Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Vì sao ông Chu Giang Tức giận?

Tiểu luận của Nhã Thuyên

   LTS:Tiểu luận của Nhã Thuyên về thơ "dơ",thơ "rác".. . thì không đáng nói đến.
 Nhưng vấn đề rất nghiêm trọng là quan điểm đào tạo sai lầm. 
Kỳ này nói về luận văn của Nhã Thuyên.
Các kỳ tới nói rõ sai lầm có hệ thống ở bộ môn

Văn học Hiện đại Việt Nam khoa Ngữ Văn ĐHSP Hà Nội 


 Thế là gần hai mươi năm qua Thạc sĩ Nguyễn Thị Bình vẫn giữ quan niệm văn học sai lầm mà vẫn trở thành PGS-TS-Nhà giáo ưu tú - Tổ trưởng tổ văn học hiện đại Việt Nam để hướng dẫn nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thoan (tức Nhã Thuyên) hoàn thành luận văn Thạc sĩ “VỊ TRÍ CỦA KẺ BÊN LỀ: THỰC HÀNH THƠ CỦA NHÓM MỞ MIỆNG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA” đạt kết quả xuất sắc với điểm 10 tuyệt đối. Đây là một chương hài hước đặc sắc nhất trong lịch sử Trường ĐHSP Hà Nội. 
Lời cảm ơn của tác giả Luận văn (từ đây xin viết tắt LV) nói lên phần nào tinh thần Umour ấy.
Tôi muốn bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình, người hướng dẫn luôn sẵn lòng cởi mở đón nhận những ý kiến đa dạng về các hiện tượng đương đại.
Cảm ơn Tiến sĩ Võ Văn Nhơn, Tiến sĩ Đỗ Lai Thúy, những người không ngần ngại chia sẻ tư liệu và trao đổi. Cảm ơn Thạc sĩ Trần Ngọc Hiếu vì sự sâu sắc đa dạng trong các bài viết về thơ ca và lý thuyết chứa đựng nhiều tiềm năng kích thích và gợi mở quý báu... (và nhiều người khác).
Nội dung của Luận văn đãđược đưa vào tiểu luận Những tiếng nói ngầm, có đôi chút khác nhau chỉ là sự trau chuốt, thêm Lời ngỏ và cắt tỉa những chỗ quá khiêu khích trắng trợn mà chúng tôi sẽ phân tích sau.
Vấn đề rất quan trọng ở đây là sự khác nhau giữa Luận văn và tiểu luận. Một tác giả tự do đăng tải trên mạng. Các cư dân mạng có thể tiếp nhận ở những mức độ khác nhau, có thể người ta không đọc, có thể được tán thưởng, có thể bị phản đối một cách quyết liệt, như hồi ký của một vị giáo sư cách đây mấy năm.
Nhưng một Luận văn cao học trong một cơ sở đào tạo của Nhà nước thì có tính pháp quy. Đại học Sư phạm Hà Nội là trường đại học trọng điểm của quốc gia, tính pháp quy của Luận văn càng phải chặt chẽ. Luận văn phải lưu ở thư viện quốc gia, là tài liệu chính thức cho người nghiên cứu, tham khảo. Tác giả Luận văn lại là người giảng dạy, trực tiếp đứng lớp thì học trò phải học theo. Vì thế cần phải vạch rõ tính chất nguy hại của Luận văn này.
Ngay trong tên của Luận văn, thì góc nhìn văn hóa ở đây là góc nhìn nào? Thuộc về một thứ văn hóa nào? Nó vừa mập mờ che mắt người đọc, vừa ngầm chứa một ý tưởng xấu. Thông thường người ta hiểu từ Văn hóa là hay là tốt, là đúng... nhưng đọc vào nội dung mới thấy góc nhìn của Luận văn là góc nhìn phản văn hóa. Hãy xem Lý do chọn đề tài của tác giả Luận văn:
Nếu coi văn hóa là một chỉnh thể, thì cái chỉnh thể này, bất kể không gian hay thời gian, luôn bao gồm cái hiện diện và cái vắng mặt, dòng chính (mainstream) và dòng ngầm (underground). Theo đó, dòng chính thường được coi như là trung tâm, là hệ quy chuẩn cho những định giá trong tiếp nhận, cũng có nghĩa nó mang quyền năng chi phối và tác động, quyền năng hình thành quy phạm, hình thành thiết chế. Tuy nhiên, luôn luôn xảy ra quá trình giải quy phạm và phá hủy thiết chế, nhất là khi thiết chế đó bộc lộ sự xơ cứng và bảo thủ, diễn ra ngay trong dòng chính như một quy luật của vận động. Và không khó hiểu, ở những thời điểm khủng hoảng, những cuộc cách mạng/khởi loạn thường xảy ra. (Luận văn - trang 3) Vâng! Nhưng không phải hầm bà lằng, tạp pí lù đâu!
Và đây nữa, là “văn hóa” khi nhận xét, bình luận các hiện tượng văn học:
Việc Nguyễn Huy Thiệp nhét cứt vào miệng kẻ sĩ Bắc Hà để hạ bệ thần tượng hoàn toàn khác việc Mở Miệng đưa chuyện cứt đái ra nói công khai như những kẻ mua vui nhàn rỗi cho quần chúng bằng thơ tiếu lâm. Nguyễn kết thúc thời kỳ anh hùng bằng việc trộn lẫn hư cấu và lịch sử, nhưng vẫn kỳ vọng vào sự thay đổi và “quyền được nói sự thật”, và cuộc chiến đấu của Nguyễn vẫn là cuộc chiến đấu với một ý thức hệ bao trùm. Các nhà thơ “phản kháng” trong bối cảnh hậu đổi mới như Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Phan Bá Thọ, Mở Miệng, hay nhiều nhà thơ khác xuất bản trên Tiền Vệ hay Damau, thể hiện sự phản kháng bằng nhận thức rộng rãi hơn về bối cảnh. Họ văng tục và nói về cứt đái nhưng muốn lật đổ hơn là xây dựng. Họ không thể gây hấn chỉ bằng cách nỗ lực nói sự thật, vì niềm tin vào sự thật cũng không còn. (Luận văn - trang 31)
Và đây có thể xem là mục tiêu “văn hóa” của Luận văn, khi định giá trị của cái ngoại vi, cái khác (other), cái bên lề:
Cái bên lề xuất hiện đòi làm cách mạnh khi cái trung tâm trở nên cỗi già. Quá trình kết tụ sức mạnh thành dòng ngầm của những cái bên lề và “gây hấn” ở những thời điểm cách mạng không phải là một thuộc tính văn chương, mà là một hiện tượng phổ biến và nằm trong bản chất của vận động, do đó, cũng là một hiện tượng vận động có tính quy luật của lịch sử văn học, ở bất kỳ thời gian, không gian, trong bất kỳ thể chế nào, mọi thời đại, mọi quốc gia, lãnh thổ. Nó luôn là biểu hiện của một nỗ lực tìm kiếm ý thức văn hóa mới có tính chất thay thế, làm đối tượng với cái đang trở nên già cỗi, mòn sáo và chuyên chế. (Luận văn - trang 25)

Chùm truyện ngắn "Mình hót lên" của Nhã Thuyên

27-07-2011 01:33:16 PM
VanVN.Net - Nhã Thuyên, sinh năm 1986 tại Hải Dương. Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn, Đại Học Sư phạm Hà Nội 2007. Hiện sống và làm việc tự do tại Hà Nội. Làm thơ, viết truyện ngắn và cực ngắn, viết tiểu luận. Và phải kể đến các bài báo. Xuất hiện chủ yếu trên các diễn đàn văn học nghệ thuật liên mạng cùng một số tờ báo, tạp chí: Lao Động, Tiền Phong, Tuổi Trẻ, Thể Thao Văn Hóa, Văn Nghệ Trẻ,…VanVN.Net xin giới thiệu hai truyện ngắn được rút ra từ cuốn sách mới nhất của tác giả trẻ này, cuốn Ngón tay út (NXB Hội Nhà văn, 2011).


Tác giả Nhã Thuyên

Gió cứ thổi trong bầu trời xám

Người đàn ông nằm trên giường như một cây khô ở thời khắc tàn bạo nhất của mùa đông, vẫn giữ nguyên dạng hình nhưng không còn dòng nhựa chảy, cả nỗi đau đớn trong mạch máu cũng bị bàn tay vô hình của gió buốt vắt kiệt. Đôi mắt mờ đục trồi lên trên gương mặt mơ hồ, mở to nhìn ngọn nến đính trên chiếc đĩa sứ nằm úp trên một chiếc ghế gỗ cũ, ánh lửa xanh chao đảo, âm u. Ông biết, họ đang chuẩn bị quan tài cho ông. Nằm đây, ông có thể ngửi thấy mùi gỗ mới, thoang thoảng thơm mùi của một giấc mộng đẹp xa xôi.
“Trăng đã lên chưa con?”
Hôm nay là rằm trung thu. Nhiều năm nay, trung thu nào ông cũng chuẩn bị cỗ trông trăng thịnh soạn cho con gái, dù cô đã mười sáu tuổi, như để bù đắp lại bao năm tháng tuổi thơ của con ông đi biền biệt.
Đứa con gái như một bắp ngô non, chỉ có gương mặt hơi nhú lên, toàn thân được bọc bằng lớp áo bông sù sụ, nhưng trông vẫn thật yếu ớt. Hôm nay cô nấu chè bưởi. Cô để lửa cháy quá nên mùi thơm của cùi bưởi và nước cốt dừa có lẫn hơi khét. Cô muốn mở cửa sổ nhưng sợ gió thốc lạnh. Và hình như có mưa. Mưa, mưa thì có thể trăng không lên. Mưa thì mù mịt những điều hãi hùng.
Gia đình cô – từ một miền nào đó mà không ai còn muốn nhắc tới - dạt tới đây sau một trận lũ tàn bạo cuốn phăng tất cả, bố đã dựng lên một căn nhà rộng giữa nơi vắng người, giữa cánh đồng mênh mông, nơi gió lạnh và mưa bao giờ cũng dửng dưng và khắc nghiệt hơn, nơi con người phải khô sắt hơn để chống chọi với sự đơn độc, nơi người ta nói ít hơn là lặng lẽ quan sát lẫn nhau... Không có gì ở đây, ngoài những cơn gió cứ thổi, cứ than thở không dứt trong suốt mùa đông. Gió quét rát mặt từng mảng tường, gió băng qua mái nhà, vừa thổi vừa bất thường rên thê thiết, ủ sẵn buồn thương trong những cơn mưa đến từ vùng mờ đục âm u nào đó.… Những ngày tháng mười, gió ở đây luôn mang một vẻ mặt sầu thảm và đôi khi giận dữ, gương mặt của những người đàn ông can trường, chịu nhiều đau khổ, gương mặt của cha cô.
“Chưa bố ạ.” Cô nói, kìm những giọt nước mắt. Cô không muốn người cha biết trời đang mưa.
“Mưa hả con?”
 Mưa, mưa thì trăng không lên. Mưa thì mù mịt những điều hãi hùng. Không có gì ở đây, ngoài những cơn gió cứ thổi, cứ than thở không dứt trong suốt mùa đông, những loài gió lạ lùa qua khe cửa sổ sơn xanh chống chếnh, những loài gió với gương mặt và hơi thở khổ đau, trĩu nặng mà vẫn ngang tàng.
Ông nghe rõ tiếng đóng quan tài mỗi lúc một vang mạnh. Gã thợ giáng những nhát búa mạnh xuống tấm ván. Những thớ thịt gỗ bị xiết vào nhau kêu thít lên.
“Họ làm đến đâu rồi, con gái?”
Nhiều ngày nay, ông biết, đã hết người đến thăm ông. Họ đang làm phận sự cuối cùng của họ, với ông, một người khác.
“Bố hỏi gì cơ hả bố?”
“Trăng đã lên chưa con?”
Cô gái ngồi bất động. Nước mắt không kìm giữ được giàn ra. Người đàn ông mỉm cười. Nụ cười rút máu trên mặt, gương mặt ông tái xám dần. Ông đã nằm liệt nhiều ngày, chỉ có thể chèn thật nhiều gối phía sau để đỡ tấm lưng bất lực, để nhìn rõ hơn gương mặt người đang nói chuyện cùng ông. Ông không thể nhấc mình dậy, để ra ngoài nhìn trăng, một lần nữa.
“Bố, con đưa xe đẩy bố ra ngoài nhìn trăng nhé. Trăng có lẽ sắp lên. Bây giờ bố ăn một bát chè bưởi đã.”
Cô biết rằng, cả việc đặt ông vào xe đẩy lúc này, cũng thật khó nhọc. Và cô nói thế trong khi đã nghĩ ngay cả điều ấy cũng khó thực hiện được. Cả điều ấy cũng khó thực hiện được...
Người đàn ông mỉm cười. Nước đọng lại trong mắt ông đùng đục. Cô gái bưng bát chè lên, lấy từng thìa đưa lên miệng người cha nhưng mặt cúi gằm, răng bặm vào môi. Người đàn ông cố gắng ăn một cách nhẹ nhàng nhất có thể. Môi ông há ra khô nứt, tái nhợt như một mảng da bong lên sau khi vết thương khép dần miệng, cô nghĩ đến một mảnh trăng bị rách, rơi xuống và ngấm đẫm mưa tháng mười. Ông muốn mỉm cười. Muôn vuốt tóc con gái. Muốn khóc. Muốn đứa con bé lại và ngồi trong lòng ông như ngày nào. Muốn ôm lấy con và hôn, muốn hôn, muốn ôm lấy con muốn ôm lấy con con đừng khóc rồi tất cả sẽ qua đi sẽ qua đi… Con sẽ quên sẽ quên… Mọi người chết rồi sẽ bị lãng quên…
Cô gái muốn mỉm cười. Muốn bé lại và ngồi trong lòng ông như ngày nào. Muốn khóc. Sẽ chẳng có điều gì qua đi sẽ chẳng bao giờ chẳng bao giờ cả…
Tiếng thét vỡ ra trong lồng ngực cô gái, nhưng nghẹn lại nơi cổ. Không. Không thể. Bố không thể… “Trời hành bố. Nhưng cái gì đến sẽ phải đến. Cái gì đến sẽ phải đến.” Tiếng người cha nhỏ dần, chìm trong nỗi đau đớn dồn dập thúc vào lồng ngực nhỏ bé của cô gái.
Hình như họ đã xong xuôi, đã đi gọi đội kèn, đã có những người đến nấu nướng. Một người già nào đó đã xé vải tang. Bàn tay nào xé rách không khí.
 “Con mở cửa sổ ra bố nhé. Để nhìn trăng từ đây”.
Cô gái hé cửa sổ. Mưa dội xuống đục cả con ao và mảnh vườn. Bức tường bao quanh khu vườn rộng bỗng chao đảo trong mưa. Ở ngoài kia vẫn là mênh mông, cánh đồng và những khoảng trống. Không có gì ở đây, ngoài những cơn gió cứ thổi, cứ than thở không dứt trong suốt mùa đông, những loài gió lạ lùa qua khe cửa sổ sơn xanh chống chếnh, những loài gió với gương mặt và hơi thở khổ đau, buồn trĩu nặng mà vẫn ngang tàng. 
“Trăng đã lên chưa con? Con ra hẳn ngoài ngắm trăng đi.”
Cô gái nhìn mãi phía tường bao trắng nhợt đang bị nuốt dần trong cái lưỡi khổng lồ của bóng tối. Cô nhìn mãi, sao trăng vẫn chưa lên.
Cô đã quên mất rằng cửa sổ của căn nhà này mở về phía Đông. Nơi ấy trăng chỉ hiện ra vào lúc tảng sáng. Chỉ có gió thốc lạnh. Mưa.
Người thợ đã giáng nhát búa xuống chiếc đinh cuối cùng. Ông nghe tiếng gỗ giật nảy lên vang chói tận óc. Ông thấy mình nằm im cứng đơ trong vải liệm, rồi được đặt ngay ngắn trong chiếc quan tài sơn thếp vàng.
Người cha nhìn gương mặt con gái, một vầng trăng nhợt nhạt đẫm nước mưa, mỉm cười, nụ cười của kẻ đã bị số phận tàn hủy, đến phút cuối cùng vẫn chờ đợi một điều gì mãi không đến.
“Trăng đã lên chưa con?”
Những tấm thân yếu đuối dồn sức gồng lên, lao ra ngoài ô cửa. Họ thuộc về bầu trời xám, những cơn mưa, vầng trăng đẫm nước, họ thuộc về sự tàn hủy, họ sinh ra từ những loài gió lạ và họ đang trở về, thành những loài gió lạ, những loài gió mang gương mặt và hơi thở khổ đau, trĩu nặng mà vẫn ngang tàng, thổi không ngừng trong những mùa đông.
                                                                                                                                                                                                                                                  14.01.08 – 15.12.2010


                                      Mình hót lên
                                                                                    tặng p.m.đ & những mùa

Một sáng sớm mùa đông, bầu trời xám thở ra hơi mát lạnh, tôi tự nhiên trút bỏ dần bộ dạng người. Trong gương, khi đưa bàn tay trái lên gỡ tóc rối, tôi thấy ngón tay đeo nhẫn và ngón trỏ thấp hơn hẳn. Theo trò đùa của mắt, tôi hà hơi mờ mịt mặt kính, áp bàn tay trái vào gương, nhấc lên, thấy hình bàn tay trên gương, chiếc sừng nai nhấp nhô những mầm sừng đang nhú, hai mầm sừng bị chặt ngang, rồi dấu vết trên mặt gương mờ dần, chiếc sừng teo nhỏ lại, thành chiếc cành đang đâm nhánh bỗng chết khô vì cây bị đứt rễ, rồi dần dần chúng biến mất hẳn trước mắt tôi, chỉ còn lại toàn hơi sương. Tôi dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay phải nắn vuốt từng ngón tay trái, phát hiện điều kì cục xảy ra với cả ngón trỏ, và cả ngón áp út bàn tay phải: chúng cụt lủn, chỉ còn hai đốt. Như thể một căn bệnh lây nhiễm, các ngón tay khác cũng trụi dần trụi dần, một cái cây bỗng nhiên bị loài sâu khổng lồ gặm mòn hết cành lá, chỉ còn trơ lại những hốc mắt tròn lụi trên thân.
Bây giờ tôi thấy mình thấp dần, toàn thân co dồn, hai chân lún mãi xuống, một cái lò xo chịu lực ép vô hình. Mặt sàn nơi tôi đứng vẫn bất động, không có dấu hiệu chuyển rung, chao đảo. Cái mặt tôi vẫn nguyên dạng mặt người, gương mặt quen thuộc với tôi: hai con mắt lầm lì thiếu sinh khí, hai lá đào khô, cái mũi thấp bẹt cố nhoi lên hít thở, cái lều tạm bợ trên sa mạc của lũ vi trùng, hai gò má cao xương xương, hai hốc đá, nơi trú ngụ của những nụ hôn trong quá khứ bỏ hoang, vết sẹo nằm ngang dài 4cm, con đỉa nằm bẹp trên trán cao và dô, vài sợi tóc lòa xòa ngang má. Gương mặt bây giờ là kí ức người sót lại của tôi, là minh chứng cho nhân dạng tôi. Theo độ lún xuống của đôi chân và toàn thân co lại, chiếc mặt tôi, may thay, vẫn gắn với đầu, từ từ tụt xuống, và rơi xuống mặt đất, một cái đầu tượng bằng đất.
Qua những tấm gương lớn đặt sát tận chân tường, gắn với tứ phía của căn phòng riêng có cửa thông ra phòng khách, tôi thấy đôi chân mẹ, chiếc làn nhựa xanh đặt xuống nền gạch hoa như mọi ngày. Tiếp đó, như thường lệ - và tôi luôn đoán đúng, tôi nghe tiếng gọi vào ăn sáng, lần này tiếng gọi vang lên âm âm, có lẽ bởi tai tôi đang ở quá sát mặt đất. Ngày nào tôi cũng rình đoán những lúc mẹ gọi đến tên mình vào các giờ ăn. Tiếng “con” vang lên trong không trung, vón cục, lăn lốc cốc, đôi khi cũng vui tai. Tôi và mẹ sống cùng nhau 20 năm qua, bằng số tuổi tôi bây giờ, theo thể thức giao tiếp đặc biệt gần như thủ tục: phần lớn thời gian tôi sống trong căn phòng đặt gương tứ phía, mẹ và tôi không giáp mặt nhau nhưng từ phòng mình, tôi vẫn quan sát được bước chân mẹ, những chuyển động chống chếnh như dưới nước khi ánh mặt trời rọi vào, gương mặt lấp ló đâu đó, đôi mắt lo âu vẫn dò theo tôi nhất cử nhất động bằng cách nhân thành nhiều đôi mắt qua các tấm gương. Có một thỏa thuận ngầm đáp ứng nhu cầu của cả hai bên: nhu cầu quan sát từ xa của tôi và mẹ bằng cách nhân bội con mắt, tôi đề phòng mẹ nhất cử nhất động, mẹ canh chừng tôi nhất cử nhất động, từ khi tôi mới lọt lòng. Bà chỉ có mình tôi, bà sống vì tôi và luôn sợ hãi tôi biến mất bất cứ lúc nào.
Có lẽ ngày đang trôi, nắng mùa đông hắt vào tấm gương loang loáng những lưỡi ánh sáng nhọn sắc, những lưỡi thép trắng lạnh. Gương mặt tôi bắt đầu biến thái, miệng tôi dài ra và úp vào nhau thành cái mỏ chim. Tôi mơ hồ đoán rằng chính lưỡi dao của ánh sáng đang khoét gọt tôi theo cách nó muốn.
Tôi đang thành một con chim. Lông bắt đầu phủ dần lên hai cánh tay và bàn tay trụi lủi. Lông dầy lên toàn thân, ấm áp. Những móng chân của tôi hơi quặp lại và lớp sừng đang sần lên. Một con chim ngoại cỡ so với những loài chim quen thuộc trong thành phố này.
Tôi cười thầm. Sự biến mất của tôi sẽ làm mẹ kinh hãi. Thậm chí tuyệt vọng, thậm chí bà có thể chết bất ngờ. Ánh sáng đang khoét gọt tôi theo cách của thiên nhiên, theo quy luật sinh tồn và thích ứng. Tôi không phải là sở hữu của mẹ tôi. Tôi không thuộc quyền kiểm soát của bà. Tôi cũng chẳng thể tự quyết định chính tồn tại của mình.
Tôi nhảy nhót ra ban công. Tôi bay, thử xem. Tôi đập cánh. Tôi lấy đà. Tôi ngã dúi. Tôi đập cánh lại. Tôi lấy đà. Tôi bay được.
Quả thật tôi là chim? Tôi bay lên.
Khi mệt, tôi đứng nghỉ trên dây điện chăng khắp phố, nhìn nghía bọn người đi lại ở dưới, bọn người tôi vốn chán ghét vì sự nhàm tẻ đúc ra từ khuôn mặt họ. Lần đầu tiên tôi quan sát đám đông di chuyển đủ loại người, mà tôi không phải trà trộn vào họ, cũng không phải len lén nhìn, không phải bày đặt một căn nhà gương, tôi đang ở trên cao hơn để nhìn họ, tôi không bị họ săm soi như soi một con người bình thường. Tôi đang mang hình thù chim. Tôi bắt đầu thấy họ hay hay là lạ. Rồi có lẽ họ cũng săm soi tôi, săm soi một con chim, có thể bằng mắt, bằng tay, bằng ná thun, bằng súng, bằng đá…theo cách của một con người. Nhưng tôi chẳng lo xa. Bây giờ tôi đang là chim.
Tôi gõ gõ vào thân cây, nghiêng nghiêng đầu, mổ mổ xuống cánh lá.
Tôi nghe tiếng hót của tôi cứ mỗi ngày mỗi trong hơn.
Trong kí ức của một con chim có hình ảnh một con người không?
Mình hót lên. Chỉ mang máng rằng cánh tay mình teo dần rồi mọc ra hai cái cánh. Rồi lông phủ lên… Chỉ mang máng rằng một sáng sớm mùa đông, bầu trời xám thở ra hơi mát lạnh, mình tự nhiên trút bỏ bộ dạng người. Thế rồi bay đi luôn và là chim luôn từ đấy.
Nhưng bây giờ, mình phải bay đi đâu? Mình đã làm thân với những loài chim và biết rằng, trong thành phố này, mình là một con chim chẳng hợp bầy. Những loài chim trong thành phố có lẽ đã cảm thấy bất trắc khi mình lại gần. Thiên nhiên đã ngẫu hứng tạo ra mình, có lẽ, nhưng thiên nhiên không kèm theo hướng dẫn sử dụng, cũng không khuyến mại một cái lồng. Trong kí ức của một con chim có hình ảnh một con người không? Trong hình dạng bây giờ, liệu mình có bị phát hiện ra mình đã từng là một con người không. Bây giờ, mình phải bay đi đâu?
                                                                                                      21. 07.2007 - 02.01.2011

VẤN ĐỀ Ở KHOA VĂN ĐHSP HÀ NỘI 

Một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối 

CHU GIANG  

(Xem từ số 256)
Mặc dù Luận văn trưng bày nhiều lý thuyết của nước ngoài làm cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu như khái niệm LỀ (margin) hay SAMIZDAT (tự xuất bản), tựu trung chỉ để khẳng định, đề cao thực hành thơ của nhóm MỞ MIỆNG. Và đây là sự đánh giá của Luận văn về sự giải phóng ngôn ngữ, về “hai thứ taboo vào loại lớn nhất, nguy hiểm nhất trong các xã hội Việt Nam là Nói Tục và Chính Trị thì đều được các nhà thơ MỞ MIỆNG và những người đồng ý hướng xuyên thủng” (Luận văn - trang 66). Và được tác giả hết lời ca ngợi:
Hiếm có bài thơ nào sử dụng những chữ vốn bị cho là cấm kỵ tài tình và hấp dẫn đến thế, thẳng băng ngang hàng, không kêu gọi lật đổ, mà bản thân nó đầy sức mạnh lật đổ. Xin đọc một đoạn:
nếu Jesus không hỏi: trong các người ai chưa từng Đụ thì hãy ném vào chị ta?! (Sự hổ thẹn của họ đã cứu Magdalena khỏi trận mưa đá). Sao không có sự hổ thẹn nào để trả lại công bằng cho Lồn, Cặc, & Đụ? Khi nhắm mắt lại (đưa tâm về với thân), tôi thấy chúng là tinh tú, những vật linh, có năng lượng của xúc cảm hùng vĩ & hoạt tính thần bí. Lồn là vọng âm của trống, của chuông & của ký ức nguyên thủy [...] Và khi tôi phát âm “Lồn”, tôi nghe rõ tiếng vọng của nó rền vang từ mộ chí lịch sử, từ trong cái từ bi bát ngát của Bụt & từ trong cái bất an kỳ cùng của ký ức. Mười năm qua, tôi bị 3 lần bồ đá, bị một lần vợ sang ngang & tôi buộc phải trở thành một kẻ chỉ Đụ cát. Không biết bao nhiêu lần tôi nằm sấp trên cát, mắt lim dim dịu dàng nhìn mặt trời mọc. Nhìn một hồi tôi thấy có sự chuyển dịch từ đỏ sang đen. Nó không còn là một quầng sáng đỏ lấp lánh, nó biến thành một lỗ đen lung linh & ám ảnh. Máu trong người tôi bắt đầu tăng tốc & lượng hồng cầu ưu tú nhất hối hả dồn xuống đan điền. Cặc tôi ấm và cứng. Cặc tôi rưng rưng. Cặc tôi mừng húm. Tay tôi bấu xuống cát, bụng tôi áp xuống cát, miệng tôi há hốc vì cát & mông tôi xoay” (Luận văn - trang 67).
Xin lỗi bạn đọc, nhưng cần phải tiếp cận đúng nội dung văn bản để hiểu được tư tưởng của Luận văn, cũng nhưgóc nhìn văn hóa của người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận án. Thà nói thẳng ra một lần rồi thôi để không phải tranh đi cãi lại. Đây lại là Luận văn có tính pháp quy, không được trích dẫn sai lệch và lại cũng phải dân chủ, để đông đảo bạn đọc, các bậc phụ huynh của sinh viên Trường ĐHSP Hà Nội biết được các thầy giáo, cô giáo, những người tham gia giảng dạy và đào tạo cho nhà trường, đang giảng dạy, đào tạo con em họ như thế nào.
Nhã Thuyên cũng tán thưởng thi pháp giễu nhại, chế tác - xem là “Thái độ hủy diệt mọi thành tựu quá khứ này tiếp tục cái gọi là tính chất lật đổ, đầy nhạo báng, một cách có ý thức” (Luận văn - trang 91). Xin dẫn ba trường hợp:
1. Hỏi đáp có thưởng
Tôi hỏi đất: - Đất sống với đất như thế nào?
- chúng tôi tôi cao nhau [heo]
Tôi hỏi nước...
Tôi hỏi thỉnh:
- thỉnh sống với thỉnh như thế nào?
[ôi dào!]
Tôi hỏi người:
- thỉnh sống với người như thế nào?
[ôi dào!]
Tôi hỏi người:
- thỉnh sống với người như thế nào?
[ôi dào!]
Nguyên liệu: Hỏi của Hữu Thỉnh
(Luận văn - trang 93)
2. Chọn lựa của Văn Cao
Giữa sự sống và sự chết
Ông chọn sự sống
Để bảo vệ sự sống
Ông chọn sự chết
Thế là hết [the end)
Nguyên liệu: Chọn của Văn Cao
Bài thơ của Văn Cao, thường được đọc như một bi kịch của lựa chọn. Cái tâm trạng và sự lựa chọn bi kịch đó, một cách nghiêm túc, có thể coi như một khát vọng hướng thượng, mọi thứ mĩ học sự sống. Tuy nhiên, cái bi khi bị đẩy vào tình trạng nghiêm trang cũng có thể làm nảy ra cái hài, và Bùi Chát phát hiện ra nghịch lý hài hước đó. Không phải Bùi Chát muốn tấn công một nhà thơ lớn, mà anh muốn nhạo báng lý tưởng, cái lý tưởng hướng thượng vốn chẳng dễ dàng gì được thực hiện trong cuộc đời trần tục, cũng chẳng dễ dàng có được trong thời đại mất lý tưởng - lý tưởng trở thành một thứ “từ ngữ” nghiêm trọng mà thơ ca có lẽ cần giải bỏ. Kết tinh trong từ “lý tưởng” đó, là cả một quá khứ đau thương, hào hùng, đầy bi kịch của dân tộc, mà cái kết cục vừa bi thảm vừa hài hước: thế là hết. Như một bộ phim, một vở kịch phi lý. Mấy chữ “thế là hết” (the end) cũng có thể được đọc như một bình luận tương tác của người xem với vở kịch nghiêm trang này (Luận văn - trang 92).
3. Giễu nhại Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tập bài thơ một vần của Bùi Chát, mặc dù là thơ tự do, nhưng tính chất một vần nằm ở từ khóa cộng sản. Bùi Chát lật đổ các slogan xã hội, các ảo tưởng được đóng đinh trong ngôn ngữ ý thức hệ. Chẳng hạn:
Đường Kách Mệnh
Đi một ngày đàng, học [& hành] một giường khôn
Con đường nối những con đường
Dẫn tới các nhà thương
Ngồi một mình
Em nói như mưa
Thì tại sao chúng ta không lên giường
Để đào những cái mương
Giữ mãi lời thề xưa
Đường Kách Mệnh: một tác phẩm của cố Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh, tập hợp các bài giảng tại lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, được xuất bản 1927.
Chú thích của tác giả (Luận văn - trang 71)
Chế tác, giễu nhại nơi vỉa hè quán xá là chuyện thông thường. Bịt miệng vò miệng chĩnh không bịt được miệng thế gian. Người hiểu biết họ tránh xa. Người vô minh xúm lại. Nhưng chế tác, giễu nhại chính thức trên sách báo, thành văn bản, xã hội hóa lại là chuyện khác, quan hệ đến luật pháp. Chân dung nhà văn của Xuân Sách là một ví dụ mà chúng tôi đã đề cập trong Luận chiến văn chương - Q.2, NXB Văn Học 2012. Nay không nhắc lại.
Nhưng giễu nhại Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là Đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được Độc lập, thống nhất, dân chủ.
Bao gi đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một ngưi công dân du sơn ngạo thủy, đọc sách làm vườn.(Trả lời một nhà báo nước ngoài - Paris 1946)
(Xem VN TP. Hồ Chí Minh, số 196, ngày 5-4-2012, trang 2)
Giễu nhại một con người như thế là một việc làm vô đạo, thất đức, bất nhân, bất nghĩa. Người dân thường ít chữ nghĩa cũng không bao giờ làm thế. Nếu đồng thanh tán thưởng một Luận văn như thế, tôi không hiểu văn hóa của ngưi hướng dẫn khoa học, của Hội đng chấm luận án, của những người đọc, trao đổi, giúp đỡ tài liệu, khích lệ việc làm này là văn hóa gì, thuộc về một thứ văn hóa nào? Và tại sao nó lại có thể tồn tại và ngang nhiên hoạt động trong trung tâm sư phạm trọng điểm của quốc gia như vậy?
Chỉ riêng sự giễu nhại này cũng đủ lý do để hủy bỏ Luận văn của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thoan. Luận văn này vi phạm nhiều điều của Luật xuất bản. Vì vậy chúng tôi cấp thời đề nghị phải lập tức đình chỉ việc giảng dạy của cô giáo Nhã Thuyên - dù là giảng dạy hợp đồng. Đồng thời hủy bỏ Luận văn, hủy bỏ học vị Thạc sĩ của tác giả Luận văn, xem xét lại tư cách của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Thị Bình và trách nhiệm của Hội đồng chấm Luận văn này. Không thể để tiêm nhiễm vào các nhà giáo tương lai một thứ văn hóa phản nhân văn, bất nhân bất nghĩa như thế.
Chúng tôi muốn góp ý với các bạn đồng nghiệp là nhà văn Nguyễn Đăng Điệp - Viện trưởng Viện Văn học và nhà văn Văn Giá - Trưởng khoa Lý luận - phê bình văn học Trường Đại học Văn hóa (Bộ Văn hóa), hai thành viên Hội đồng chấm luận án và Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên - người đã đọc bản thảo Những tiếng nói ngầm cho Nhã Thuyên - rằng các bạn nên giữ sự trung thực cho ngòi bút của mình, nên tự trọng về nhân cách. Các bạn có thể xin ra khỏi Đảng, tự nguyện trả lại các chức danh và học vị mà thể chế này - do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập – đã phong tặng cho các bạn rồi làm một nhà văn tự do thì hay hơn là lập lờ hai mặt như vị thầy của các bạn: Vẫn ca ngợi, kính phục Dương Thu Hương: người phụ nữ một mình chống lại cả một Nhà nước - nhưng mà giải thưởng, chức danh Nhà nước ấy trao cho vẫn vui vẻ nhận, lại còn thắp hương khấn vái xin cho được nữa. Cũng mong Ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đừng để ĐHSP Hà Nội thành ra một Trung tâm Hài hước như thế.
Kỳ sau:
VĂN SƯ TỬ VÀ VĂN CẦY CÁO 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

No mới là lạ, có gì mà nói?

Nhà văn đói ăn

An Điềm 
Con người này từ khi sinh ra đã phải chịu đói, gặp ngay những năm tháng đại đa số người Trung Quốc đang đói ăn rách mặc. Cả nhà ngồi ăn cơm, anh ta vội vàng ăn hết suất của mình,  cứ chằm chằm nhìn vào bát  người khác rồi khóc hu hu. Anh ta vừa khóc, vừa ngang nhiên giằng suất cơm trong bát của chị gái, giằng tới mức hai hàng nước mắt chảy dài.
Mùa xuân năm 1960, những thứ gì có thể ăn được - gốc cỏ, vỏ cây, cỏ trên mái hiên - hầu như đã bị ăn hết. Một hôm nhà trường chở về một xe than đá loại tốt, anh ta cầm lấy một hòn bỏ vào mồm nhai lục cục, các bạn học cũng cắn theo, ai cũng bảo càng nhai càng thơm. Khi giảng bài, thầy giáo viết chữ trên bảng đen, các học sinh ở dưới cứ nhai than sần sật, em nào cũng mồm miệng đen sì.
Năm 1976, anh ta đi bộ đội, từ đó mới tạm thời chia tay với đói ăn. Khi từ đại đội tân binh điều sang đơn vị mới, bánh màn thầu  nho nhỏ bằng bột tinh, anh ta ăn một lèo tám cái liền mà bụng vẫn thòm thèm, nhưng xấu hổ mà không dám ăn nữa. Anh nuôi nói với viên quản lý: Bỏ mẹ rồi, đã lấy về một anh chàng to bụng!
Về sau đời sống khá lên, nhưng mỗi khi có cỗ bàn, anh ta vẫn bức bách ăn ngay, như chỉ sợ mất phần. Nhiều bạn bè công kích anh ta, họ bảo: Hắn cắm đầu cắm cổ ăn như điên, y như sói.
Lần nào anh ta cũng tự nhắc nhủ mình, ăn ít, ăn chậm, nhai không thành tiếng, ánh mắt hiền từ, khi gắp thức ăn mỗi lần chỉ gặp một miếng, một cọng rau. Anh  ta cũng muốn sửa đổi thói hư cũ, nhưng hễ trông thấy món ngon, lại lập tức trở về bản năng cũ, thói nào tật ấy. Anh ta nói, khi xem vô tuyến truyền hình, nhìn hình dáng đáng ghét của loài cá sấu vừa nuốt vừa khóc, tự mình lại lập tức liên tưởng đến bản thân.
Đương nhiên, khi đó chỉ có thể hiện hình cái đói, chưa thấy khả năng trở thành nhà văn đâu. Việc anh ta có thể trở thành một nhà văn, bắt nguồn từ một lần ngẫu nhiên. Lần ấy có một sinh viên “Phái hữu” nói, anh ấy quen một nhà văn viết tiểu thuyết được hàng ngàn hàng vạn đồng nhuận bút, nghe nói mỗi ngày nhà văn ăn ba bữa bánh chẻo, mà toàn là loại bánh có nhân thịt mỡ, hễ cắn một miếng, mỡ bắn tung toé cả ra ngoài.
Anh ta không tin, thiên hạ lại có người ngày nào cũng ăn ba bữa bánh chẻo, nhưng chàng sinh viên kia nhìn anh ta bằng con mắt khinh miệt nói:
- Người ta là nhà văn, hiểu không? Nhà văn!
Lúc đó anh ta liền hạ quyết tâm, sau này lớn khôn nhất định sẽ phải làm nhà văn.
Anh ta là ai vậy? Chính là nhà văn đương đại Mạc Ngôn!

Vũ Công Hoan dịch theo Ái nhân 
(Nguồn: Văn nghệ )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đàn ông mà, có gì lạ đâu? Sao giờ mới nói?

Lần đầu tiết lộ chuyện giới tính và con rơi của Ngô Đình Diệm

GiadinhNet - Nghi vấn về giới tính của cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Ngô Đình Diệm là một câu chuyện hấp dẫn được báo chí và dư luận đề cập rất nhiều.

Lần đầu tiết lộ chuyện giới tính và con rơi của Ngô Đình Diệm 1
Đại gia đình của cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ
Ngô Đình Diệm.
  
Nghi vấn về giới tính của cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Ngô Đình Diệm là một câu chuyện hấp dẫn được báo chí và dư luận đề cập rất nhiều. Đến nỗi, một số nhân vật “tai to mặt lớn” của chính quyền Sài Gòn cũ và thậm chí cả trùm CIA ở Sài Gòn trước năm 1975 đều dành một phần trong hồi ký để nói về chuyện này.
Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ mới dừng lại ở mức phỏng đoán hoặc nghe gián tiếp chứ chưa một ai có đủ tư liệu để khẳng định. Người viết bài này đã may mắn gặp được một nhân chứng đặc biệt: Ông Nguyễn Hữu Thùy (nay đã hơn 90 tuổi, định cư tại Mỹ), người hầu thân tín của Ngô Đình Diệm và được ông lần đầu tiết lộ những điều mắt thấy tai nghe để hé mở những nghi vấn này.
Bí mật thế kỷ

Cuộc đời của nhân vật Ngô Đình Diệm, tổng thống độc tài, độc thân của chính quyền Sài Gòn cũ có nhiều góc khuất về chuyện tình yêu và tính dục mà dư luận quần chúng, đặc biệt là giới truyền thông đã bàn luận suốt một thời gian dài. Trong những câu chuyện tình yêu của Ngô Đình Diệm, giới truyền thông khi đó đưa ra hai nghi vấn lớn: Ông Diệm là người đàn ông bất bình thường về tính dục? Hay ông Diệm bị “xuôi cò”, trên bảo dưới không nghe? Ngược lại, có những nhân chứng quả quyết ông Diệm từng có tình nhân và đã có một con trai với một phụ nữ Nam Bộ không hôn thú...

Câu chuyện của giới truyền thông đã thu hút sự tò mò của dư luận trong suốt một thời gian dài. Nhiều nhân chứng thân cận với ông Diệm trong phủ tổng thống  từ Tướng Trần Văn Đôn (Đeo hàm thiếu tướng, Tham mưu trưởng quân đội dưới thời Ngô Đình Diệm) cho đến Phạm Văn Nhu-cựu chủ tịch quốc hội nền “Đệ nhất Cộng Hòa” của chính quyền Sài Gòn cũ; thẩm phán Nguyễn Cần hay tri phủ Ngọa Thế Cầu (những người bạn của cả gia đình họ Ngô), Phạm Văn Nhu (bạn học thời niên thiếu) và thậm chí cả trùm CIA tại Sài Gòn khi đó là tướng Lansdale cũng đã lên tiếng qua các phương tiện truyền thông hoặc trong hồi ký về chuyện này.

Lansdale, trùm CIA ở Sài Gòn một thời đã viết trong hồi kỳ rằng: "Khi tôi đề nghị với Diệm về việc đi nghỉ mát ở bờ biển, Ngô Đình Diệm không chịu đi. Tôi biết có một ngôi biệt thự của chính phủ giữa một rặng thông trên bãi biển ở Long Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu) rất tiện đường xe từ Sài Gòn ra. Nơi đây là một địa điểm nghỉ mát lí tưởng. Dù Diệm không có ý kiến rõ rệt, nhưng gia đình Diệm ai cũng hăng hái với đề nghị này. Chỉ vì không muốn phá bỏ bầu không khí vui vẻ của mọi người trong gia đình, nên đã đồng ý đi nghỉ cuối tuần. Dẫu vậy, nhìn vẻ mặt Diệm chẳng thấy vẻ hài lòng khi đưa ra quyết định đó. Trong chuyến đi ấy, cận thần đã mang cho Diệm mấy cái quần tắm, nhưng ông ta không thích dùng mà chỉ dùng đồ lót của mình. Nhiều người rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng Diệm chỉ mặc loại quần lót dài thời xưa, dài quá đầu gối”.
 
Lần đầu tiết lộ chuyện giới tính và con rơi của Ngô Đình Diệm 2
Cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Ngô Đình Diệm.

Trong hồi ký của tướng Trần Văn Đôn kể rằng: Những buổi tối rảnh rỗi Ngô Đình Diệm thường gọi một số người thân cận vào dinh để ngồi nói chuyện chính trị, chuyện riêng tư của ông cho họ nghe. Tướng Lê Văn Tỵ, Trần Văn Đôn và Văn Thành Cao là những người hay được ông Diệm đột ngột triệu tập vào dinh, có khi sau 10 giờ đêm. Qua những câu chuyện đó, họ lờ mờ đoán rằng ông Tổng thống đầy quyền lực một thuở không lập gia đình, có lẽ do thời niên thiếu và cả lúc trưởng thành đã được chứng kiến cảnh vợ chồng bất hòa, cảnh bà vợ hỗn láo với các ông chồng. Nguyên nhân nữa là do Ngô Đình Diệm không thể nào quên được mối tình đầu với tiểu thư Trang Đài (con gái út của quan tuần triều Nguyễn) đã đi tu trong một dòng tu kín ở Sài Gòn, nên sau này ông Diệm tự dưng cảm thấy ngán lấy vợ nên chỉ sống độc thân cho đến lúc về với thế giới bên kia.
 
Nhân chứng đặc biệt  lên tiếng
Nghi vấn mối quan hệ bí mật với em dâu Trần Lệ Xuân

Khi được hỏi về vấn đề này, ông Nguyễn Hữu Thùy không nói cụ thể vì “làm người hầu cho Tổng thống tốt nhất không nên tò mò những chuyện như thế kẻo hại vào thân”. Tuy nhiên, theo ông Thuỳ “Nếu có chuyện vụng trộm thì không thể trách ông Diệm vì ông Diệm là người đàn ông bình thường, lại cô đơn chiếc bóng, thì có ngã gục trước người đẹp là không tránh khỏi”. Dạo Trần Lệ Xuân chế ra mẫu áo cổ thuyền, tức áo để hở cổ đến vai, thì ông Thuỳ có nghe mẩu đối thoại giữa tổng thống và bà cố vấn như sau: “Thím không nên mặc áo để hở cổ ra như vậy!”. “Trời Sài Gòn nóng quá, em mặc vậy cho mát. Anh đừng lo”.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có một câu thơ đại ý: Đời người chỉ được phán xét khi “tiếng gỗ chạm săng”, tức tiếng gõ đóng nắp quan tài. Câu này quả đúng với trường hợp của ông Diệm. Lúc ông Diệm còn sống và đương chức, người ta còn bàn tán dè dặt chuyện thâm cung bí sử vì ngán đám mật vụ tay sai nhà Ngô. Nhưng khi ông ta bị nhóm tướng lãnh thân cận đảo chánh và giết chết thì tha hồ người ta, nhất là báo giới Sài Gòn, bàn tán sôi nổi về đủ thứ chuyện thâm cung bí sử của gia đình họ Ngô. Trong đó chuyện về tình yêu, tính dục của Ngô Đình Diệm được khai thác tối đa. Có một bài báo trên tờ Thẳng Tiến (của giới Công giáo khi đó) do tác giả có bút danh Tú Gàn (Thẩm phán Nguyễn Cần) quả quyết: Sau khi hạ sát anh em Diệm-Nhu, tướng Dương Văn Minh (người cầm đầu cuộc đảo chính) cũng tò mò và ra lệnh… vạch quần Diệm ra xem có “cái đó” không. Nhưng khi mục kích tận mắt, thấy Diệm cũng là đàn ông bình thường, thì quay mặt bỏ đi, để lại đám sĩ quan đứng nhìn nhau, tủm tỉm cười”.

Mặc dù không có mặt vào điểm kể trên nhưng ông Nguyễn Hữu Thùy, người hầu cận tin cẩn suốt thời gian Ngô Đình Diệm làm tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ cũng xác nhận ông Diệm là người đàn ông bình thường về mặt cơ thể. Ông Nguyễn Hữu Thuỳ năm nay đã đã ngoài 90 tuổi, hiện định cư tại Mỹ và có chuyến về thăm quê ở Đốc Sơ, Hương Trà, Thừa Thiên- Huế gần đây. Do có quan hệ gia đình (thông gia), nên người viết bài này đã có dịp theo chân ông vào thăm lại dinh Độc Lập, ra Bạch Dinh-Vũng Tầu vừa đi vừa chuyện trò. Khi nhắc đến chuyện “tế nhị” kia, thì ông Thùy dừng bước, xúc động nói rằng: “Họ đồn đoán không đúng”.

Ông Nguyễn Hữu Thuỳ kể: “Lúc máy bay ném bom dinh Độc Lập (do phi công Nguyễn Văn Cử ném năm 1962), chính tui là người dìu đỡ ông xuống gầm giường. Thường ngày ông uy nghi bao nhiêu thì khi có tiếng bom nổ ông rét run rồi đúng như câu “sợ són đái”, đứng lên không vững, ông phải dựa vào tui để thay quần, nên tôi thấy rõ…”. Là người hầu nhưng do Ngô Đình Diệm không có vợ con nên mọi sinh hoạt hàng ngày đều một tay ông Thuỳ đảm nhiệm. Và theo ông Thuỳ thì từ quần áo đến những vật dụng khác của ông Diệm đều như những người đàn ông bình thường. Chỉ có điều, đúng là ông Thuỳ không thấy ông Diệm có quan hệ mật thiết với người phụ nữ nào nhưng có thể do một nguyên nhân khác: đó chính là đứa con rơi mà Ngô Đình Diệm dùng từ “hòn máu tội lỗi”.

Sau này, Ngô Đình Cẩn là em út của ông Ngô Đình Diệm cũng cho biết: Ngay từ hồi còn niên thiếu, ông Diệm đã không thích gặp hay trò chuyện với bất cứ người đàn bà, con gái nào trừ mẹ và chị em ruột trong gia đình. Cứ mỗi lần có ai tới thăm mà đem theo con gái là y như rằng Ngô Đình Diệm lẩn mặt khó ai mà có thể thuyết phục ông ra chào hay là tiếp khách. Mọi người trong gia đình thấy Diệm đã lớn tuổi nên ra sức khuyên bảo và nhiều lần bàn đến chuyện vợ con cho ông Diệm. Nhưng lần nào cũng vậy ông đều gạt đi rồi giải thích theo lí của riêng mình: "Tôi còn phải để thì giờ, ý chí, nghị lực làm nhiều việc trọng đại khác chứ không thể phí phạm cho một người đàn bà".
 
(Còn nữa)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhớ Hà Nội


Em ơi Hà Nội phố,ta còn em mùi Hoàng Lan .ta còn em mùi hoa sữa.con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ,ai đó chờ ai,tóc xoã vai mềm.
Trời mưa,nằm nghe bản nhạc này,thấy muốn về thăm Hồ gươm,dạo Hồ Tây quá.Hà Nội  liệu có ai chờ đợi mình không nhỉ?
 Ta còn em hàng phố cũ rêu phong,và từng mái ngói Liêu xiêu,nao nao kỉ niệm. Ừ nhưng mà mình thích một Hà Nội xưa cũ hơn,với những dãy phố êm đền yên tĩnh,với những chiếc xích lô,hay tiếng tầu điện lênh keng,một Hà Nội rất đặc trưng với sự cổ kính và yên ả với những hàng sấu và sà cừ rủ bóng. Hà Nội thời nay,với những phát triển cho kịp thời đại,một sự phát triển bề bộn và đầy sự lộn xộn,đâu rồi một Hà Nội yên tĩnh và Thơ mộng thời xa xưa.Ha Nội ngày nay chỉ là một sự lai căng ,chắp vá ồn ào,bụi bặm và xuống cấp với đủ cả nghĩa đen và nghĩa bóng.Tôi nhớ lời của một bà Bác sĩ người Đức đã nói bà đã từng sang Việt Nam trong một chương trình nhân đạo của hội chữ thập đỏ từ những năm 80. Bà nói bà thích Hà Nội của những ngày đó rất yên bình,rất nhẹ nhàng,còn bây giờ thì lộn xộn với đủ thứ kiến trúc,không theo một trật tự nào cả..Tôi không biết những người nước khác nghĩ về Việt Nam như thế nào? Còn với người Đức,khi hỏi họ có biết Việt Nam không?có lẽ hầu như người ta biết rằng vn là một nước có nhiều xe máy và một tình trạng giao thông khủng khiếp. Có lẽ nào ấn tượng về một đất nước chỉ đặc sắc vậy thôi sao?
Nhưng dù sao cũng là quê hương tôi,tôi vẫn muốn trở về,dù mỗi lần về tôi đều thấy mình lạc lõng.vẫn rất bất an và rất ngây ngô với đồng hương của mình.
Tôi nhớ ....
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ra ngõ mà trông hay ngồi nhà nghĩ ngợi?

Chặt cờ và treo cờ…
Hà Văn Thịnh viết: Một người bạn được mời dự Hội thảo về Biển Đông ở Quảng Ngãi cách đây ít lâu có kể với tôi rằng, điều đau đớn và nhục nhã nhất là khi biết chuyện ngư dân ta, mỗi lần đi đánh bắt xa bờ, muốn sống, an toàn, PHẢI treo cờ Tàu (!)? Tôi hỏi lại tại sao chẳng thấy báo chí nói gì thì “bị” ngộ tiếp là Hội thảo đó có cho báo chí tham dự đâu mà tin với tức!
B.

Ngẩm lại điều này là có thể khi ngư dân buột phải làm thế để kiếm sống, các tàu tuần tra Hải giám Ngư chính đã quay phim chụp hình, xác định toạ độ cá tàu cá đó.  Cũng như ngư dân ta bị TQ bắt giam, lập biên bản buột phải nhân tội xâm phạm bất hợp pháp vào vùng biển TQ, phải nộp tiền phạt, ai không có thì ký nợ trên giấy trắng mực đen nếu muốn được tha và lấy được tàu về nhà. Điều đó hết nguy hiểm và tác hại về sau trong việc đấu tranh bảo về chủ quyền đất nước, là những chứng cứ Trung Quốc khoe với thế giới, gây bất lợi cho Việt Nam.
Mời các bạn xem vài thông tin và những hình ảnh ngư dân trên mạng TQ:  
03/3/2012 tại quần đảo Hoàng Sa: Tàu Ngư chính Trung Quốc 306 bắt hai cá Việt, tên thuyền là QNg66101TS và QNg66074TS và 21 ngư dân Việt Nam. Bị tịch thu cá, công cụ và 25 kg thuốc nổ. Trước khi thả, phía Trung Quốc buộc 2 thuyền trưởng tàu cá điểm chỉ vào tờ giấy nợ với mỗi tàu cá là 70.000 nhân dân tệ. (Vụ này báo chí Việt Nam đã đưa tin)

  




20/3/2013 tại quần đảo Hoàng Sa: Tàu Trung Quốc truy đuổi và nổ súng bắn cháy cabin.tàu cá QNg 96382 TS (Vụ này báo chí Việt đã đưa tin).

中国海监262船驱离在西沙海域非法进行捕捞作业的越南渔船 

遭到射击的越南QNG96382号渔船

Guancha

Báo Việt đưa tin: 
“Phải dập tắt lửa trước, nếu 4 bình gas phát nổ thì anh em chết hết”, anh Phải nói. Lá cờ Tổ quốc ở nóc cabin, lửa bén gần tới nơi, anh Phải liều mình lao vào vừa dập tắt lửa vừa cuộn nhanh lá cờ không để lửa cháy. Đám cháy dập tắt, lá cờ được cắm trở lại trên nóc cabin còn lại bộ khung.
            “Anh em ngư dân chúng tôi mỗi lần ra biển đều tâm niệm rằng, cờ Tổ quốc phải luôn ở nóc tàu để khẳng định chủ quyền biển đảo và đúng với quy định quốc tế. Tàu cháy, nhưng quyết không để cờ cháy”, anh Phải quả quyết
“Phải dập tắt lửa trước, nếu 4 bình gas phát nổ thì anh em chết hết”, anh Phải nói. Lá cờ Tổ quốc ở nóc cabin, lửa bén gần tới nơi, anh Phải liều mình lao vào vừa dập tắt lửa vừa cuộn nhanh lá cờ không để lửa cháy. Đám cháy dập tắt, lá cờ được cắm trở lại trên nóc cabin còn lại bộ khung. “Anh em ngư dân chúng tôi mỗi lần ra biển đều tâm niệm rằng, cờ Tổ quốc phải luôn ở nóc tàu để khẳng định chủ quyền biển đảo và đúng với quy định quốc tế. Tàu cháy, nhưng quyết không để cờ cháy”, anh Phải quả quyết.
Tienphong

Chủ tàu Bùi Văn Phải được TƯ Đoàn trao huy hiệu Tuổi trẻ dũng cảm

Lá cờ tổ quốc được Phải và Thạnh bảo vệ ở Hoàng Sa sẽ được đưa về trưng bày tại Bảo tàng Tuổi trẻ.
Hai ngư dân được trao huy hiệu này vì đã có hành động dũng cảm bảo vệ lá cờ tổ quốc khi tàu cá bị tàu Trung Quốc bắn cháy cabin vào ngày 20.3 khi đang đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa, hành động đó mang ý nghĩa thiêng liêng, cao cả đáng được biểu dương để tuổi trẻ cả nước học tập noi theo.  
Xem tiếp ảnh trên mạng TQ: Tàu Trung Quốc theo dõi, săn đuổi tàu cá ngư dân Việt Nam
Trung Quốc ngang nhiên dùng vòi rồng đuổi tàu cá ở Trường Sa
 Một tàu cá bị bắn vòi rồng tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: www.gxnews.com.cn
 
中国南海驱逐越南渔船
 在中国海监船上可以看到非法作业的越南渔船。

中国海监执法人员在海监263船上对进入西沙海域非法捕捞作业的越南渔船进行取证(南海网特派记者高鹏摄)
图为中国海监人员观察越南渔船情况并取证。
1
兴奋!海军在南海抓获越南渔船



Chúng còn bí mật quay video ở bến cá Việt Nam (ảnh chụp màn hình)


 Fxb.591hx
  

Ngư dân vẫn ra khơi bảo vệ chủ quyền lãnh hải,

________

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HẢO NỈ HẢO! ( BLG M.T.H )

"VỚI NGƯỜI HÀ NỘI, THÌ LẠI PHẢI TÌM HIỂU THÔI"...

Đỗ Đức Đông Ngàn - Ba lần lên Hà Giang, chuyến xa nhất cách đây 27 năm, nhưng chưa lần nào tôi được cơ may gặp mặt Anh hùng Sùng Dúng Lù.

Chiến công năm xưa của ông, tay không vào hang núi gọi cha con trùm phỉ Vàng Vạn Li ra đầu thú, gây ấn tượng rất lớn đối với tôi.

Rồi bao nhiêu chuyện kể về ông trong đời thường, đã phủ lên nhân vật này nhiều màu sắc huyền thoại.

Tôi tự nhủ: Không gặp được ông, âu cũng là một cái may, để trong tôi kỉ niệm về ông giữ mãi được vẻ đẹp diệu kì.

Năm 1995, Nhà Xuất bản Văn hóa dân tộc đã cùng với Sở Văn hóa thông tin tỉnh Hà Giang, xuất bản cuốn truyện tranh “Vào hang bắt cọp” kể về chiến công của Sùng Dúng Lù.

Số tiền trên ba triệu đồng, thu được từ cuốn sách đã được gom vào Sổ Tiết kiệm tình nghĩa đem lên tặng người Anh hùng. Chuyến ấy tôi cũng không đi được.

Ước mong một lần được gặp ông chưa thành và cũng không bao giờ thực hiện được nữa, bởi năm 1998 ông đã qua đời vì tuổi già sức yếu.

Bài viết này không chỉ là lời viếng muộn mằn với con người tôi hằng kính trọng, mà cũng muốn một lần được vẽ lại bức chân dung ông - Một bức chân dung cũng nhuốm màu huyền thọai để tặng cho tất cả những ai đã một lần được biết đến ông hoặc từng nghe kể về ông.
----------------------------------------------------------------------------------

Cây trúc Vần Chải sống chen với đá, nhưng mọc lên thì thẳng tắp.

Cây to bổ đôi đem lợp mái nhà, bền hơn gỗ pơmu.

Cây nhỏ làm cần câu, bán cũng được tiền.

Về Hà Nội mình đã thấy cây trúc như thế, nhưng là khóm nhỏ đem trồng trong chậu, trông cằn cỗi nhưng người Hà Nội lại trầm trồ khen gọi là trúc quân tử.

Nếu họ trông thấy trúc Vần Chải của mình thì họ sẽ bảo sao nhỉ?..

Có lần, người Hà Nội lên Phó Bảng, ra chợ gặp hai ông già người Mông mắng nhau: "Mắt mày xấu, mày nhìn cái gì cũng xấu!", thì người Hà Nội reo lên: "Giỏi quá!. Đó là triết học, cao siêu lắm, thâm thúy lắm!".

Mình chẳng thấy có gì lạ cả. Cái lí ấy người Mông mình vẫn nói với nhau hằng ngày, đấy thôi.

Mình biết thổi khèn từ bé, tiếng khèn vi vút vui tai để đi đường đỡ thấy xa, chỉ thế thôi.

Nhưng người Hà Nội lại bảo trong tiếng khèn mình có thác rơi gió thổi, có tiếng của chim họa mi, có lời thủ thỉ tâm tình của rừng đại ngàn.

Sao mình thổi mãi mà không thấy gì. Chẳng nhẽ người Hà Nội lại tài nghe hơn mình?..

Cây chè ở miền núi ở đâu chẳng có. Vậy mà, chỉ có người Hà Nội mới biết đâu là chè ngon.

Họ phân biệt được đâu là chè Tân Cương đâu là chè Phú Thọ; chè La Bằng thì ngon ở chỗ nào, biết chè nào là quí nhất.

Họ còn thóc mách biết đến cả hai ngàn gốc chè shan ở Lũng Phìn, bốn mùa sống trong sương mù, cho thứ chè thơm mát như đồ uống của thần tiên.

Thế mà người Đồng Văn mình uống chè Lũng Phìn, chỉ thấy như uống nước thường mà thôi.

Hồi còn trẻ làm dân quân tiễu phỉ, mình tay không chui vào hang núi gọi phỉ ra đầu thú, có gì khó lắm đâu, bởi thằng phỉ ấy cũng là người cùng bản.

Mình đi bảo nó cái lí đúng để nó biết đường về.

Thế mà mình được khen lắm, được bảo là dũng cảm, được khen là anh hùng, được cấp một cái bằng khen rõ to.

Lần ấy người Hà Nội cũng bảo: "Giỏi lắm, tốt lắm!". Ờ!. Bảo thế thì mình cũng biết thế...

Nhớ lần được về Hà Nội làm khách, được ở trong cái nhà to.

Nhưng đến tối, đèn sáng quá làm giấc ngủ không yên, phải dậy tắt đèn đi mới ngủ được.

Còn cái giường nằm êm đến mức không muốn dậy. Mình bảo là cái giường lười.

Nhưng người Hà Nội lại bảo thế mới tốt. Tốt gì chứ, tốt cho cái lười thì có?..

Còn khổ nhất là khi đi vào buồng iẻ, đèn sáng quá, xấu hổ. Ngồi xuống thấy lạnh ngắt, không... đi được.

Lúc ấy lại nhớ quá cái nương đá cạnh nhà ở Vần Chải, có gió đi lại nhiều, mát lắm.

Nói chuyện thì người Hà Nội lại bảo là: "Tại chưa quen".

Người Hà Nội không biết rằng đi ỉẻ, mà không iẻ được thì khổ thế nào rồi!..

Nhớ cái lần nhà mình với lão phỉ đầu thú trở thành thông gia, có rất nhiều lời bàn tán.

Có người còn cho là mình mất lập trường.

Mất lập trường gì chứ?. Mình đã coi nó là bạn từ ngày nó vác súng về hàng chính quyền, thì còn cần lập trường gì?.

Người Hà Nội biết chuyện lại bảo: Cứ như tiểu thuyết ấy nhỉ.

Mình cũng chẳng biết đó là lời khen hay là chê?..

Ngày họa sĩ ở Hà Nội lên, gọi cả bản mình ra nương đá, đứng dưới nắng để họa sĩ vẽ.

Một ngày, hai ngày rồi ba ngày, đứng không mà mỏi hơn đi làm.

Mình bảo họa sĩ: "Cả bản bỏ việc thế này là không tốt đâu!", thì họa sĩ Hà Nội túm cổ áo mình bắt lí: "Sao lại không tốt? Vẽ Anh hùng để tuyên truyền cho cả nước biết, đấy là việc tốt!".

Mình đành bảo bà con trong bản đứng thêm một ngày nữa, trong bụng không thông.

Nhưng lại nghĩ chẳng nhẽ họa sĩ Hà Nội lại sai?..

Người Hà Nội với mình là thế.

Cái nó bảo tốt thì mình thấy bình thường, cái mình không thích nó lại bảo là hay.

Có phải mình ở núi cao nên hay nghĩ thấp xuống, còn người Hà Nội ở đất thấp nên hay nghĩ cao lên.

Không biết có đúng thế không.

Hôm mới đây nhất có đoàn khách từ tỉnh lên, có người Hà Nội đi cùng.

Họ gặp gỡ thăm hỏi cứ như quen đã lâu, nói gì nhiều lắm.

Rồi họ đưa cho cái Sổ Tiết kiệm, bảo là quà tình nghĩa. Xem sổ thấy có ba triệu đồng. Nhiều quá, mình chưa có nhiều tiền thế này bao giờ.

Lúc này mình lại đang cần sáu mươi nghìn để mua đôi lợn mà không biết tìm đâu ra. Thế này thì tốt quá.

Nhưng bảo tình nghĩa thì không hiểu. Không quen biết thì tình nghĩa cái gì nhỉ?.

Mình thiếu, nhưng có kêu ca với ai bao giờ đâu, mà sao họ lại biết?..

Ôi!. Với người Hà Nội thì lại phải tìm hiểu thôi.

Cái lí thì gần nhau, nhưng khi nói với nhau bao giờ cũng tưởng là chuyện ngược chiều.

 5/2000
---------
* Hình ảnh về cuộc sống - sinh hoạt của người dân Hà Giang, được đăng trên trang Xóm Nhiếp ảnh, chỉ có tính chất minh họa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chia sẻ với chú Phong:

CHUYỆN NGÀNH CÔNG AN CUỐI TUẦN (3): ĐẠI TÁ..

NĐT - Tác giả kịch bản phim 'Bí mật Tam giác Vàng' bị đe dọa.

Thật bất ngờ, người đe dọa Nhà văn Nguyễn Như Phong không phải “dân giang hồ” hay kẻ buôn bán ma túy mà là một Đại tá Công an, Nhà thơ.

Chiều ngày 6/6/2013, khi đang ngồi chơi ở phòng làm việc của Đại tá Đặng Văn Lân, Phó Tổng Biên tập Báo Công an Nhân dân, Nhà văn Nguyễn Như Phong bất ngờ bị đồng nghiệp cũ (cũng là một Đại tá, Nhà thơ) có những lời lẽ chửi bới và dọa đánh.

Nguyên nhân của sự xích mích này khá buồn cười: Người này cho rằng, Nhà văn Nguyễn Như Phong đã mang anh ta vào phim “Bí mật Tam giác Vàng” để bêu rếu.
Một cảnh trong phim "Bí mật Tam giác Vàng"

Trao đổi với chúng tôi, Nhà văn Nguyễn Như Phong cho biết: “Thú thật là tôi cũng nghĩ mãi không ra chi tiết nào gắn với anh ta mà anh ta lại “bắt vạ” tôi. Mãi lúc sau, hỏi nhiều người tôi mới biết là trong tập 3 của bộ phim có đoạn hai nhân vật kháo nhau về một gã nhà thơ chuyên viết thơ nịnh vợ nhưng lại "xơi" cả con gái nuôi của vợ khiến bà vợ uất ức tự tử.

Tác giả của “Bí mật Tam giác Vàng” tủm tỉm cười với phóng viên: “Quả là tôi không hình dung ra nổi, đúng là lần đầu tiên trong đời có một người lại tự mang nhân vật trong phim luận vào bản thân. Lúc đầu tôi cũng hơi giận nhưng sau nghĩ lại thấy buồn cười”.

Khi vụ việc xảy ra, rất may có sự can thiệp kịp thời của Đại tá Đặng Văn Lân nên không xảy ra điều gì đáng tiếc.

P.V

Phần nhận xét hiển thị trên trang