. Đất nước này vận hành một hệ thống phúc lợi xã hội đầy đủ, hiệu quả và miễn phí - nhất là dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Chính phủ sở hữu cổ phần đáng kể trong mọi ngành nghề, Nauy cũng tự hào có tỷ lệ thất nghiệp thấp và năng suất lao động cao.
4. Canada - 35.662 USD
Đây là một trong số ít các quốc gia phát triển tập trung chủ yếu vào xuất khẩu năng lượng ròng với dầu mỏ và khí đốt. Trữ lượng dầu ở đây được chứng minh là lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ả-rập Xê-út. Nó cũng là đất nước xuất khẩu khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp lớn.
5. Vương Quốc Anh - 33.513 USD
Nghành công nghiệp dịch vụ ở đất nước này chiếm tới gần 75% tổng sản phẩm quốc nội. Ngoài ra, du lịch là lĩnh vực quan trọng khác của Vương quốc khi nó xếp thứ sáu trên toàn thế giới. Ngoài ra, các thành phố như London, Edinburgh cũng nổi danh là những trung tâm tài chính lớn nhất toàn cầu. Mặc dù vậy, chi phí khấu trừ bắt buộc ở nước này cũng khá cao, lên tới 25,1%.
6. Úc - 34.952 USD
Đất nước nằm ở châu Đại dương này đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ trong hơn 10 năm qua với mũi nhọn xuất khẩu. Công dân ở đây kiếm được khoảng 44.983 USD với khoản khấu trừ bắt buộc là 22,3%.
7. Thụy Sĩ - 35.471 USD
Quốc gia này có lĩnh vực sản xuất sôi động với các mặt hàng như dược phẩm, y tế, hóa chất hay các dụng cụ đo lường chính xác. Nền kinh tế của Thụy Sĩ cũng thiên về ngân hàng, bảo hiểm và là điểm đến lý tưởng cho các tổ chức quốc tế. Khoản khấu trừ bắt buộc ở đây là 29,4% - khá cao nên mặc dù tổng thu nhập hàng năm ở đây là 50.242 USD, người dân cũng chỉ nhận được khoảng 35.000 USD.
8. Luxembourg - 37.997 USD
Các lĩnh vực ngân hàng và tài chính chiếm phần lớn thu nhập của đất nước khi Luxembourg là trung tâm quỹ đầu tư lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ. Các công ty Internet lớn như Skype, Amazon đều có trụ sở ở đây. Theo đó, mặc dù mức thu nhập trung bình lên tới 52.847 USD, song khoản khấu trừ chiếm 28,1% đã khiến Luxembourg không có được vị trí thứ hai trong danh sách này.
9. Ireland - 41.170 USD
Ireland sở hữu nền kinh tế tri thức với các dịch vụ và công nghệ cao phát triển. Nó cũng có lực lượng lao động với học vấn cao và mức thuế thu nhập thấp - đứng thứ hai trong danh sách (18,9%). Do đó, tuy có tổng thu nhập là 50.764 USD, Ireland vẫn đứng cao hơn Luxembourg trong bảng xếp hạng.
10. Mỹ - 42.050 USD
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới, đó là nhờ nguồn tài nguyên được thiên nhiên ưu đãi kết hợp cùng cơ sở hạ tầng phát triển cao và năng suất lao động hiệu quả. Nó xếp thứ nhất trong danh sách nhập khẩu và thứ hai về xuất khẩu. Người dân ở đây cũng có thu nhập hàng năm cao nhất: 54.450 USD với khoản khấu trừ là 22.8%. 

10 quốc gia có lương tối thiểu cao nhất thế giới

Mặc dù chỉ là mức lương tối thiểu nhưng cũng đủ để cho rất nhiều người tại các quốc gia khác phải mơ ước.
10. Thụy Sĩ - 15.457 USD
Trên thực tế, Thụy Sĩ không quy định rõ mức lương tối thiểu trong luật của mình. Thay vào đó, nước này sử dụng thỏa ước tập thể giữa người lao động và nhà quản lý mà bao trùm gần như toàn bộ nền kinh tế.
9. San Marino - 15.707 USD
Người lao động ở San Marino kiếm được khoảng 7,04 Euro mỗi giờ, hầu hết họ phục vụ trong các lĩnh vực như dịch vụ tài chính, du lịch. Đất nước này có một nền kinh tế rất ổn định và sở hữu tỷ lệ thất nghiệp thuộc loại thấp nhất ở châu Âu.
8. New Zealand - 16.462 USD
Mới đây New Zealand đã ban hành một đạo luật quy định mức lương tối thiểu cho những người thuộc độ tuổi từ 16 đến 17 (khoảng 8,9 USD). Số tiền này sẽ được nâng lên khi họ đạt đến tuổi 18. Trong khi đó, luật pháp không cho phép sử dụng lao động dưới 16 tuổi.
7. Canada – 16.710 USD
Mức lương tối thiểu ở Canada phụ thuộc vào từng bang, song nói chung dao động từ 9,3 đến 10,7 USD mỗi giờ. Theo đó, đất nước này có nền kinh tế toàn cầu hóa và tương hợp rất cao với Mỹ và cũng là quốc gia có chênh lệch thu nhập thuộc loại thấp nhất thế giới.
6. Pháp - 17.108 USD
 Pháp có mức quy định rất chi tiết cho mức lương tối thiểu ở đất nước mình. Cụ thể, 9,4 Euro mỗi giờ lao động là con số thấp nhất được chấp thuận và mức lương cả năm được tính dựa trên cơ sở là người lao động tham gia đủ 7 tiếng làm việc mỗi ngày trong tuần.
5. Vương quốc Anh - 18.428 USD
Vào ngày 1//10/2011, Anh ban hành đạo luật về mức lương tối thiểu cho người lao động. Trong đó, người dưới 18 tuổi và người đã hoàn thành giáo dục bắt buộc sẽ nhận 3,68 bảng mỗi giờ, từ 18 đến 20 tuổi là 4,98 bảng và khi đạt đến 21 tuổi sẽ là 6,19 bảng.
4. Bỉ - 18.813 USD
Quy định về lương tối thiểu tại Bỉ có hiệu lực từ ngày 1/12/2012, dành cho những lao động trên 21 tuổi. Đặc biệt, nước này cũng chỉ rõ mức lương cho những người đạt 21 tuổi 6 tháng và 22 tuổi. Bên cạnh đó là rất nhiều khoản phúc lợi và phụ cấp hào phóng cũng được quy định chi tiết.
3. Ireland – 18.965 USD
Lần gần nhất mức lương tối thiểu ở Ireland được điều chỉnh là vào tháng 7/2007. Mỗi giờ lao động, người chủ phải trả cho người làm công ít nhất 8,65 Euro. Ireland cũng là quốc gia thu hút rất nhiều nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, do đó đây cũng là nơi rất nhiều tập đoàn toàn cầu đặt trụ sở chính.
2. Luxembourg - 19.426 USD
Có hiệu lực từ tháng 10/2011, cấu trúc lương tối thiểu ở Lucxembourg phụ thuộc vào kinh nghiệm, tuổi tác và sự trưởng thành của mỗi người. Ba cột mốc chính ở đây là người dưới 18 tuổi, người chưa có kinh nghiệm và những người có tay nghề cao.
1. Hà Lan - 23.029 USD
Cơ cấu tiền lương tối thiểu ở Hà Lan quy định người lao động 23 tuổi sẽ được nhận 66,77 Euro mỗi ngày, song số tiền trên sẽ bị giảm đi đáng kể từ 30 - 85% với người từ 15 đến 22 tuổi. Lưu ý rằng mặc dù các con số ở đây có thể thấp hơn Bỉ và Lucxembourg, Hà Lan lại trội hơn hẳn ở các khoản thưởng và phụ cấp bắt buộc, làm tăng cao đáng kể số lương trung bình hàng năm.
 
Vũ Vũ
Theo Therichest/ Infonet
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ Người họ Mai:

Mai Huỳnh


MÙA CỦA XƯA SAU


Em không dành cho anh mùa thu
Anh đã đi qua mùa hờ hững quá
Anh và em nay đã thành xa lạ
Thế thì thôi em giữ nắng cho mình.


Em không dành cho anh mùa Đông
Những ngày xưa và sau này cũng thế
Em sẽ đi qua mùa Đông quạnh quẽ
Và bản tình ca em sẽ hát cho người.


Em sẽ không dành cho anh mùa Xuân
Đừng dẫm lên trái tim nẩy mầm hoa lá.
Hạt tình yêu đâu thể là sỏi đá
Em an lành và tình sẽ sinh sôi.


Em sẽ bình yên nhẹ bước giữa đời
Mỗi ngày qua là mỗi ngày hy vọng
Dù bước chân đi trên đường rát bỏng
Em sẽ không dành mùa Hạ cho anh.


Em sẽ mỉm cười và em sẽ quên nhanh.
Bốn mùa đi qua em chẳng dành chút gì cho anh nữa.
Nồng ấm, ngọt ngào, mong chờ, nhung nhớ…
Em giữ riêng tặng... người sẽ là chồng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Eunsun Kim & Sébastien Falletti:

Tháng Chạp năm 1997 

Chương mở đầu
Từ gần một tuần qua, tôi đơn độc trong căn hộ lạnh lẽo tại Eundeok, ngôi làng nhỏ nơi tôi sinh ra ở Bắc Triều Tiên. Cha mẹ tôi đã bán hết tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ trừ một chiếc bàn thấp và một tủ ngăn vách, để mua thức ăn. Gạch lót sàn cũng đã bị bán đi, tôi ngủ ngay trên nền xi-măng, trong một túi ngủ tạm bợ làm bằng quần áo cũ. 

Trên các vách tường trơ trụi, chỉ còn lại mấy khung ảnh đặt cạnh nhau - chân dung « Chủ tịch vĩnh cửu » Kim Il Sung và tướng quân Kim Jong Il. Cả hai nhìn thẳng vào tôi. Nhưng đem bán các ảnh chân dung này sẽ bị xem là báng bổ, có nguy cơ bị tử hình.

Trời tối sẫm, dù vậy tôi vẫn đọc được những gì mình viết ra. Điện đóm không có, vả lại các bóng đèn đã biến mất từ lâu. Đêm nhẹ xuống sau buổi chiều tháng Chạp. Không còn lò sưởi nữa, nhưng tôi không thấy lạnh mấy, vì đã sức tàn lực kiệt. Tôi không có gì ăn từ nhiều ngày qua, tôi sẽ chết đói. Vì vậy mà tôi cố viết lại bản di chúc của mình. Tôi mười một tuổi.
***
Tôi đã quyết định như thế trên đường trở về nhà. Đó là lần thứ ba tôi đi tìm mẹ và chị Keumsun. Cả hai đã đi Rajin-Sonbong, thành phố lớn bên cạnh làng tôi từ sáu ngày trước để tìm thức ăn, vì chúng tôi chẳng còn gì để ăn ở Eundeok cả. Lấy hết can đảm, tôi băng qua chiếc cầu bắc qua sông, rồi men theo đại lộ chính đến bến xe.

Khách bộ hành rất hiếm hoi trên hè phố, nhưng tôi nhìn chăm chăm vào khuôn mặt tất cả những người đi ngang qua, sợ lỡ không trông thấy mẹ nếu bà quay về theo hướng ngược lại. Phía bên trái, tôi nhận ra cửa hàng bán mì mà tôi ưa thích biết bao, hồi trước ba tôi thỉnh thoảng có dẫn tôi đi ăn vào dịp lễ. Đằng xa là tiệm chụp hình mà chúng tôi đã từng đến chụp những tấm ảnh kỷ niệm gia đình.

 bến xe, người ta để cho tôi được gia nhập vào đám đông đang chen chúc phía sau một chiếc xe tải được sử dụng làm xe đò chạy tuyến Rajin-Sonbong, cách đó một giờ xe chạy. Tôi không phải trả tiền, có lẽ vì là con nít.

Trong suốt cuộc hành trình, tôi không ngừng hồi hộp quan sát những chiếc xe hơi và xe tải đang lưu thông trên đường để tìm ra khuôn mặt mẹ. Nhưng đến trạm cuối, tôi chỉ còn trơ lại một mình, đối diện với một hàng rào lính tráng. Trước mặt tôi, là những hàng rào kẽm gai có phóng điện bảo vệ lối vào Rajin- Sonbong.

Phải có giấy phép đặc biệt mới được vào trong thành phố. Thế nên tôi đành phải rình rập ở đó cả tiếng đồng hồ, canh chừng những bóng người đi ra, với niềm hy vọng và tâm trạng khủng hoảng. Không thấy cả mẹ lẫn chị Keumsun ra khỏi khu rào chắn. Thất vọng, tôi quyết định trở về nhà vì trời đã sập tối.

Lần này thì tôi chắc chắn rằng mẹ và chị không bao giờ trở về nữa. Chắc là có chuyện gì xảy ra rồi, hoặc là cả hai đã bỏ rơi tôi. Trái tim thắt lại, đầy cay đắng, tôi thầm trách mẹ. Lúc đi mẹ bảo là mẹ sẽ mang đồ ăn về « trong hai hoặc ba ngày nữa ». Và mẹ để lại cho tôi 15 won để sống tạm qua ngày. Cả một gia tài đối với tôi !

Thoạt đầu tôi rất phấn khích vì chưa bao giờ có nhiều tiền như thế. Đôi mắt tôi sáng rỡ. Một mình, y như người lớn, tôi hãnh diện đi đến jangmadang, ngôi chợ nằm gần bên sông. Tôi mua một miếng đậu hũ, rồi quay về căn hộ bé tí chỉ có một phòng của chúng tôi ở tầng một. Tôi thưởng thức từng muỗng nhỏ cái khối trắng mềm mại ấy, chia thành nhiều suất để có thể duy trì được đến khi mẹ trở về. Ngon ơi là ngon, tôi rất thích ăn đậu hũ !

Trong suốt hai ngày tôi ở nhà, quan sát những người qua lại thông qua khung cửa sổ nhìn ra đường. Từ khi ba mất hôm 11/11, nghĩa là cách đây vài tuần, hai chị em tôi đã nghỉ học do quá bận đi đào bới rễ củ và kiếm củi trên núi để kiếm sống. Hơn nữa nếu trở lại trường thì rất xấu hổ vì chúng tôi không còn thứ quần áo nào ra hồn. Tất cả đều đã bán hết rồi, nay chị em tôi phủ lên người những miếng giẻ rách tả tơi. Ra đường tôi rất sợ gặp phải bạn học cùng lớp.

Sau bốn mươi tám tiếng đồng hồ, cái đói bắt đầu giày vò tôi, và cả nỗi sợ hãi bị bỏ rơi. Từ khi nhấm nháp hết miếng đậu hũ, tôi chẳng còn gì để cầm hơi nữa. Mẹ thì vẫn chưa về ! Tôi nằm trên sàn nhà, nhắm mắt và nhẩm đếm trong đầu : chắc chắn là mẹ sẽ xuất hiện khi tôi đếm đến mười. Nhưng chẳng có gì thay đổi cả. Tôi bèn đếm từ 10 ngược trở lại 1. Cũng không hơn gì.

Rồi tôi tập nhịn đói cho qua bữa. Trên nền balcon, tôi tìm được mấy chiếc lá củ cải đầy bụi hồi đó chúng tôi mang phơi còn sót lại. Tôi nhặt vài chiếc ít bị héo nhất đem nấu lên thành món canh. Trong hai ngày, tôi sống sót với loại canh vô vị này…

Thêm hai ngày nữa trôi qua, tôi không còn có gì để cho vào miệng nữa, thậm chí tôi chẳng còn đủ sức lực để đi ra ngoài ăn xin hay ăn cắp…Cơ thể tôi quen dần với cái đói đang hành hạ, nhưng tôi bị kiệt lực. Chỉ còn lại trong tôi một sự mệt mỏi ngày càng thêm nặng nề. Tôi cố ngủ, người yếu như sên, có cảm giác như sàn nhà sẽ nuốt chửng tôi. Thật kỳ lạ, tôi cảm thấy như đang bị hút vào tâm trái đất vậy !

Bỗng chốc tôi hiểu rằng mình sẽ chết. Lúc mẹ và chị tôi trở về, có khi là đã quá trễ. Thế là hết. Từ khi nạn đói bắt đầu, tôi đã quen với cái ý nghĩ là chắc tôi không qua khỏi, cho đến nỗi tôi không còn sợ chết nữa. Tuy vậy tôi tự nhủ, tôi không thể ra đi như thế mà không để lại dấu vết gì…Tôi bỗng nảy ra quyết định soạn thảo di chúc. Tôi muốn mẹ biết được những gì tôi đã trải qua, biết rằng tôi đã đợi mẹ, đã làm mọi cách để đi tìm mẹ. Và nhất là tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi.

Trong ngăn kéo của chiếc bàn thấp, tôi tìm được một cuốn sổ nhỏ bằng giấy tốt và một cây bút chì, trong số những món đồ hiếm hoi còn chưa bị bán đi. Ngồi xổm trong bóng tối mờ mờ, tôi bắt đầu viết. Tôi kể lại nỗi gian truân của tôi, về ba chuyến đi tìm mẹ tận thành phố lớn, về sự tuyệt vọng. Tôi nắm chặt cây bút chì, viết đầy cả trang giấy.

(…) « Mẹ ơi, con đợi mẹ. Con chờ đợi đã sáu ngày trời rồi. Con cảm thấy con sắp chết. Tại sao mẹ không về với con ? »

Tôi khóc nức nở, nằm vật xuống trong cái bóng tối đang dần dần phủ dày lên người. Bỗng dưng tôi nghe có những tiếng động trên cầu thang, trái tim tôi đập loạn cả lên. Nhưng không, đó chỉ là những người hàng xóm trở về nhà họ…

Tôi đặt bản thảo lên một vị trí dễ thấy trên bàn. Rồi với gương mặt đẫm lệ, tôi nằm dài ra và nhắm mắt lại, tin chắc rằng mình sẽ chẳng bao giờ thức dậy nữa.

Chương 1 : Viết, như một chứng nhân

Tháng Ba 2011. Những cánh cửa tự động sập lại, đoàn tàu chuyển động, và đường ke chờ tàu lướt qua trước khi tôi bị nuốt chửng vào miệng hầm tối đen. Tôi dán người vào cửa kính, thấy lòng trống vắng. Những luồng sáng thoảng qua trên vách tối - một chiếc kính vạn hoa dạng quảng cáo, chiếu lên một câu khẩu hiệu mà tôi không đọc nổi. Tất cả đều diễn ra quá nhanh tại Seoul, ngay cả trong métro.

Tôi 25 tuổi, tên tôi là Eunsun.

Trông tôi cũng giống như các nữ sinh viên khác, và nhờ vóc dáng nhỏ nhắn, không ai nhận ra là tôi già hơn các bạn học. Chừng 40 phút nữa, tôi sẽ đến trường đại học Sogang, một trong các trường đại học nổi tiếng nhất của Hàn Quốc. Trường tôi trông không ấn tượng bằng trường Korea University hay Yonsei danh giá, nhưng tôi cảm thấy thoải mái như ở nhà mình với những dấu mốc quen thuộc, với các bạn bè tôi đã có được.

Thời khóa biểu trong ngày đã được định sẵn. Tôi sẽ ôn thi trong thư viện, với chiếc máy tính xách tay Samsung hai màu đỏ trắng, và đôi khi bấm nghịch chiếc iPhone có vỏ bao màu tím, để tìm ra các bạn bè đang ngồi ở quán cà phê Starbuck trong trường. Tôi thích uống caffe latte, vì đối với tôi thì cà phê expresso quá đắng. Rồi tôi quay lại thư viện, cố không ngủ gục trên chồng sách.

Tôi học ngành ngôn ngữ và văn minh Trung Hoa, bạn đọc sẽ hiểu lý do ở những chương sau. Tại Hàn Quốc, phải ganh đua rất dữ dội để có được điểm cao, nhưng tôi cố gắng tối đa. Rất ít bạn cùng lớp biết được rằng tôi không được đến trường trong nhiều năm trời, nên tôi phải phấn đấu để rút ngắn lại sự chậm trễ của mình.

Tôi thích học hành, nhất là vào học kỳ đầu tiên, khi các giảng viên đều mới mẻ và nhiệt tình nên học hỏi được rất nhiều thứ. Khoảng 10 giờ tối, tôi trở về căn hộ nhỏ nằm lạc loài trong trung tâm đô thị lớn, gặp lại chị Keumsum và mẹ.

***
Tác giả Eunsun Kim tại Seoul.
Seoul là một thủ đô khổng lồ có 15 triệu dân, đầy những tòa nhà chọc trời, với những xa lộ mênh mông băng ngang. Một dòng sông lớn - sông Hàn - chảy qua giữa thành phố, với những chiếc cầu cao đến chóng mặt. Nhưng vào mùa đông khi dòng sông đóng băng, gần như có thể đi bộ qua sông mà không cần đến cầu. Phía sau nổi bật lên những dãy núi nhọn hoắt, trên một đỉnh núi sừng sững một ngọn tháp truyền hình to lớn. Tháp Nam Sơn là biểu tượng của thành phố đã cưu mang tôi.

Tất nhiên là ở đây đôi khi bị kẹt xe nhiều tiếng đồng hồ dưới cơn mưa dầm tháng Bảy, và tiền thuê nhà hết sức đắt đỏ. Nhưng cuộc sống thì thú vị biết bao, thực tiễn biết bao, và trôi đi rất nhanh. Internet tốc độ cao có mặt ở khắp nơi. Mỗi góc phố, ngày cũng như đêm, đều có nơi giải trí. Tại khu phố sinh viên Sinchon, buổi tối tôi thường đi với bạn bè uống Maekju, một loại bia nội địa, trong những quán bar không đóng cửa bao giờ. Chúng tôi thưởng thức mực khô và choukoumi, ngon kinh khủng, có thể nuốt chửng cả miếng.

Nhưng các bạn không chịu tin lời tôi là các loại hải sản ở Bắc Triều Tiên ngon hơn, tuy điều đó là sự thật. Họ không hiểu tôi, vì tôi đến từ một thế giới khác. Và cái thế giới đó, họ thậm chí còn không thể tưởng tượng ra được.

Toa tàu lao với tốc độ nhanh làm rung chuyển dưới chân. Xung quanh tôi, các ajuma có mái tóc xoăn đang đọc những truyện dài nhiều kỳ, qua điện thoại di động có ăng-ten đã được gập lại. Ở đây, người ta gọi các bà nội trợ là ajuma. Vịn tay vào các thanh kim loại, các nữ sinh viên đi những đôi giày gót nhọn lơ đãng thả hồn theo nhạc, chiếc iPod đeo bên tai. Số khác chuốt lại mascara trên mi, rút ra những chiếc gương bỏ túi. Các cô làm ngơ trước người bán rong dĩa CD đang cố bán bộ sưu tập đĩa Frank Sinatra cho ông cụ trong toa, nhờ những thùng loa gắn trên bánh xe. Các ga tàu mênh mông lần lượt diễu qua một cách máy móc.

***
Métro Hàn Quốc làm cho tôi mơ mộng. Chìm vào kỷ niệm, tôi nhớ lại những nhà ga ở Bình Nhưỡng mà tôi đã được ba dẫn đến, cách đây lâu lắm rồi. Các nhà ga này sang trọng tuyệt vời, với những chùm đèn màu tím như trong phim. Ánh đèn néon nhợt nhạt ở đây không thể sánh kịp.

Tôi nhớ mãi chuyến đi đến thủ đô Bình Nhưỡng. Hồi đó tôi lên chín tuổi, đi với ba và chị Keumsun, còn mẹ muốn ở lại coi nhà. Chuyến đi thật là tuyệt, cho dù chúng tôi chả có gì để ăn. Không thấy có nhà chọc trời ở đó, nhưng chúng tôi nhìn thấy một khách sạn đang được xây dựng mà đã cao đến 150 mét. Trên đỉnh công trình này, máy móc và con người chao động, có vẻ bé nhỏ như những con kiến !

***
Chỉ còn ba trạm nữa là đến trường, tim tôi đập nhanh với bản hợp âm của toa tàu. Tốc độ này làm cho lòng tôi dậy sóng, nó nhắc nhở rằng tôi đến từ một hành tinh khác. Ở đó, phải mất hai ngày dài vô tận trên tàu hỏa để đến được Chongjin, nơi ông bà tôi cư ngụ, chỉ cách thành phố nhỏ Eundeok của tôi có 95 cây số. Một chuyến đi vắt cạn sức lực trong thời tiết giá lạnh ; chen chúc nhau như những con vật, chúng tôi tiểu tiện vào những hộp sắt vì sợ mất chỗ. 

Cùng một khoảng cách đó, tại Hàn Quốc tôi chỉ mất không đầy 20 phút, trên một chuyến tàu cao tốc tiện nghi. Ở Bắc Triều Tiên, chỉ có thủ đô mới được hưởng những tiện nghi hiện đại, như là trạm métro ở Bình Nhưỡng đã làm tôi lóa mắt.

Tôi hồi tưởng lại về tất cả những người tôi đã bỏ lại sau lưng, không có bất cứ tin tức gì kể từ ngày tôi trốn khỏi đất nước để tìm phương sống sót. Lúc đó tôi 11 tuổi, bụng trống rỗng, nhà cửa không còn. Các cô dì, chú bác, các bạn học cùng trường lớp của tôi có sống sót qua trận đói đó hay không ?

Trong toa tàu, một hành khách liếc nhìn tôi, như thể tôi là người ngoại quốc…Trong khi tôi đã làm mọi cách để trông giống như một thiếu nữ Hàn Quốc, với đôi giày cao gót, chiếc váy ngắn và áo blouson bó sát. Thực ra tôi sinh ngày 15 tháng 8 năm 1986 tại Eundeok, thành phố công nghiệp nhỏ bé thuộc tỉnh Hamgyong ở miền Bắc. Sau cuộc hành trình đầy sóng gió kéo dài 9 năm xuyên qua Trung Quốc và Mông Cổ, tôi đã thành công trong việc tìm được tự do. Tại Seoul, tôi có được hộ chiếu, không còn là một người không giấy tờ sống lén lút nữa, và bắt đầu một cuộc sống mới.

Tuy vậy, những kỷ niệm thường xuyên quay lại đè nặng lên tôi, và một câu hỏi luôn ám ảnh : Vì sao dân tộc Bắc Triều Tiên của tôi lại phải khổ đau đến như thế ?

Câu trả lời, tôi tìm được trong sách báo từ khi đến được nơi đây : đó là do một chế độ độc đoán vô nghĩa. Do sự điên cuồng của một triều đại khát máu, triều đại họ Kim, đã chà đạp trong biển máu tất cả những ai chống đối. Do một thảm họa kinh tế, hậu quả của một hệ thống cộng sản chủ nghĩa bị đẩy đến mức cùng cực. Tuy vậy các câu trả lời này không làm tôi hài lòng, không thể làm trái tim tôi dịu lại.

Nhất là, chúng làm cho tôi cảm thấy mình hoàn toàn bất lực. Dù chỉ sống cách vùng biên giới tua tủa những rào kẽm gai chia cách vùng đất quê hương tôi chưa đầy 40 km, tôi không thể làm gì để giúp đỡ các đồng bào mình, đang kiệt quệ vì nạn đói và sự trấn áp của một quyền lực nghiệt ngã. Bắc Triều Tiên đã trở thành một hố đen sâu thẳm đối với 22 triệu cư dân, bị những người trên hành tinh này, cũng như người anh em Hàn Quốc cùng dòng máu bỏ quên. Nỗi đau dâng ngập lòng tôi.

***
« Trạm Sinchon ».

Giọng nói máy móc xé toang sự im lặng trong toa tàu, kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ. Tôi thất thểu bước xuống bến tàu, tìm lối ra, leo lên những bậc cầu thang như một cái máy. Tôi quyết định rằng kể từ lúc này, một khi chui lên mặt đất, tôi sẽ không còn giữ thái độ thụ động nữa. Không thể kéo dài tình trạng này !

Tôi cần phải kể lại câu chuyện của mình. Để quá khứ đáng sợ không trôi vào quên lãng, để nói lên tiếng nói của hàng triệu người Bắc Triều Tiên đang chết dần chết mòn từng ngày trong im lặng. Và để tố cáo sự khổ đau của hàng trăm ngàn người đã từng cố thoát khỏi địa ngục như tôi, nay đang trốn chui trốn nhủi ở Trung Quốc. Hai mươi hai ngàn người đã đến được vùng đất hứa Hàn Quốc. Và ở đây, chúng tôi bị xem như những công dân hạng hai, trong khi sai lầm duy nhất của chúng tôi là đã chối từ nguy cơ bị chết đói.

Vì những người anh em Bắc Triều Tiên của tôi không có quyền nói lên tiếng nói, tôi sẽ nhân danh họ mà viết. Tôi tin rằng đến một ngày nào đó, hai nước Triều Tiên sẽ được thống nhất, tuy phức tạp, nhưng rồi cũng sẽ đạt được. Để thành công trong việc hợp nhất, chúng tôi cần có sự giúp đỡ của toàn thế giới. Nhưng nếu muốn tìm ra giải pháp, thì cần phải hiểu được nguồn cội của cái ác.

Tôi đã khám phá được một số, cùng với mẹ và chị, vào cái ngày đáng nhớ mà tôi cứ ngỡ mình sẽ thở hơi cuối cùng.




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Bách Việt: Trung Quốc đùa với lữa (*)

Bách Việt: Trung Quốc đùa với lữa (*) Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÁCH VIỆT blg:


5 quốc gia nhỏ nhất thế giới

1. Công quốc Monaco: diện tích: 1,95km2
Nằm lọt trong lòng nước Pháp và bên cạnh bờ biển Địa Trung Hải, Monaco là quốc gia độc lập với diện tích nhỏ thứ hai trên thế giới. Được thành lập từ năm 1927, Monaco nổi tiếng với những ngôi nhà chọc trời san sát, những khu vui chơi giải trí sầm uất và sự xuất hiện dày đặc của những siêu xe đắt tiền trên đường phố.
 
 với phong cảnh đẹp như tranh vẽ.
 
Cảng Monaco là một trong những nơi tập trung số lượng
du thuyền hạng sang nhiều nhất thế giới.

Đất nước nhỏ bé này thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm bởi cảnh đẹp như tranh vẽ và dịch vụ du lịch hoàn hảo. Bạn sẽ không bao giờ thấy mỏi chân khi đi bộ thăm thú nơi đây bởi hệ thống thang máy và thang cuốn sẽ giúp bạn vượt qua những ngọn đồi dốc một cách dễ dàng. Người dân Monaco có một mức sống tương đối cao nên đi liền với đó là một gu thẩm mỹ tuyệt vời. Vì vậy, hãy ăn mặc thật thông minh và tinh tế khi du lịch Monaco nếu bạn không muốn nổi bật một cách “bất đắc dĩ”.
Lung linh về đêm.

2. Cộng hòa Malta:  diện tích 316km2
Malta nằm ở giữa biển Địa Trung Hải, gần Liban và Tunisia. Đây là một điểm du lịch quốc tế với nhiều khu giải trí và di tích lịch sử, bao gồm 9 di sản thế giới được UNESCO công nhận.
Nổi bật nhất trong số đó là quần thể đền Megalithic với lối kiến trúc được xếp loại cổ nhất thế giới.

Một phần quần thể đền Megalithic.
Bạn sẽ chẳng bao giờ phải lo ngại chẳng có gì để giải trí khi đến thăm đất nước này vì các lễ hội diễn ra quanh năm suốt tháng, đặc biệt là vào mùa hè. Các lễ hội nổi tiếng nhất phải kể đến như Lễ hội Ẩm thực Địa Trung Hải, Lễ hội pháo hoa Malta, đó là chưa kể đến Liên hoan nhạc Jazz.

Du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời khi đi vòng quanh
thành phố trên những chiếc thuyền như thế này.

Malta đẹp như một thành phố cổ tích.

Những ngõ nhỏ dốc đặc trưng cho Malta.

Khi không còn sức tham gia các cuộc vui nữa, bạn có thể đi lang thang tới những hòn đảo không người ngay kế bên hoặc những ngôi làng của người Malta để tìm hiểu về cư dân bản địa.

Malta tuyệt đẹp khi nhìn ra biển.

3. Vương quốc Liechtenstein: diện tích  160km2
Liechtenstein là quốc gia nói tiếng Đức nhỏ nhất thế giới, nằm tiếp giáp Thụy Sỹ ở phía Tây và Áo ở phía Đông. Liechtenstein có dân số khoảng 35.000 người. Đây là nước duy nhất trên thế giới nằm hoàn toàn trong dãy núi Alpes, được dãy núi này ôm ấp “che chở” cả hai mặt.

Nếu bạn muốn thử được làm “vua một cõi”, hãy đến với Liechtenstein. Với chi phí du lịch khoảng 40.000 bảng Anh/đêm (tương đương 1,3 tỷ VNĐ/đêm), dãy núi Alpes cao vời vợi, những thung lũng xanh tươi và lâu đài lãng mạn của vương quốc Liechtenstein… sẽ dành cho bạn.

Đến với Liechtenstein, bạn sẽ có cơ hội trở thành “vua một cõi”.

Thậm chí, bạn còn được tổ chức diễu hành và đặt tên cho một con phố bất kì ở nơi đây. Các khách hàng muốn tận hưởng trải nghiệm đặc biệt này bắt buộc phải thuê tối thiểu 2 đêm và đặt trước 6 tháng.

4. Maldives: diện tích: 298km2
 
Quốc đảo Maldives được ví như chuỗi ngọc quý nằm trên Ấn Độ Dương. Được hình thành từ những rặng san hô khổng lồ và nằm cách xa đất liền, du lịch chính là nguồn thu nhập chính của đất nước nhỏ bé này.

Một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới – Maldives.

“Đặc sản” nơi đây chính là lặn biển, nhưng câu cá ban đêm cũng là một dịch vụ thu hút phần lớn du khách đến với Maldives. Các quần đảo thuộc Maldives là một trong những địa điểm trăng mật phổ biến của các ngôi sao trên thế giới. Và dĩ nhiên, điều đó có nghĩa là bạn sẽ phải bỏ ra một số tiền không nhỏ nếu muốn trải nghiệm toàn bộ những dịch vụ xa hoa trên quốc đảo nhỏ bé này.

Maldives từ lâu đã trở thành địa điểm nghỉ dưỡng của
rất nhiều ngôi sao nổi tiếng thế giới.

5. Cộng hòa Nauru: diện tích 21km2
 Nauru là một đảo quốc hình quả trứng nằm giữa Thái Bình Dương, cách quốc gia láng giềng Úc khoảng… 4.000km. Những du khách châu Âu đầu tiên đặt chân đến Nauru đặt tên nơi đây là “hòn đảo dễ chịu” bởi nguồn tài nguyên thực vật dồi dào và sự thân thiện của người bản địa. Sau này, nguồn tài nguyên đã bị khai thác cạn kiệt do sự yếu kém về quản lý của người dân bản địa.


Tuy không “hoành tráng” bằng các quốc gia khác song Nauru
vẫn có cho mình những bản sắc riêng biệt.

Ngôn ngữ giao tiếp chính ở đây là tiếng Nauruan, nhưng bạn đừng ngần ngại cầm hộ chiếu lên, gõ cửa quốc đảo Nauru bởi bất cứ ai trên đảo cũng có thể giao tiếp tiếng Anh vô cùng lưu loát.
Tận hưởng sự hoang sơ của thiên nhiên trên một quốc đảo “tí hon”, chắc hẳn sẽ là một trải nghiệm thú vị và hiếm có trong đời, nhỉ!

Nguồn: sưu tầm


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỗi người một cách


Trần Nhã Thụy 'nhiều chuyện' khi viết tiểu phẩm

Khác với vẻ ngoài im ỉm, ít nói, Trần Nhã Thụy với bút danh Hai Đầu Méo, có đủ chuyện để kể ở cuốn sách 'Váy ơi là váy'.
Tên sách: Váy ơi là váy
Tác giả: Hai Đầu Méo (Trần Nhã Thụy)
NXB Hội nhà văn và Phương Nam ấn hành
“Khi đọc lai rai những tiểu phẩm ký bút danh Hai Đầu Méo, tôi không tin là gã”. Đó  là sự ngạc nhiên của Lê Minh Quốc khi phát hiện, hóa ra những bài tiểu phẩm Hai Đầu Méo mà anh đọc bấy lâu nay lại chính là của gã trai anh vẫn hay gặp: Trần Nhã Thụy.
Phát hiện ra điều này, Lê Minh Quốc cho rằng, nói "văn là người" là trật lất. Ít ra trong trường hợp của gã Hai Đầu Méo. "Thoạt nhìn bản mặt của gã, tôi luôn sực nhớ đến cái tựa rất oách của nhà văn bậc thầy Nam Cao: 'Cái mặt không chơi được'. Hoặc nói như ngôn ngữ của thời 'Sát thủ đầu mưng mủ' là chán như con gián. Ai đời, trong những cuộc trà tam tửu tứ, thiên hạ đua nhau huyên thuyên ba hoa chích chòe, tranh nhau tào lao xích đế thì gã cứ ngồi ngậm câm như thóc”, Lê Minh Quốc tiếp tục bình luận tếu táo về tính ít nói của Trần Nhã Thụy.
hai-dau-meo-jpg-1367312388_500x0.jpg
Bìa cuốn "Váy ơi là váy".
Đúng là làm sao Lê Minh Quốc có thể ngờ được Hai Đầu Méo lại là Trần Nhã Thụy cơ chứ. Bởi bản thân "gã" này sau mấy năm đọc lại tiểu phẩm của mình cũng không nhận ra đấy là những tiểu phẩm do chính mình viết.
Thử nghe Trần Nhã Thụy lý giải về bút danh Hai Đầu Méo: “Tại sao là Hai Đầu Méo? Vì tôi vốn thứ Hai, từ nhỏ đã sở hữu một cái đầu hơi... móp méo, nên khi nghĩ bút danh cho mục Tiểu phẩm (trên báo) tôi đã lấy cái tên nghe ngồ ngộ này. Thêm nữa, vì đây là tiểu phẩm châm biếm, nên phải được tư duy bằng cái đầu hài hước và hơi... méo mó một chút”. Thế đấy!
Cuốn Váy ơi là váy gồm 46 tiểu phẩm của Hai Đầu Méo bám sát với thời sự mỗi ngày. Từ chuyện trong nhà ngoài ngõ, đến chuyện vi mô, vĩ mô, thể hiện qua các tiểu phẩm: Ăn tết ở phố... Vui thật!, Bà già Noel, Bí quyết sách Best Seller, Bờ mông cực buồn, Chửi... Giỏi, Chuyện tình thời… Lô cốt, Con đường... Mau đẻ, Đời sống... Lên cao!, Hạnh phúc thời tăng giá, Khi thi sĩ thi Game show, Oan như... Mắm tôm, Triển lãm... Tội ác các ông chồng, Xóm Hô - Li – Út, Váy ơi là váy…
Các nhân vật của anh cũng xuất hiện với những cái tên cực méo mó, như: Văn Tèo, Thị Hợi, Văn Tóp, Văn Teo, Thị Búp, đại gia Tý Tửng, Bảy cà rem, Trần Văn Mười Bảy, Chín Cà lăm, nhà văn Xèng, đạo diễn Lé Ròm, thi sĩ Tủn, chủ bút của một tờ báo thì có tên Văn Nhất Định Mới… Nhân vật của Hai Đầu Méo quan niệm về cuộc đời khác hẳn mọi người. Hãy nghe Bảy cà rem quan niệm: “Đời như cây cà rem nhiều khi vừa mát vừa lạnh, vừa giấu bên trong nhưng cũng phải thò ra ngoài, thấy thèm thì phải ăn, nếu không ăn thì sẽ bị… chảy nước” (Bí quyết sách best seller).
Phố xá hiện trên trang viết của anh với kẹt xe, ngập nước, nhà sập, cầu nghiêng, đào đường, lô cốt. “Dân thành phố vốn đã quen với cảnh đào đường rồi. Đường này đi không được thì băng đường khác, chịu khó… lội bùn, vượt chướng ngại vật rồi thì cũng tới nơi”. Và đi xe đạp không chỉ tiết kiệm, bảo vệ môi trường mà còn có rất nhiều cái hay: “Hễ gặp chỗ nào kẹt xe là vác lên vai mà… vượt phố”. Khổ nhất là các bà mẹ trẻ: “Sáng chạy ra đường liền bị kẹt xe 'đỉnh cao', chiều đi làm về lại bị ngập nước 'đỉnh cao', cuối tuần đi siêu thị thấy hầu bao thâm hụt 'đỉnh cao', lâu lâu soi gương thấy nhan sắc hao hụt 'đỉnh cao'… Vậy thì thử hỏi làm sao không tắt sữa cho được” (Đời sống lên cao).
Cảnh phụ huynh chen chân, xếp hàng nộp hồ sơ nhập học cho con được Hai Đầu Méo cho đó là dịp hiếm hoi để ôn lại kỷ niệm dấu yêu một thời bao cấp: “Mọi người hồi tưởng lại những kỷ niệm thời họp thôn ở sân phơi hợp tác xã. Tiếng đập muỗi, tiếng ca cải lương, tiếng người la mất dép, tiếng đánh rắm… khiến ai nấy đều thấy lòng xao động. Ôi dễ gì mới có dịp như thế này để ôn lại kỷ niệm làng quê xưa” (Đời nghèo càng vui).
Nói về giá cả cứ thay đổi từng giờ theo kiểu “phi cơ cất cánh”, Hai Đầu Méo cho rằng nó lợi lắm chứ chả chơi. Số là cái sự tăng giá đã góp phần “giữ gìn hạnh phúc gia đình” anh lắm lắm. “Sống trong thời tăng giá em thấy gia đình trở nên hòa thuận ấm cúng hơn. Đêm đêm em ngồi dạy cho con gái học may vá, thêu thùa, còn đấng chồng với con trai thì huỳnh huỵnh phía sau bếp luyện võ. Học may vá để mai mốt quần áo có rách thì còn tự biết mà vá. Tăng cường sức khỏe để nếu có thất nghiệp thì đi làm bốc vác kiếm sống. Nói chung gia đình trở nên đoàn kết thương yêu nhau rất nhiều”.
Việc tăng giá bây giờ đã trở thành một bài ca hay đáo để, có vần có vè, có nhạc điệu hẳn hoi: “Học phí lên cao, viện phí lên cao và các khoản thu phí đều… lên cao… lên cao!... trong khi mọi thứ lên cao thì… lương lại rất thấp… rất thấp”.
Cái sự “đời sống lên cao” tới mức… giật lùi khiến người đọc cười đến chảy nước mắt. Chỉ có một số ít không cười vì cảm giác bị gã này “chơi xỏ”.
Ngân Hoa


















































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không là mùa thu:


CHỐNG CÁCH TÂN

Trần Nhã Thụy có một kiểu viết tưởng không khó đọc, nhưng lại kén độc giả, đúng hơn là “kén tâm trạng đọc” của độc giả. Một kiểu viết không đập ngay vào trí não từ những chữ đầu tiên, không làm sửng sốt, thán phục ngay, không khiêu khích, lại cần đọc chậm và kĩ, đôi lúc đọc cũng muốn “sốt ruột”.
Tôi từng đọc “Sự trở lại của vết xước”, một ít tạp văn trong “Cuộc đời vui quá không buồn được”, một đôi truyện trong “Chàng trẻ măng ở phố treo đầu” với tâm thế nhẹ nhàng. Vài cuốn sách của Trần Nhã Thụy mà tôi có nằm đâu đó im vắng như bao con người ta không đủ cơ hội biết tới trong cuộc sống. Tôi cứ hình dung một kẻ lạc giữa phố mà suy tư mãi, kẻ lạc giữa phố mà lại phải/vẫn bám vào phố để sống, như thể hắn phải tập luyện cách đi chậm lại để lắng nghe mình sống, để tìm những khoảng vắng của mình.
Mấy năm trước, quả tôi không có tâm trạng đọc kiểu văn chương chậm rãi như thế. Những người viết trẻ thường thích những vẻ dị biệt, càng dị biệt, quái, lạ càng dễ làm họ phấn khích.
Thật lâu sau tôi mới đọc văn chương Trần Nhã Thụy, cả truyện ngắn, cả tản văn, như một thứ quà tặng của thưởng thức. Lần đầu đọc “Băng đầu trọc” (trong tập truyện ngắn Mùi), tôi có cảm giác về sự “phát hiện” một tác giả. Tôi khoái cái đầu trọc của thằng nhỏ chìa ra ngoài trời mưa, cái tông đơ của gã thợ hớt tóc lướt trên đầu mà mỗi lướt đi như một “cú thoát” nhẹ bỗng. Khi không đợi được ngạc nhiên, tôi lại được ngạc nhiên. Tôi nghĩ một nhà văn có thể cho ra đời những cuốn sách không thật khác trước, mà vẫn đáng được đón nhận.
***
Quan trọng với một người viết là nhu cầu tìm kiếm cái bản ngã thực sự của mình – ai cũng có thể nói vậy, nhưng kẻ nào làm chủ được cuộc tìm kiếm đó? Ai là kẻ kiên nhẫn để tìm một con đường làm chủ được sự tìm kiếm đó? Tôi cho rằng đó là một điều thiết yếu với mỗi cá nhân người cầm bút. Tất nhiên, có thể phải loại ra những kiểu văn chương không thật sự cần đến cái bản ngã của người viết: những kiểu truyện cần óc tổ chức, trí thông minh hơn là bản ngã, như trinh thám, và những dạng thức của văn chương tuyên truyền/giáo….
Với một tâm thế đọc khác xưa, tôi đọc tập Mùi một cách thích thú, như tự nhiên đi lạc vào vùng gió trời, tự nhiên được thưởng thức một thứ của nả ý vị. Những truyện ngắn trong Mùi tặng người đọc nhiều khoảng vắng, những khoảng vắng ắt là cách đưa hắn/ta đến gần hơn với văn chương. Lúc này, tôi nghĩ lại “vết xước”, sự trở lại của/với vết xước ắt có thể đọc như một ẩn dụ hay, dù tôi không thật hứng thú với việc sắp đặt các ẩn dụ (cụm từ “sự trở lại” làm cho ẩn dụ này điệu đà hơn, bớt bay nhảy ngẫu hứng). “Vết xước“ là cuộc đi tìm những dấu tích, những phế liệu của tâm hồn, có thể lại là cái chúng ta cần thiết hơn hết. Cái khéo léo của các trang viết làm tôi bớt thích, nhưng tôi yêu vẻ âm u, chất mơ mộng thầm kín, nỗi sầu muộn cố hữu mà không cảm thương, những hoài niệm tuổi thơ và tuổi trẻ không dứt song hành với niềm yêu mến và cái cười mỉm với hiện tại chìm lắng nơi trang văn Trần Nhã Thụy, như là một thứ linh hồn của câu chữ, như là bản tính con người muôn thuở nơi ta được giữ lại trong đó. Giá chúng biểu hiện ra đôi lúc vụng về hơn, bồng bột hơn, có lẽ tôi sẽ nhớ thương chúng hơn. Có thể có cảm giác là Trần Nhã Thụy hơi mơ hồ, không “ráo riết” tận cùng, không có vẻ dấn thân quyết liệt, cả dáng vẻ những cuốn sách cũng… lặng lặng lẽ lẽ. Nhưng cái vẻ lành hiền phủ lên trên văn chương Trần Nhã Thụy, ở khía cạnh nào đó, tiết lộ lòng “yếu đuối” nghệ sĩ trước những khoảnh khắc được phát hiện bất ngờ trong đời sống, thường gặp ở những kẻ mơ mộng về một tình yêu rất lâu và rất sâu những cái đẹp trừu tượng vốn quyến rũ những tâm hồn trẻ; văn chương của những kẻ mơ mộng thường không thời thượng, hay là ngay cả khi thời thế đổi thay, người này người kia giẫy mình lột xác, thì kẻ đó, dù cũng quẫy đạp, cũng bức bối nhưng lại không nỡ bỏ đi cái mộng mơ thầm kín vốn dĩ của bản tính mình.
Tôi nghĩ rằng phải rất kĩ lưỡng với chính mình thì mới có thể sống lơ đãng mà giàu có. Cũng vậy, phải ăn nằm với văn chương đến mức đá vàng thì những nguồn sống ấy mới trôi chảy được trong cái vẻ tự nhiên của câu văn. Đó dường như là cách Trần Nhã Thụy tìm mình trong khi tìm đến cái “tự tính” của đời sống. Cái thì hiện tại với các lát cắt (gợi đến những cách viết truyện ngắn khá “cổ điển”) như cách Trần Nhã Thụy thường đưa người đọc tham dự vào các câu chuyện của mình, tôi nghĩ cũng là một cách làm hiển hiện cái đời sống ở dạng thuần giản chắt lọc. Như thể anh đã tìm được cách yêu cái số phận của mình, cái trời cho mình nên ung dung tự thích. Dù tôi không thật tin một người còn trẻ, lại viết văn, lại dễ dàng mất đi cái nóng nảy, cái bức bối, cái ngột ngạt… Khi đến độ tiêu dao, người ta ắt sẽ không màng tới văn chương nữa mà văn chương vẫn tự đến - đó là một hình ảnh viên mãn đầy chất mơ tưởng.
Tôi thích hình dung những người đang đi trên con đường văn chương với nhiều thất bại, nhiều cao vọng, nhiều ngột ngạt, nhiều vết xước nhưng vẫn thích thú mà đi, hồn nhiên mà đi; đi lúc chậm chậm lúc cuống quýt chạy lúc ngã nhào lúc nằm không bên đường, nhưng vẫn cứ đi theo một tiếng gọi nào mình chưa đến được. Mỗi cuốn sách ra đời trên hành trình đó, ắt là cái bóng của cái bóng của một giọng nói của kẻ viết.
***
Truyện ngắn chắc chắn là một trong những thể loại thách thức. Một người đọc sẽ dễ dàng nhận ra một truyện ngắn – giả mạo, một kẻ giả danh truyện ngắn, hay một cách gọi tên nào đó tương tự. Tôi nghĩ, tiểu thuyết dễ mạo danh/ngộ nhận hơn và có thể dễ được chấp nhận hơn. Người đọc dư sức đọc chơi chơi một tiểu thuyết dài, nhưng chưa chắc đã vượt qua được nỗi ngại đọc một truyện ngắn vài nghìn từ, thậm chí vài trăm từ. Vậy thì cái bí mật của truyện ngắn nằm ở đâu? Khi tôi đọc lại những truyện ngắn/cực ngắn đã viết khá “hồn nhiên” của mình, hay nhớ lại sự khó nhọc để cho ra đời một mẩu ngắn mấy chục chữ hay nghìn chữ, tôi đã phải nghĩ về câu hỏi đó thường trực hơn, để bận tâm hơn về bút pháp, hay “nghệ thuật viết”. Tôi đi đến kết luận: mỗi người viết truyện ngắn phải tìm ra một bí mật của riêng mình, phù hợp với cái tạng viết của mình. Ở văn phong. Ở ngôn ngữ. Ở cách kết cấu. Ở vùng chủ đề ám ảnh. Ở câu chữ. Ở các dấu câu. Vân vân. Ở tất cả những gì có thể. Nó là thể loại tuyệt đối tự do, mời gọi, và đầy thách thức.
Tôi tin Trần Nhã Thụy đã tìm ra một thứ bí mật của riêng mình khi viết truyện ngắn. Anh kể cứ như không những chuyện thường tình có, bất thường có, sắp đặt có, vu vơ có. Những câu chuyện tự nó như trăng chảy trên đồng cỏ, lênh láng mà vẫn nguyên vẹn, tan loãng mà không tan biến mất. Đó là cảm giác của tôi khi đọc những truyện tôi thích hơn cả ở tập Mùi: Băng đầu trọc, Những kẻ câu đêm, Dưới cơn mưa tầm tã. Cũng chính ở đây, cái thực, rất thực, rất đời thường lại trở nên phi thực, ảo ảnh, dù ngôn ngữ và câu chuyện của Trần Nhã Thụy không đi sâu vào thế giới ẩn ức, cũng không chủ ý tạo dựng cái phi thực, cái siêu nhiên. Cái không khí hư thực đó không dễ cảm, dễ phân tích ra, chỉ có lúc nào đó tự nhiên ta chuồi vào, bồng bềnh không ngờ. Như khi lạc vào một bài Đường thi đầy sương, khói, lửa đèn, tiếng chuông mà vắng người, dù người vẫn đâu đó, nhưng là bài Đường thi “hiện đại”,thường mang theo nỗi hoảng hốt bất an về kiếp người và những cú chém ngẫu nhiên của định mệnh dưới “những cơn mưa tầm tã”… (Tôi cũng có cảm giác tương tự khi đọc truyện Làng quê thì mênh mông của Ngô Phan Lưu.) Cái chất “ảo” mà không ”diệu” đó, tôi nghĩ, nó thoát bay ra từ bản tính tâm hồn của một kẻ hay chú ý vào cái tiểu tiết, kẻ có thể nhìn thấy bầu trời trong giọt nước, thấy hình Mị Nương dưới đáy chén trà, thấy trời lộn ngược. Do đó, nhân vật của Trần Nhã Thụy không phải là những “mẫu hình”, cũng không phải những biểu tượng mà giống như các phát hiện hư thực về đời sống thường nhật: chàng bán mía thành người nghệ sĩ thực thụ, anh chàng trẻ măng nằm dài trên xe máy sở hữu cả một góc trời riêng, gã đàn ông dành hàng giờ để đèo con đạp xe lòng vòng và vui với mấy thứ rau càng cua mọc dại nơi sắp mọc lên những biệt thự khang trang, một tay nhà văn phải lòng và chung sống với một cô nàng vì “cái rổ quýt vàng ươm rất đẹp”, mất nàng vì cái tật đặt sách lên bụng hàng đêm và lại có lại được nàng khi quấn quit da thịt nhau trên cỏ thơm trong tiếng cá quẫy vào mặt nước đen thẫm đâu đó khi những kẻ câu đêm như biến mất hoàn toàn… Truyện ngắn Trần Nhã Thụy thường ghim vào người đọc một chi tiết, một cảm giác. Dù có câu chuyện, và nhiều khi câu chuyện khá dài dòng, thì (may sao) chúng cũng dễ dàng tan loãng đi cùng với chữ nghĩa, hay lui xuống bình diện quan trọng thứ mấy, thứ mấy…
***
Tôi đã nghe nhiều người đặt dấu hỏi thất vọng về văn học Việt bây giờ. Kì thực, tôi tin rằng bất cứ người viết/người đọc nào quan tâm đọc văn học Việt Nam, ắt đều phải là những người cực kì kiên nhẫn. Kiên nhẫn để lọc ra đôi chút gì đáng chờ đợi, đáng hi vọng trong một không gian hỗn độn. Rồi lại kiên nhẫn để đi cùng, chờ đợi cùng những chút hi vọng đó những gì đáng để chờ đợi hơn, hi vọng hơn. Kiên nhẫn để nhìn thấy một mạch đi cũng đầy nhẫn nại của những người viết.
Khi đã bớt đi những cảm xúc/suy nghĩ nóng nảy, hồ đồ, tôi không thấy phải bận bịu với những hiện tượng ồn ào và nhận ra còn nhiều người viết văn khác đang miệt mài tìm lối đi trong văn xuôi: Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Nguyên Phước, Hoàng Long và tất nhiên, Trần Nhã Thụy, và chắc chắn còn những người khác nữa. Thực ra, họ đã ở một thế hệ khác tôi, chỉ cách nhau trên dưới mười năm nhưng nhu cầu về văn chương chưa chắc là cái gì san sẻ được. Tôi vẫn muốn đợi, muốn tìm những người cùng“tìm một cái gì đó” của thế hệ mình.
Luôn có thật ít ỏi những kẻ tìm đường thực sự (dù thất bại hay thành công). Bao nhiêu từ ngữ đầy mới mẻ, khơi gợi và kích thích, như các kĩ thuật, những trò chơi ngôn ngữ, hậu hiện đại… nhanh chóng (có lẽ bị chính cộng đồng viết và đọc) biến thành những chiếc áo bạc màu xấu xí, xơ xác, hay mang vẻ lấp lánh hời hợt. Đu mình vào các khái niệm công cụ thì sẽ chỉ là là bay hoặc bị dúi xuống, chứ rất khó lên cao. Mặc dù yêu chuộng mọi kiếm tìm, tôi đôi lúc lại chỉ muốn xướng to lên (với tôi là một thói không thật hay): chống-cách tân, anti-cách tân, ngừng cách tân, thà như một kẻ bảo thủ tuyệt đối, một con ếch khư khư sung sướng với bầu trời miệng giếng của mình. Bởi tôi nghe thấy nhiều tiếng còi báo động giả về cách tân trong văn học Việt.
Mãi gần đây tôi mới đọc William Saroyan. Truyện “Chàng tuổi trẻ trên chiếc đu bay” từ lâu lắm cứ nằm trên giá sách. Tôi nghĩ đây là nhà văn yêu mến của Trần Nhã Thụy, (liên tưởng vu vơ vì anh có một tập truyện có cái tên thú vị “Chàng trẻ măng ở phố treo đầu” ). Nhân vật của anh cũng thường là tay nhà văn nhàn rỗi đi cùng những đứa trẻ con để kể những chuyện tưởng vu vơ về cuộc đời, kì thực lại là một cách chiêm ngắm đời sống với “trái tim ở miền cao nguyên”.
Có cảm giác Trần Nhã Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đón nhận nhiều kiểu văn chương khác nhau và khác mình, mà cũng không cần nóng nảy luống cuống tìm bằng được những cách thức làm mới. Văn chương anh đáng được mến yêu và thưởng thức. Chính ở chỗ này, tôi đã thấy văn chương cần thoát ra ngoài mọi quy ước thít buộc nó, thậm chí cần thoát ra ngoài cả nỗi day dứt về việc tìm cái mới. Nếu cứ day dứt mãi, có thể chúng ta sẽ chẳng tìm được gì thêm nữa.
Bây giờ, tôi tin là Trần Nhã Thụy có lí. Tôi nghĩ rằng mỗi người viết cũng cần cảnh giác chính mình với cái gọi là “lột xác”, nhất là lột xác để làm mới.
H. 29/07/2011
.

Nhã Thuyên
Phần nhận xét hiển thị trên trang