Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Trích TT:


Tôi vừa đi vừa suy nghĩ miên man như thế, quên cả hoàn cảnh thực tại của bản thân mình.
Tự nhiên thấy thương thương điều gì đấy mơ hồ chưa rõ nghĩa. Hóa ra tôi là phần hậu duệ, tinh hoa của quốc gia vĩ đại  ấy còn sót lại? Một lãnh thổ rộng lớn giống như trong chuyện “Miếng da lừa” của Ban zắc, sau mỗi điều ước lại thu hẹp dần lại?
Cho đến bây giờ còn dải đất chật hẹp này, chênh vênh trên bờ biển Đông.
Không rõ bây giờ và sau này nữa, còn bao người phải vượt biển ra đi vì bị dồn đến bước cùng đường?
Một số phận vừa điêu linh, vừa kiên cường, hào dũng của bao thế hệ sinh ra trước cuộc đời tôi?
Chính tôi cũng không hiểu vì sao với thân phận mình của tôi khi ấy, tôi lại nghĩ đến những điều xa xôi, diệu vợi chả dính gì đến mình lúc đó?
Gia đình tan tác, mỗi người một phương.
Con đường tôi đang đi như thể con đường vô định, chưa biết bến bờ nơi đâu?
Tuổi trẻ ngây thơ trong sáng, vô tư hay sự hiểu biết hạn hẹp, không đủ giúp tôi nhận chân giá trị những điều bất hạnh đang xảy ra?
Hay còn người hay mơ mộng viển vông, quá nhậy cảm để liên tưởng những chuyện không đâu vào đâu?
Tư tưởng và ý nghĩ con người quả là quá phức tạp.
Nhiều khi nó dẫn dắt luồng suy tư chệch khỏi hoàn cảnh và số phận.
Ra khỏi những khuôn định thông thường.
Nó là con ngựa bất kham, có lúc không chịu tuân theo ý chí chủ nhân của nó.
Tôi tự cảm thấy ân hận, xấu hổ vì những ý nghĩ vơ vẩn, nông nổi của mình.
Cắm cúi đi.

Đến đồi Cây Me thì trời xập tối.
Chỗ này ngang với khúc sông đêm nào nhà tôi ghé lại hồi tản cư. Nơi ấy có người đàn bà ngồi khóc bên chiếc quan tài của chồng vì chưa nhờ được người mai táng cho người xấu số mồ yên, mả đẹp.
Bố tôi phải dừng thuyền vào làng tìm người giúp người ta..
Đã gần mười năm trời, sao hình ảnh ấy cứ khắc sâu vào trong trí nhớ của tôi?
Có cảm tưởng tiếng khóc nỉ non của người xa lạ vẫn vương vấn trên cánh đồng. Ý nghĩ ấy khiến tôi chột dạ.
Có lẽ tôi nên tìm một chỗ nào nghỉ qua đêm, không thể tiếp tục hành trình trong đêm như dự định ban đầu.
Đi đêm như thế tránh được cái nắng gay gắt ban ngày, nhưng rất dễ lạc đường, mất phương hướng lại rủi ro bất ngờ không lường trước được.
Đang thời cuộc đấu tranh giữa hai con đường, ai thắng ai vào giai đoạn quyết liệt. Nơi đâu cũng canh gác, đề phòng nghiêm ngặt. Người ta nói bọn Mỹ ngụy trong nam đang âm mưu tung biệt kích, gián điệp ra phá hoại miền bắc xã hội chủ nghĩa. Bọn phản động, ngụy quân, ngụy quyền đang chờ thời cơ ngóc đầu dậy. Rất nhiều kẻ địch âm thầm trong bóng tối, cả hiện thực, lẫn tưởng tượng ra.
Nói chung cần “cảnh giác cao độ, ý chí cách mạng không bao giờ lơi lỏng, không bao giờ thừa”!
Đi ban ngày còn đỡ, đi đêm dễ bị xét hỏi lôi thôi. Không chừng bị bắt vì không có giấy tờ “Căn cước bất minh”.
Giữa đường giữa chợ này, nào ai biết tôi là ai? Giả dụ có người biết, người ta cũng sợ liên lụy lôi thôi. Người ta cũng có thể ngứa mắt về thân nhân, lai lịch của tôi. Sự nghiêm trọng ấy rất có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Nghĩ tới đây tôi quyết định tìm một chỗ nghỉ qua đêm, sớm mai đi tiếp.
Không nhớ được chỗ nhà quen bố tôi từng một lần dẫn tôi đến. Có thể làng xóm ở đây có nhiều thay đổi, khó nhận ra chỗ cũ. Cũng có thể đêm tối, không tìm ra nhà quen.
Tôi đánh bạo vào một nhà ở đầu xóm.
Hình như vợ chồng chủ nhà đang có việc gì rất vội, nên không căn vặn. Chỉ hỏi qua loa:
“Đi đâu?” Tôi nói “ Cháu về nhà bị tối giữa đường, sợ lạc không dám đi”
Người chồng có vẻ xuề xòa, dễ tính:
- Vậy ở đây với cô chú, mai hãy đi.
Người vợ xem ý cẩn thận hơn bảo:
- Biết người thế nào mà nhà bảo nó ở lại?
- Ùi dào, tôi nom mặt tôi biết nó con nhà tử tế, không trộm cắp gì đâu. Mà mình có gì mà sợ mất chứ? Đang không nhờ được người, may gặp nó đây bảo luôn nó đỡ một tay..
Người vợ không nói gì, nhưng có vẻ miễn cưỡng.
Người chồng hỏi tôi đã ăn uống gì chưa? “dạ cháu ăn rồi!”. Tôi nói dối họ như vậy chứ thực ra bụng tôi đã có gì bỏ vào đâu? Tôi đang đói cồn cào. Những thứ mang theo ăn đường tôi đã ăn hết từ buổi trưa nay dọc đường rồi.
Giá như người vợ vui vẻ như ông chồng, có lẽ tôi đã nói thực.
Ở tuổi tôi người ta nói đang tuổi ăn tuổi ngủ. Đến bữa bạch định thế này là chuyện bần cùng, cơn đói sẽ dày vò kinh khủng. Cơn đói có thể xé rách ruột gan không biết chừng.
Vừa may ông chồng bảo bà vợ:
- Nó nói thế chứ ăn gì dọc đường? Hàng quán đâu đâu bây giờ cũng dẹp hết, có còn ai bán gì mà bỏ vào mồm? Thôi chỗ xôi cháy để trong bếp bớt cho nó một ít. Đằng nào con nhà mình ăn cũng không hết. Thể nào liên hoan xong rồi chả còn thừa khối? Liên hoan vui là chính, ai người ta cần ăn nhiều? Cơm treo mèo nhịn đói, phải tội mẹ nó ạ!
Lúc bấy giờ tôi mới để ý đến hai đôi quang gánh đặt trong lòng nhà. Những chiếc mủng mới tinh như mới dùng lần đầu lót lá, chất đầy xôi, chuối. Xôi thì nắm vắt thành từng nắm như hồi dân công mang cơm tiếp tế ra mặt trận. Chuối cắt từng chùm bốn năm quả một.
Không biết vợ chồng nhà ông bà này có công việc gì mà chuẩn bị nhiều chuối, nhiều xôi như thế? Còn lâu mới đến rằm tháng tám, chắc chắn không phải mang cho trẻ trung thu?
Ông chồng gánh một gánh, tay xách cái đèn bão, có vòng dây thép uốn bảo vệ xung quanh bóng đèn. Người vợ cũng đưa tôi một bó đuốc, định cất nốt gánh còn lại. Tôi bảo:
- Cô để cháu!
- Gánh nổi không?
- Dạ được!
Chúng tôi đi ra hướng nhà ủy ban.Tối nay ở đấy có đám cưới tập thể. Một tiểu đội quân nhân vừa phục viên, vừa đang tại ngũ tối nay tuyên bố kết hôn tập thể.
Người ta không tổ chức ăn mặn.
Chỉ có hai gánh xôi và chuối này cùng ít kẹo lạc, tút thuốc lá, nước chè để liên hoan.
Đời sống mới như vậy là trịnh trọng rồi. Có nơi người ta “chủ yếu chỉ hát hò, vỗ tay” vui liên hoan là chính, chả cần ăn uống gì. Người chồng vừa gánh đồ liên hoan vừa nói như thế.
Về sau tôi mới biết ông chồng đang phụ trách dân quân, còn bà vợ là cán bộ phụ nữ xã nên mới được trên tin tưởng, được giao cho trọng trách lo việc “hậu cần” này.

Lần đầu tiên trong đời, tôi được biết thế nào là đám cưới tập thể, lại theo đời sống mới! Phần nhiều nghe người ta rỉ tai nhau ở hội hôn rằng, các cặp vợ chồng ấy do tổ chức giới thiệu. Đã là tổ chức giới thiệu đương nhiên là xứng đáng, là tốt đẹp rồi.
Đến lúc cô dâu chú dể ra mắt thiên hạ tôi mới thấy thật băn khoăn. Hình như có cái gì đó khập khiễng, chưa thật hài hòa.
Có chị mặt hoa da phấn rất xinh, thế nào lại lấy một ông chồng đứng tuổi, mặt rỗ chằng rỗ chịt. Lại có anh dáng trắng trẻo thư sinh kết duyên cùng chị béo trục béo tròn, người nom như cái chum. Chỉ có một hai đôi là xứng đôi vừa lứa!
Thời dân chủ rồi, không có chuyện cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Ý kiến của tổ chức đương nhiên là phục tùng tối cao. Dù có nghĩ thế nào cũng không ai nói ra mồm. Hát ví, hát đối đáp, hát chèo, cải lương.. Thôi thì vô vàn tiết mục. Vỗ tay như pháo ran, rung chuyển cánh đồng, bờ tre, bãi mía..
Tôi cảm nhận có cái gì đó rung chuyển còn sâu xa hơn, nhưng nó là cái gì thì chưa nghĩ ra được.
Tôi như tạm quên đi nỗi cơ cực dọc đường. Quên hoàn cảnh éo le sắp tới của mình. Mọi người vỗ tay, tôi cũng vỗ tay.
Tôi trải qua một đêm dọc đường như vậy. Một thoáng vui, dằng dặc nỗi buồn..
Ngày mai còn nửa chặng đường về nơi chốn cũ chờ tôi học hành ở phía trước. Còn những khắc khoải lo âu, mong ngóng về cha mẹ, anh chị em của mình.
Tôi biết chặng đường ấy còn rất dài và còn nhiều thử thách..

( Còn nữa..)

LỜI TỎ TÌNH...
- Mẹ không thể biết được đâu, con đã chết điếng vì lời tỏ tình của anh ấy, lời tỏ tình, mẹ hiểu chứ?
- Mẹ đã qua tuổi để nhận lời tỏ tình, con cứ bình tĩnh mà kể, không cần phải run bắn lên thế. Anh ấy nói sao?
- Đầu tiên anh ấy nhìn vào mắt con, anh ấy rót vào con một lời thì thầm: Trong đôi mắt em, anh thấy cả một biển yêu, hãy cứu lấy anh, đừng để anh chết đớn đau trong đáy biển ở mắt em...
- Rồi tiếp đó, có phải anh ấy lại nói tiếp: Em hãy biến anh thành một mái chèo để lướt sóng con thuyền tình yêu của chúng ta, đúng không?
-Vâng. Đúng thế thưa mẹ.
- Rồi anh ấy cầm lấy hai cánh tay của con, từ từ kéo con vào và lại rót vào không gian đêm một lời thổn thức: Em yêu, hãy dành cho anh một đặc ân, hãy cho anh mãi mãi là nô lệ tình ái của em. Đúng không?
- Ôi đúng! Mẹ tài quá!
- Khoan đã. Nghe tiếp, rồi anh ấy chui đầu vào ngực của con và nghẹn ngào: Em hãy làm cho anh nghẹt thở, hãy giết anh đi... Và một giọt nước mắt nóng hổi rơi trên ngực trần của con, đúng không?
- Vâng...
- Rồi anh ấy quỳ xuống đặt con lên thân thể của anh ấy và gào lên những tiếng gào đứt quãng: Em yêu, hãy dìm chết anh trong những nụ hôn của em, trong bầu lửa nóng rực của em, hãy xé nát anh ra... Và sau đó, con bị kéo tuột vào một cuộc mây mưa, đúng không?
- Mẹ...
- Hắn đâu?
- Anh ấy chứ, hắn nào?
- Thằng già ấy đâu?
- Mẹ...
- Cách đây 20 năm, hắn cũng nói với mẹ những điều như vậy...
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một quan niệm đơn sơ về thế giới


09-07-2013

Trang V.TR.N
Sự đơn điệu nghèo nàn là cảm giác chính còn lại trong Nhất Linh sau khi dự Hội chợ hàng VN 1934 mở ở Nhà Đấu xảo Hà Nội
    Trong bài tường thuật trên Phong Hóa số ra 30-11-1934, người đứng đầu văn đoàn Tự Lực viết :”Mấy gian hàng Hải Dương Nam Định vẫn như mọi năm không có gì tiến bộ.Thăm gian hàng Trung Kỳ, người ta cảm thấy như sống lùi lại mười năm trước bởi chỉ có ít đồ gỗ nét chạm non nớt. Đồ đồng của ta có lẽ nghìn vạn năm nữa không thay đổi. Từ cái thau cái mâm cho đến cái đỉnh thứ nào cũng nguyên như cũ, hình như đổi mới nó đi là một cái tội vậy. Đồ sứ Bát Tràng men trông cũng khéo, chỉ tiếc rằng kiểu không đẹp. Phần nhiều là bắt chước Tầu“.

   Những nhận xét này có thể áp dụng cho toàn bộ thế giới đồ vật mà người Việt sáng tạo ra để phục vụ đời sống của chính mình. 
    Một đôi dép để đi ư ? Ở Bắc bộ, nó chỉ là một chiếc mo cau hoặc miếng da, có thắt một nút trồi lên vừa để xỏ một ngón chân. Trong khi người dân nông thôn xưa chỉ đi chân đất thì một đôi dép như thế còn là xa xỉ, và chỉ những dịp hội hè người ta mới dám sử dụng. 
    Một cái diều ư? Chỉ là mấy tờ giấy phết vội trên mấy nan tre. 
    Một cây sáo ư, chỉ là một ống tre có khoét mấy lỗ sơ sài. Nếu chúng ta biết rằng trên thế giới này, không chỉ Trung Quốc Nhật Bản mà cả các nước phương Tây những cái diều bộ sáo có cấu tạo phức tạp tinh vi như thế nào thì người ta  phải tự trách rằng sao  dân mình dễ bằng lòng với những gì làm ra,tức dễ dừng lại trên đường sáng tạo đến thế.
   Thời nay, khi làm hàng xuất khẩu, người mua các nước cũng thường chê hàng Việt mẫu mã đơn giản, có học lỏm được cái gì của người khác thì cũng chỉ loay hoay ở vài cái lặt vặt mà không biết khai thác hết những khả năng đa dạng có thể có.  
   Chẳng những chúng ta rất ít phát minh mà nhìn vào cái đã phát minh ra, thấy không vượt khỏi tình trạng bột phát ban đầu. 
    Các ý tưởng không được hoàn thiện và đẩy tới cùng. 
    Nguyễn Văn Vĩnh sớm nói thẳng là  trước khi học của nước ngoài, những cái nhà của chúng ta quá trống trải và chẳng có gì mà bầy, ghế giường bàn tủ dáng dấp nặng nề, nếu cố trau chuốt thì lại phô ra một mỹ cảm cầu kỳ vụn vặt.
   Ở đồng bằng Bắc  bộ, ngoài nghề trồng lúa nước, gần như không có nghề làm vườn. Các giống vật nuôi trong nhà không đặc biệt, như con chó Vịệt, đặc tính chính của nó là sự tầm thường. 
    Không có con đường làng nào là thẳng, con đường nào cũng cong queo vẹo vọ.
  Tự bằng lòng với cuộc sống tự nhiên của mình ở các làng quê, người Việt gần như từ bỏ khả năng tổ chức lại cuộc sống một cách có suy nghĩ ở các đô thị.
   Cho đến cả trong cách tổ chức xã hội, trí tưởng tượng nghèo nàn cũng níu kéo chúng ta lại.
   Thần thánh trong các truyện thần thoại cổ tích của ta quá gần người và cũng nghèo như người, cả về vật chất lẫn tinh thần.
   Còn những ước mơ của chúng ta thì sao ? Ngày xưa, bao chàng trai bỏ làng ra đi chống ngoại xâm, rút cuộc “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa“ (thơ Nguyễn Đình Thi), mơ ước lớn nhất là quay về làng tiếp tục đi cầy và cưới được cô thôn nữ.
   Còn hôm nay, có một câu chuyện dân gian đang được lưu truyền rộng rãi. Một thanh niên Nhật hỏi người Việt cùng tuổi với mình là mơ ước gì thì được trả lời là mơ ước có cái Honda để đi, nhà có cái tủ lạnh Hitachi, cái máy giặt Sanyo để dùng. Nói chung là ao ước dân Nhật xài đồ gì thì mình có đồ đó để xài.
   Còn người thanh niên Nhật khi được hỏi lại chỉ nói gọn một câu là ước sao giỏi giang hiểu biết để thực hiện được tất cả những ước mơ của các bạn Việt cùng tuổi.
   Câu thơ của Chế lan Viên “ Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp – Giấc mơ con đè nát cuộc đời con “ không chỉ đúng với con người thời tiền chiến mà đúng với người Việt gần như suốt thời quá khứ, không chỉ con người bình dân mà cả những tầng lớp tinh hoa.  

TT&VH 19-6-07              







































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đáp án cho “danh sách 20”

Đáp án cho “danh sách 20”

Phạm Chí Dũng 

Có lẽ, giới blogger Việt Nam hiểu rằng họ vừa thoát khỏi một nỗi nguy hiểm không hoặc chưa có thực, và có thể từ đây đến cuối năm 2013 hoặc kéo sang cả năm 2014, họ sẽ tương đối bình yên mà “tác nghiệp” và nhậu nhẹt, trong lúc các chính khách còn quá nhiều mối lo quốc gia đại sự và cả mất ngủ vì “lo nghĩ” về nhau.


Cải chính Nguyễn Trọng Tạo

Nửa tháng sau bài “Gửi thủ tướng Ba Dũng” trên blog của mình, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo lại viết tiếp một bài “sửa sai” với tựa đề “Vụ 20 bloger bị bắt: thông tin thật và giả?”, với câu kết như một lời xin lỗi: “Sau vụ này, tôi thấy mình cần cảnh giác hơn, và bạn bè của tôi trên mạng nữa, hãy cẩn thận kẻo bị lẫn lộn thật giả không đáng có”.
Câu kết trên xuất hiện vào ngày 9/7/2013, trùng với ngày xét xử luật sư công giáo Lê Quốc Quân bị đình hoãn một cách ngộ nghĩnh, và trong bối cảnh chưa có thêm một blolgger nào bị câu lưu sau vụ blogger Từ Anh Tú sáng bắt chiều thả.
Cần nhắc lại, điểm nhấn rối trí đáng bận tâm nhất trong bài “Gửi thủ tướng Ba Dũng” trên blog Nguyễn Trọng Tạo ngày 24/6/2013 không phải là sự gợi nhớ lại tình đồng đội và thân phận thương cảm của một bà mẹ Việt Nam anh hùng, mà là một đoạn bình luận chen ngang: “Hôm 19/6 có người trong đoàn anh Tư Sang từ Trung Quốc điện cho tôi bảo đã có danh sách 20 blogger có thể bị bắt. Tôi nói vui: Bắt hết nhân dân đi, xem họ sống với ai”.
Lời bình luận này, hoàn toàn không phù hợp với chủ đề và những nội dung chính của bài viết, lẽ ra có thể làm cho người đọc cảm nhận về một sự chông chênh không thể lý giải của tác giả về kinh nghiệm hành văn. Tuy vậy, chính cái đoạn viết tưởng đâu hết sức nhỏ nhặt và thuộc vể lỗi kỹ thuật như thế lại là tác nhân gây nên một làn sóng xáo động và hoang mang trong giới blogger, kéo dài ngay sau khi bài viết này được đăng tải cho đến tận giờ đây, cùng kéo theo rất nhiều bình luận trên mạng và giới lề dân về khả năng và câu chuyện dành cho những ai có triển vọng “nhập kho”, thậm chí còn khiến khá nhiều hãng truyền thông quốc tế không thể đứng ngoài cuộc.
Ở một thái cực ngược lại hoàn toàn, bài “Vụ 20 bloger bị bắt: thông tin thật và giả?” lại là lời trần tình của thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo về việc đã chẳng hề tồn tại một “nhà báo quen” nào trong “đoàn anh Tư Sang đi Trung Quốc”, tức bản thân tác giả đã bị “hố” khi có nhã ý nêu ra thông tin về “danh sách 20 blogger có thể bị bắt” để cảnh báo cho các “đồng đội”.

Ai chỉ đạo bắt blogger?

Một chi tiết không thể bỏ qua là việc xác minh về nhân vật “nhà báo quen” như vậy đã được thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo tiết lộ là do một “anh bạn của mình” – tức một người phải có năng lực đặc biệt để tiến hành kiểm tra về hoạt động xuất cảnh trong vòng mấy tháng qua của “nhà báo quen”. Nếu hành động kiểm tra như vậy là có thực thì “anh bạn” phải thuộc một cơ quan đặc biệt (chẳng hạn như cơ quan an ninh), hoặc chí ít cũng phải có mối quan hệ rất đặc biệt với một cơ quan đặc biệt nào đó.
Vậy, câu hỏi là từ đâu xuất hiện nhân vật “anh bạn” này? Phải chăng đó chỉ là do trí tưởng tượng của người làm thơ - như điều đã từng có dư luận về tính ảo tưởng của “danh sách 20”, hay đó là một nhân vật có thực trong đời sống chính trị, lộ diện bởi tác động can thiệp từ một cơ quan hay một cấp nào đó – những người muốn “thanh minh” cho hiện thực không tồn tại của “danh sách 20”?
Mà nếu “danh sách 20” không có nguồn gốc, thiếu chân đứng pháp lý hoặc chỉ là tin đồn thổi hết sức mơ hồ, người ta có thể suy ra là chẳng có nguồn cơn nào dính dáng đến “đoàn anh Tư Sang”. Cũng có nghĩa không phải Chủ tịch nước đã chỉ đạo bắt một số blogger để “triều cống’ hoặc “dâng tiến” ngay trước chuyến đi Bắc Kinh như một số dư luận bình phẩm, trong đó có cả vị giáo sư đầy kinh nghiệm chính trị Carl Thayer của Học viện quốc phòng Australia.
Khi một giả thiết khó khăn nhất đã được loại trừ, người ta có thể dễ dàng suy luận ra tính hợp lý của giả thiết còn lại. Đó là giả thiết về thủ pháp “bắn tin”, do một nhóm người nào đó thực hiện, xảy đến trong bối cảnh cơ quan an ninh vừa tiến hành bắt khẩn cấp 3 blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Đinh Nhật Uy, kể cả chuyện “bắt hụt” blogger Từ Anh Tú ngay trước chuyến đi Trung Quốc của “đoàn anh Tư Sang”.
Câu hỏi cuối cùng tất nhiên là nếu không phải “anh Tư Sang” chỉ đạo bắt blogger, thì có ai khác muốn tạo nên một sự kiện gây sốc như thế? Và nhằm mục đích gì?

Phép màu cho Từ Anh Tú?

Một trong những hệ quả của “hiệu ứng 20” đã được toàn bộ giới blogger lề dân “quán triệt” một cách khá sâu sắc.
Ngay sau khi tin đồn có thể bắt tràn lan được tung lên mạng, khá nhiều blogger đã “tự điều chỉnh” – như cách bình luận của chính blogger Nguyễn Trọng Tạo trong bài “sửa sai” mới đây. Những “luận điệu tuyên truyền chống phá và cổ suý cho các thế lực thù địch” cũng vì thế đã giảm bớt về liều lượng và hàm lượng. Ít nhất, chính quyền cũng cảm thấy dễ thở hơn trong nửa tháng qua.
Nhưng hình như lại có một ẩn ý trong hai bài viết có tính tiếp nối về chủ đề của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Cùng với sự biến mất của nhân vật vô hình “nhà báo quen” là sự thay thế của nhân vật vô hình “anh bạn” – đều là những nhân vật không có tên tuổi và không được chứng thực bởi bất kỳ một nguồn gốc nào, hai bài viết của Nguyễn Trọng Tạo đều đề cập vừa trực diện vừa gián tiếp đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, dưới hình thức một bức thư gửi thủ tướng và nỗi băn khoăn về 3 trang web cùng nhân danh người đứng đầu chính phủ.
Cấu trúc văn học không bình thường của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong hai bài viết này cũng có thể làm người đọc liên tưởng đến một thủ pháp được dùng trong văn học trinh thám cổ điển của Conan Doyle  hoặc Maurice le Blanc. Còn ứng với một phép quy nạp toán học hay logic học đơn giản, người ta có thể nhận ra hai cái “không” tạo nên một cái “có”.
Hai hình ảnh vô danh lại đứng bên cạnh một hình ảnh hữu danh.
Nhưng cái hữu danh đó thuộc về ai?
Không quá khó khăn để ngườí ta hệ thống lại khá nhiều dư luận đã bắt đầu xuất hiện một cách bất lợi đối với chủ tịch nước ngay trước, trong và sau chuyến đi Bắc Kinh. Đặc biệt, dư luận dân cư mạng tỏ ra phẫn nộ với việc blogger Đinh Nhật Uy bị bắt.
Tuy nhiên, động thái sáng bắt chiều thả đối với blogger Từ Anh Tú lại là một phương trình nhiều ẩn số. Bắt rầm rộ và đầy “quyết tâm” với sự liên quan đến cuốn sách “Bên thắng cuộc” không còn nhiều tính thời sự của tác giả Huy Đức, nhưng thả ra lại lặng lẽ và còn có vẻ khá “ưu ái”. Như vậy có nghĩa là sao?
Nhiều người có kinh nghiệm trong giới blogger luôn cho rằng việc bắt hay thả một ai đó trong số họ khá thường phải xuất phát từ chỉ đạo của một cấp cao, thậm chí rất cao, chứ không thuần tuý do chủ ý của cơ quan an ninh địa phương. Nếu trường hợp Từ Anh Tú cũng tuân theo nguyên tắc đó, hẳn cái đoàn “thủ kho” đến 15 nhân viên an ninh kia không thể nào buông tha Tú một cách dễ dàng.
Mà việc Tú được thả ngay trong buổi chiều hôm bị bắt chỉ có thể được biến hóa từ một phép màu.
Phép màu nào vậy?
Hoặc những người đi bắt thừa nhận về một lầm lẫn nào đó của họ, nhưng cho tới nay vẫn chẳng có bất kỳ thông tin nào được công bố từ phía cơ quan chức năng; hoặc đã có một sự thay đổi lớn lao nào đó liên quan đến “ý chỉ” từ một cấp cao, thậm chí rất cao trong giới lãnh đạo nhà nước.

Im lặng và chờ đợi

Nhưng nói gì thì nói, điều có thể xem là bất nhất trong hành động bắt giữ đột ngột và thả người cũng đột ngột không kém của cơ quan an ninh đã làm phát sinh dư luận về một tình trạng không thống nhất nào đó trong “nội bộ”, cũng như dư luận về sự chênh biệt rất đáng kể về quan điểm bắt người giữa một số vị lãnh đạo cao cấp bằng mặt không bằng lòng.
Thật ra, dư luận như thế không hẳn là không có cơ sở. Một hiện tượng lạ lùng là từ khi xảy ra vụ bắt giữ đầu tiên đối với blogger Trương Duy Nhất cho đến nay, toàn bộ hệ thống báo đảng cần mẫn và thân quen như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã không hề bình luận về các vụ bắt giữ, cũng không có các bài “phản tuyên truyền” như vẫn thường xuất hiện đối với các vụ việc “diễn biến hòa bình” trước đây như 14 thanh niên công giáo và tin lành, trường hợp Phương Uyên và Nguyên Kha, vụ bắt và xét xử 22 người của Hội đồng công luật công án Bia Sơn, và xa hơn trong dĩ vãng là hàng loạt trường hợp như Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Việt Khang…
Lẽ nào đã xảy ra một tư thế không đồng nhất về quan điểm tuyên truyền và phản tuyên truyền, từ hệ thống tuyên giáo cấp trung ương đến bản thân các tờ báo đảng và có thể cả trong nội tình của từng tờ báo? Phải chăng các cơ quan ngôn luận của Đảng đã không nhận được một chỉ đạo thống nhất như thường có trước đây, và do đó họ đành kiên tâm giữ thái độ im lặng?
Im lặng và có thể cả chờ đợi.
Nhưng chờ đợi cái gì?
Có dư luận cho rằng sau chuyến đi Bắc Kinh của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, không khí chính trường Việt Nam như trở lại trạng thái và mối tương quan trước Hội nghị trung ương 6, tức vào khoảng giữa năm 2012. Mà nửa cuối năm ngoái lại xảy ra khá nhiều biến động bất thường về quan điểm điều hành và thay đổi nhân sự.
Tất nhiên, dư luận trên có được xem là chân xác hay không thì còn phải chờ nửa cuối năm 2013, mà trước mắt là đợt bỏ phiếu tín nhiệm ngay trong nội bộ đảng – một chủ trương mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công khai nhắc đến không chỉ một lần.

Đinh Nhật Uy?

Trong bối cảnh còn nhiều vấn đề vĩ mô cấp quốc gia cần phải giải quyết, có vẻ như trường hợp blogger Đinh Nhật Uy ở Long An không còn là chuyện lớn. Thậm chí, đó có thể chỉ là câu chuyện rất nhỏ hoặc “chẳng có gì” vào thời điểm này.
Một trong những cơ sở để nhận chân ra lý lẽ đó là đã không hề có tính xác cứ đối với “danh sách 20”.
Điều đó cũng có nghĩa là Đinh Nhật Uy rất có thể chẳng nằm trong một “danh sách tử thần” nào, mà có thể chỉ bị bắt giữ như một trường hợp thông thường, nằm trong hàng trăm “đối tượng” có hành động chống sự can thiệp của Trung Nam Hải. Hoặc cũng có thể bị bắt giữ theo một lối “ngẫu hứng” nào đấy.
Nếu quả vấn đề của Uy là thông thường và đang trở nên “bình thường hóa”, hẳn nhiên chẳng còn mấy nhà chức trách bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đến trường hợp này. Chỉ là một thanh niên “nông nổi”, “vi phạm lần đầu” cùng “nhân thân tốt”, chỉ cần được “răn đe” và “giáo dục” một thời gian…
Mới đây, gia đình của Đinh Nhật Uy đã làm đơn bảo lãnh cho con mình được tại ngoại để làm đám cưới với vị hôn thê đang tháng ngày mong mỏi. Điều đáng ngạc nhiên là chỉ một ngày sau khi nhận được đơn, cơ quan điều tra Long An đã lập tức mời gia đình Uy đến làm việc và hẹn sẽ trả lời đơn này trong ít ngày tới. Một số đồ vật của ba Uy, bị thu giữ trong quá trình bắt Uy, cũng đã được công an Long An làm thủ tục trả lại.
Không khí có vẻ đang được “bình thường hóa” như thế có thể khiến gia đình Đinh Nhật Uy gia cố hy vọng về việc blogger này có thể được tại ngoại và tiếp tới được đình chỉ điều tra trong thời gian không quá lâu nữa.

Quân – Uyên – Kha?

Câu chuyện của Đinh Nhật Uy cũng diễn ra trong bối cảnh phiên tòa dự kiến xét xử “Lê Quốc Quân cùng đồng phạm” đã được cơ quan tư pháp đình hoãn rất đột ngột, với lý do thẩm phán Lê Thị Hợp bị cảm – điều làm cho không ít dư luận hoài nghi về sang chấn “cảm mạo cấp cứu” như một hiện tượng không thường lệ trong y học. Thậm chí, blogger Nguyễn Xuân Diện còn nêu ra sáng kiến sẽ tổ chức một đoàn đi thăm bà Hợp tại bệnh viện.
Biểu hiện hình thức có thể toát lên bản chất vấn đề. Câu cú lộn xộn, ngày tháng lẫn lộn, chính tả không cần chấm phẩy và điều được nại là “lý do khách quan” trong hình thức văn bản của Tòa án Hà Nội trả lời cho luật sư bào chữa của Lê Quốc Quân… lại cho thấy một bầu không khí vừa lúng túng vừa căng thẳng đối với “khúc xương công giáo” ngày càng khó nuốt.
Bầu không khí ấy cũng làm người ta liên tưởng đến sự sôi động trước phiên xử sơ thẩm “người nông dân nổi dậy” Đoàn Văn Vươn. Những thánh lễ sôi sục cầu nguyện ở phần lớn các giáo xứ tại Việt Nam đang được đa số giáo dân kỳ vọng sẽ mang lại kết quả ít ra “giảm nửa án” cho Lê Quốc Quân - như hiệu quả đã diễn ra tại tòa án Hải Phòng vào tháng 4/2013 đối với Đoàn Văn Vươn.
Và nếu bầu không khí như vậy được diễn đạt một cách logic, phiên xử phúc thẩm đối với Phương Uyên và Nguyên Kha trong thời gian tới đây có thể sẽ trở nên “khoan dung” hơn. Người ta cũng hy vọng nếu đã có vài trường hợp trong số 14 thanh niên công giáo và tin lành được giảm án đáng kể trong phiên phúc thẩm, thì cũng có một khả năng cơ quan tư pháp tự ngộ là họ đã nghiêm khắc một cách vô lối đối với hai bạn trẻ - những người được nhiều dân chúng cho là mang tinh thần yêu nước.
Chỉ có điều, quá trình điều tra và có lẽ cả tố tụng hình sự đối với hai blogger Trương Duy Nhất và Phạm Viết đào lại có thể diễn ra không mấy êm ả. Như thuộc về một “kênh” khác, hai trường hợp này có thể đang bị truy xét về chủ đề “nguồn tin” – một sắc thái thường liên hệ mật thiết đến những vấn đề quan hệ và đấu tranh nội bộ.

Kết thúc một phép thử

Nhìn tổng quan từ các vụ bắt giữ blogger, xét xử các nhân vật “tù nhân lương tâm” cho đến vận động và tương quan trên chính trường, người ta có thể tưởng tượng ít nhất một kết luận: chiến dịch bắt giữ blogger vừa qua không hẳn là một tác động trực tiếp đối với những người hoạt động phản biện dân chủ, và tác động gián tiếp xảy ra có lẽ chỉ ảnh hưởng ở mức độ khá nhẹ nhàng trong một thời gian ngắn.
Minh chứng rõ nhất cho tình cảnh khả quan bất đắc dĩ ấy là đã không hề tồn tại một “danh sách 20” nào.
Một minh chứng khác, trái ngược với mối lo của nhiều blogger, là tác giả “Bên thắng cuộc” đã trở về Sài Gòn bình yên. Bức ảnh Huy Đức chụp chung với Đỗ Trung Quân ở sân bay Tân Sơn Nhất còn như được điểm xuyết bởi nhát bút “vô hại có điều kiện”.
Thậm chí vị thế của các blogger còn được khẳng định, khi cả hai thông tin về “danh sách 20” lẫn lời “thanh minh” đều hiện ra trên blog của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo – một trong số những blogger có uy tín xã hội, chứ không được thể hiện trên bất cứ một tờ báo lề phải nào. Điều đó gián tiếp cho thấy trong con mắt của ít nhất một số cơ quan đặc biệt nào đó của chính quyền, giới blogger Việt Nam đã có một chỗ đứng không thể phủ nhận về vị trí xã hội và tác động lan tỏa chính kiến.
Bối cảnh trên diễn ra cùng với tác động ngày càng lớn về nhận thức lại của Hoa Kỳ, Cộng đồng châu Âu và các tổ chức nhân quyền quốc tế khi họ cho rằng họ đã bị “hố” trong giai đoạn trước đây khi để cho Việt Nam tham gia Tổ chức thương mại thế giới. Cũng bởi thế, sự lên tiếng gay gắt của Ủy ban đối ngoại Hạ nghị viện Mỹ, thái độ nghiêm khắc của cơ quan ngoại giao các nước Tây Âu, những văn bản cận kề nhất như Dự luật nhân quyền cho Việt Nam và Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam, hiện đang được trình cho Hạ nghị viện và sau đó là Thượng nghị viện Mỹ, là những động thái mà Nhà nước Việt Nam không nên và không thể xem thường.
Vào tháng 4/2013, nghị sĩ Bernt Posselt thuộc Đảng Bình dân Châu Âu (EPP) còn nói tuột ra: “Tôi nghĩ rằng điều cực kỳ quan trọng phải nói ra, là chúng tôi xem họ như đối tác, trên lĩnh vực chính trị cũng như kinh tế. Kể cả việc nếu họ muốn, chúng tôi có thể hậu thuẫn họ làm thành viên Hội đồng Nhân quyền (Liên hiệp quốc) năm tới. Nhưng trước hết họ phải làm tròn các tiêu chuẩn, có nghĩa là họ phải tôn trọng nhân quyền, mà hiện nay thì họ đàn áp quá dữ dội”.

Phía trước là… nhậu nhẹt

Gần đây, người viết bài này có dịp gặp gỡ và phỏng vấn bỏ túi một số blogger như Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Quang Lập, Đỗ Trung Quân tại một… bàn nhậu. Tất cả những gì mà các nhân vật đình đám này trêu đùa nhau đều liên quan đến mối quan tâm không che giấu của anh em bạn bè trước khả năng họ bị “nhập kho”. Thậm chí một số blogger còn lên kế hoạch hành động rất cụ thể: tổ chức một hội thăm nuôi cho những blogger đã bị bắt và những người có tương lai không còn tự do.
Cũng đã đến lúc phải tính đến chuyện “hậu sự” bằng vào công tác từ thiện nhân đạo.
Nhưng nói gì thì nói, trong khi cảm thán về thái độ có vẻ khá cẩu thả của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, giới blogger hình như lại đang thầm cám ơn ông. Sự cám ơn chân tình này trước hết vì nhã ý của nhà thơ muốn thông tin và cảnh báo, và sau đó vì lời “cải chính” không sớm cũng chẳng muộn về “danh sách 20” của ông.
Một phép thử đã trôi qua, và may mắn thay cho giới blogger Việt Nam, chưa có gì được coi là là một trả giá xứng đáng.
Biểu cảm “cùng nhau đi nhập kho” của Huỳnh Ngọc Chênh, vốn đã lan tỏa một cách trào phúng và thân thiện trên các diễn đàn vào những ngày gian khó vừa qua, lại có thể được biến tấu thành một nét gì đó vui nhộn hơn trong những ngày tới, tự chuyển hóa từ tâm lý “bớt sợ” sang “thoát sợ”.
Có lẽ, giới blogger Việt Nam hiểu rằng họ vừa thoát khỏi một nỗi nguy hiểm không hoặc chưa có thực, và có thể từ đây đến cuối năm 2013 hoặc kéo sang cả năm 2014, họ sẽ tương đối bình yên mà “tác nghiệp” và nhậu nhẹt, trong lúc các chính khách còn quá nhiều mối lo quốc gia đại sự và cả mất ngủ vì “lo nghĩ” về nhau.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
......................................

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

MỘT NHÀ NƯỚC, KHÔNG THỂ "SỢ" XÃ HỘI ĐEN.


Đào Tuấn - Trần đời mới có chuyện giang hồ, xã hội đen, băng nhóm và…bụi đời xuất hiện trên bàn nghị sự quốc gia như một sự cản trở đối với công việc nhà nước.

Rất nhanh chóng, người ta đã tìm ra “nghi phạm” đã phát tán phim Bụi đời Chợ lớn lên mạng Internet, một hành vi mà đạo diễn Charlie Nguyễn, cũng rất “bụi đời”- mô tả trên…facebook là “bị sốc và đau buồn như có ai đang giết đứa con của mình”.

Bụi đời Chợ lớn đã bị cấm chiếu vĩnh viễn sau kết luận của Hội đồng duyệt phim rằng nó “chứa đựng yếu tố bạo lực, không phản ánh đúng hiện thực xã hội Việt Nam”.

Có lẽ, những “cảnh băng đảng xã hội đen ngang nhiên hoành hành, dàn trận thanh toán đẫm máu bằng dao, lưỡi lê trên đường phố, trong các ngõ hẻm của TP HCM mà tuyệt nhiên không có sự xuất hiện hay can thiệp của bất cứ lực lượng xã hội nào”, khiến cho các vị đạo đức mũ cao áo dài trong Hội đồng cảm thấy sốc nặng.

Nhưng chuyện ngang nhiên hoành hành, dàn trận thanh toán đẫm máu…suy cho cùng, chỉ là một biểu hiện dễ thấy của một thế giới ngầm đang tồn tại trong lòng xã hội.

Xã hội chúng ta có giang hồ?. Có bụi đời?. Có xã hội đen?> Có băng nhóm không?..

Câu trả lời xuất hiện với mật độ hàng ngày, trên mục pháp luật của các tờ báo.

Câu trả lời không phải chỉ từ ngoài đường phố.

Ngày hôm qua, trong một cuộc họp Chính phủ với quy mô toàn quốc, trước câu hỏi quyết liệt của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về những điểm nóng cụ thể Quất Lâm (Nam Định), Đồ Sơn (Hải Phòng), Bình Thạnh (TP HCM): “Trắng trợn như thế mà sao chúng ta không ra tay? Công an có biết chuyện này không?”.

Phó Chủ tịch TP HCM Hứa Ngọc Thuận, trên Thanh Niên, đã nói một câu đáng chú ý và đầy ý nghĩa: “Trong quá trình các đoàn công tác thực thi công vụ, có đối tượng giang hồ bám theo uy hiếp, đe dọa, thậm chí còn quăng mắm tôm khủng bố”!!!.

Tất nhiên, ông không nói là các đoàn thực thi công vụ sợ hãi trước sự đe dọa, khủng bố này.

Trước đó 3 hôm, cũng trong một cuộc họp cấp Chính phủ, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, cực kỳ thẳng thắn - nói về tình trạng “Giang hồ cát cứ, xã hội đen, thế giới ngầm ở địa phương thâu tóm nguồn cung vật liệu xây dựng, vượt ngoài tầm kiểm soát của chính quyền”.

Bộ trưởng còn nói thêm rằng “Nguồn vật liệu khai thác tại chỗ, ở địa phương thì được cung cấp, còn đưa chỗ khác đến thì lực lượng này không cho vào hoặc nếu vào mà muốn mua được lại phải nộp tiền”.

Thật tình cờ, trong khi những người dân hả lòng hả dạ với sự thẳng thật của Bộ trưởng, thì y chang như phản ứng với phim Bụi đời Chợ lớn, một số địa phương ngay lập tức đã lên tiếng.

Rằng: “Làm gì có chuyện đó”...

Rằng “chưa nghe thấy”...

Rằng “không nhận được đơn từ về vấn đề này”...

Rằng “ không thấy biểu hiện”.

2 câu chuyện về giang hồ, về xã hội đen đang chứng thực nỗi lo toan của dân chúng.

Một vị Tư lệnh ngành nói thẳng nói thật về một hiện trạng xã hội.

Một quan chức địa phương nại khó bằng “khủng bố mắm tôm”.

Một vị Phó Chủ tịch Thành phố lớn nhất nước không thể nói dối.

Một vị tư lệnh ngành không thể nói sai, về một hiện thực xã hội mà có khi, người ta không dám đưa lên phim.

Nhưng từ lâu, người dân tay không tấc sắt đã phải đối mặt với “sự nghiêm trọng”, với nỗi bất an có tên là giang hồ, là xã hội đen, là băng nhóm ngầm, là…bụi đời này.

Bởi khi đã dám “uy hiếp”, “đe dọa”, “khủng bố” nhà chức trách, những người thực thi công vụ với nhân danh pháp luật trên đầu, tay trái hình luật, tay phải còng số 8, thì câu chuyện không đơn thuần là việc những người dân không tấc sắt có thể trở thành nạn nhân bất cứ lúc nào.

Mà còn là chuyện kỷ cương.

Bởi khoảng cách giữa 2 lần giang hồ, băng nhóm, xã hội đen với “uy hiếp”, “đe dọa”, “khủng bố”, “cát cứ”, “thế giới ngầm” và “thu tiền” không phải chỉ là vài ngày giữa 2 phát ngôn.

Mà là khoảng cách giữa một đằng là việc nói thẳng về một hiện thực làm chậm tiến độ công trình xây dựng cấp quốc gia và một đằng dùng hiện thực để bao biện cho những khó khăn trong công tác quản lý mãi dâm ở một địa phương được coi là điểm nóng.

Trần đời mới có chuyện giang hồ, xã hội đen, băng nhóm và…bụi đời xuất hiện trên bàn nghị sự quốc gia như một sự cản trở đối với công việc nhà nước.

Và dường như người dân mong muốn cơ quan công quyền nhìn thẳng vào sự thật, để dẹp bỏ phần nào nỗi bất an đang treo lơ lửng trên đầu họ, hơn là cãi nhau xem có hay không có chuyện băng nhóm giang hồ thâu tóm, cãi nhau xem có phản ánh đúng hiện thực xã hội hay không.

Bởi một nhà nước, ngoài việc không thể sử dụng xã hội đen trong các ứng xử với nhân dân thì cũng không thể dùng xã hội đen làm lý do biện minh cho sự lỏng lẻo trong quản lý.

Một nhà nước không thể “sợ” xã hội đen.

Và một nhà nước lại càng không thể che dấu hiện thực xã hội đen, giang hồ, băng nhóm, và…bụi đời - dù nó xuất hiện hàng ngày - chỉ để được cái tiếng là bình an.
-----------------------------
* Nhan đề bài viết do MTH đặt lại, không phải nguyên bản của tác giả.
* Hình ảnh đã được đăng tải tren trang Xóm Nhiếp ảnh và các PTTTĐC, mạng xã hội khác chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến nội dung bài viết.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích tiểu thuyết NHỮNG ÁNG MAY QUA của HG




Ngày đến làng tôi ông Tú Ất có cái la bàn bỏ túi. Khi bố tôi đưa gia đình đi tản cư ông tặng bố tôi, vừa làm kỷ niệm, vừa lấy cái xác định phương hướng đi đường. Nó nhỉnh hơn chiếc đồng hồ quả quýt, có nắp mở ra, gập lại. lại có sơi dây xích nhỏ bằng đồng để móc vào miệng túi khá dài. Khi bố tôi trở lại quê nhà, ông đưa nó cho tôi. Trừ những lúc đi ngủ hay tắm sông tôi mới tháo ra, còn thì suốt ngày đeo vào cổ, như trọng tài đeo cái còi.
Không ngờ lần ra đi này cái la bàn phát huy tác dụng. Nó bớt cho tôi những quãng đường quanh không cần thiết. Tôi cứ nhằm hướng bắc mà đi. Chỗ nào men được theo sông thì men, chỗ nào bờ sông không có lối lại xem la bàn. Có chỗ thuận theo đường. Chỗ tắt qua bãi mía, nương dâu. Chỗ vượt qua con ngòi nhỏ hay những vũng nước đọng không quá sâu.
Bạn đường của tôi là những đám mây trời, tôi cứ nương theo nó mà hưởng trọn bóng mát ít ỏi ngày cuối mùa hạ.
Nắng lửa héo cả tán lá bên đường, nung nóng những hố nước bỏng giãy có thể làm lông gà lông vịt.
Làng quê Việt Nam đâu đâu cũng hao hao giống nhau. Cũng lũy tre xanh gầy guộc thấp thoáng bóng cò. Những đường làng ngõ xóm quanh co, những bờ ao nhơ nhác lũ trẻ gầy mòn. Những bà mẹ già, nét mặt nhăn nhúm, mắt mờ đứng đợi con bên cửa, kiên trì năm này qua năm khác. Những ngôi đình trên tường kẻ vô số khẩu hiệu nét chữ nguệch ngoạc, nhiều chỗ sai lỗi chính tả, văn phong thật buồn cười. Có chỗ người nào đó biến thể nó ra những câu ca dao để dễ nhớ, dễ đi vào lòng người, kiểu môn phái của cụ Bút tre thời sau này. Đại loại “ Anh Lanh ơi hỡi anh lanh, anh về phân bắc phân xanh đầy chuồng”. Hay “ Trên trời con khi chơi đu, thằng Ngô Đình Diệm bú cu..”
Bắt đầu một thời kỳ văn hóa khẩu hiệu đi vào lịch sử quốc gia.
Một quốc gia theo lời ông Tú Ất ngày xưa có tên gọi Việt Thường, khởi phát từ Động Đình Hồ, tỉnh Hồ Nam kéo dài qua Quảng Đông, Quảng Tây, Đảo Hải Nam và từ Quảng Bình trở ra hết miền bắc Việt nam thời bây giờ.
Quốc gia ấy cứ bị thu hẹp dần bởi sự xâm lấn của người phương bắc. Hết nhà Sở đến nhà Ngô rồi nhà Hán, nhà Minh, nhà Thanh sau này..
 Người ta cứ hay nhầm lẫn hai chữ “Giao Chỉ” bởi âm mưu của ngoại bang giải thích rằng đó là vùng đất tộc người có hai ngón chân cái giao vào với nhau. Kỳ thực không phải như vậy. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ phân vân thế thôi, chứ chưa có tài liệu nào để tham khảo về việc này. Gân đây tôi mới được đọc một bài viết của một tác giả chỉ biết tên, chưa biết mặt. Tôi thấy anh ta có lý, khi viết rằng:
( Địa danh Nam Giao góp phần sinh ra khái niệm Giao Chỉ Nam Giao sẽ đẻ ra khái niệm Giao Chỉ. Thật vậy, Giao Chỉ với chữ Chỉ có bộ phụ mang nghĩa là vùng đất, khu vực. Giao Chỉ là vùng đất tiếp giáp, vùng biên cương vương triều ở về phía nam của địa danh Nam Giao. Chữ Chỉ ngoài bộ phụ, còn có một chữ Chỉ nữa đồng âm như bộ Túc (bàn chân). Sự nhầm lẫn giữa hai chữ Chỉ này góp phần khiến cho nhiều sử gia từ Đông Hán trở về sau có rất nhiều cách giải nghĩa Giao Chỉ. Trần Thư, một bộ sử do Diêu Tư Liêm viết năm 636 đã lần đầu tiên ghi thêm một chữ Chỉ nữa với bộ Thổ (đất) trong từ Giao Chỉ. Cổ văn Trung Hoa có qui tắc "đồng âm thông giả", tức những chữ đồng âm đều có thể mượn và sử dụng lẫn lộn. Khi tìm nghĩa một chữ phải vận dụng ngữ cảnh đang xét chứ không thể máy móc giữ nghĩa chết của chữ ấy trong những tài liệu khác ít liên hệ. ( Trương Thái Du ).

Nước nhà từ nay độc lập, nhưng lịch sử còn bao nhiêu điều mơ hồ, căn nguyên là từ những can qua. Nhân tài bị diệt, sách vở bị đốt hết. Sử vẫn là sử mang nhiều nét huyền thoại, thiếu sót.
Tôi vừa đi vừa suy nghĩ miên man như thế, quên cả hoàn cảnh thực tại của bản thân mình.
Tự nhiên thấy thương thương điều gì đấy mơ hồ chưa rõ nghĩa. Hóa ra tôi là phần hậu duệ, tinh hoa của quốc gia vĩ đại  ấy còn sót lại? Một lãnh thổ rộng lớn giống như trong chuyện “Miếng da lừa” của Ban zắc, sau mỗi điều ước lại thu hẹp dần lại?
Cho đến bây giờ còn dải đất chật hẹp này, chênh vênh trên bờ biển đông. Không rõ bây giờ và sau này nữa, còn bao người phải vượt biển ra đi vì bị dồn đến bước cùng đường? Một số phận vừa điêu linh, vừa kiên cường, hào dũng của bao thế hệ sinh ra trước cuộc đời tôi?

Đến đồi Cây Me thì trời xập tối. Chỗ này ngang với khúc sông đêm nào nhà tôi ghé lại hồi tản cư. Nơi ấy có người đàn bà ngồi khóc bên chiếc quan tài của chồng vì chưa nhờ được người mai táng cho người xấu số mồ yên, mả đẹp. Bố tôi phải dừng thuyền vào làng tìm người giúp người ta. Đã gần mười năm trời, sao hình ảnh ấy cứ khắc sâu vào trong trí nhớ của tôi?


( Còn nữa..)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà thơ gặp rắc rối vì... thơ

TT - Một cuộc họp khá bất thường với nội dung "đối thoại giữa tác giả bài thơ và những người có quan tâm tới bài thơ Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân" đã diễn ra chiều 13-8 tại Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo (Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai, TP Biên Hòa)

Tác giả bài thơ là Ðàm Chu Văn - chuyên viên cao cấp Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai kiêm phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật (VHNT) Ðồng Nai, tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Ðồng Nai, còn "những người quan tâm tới bài thơ" là ông Huỳnh Văn Tới (trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai, chủ trì cuộc đối thoại) cùng các lãnh đạo Hội VHNT Ðồng Nai, NXB Ðồng Nai, nhà văn Trần Thu Hằng (tham dự với tư cách phóng viên báo Lao Ðộng Ðồng Nai)...
Bài thơ Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân của nhà thơ Ðàm Chu Văn đã từng đăng trên báo Văn Nghệ cách đây một năm (số 16, ngày 16-4-2011). Nhưng mới đây (ngày 2-7-2012) nhà văn trẻ Trần Thu Hằng đã gửi đến Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai một lá thư gọi là góp ý kiến (về việc phê bình tư tưởng và việc làm của đảng viên), trong đó có đoạn: "Cảm nhận ban đầu của tôi là bài thơ dùng nhiều từ ngữ hoa mỹ để nói thay một cái cây cổ thụ, song bên cạnh đó lại thể hiện quan điểm chính trị một cách định kiến, ám chỉ khá tùy tiện"... Bên cạnh thư góp ý kiến, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai còn nhận được một "thư kiến nghị" nặc danh xung quanh bài thơ này.
Trước sự việc như vậy, ngày 10-7-2012 Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai đã có văn bản "đề nghị chủ tịch Hội VHNT Ðồng Nai giao cho bộ phận lý luận phê bình thẩm định về chuyên môn". Nhưng Hội VHNT Ðồng Nai đã không thực hiện được với lý do: "Hội VHNT Ðồng Nai không thành lập được bộ phận lý luận phê bình".
Trong khi đó, theo báo cáo của Hội VHNT Ðồng Nai, nhân lớp tập huấn công tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật (diễn ra từ ngày 10 đến 13-7-2012 tại TP Biên Hòa), ông Nguyễn Khánh Hòa - chủ tịch Hội VHNT Ðồng Nai - đã tranh thủ lấy ý kiến của ông Nguyễn Hồng Vinh (chủ tịch hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật TƯ). Ông Nguyễn Hồng Vinh sau khi đọc bài thơ và tham khảo đồng nghiệp đã nêu ý kiến: Ý chính của bài thơ lấy hình tượng những cây dầu cổ thụ để ví với nhân dân bao đời, "đây là một bài thơ có tứ tốt, nhưng đôi chỗ còn hạn chế như cách đặt tên bài, cách diễn đạt chùm câu cuối, và vài chỗ trong bài dễ khiến người đọc hiểu theo hướng không có lợi"...
Gần đây nhất, ngày 8-8, nhà thơ Hữu Thỉnh - chủ tịch Hội Nhà văn VN - trong công văn gửi Ban Tuyên giáo trung ương thì khẳng định: "Ban thường vụ Hội Nhà văn VN khẳng định bài thơ có tư tưởng lành mạnh, tình cảm trong sáng có ý nghĩa khao khát vươn lên tới sự trường tồn của thiên nhiên, của dân tộc"...
Thế nhưng, "để rộng đường trao đổi chuyên môn", Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai vẫn tổ chức cuộc "đối thoại" xung quanh bài thơ trên trong hơn bốn giờ (từ 13g30 đến hơn 17g30). Quan tâm đến số phận một bài thơ, phóng viên xin được tham dự cuộc "đối thoại" này nhưng ông Huỳnh Văn Tới nêu lý do "cuộc họp mang tính chất nội bộ". Trả lời phỏng vấn sau cuộc họp, khi được hỏi việc tổ chức họp, đối thoại xung quanh một bài thơ hay một tác phẩm văn học có phải là sinh hoạt thường xuyên của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai hay không, ông Tới trả lời rằng sở dĩ có cuộc họp này vì Hội VHNT Ðồng Nai đã không làm tròn trách nhiệm. "Hơn nữa, đồng chí Ðàm Chu Văn là chuyên viên cao cấp của Ban tuyên giáo, nên khi có đơn phản ảnh về một số câu chữ trong bài thơ của đồng chí có vấn đề thì chúng tôi phải xem xét. Chúng tôi chọn hình thức đối thoại để mọi người nêu ý kiến. Hiện chúng tôi không kết luận, cũng không đưa ra hình thức kỷ luật hay phê bình nào cả. Nhưng phải nghiêm túc rút kinh nghiệm của ba phía: tác giả, Hội VHNT và cả cá nhân tôi nữa" - ông Tới nhấn mạnh.
Kết thúc cuộc họp, nhà thơ Ðàm Chu Văn bước ra với gương mặt bơ phờ, rồi thoắt cái biến mất. Khi liên lạc với ông thì biết ông đã về nhà. Qua điện thoại, nhà thơ tâm sự: "Thật là đáng sợ khi một người làm thơ phải ngồi giải thích mình làm bài thơ này là ý nói cái gì, câu thơ này mang ý nghĩa gì. Nhà thơ có quyền từ chối điều đó, nhưng tôi đã chịu đựng trong cuộc gọi là đối thoại này vì tôi nghĩ mình trong sáng, chân thành. Nghe chuyện này chắc bạn nào mới làm thơ phải khiếp vía. Nhưng tôi, một người làm thơ lâu năm, tuổi đời từng trải, tôi nghĩ mình sẽ tiếp tục làm thơ thôi".
 TRẦN NHÃ THỤY
Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân
Tuổi ta nhiều hơn tuổi các ủy ban
bao nhiêu lượt mùa xuân về không nhớ nữa
những tòa nhà cao tầng có thể cao hơn ta nhưng vẫn cần sự che chở của ta
ta ủ rừng đại ngàn trong từng thớ cây mạch rễ
ủ thời gian trong xạc xào tiếng lá
ủ niềm vui, nỗi buồn những sớm nắng chiều mưa...
Sông Đồng Nai dâng tuần tự nhịp mùa
trong tầng tầng nước kia có hàng triệu giấc mơ thao thức
ta nghiêng vào sóng nước
nước tràn lên ta vô tận thời gian
nghiêng vào mênh mang
mênh mang nói với ta bằng lời của nắng
thuở nai, mễn đàn đàn ran suối vắng
“tác...tác...” gọi bạn tình náo nức nhịp rừng sôi
lặng như cây cũng muốn góp lời
có một cánh bướm trắng đang đậu trên ngực ta vụng dại và tin cậy
Một sớm mai thức dậy
hơi phố thị ngạt ứ lồng ngực
bằng bản lĩnh của loài tứ thiết
những cánh tay xanh cố trỗi vượt lên cao...
Ta phải nghe những mặn nhạt cuộc đời bên ký ức xưa bầu bạn
nơi quản lý và sản sinh những buồn vui, số phận...
những thánh nhân bên cạnh những tầm thường
chợt khát thèm một sớm mù sương
không nhìn rõ mặt người
mơ màng
hi vọng.
ĐÀM CHU VĂN
(Nguồn: báo Văn Nghệ ngày 16-4-2011)

Cú giãy cuối cùng của nền phê bình chỉnh huấn

Tháng 7, 10, 2013
Phạm Thị Hoài
Năm ngoái, mấy cây dầu cổ thụ trong một bài thơ ít người biết đếnbỗng khuấy động chút ít thi đàn Việt Nam. Tác giả, ông Đàm Chu Văn, chuyên viên cao cấp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai kiêm Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai, Tổng Biên tập tạp chíVăn nghệ Đồng Nai, bị một đồng nghiệp thấm nhuần lập trường chuyên chính soi quan điểm chính trị. Cuối cùng mọi chuyện cũng ổn. Ông chỉ mất bốn tiếng đồng hồ giải trình sự trong sáng của mình với cơ quan tuyên giáo. Báo chí đưa tin. Đồng nghiệp Hồng Vệ binh im. Quan văn nghệ trung ương bật đèn xanh. Như trong vụ “Cánh đồng bất tận” sáu năm trước, những robot tuyên giáo ở một số tỉnh lẻ có lẽ vẫn tiếp tục chạy theo lập trình đấu tranh tư tưởng mấy thập niên quên cập nhật, nhưng thời của nền phê bình chỉnh huấn trên diện rộng ở toàn quốc đã qua rồi. Không ai đọc ai điếu cho nó. Nó đơn giản đã đóng xong vai trò kinh dị của mình trong một chương kinh hoàng của văn học sử đất nước này.
Tôi phải nhận rằng mình chưa bao giờ hâm mộ trường phái thơ mượn lời cỏ cây hoa lá để tâm tình. Khi tôi đến với văn chương thì những tâm tình đặc sắc nhất đặt vào miệng thiên nhiên đã được thốt ra rồi, từ đó trở đi cứ thấy cánh hoa nào trầm ngâm, nhành cây nào đau đáu, áng mây nào nặng trĩu nhân văn là tôi bỏ chạy. Tôi phải bảo vệ tình yêu văn chương của mình. Cũng như mọi tình yêu, chết vì buồn tẻ là nguyên nhân hàng đầu.
Với một thái độ thiếu khách quan không buồn giấu diếm như thế, tôi không thể bình luận về bài thơ vừa nhắc, nhan đề “Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân”. Thực ra cuộc chỉnh huấn mini nói trên không liên quan gì đến thông điệp nghệ thuật của bài thơ. Vấn đề không phải là chỗ đứng của những cây dầu hoàn toàn vô can ấy trước trụ sở ủy ban nhân dân. Vài chục năm trước, có đứng trong rừng mà tâm sự mông lung như vậy thì chúng cũng bị đốn. Vấn đề là chỗ đứng của tác giả. Ở vị trí cán bộ tư tưởng và quan văn nghệ hạng đầu tỉnh, ông Đàm Chu Văn chỉ nên cho những phát ngôn viên của ông đứng trước một tiệm McDonald’s. Như thế sẽ vẹn cả mọi bề, vừa không ngán đồng nghiệp nào chỉ điểm, vừa thêm được tinh thần đi trước thời đại (ít nhất là hai năm, vì tập đoàn McDonald’s vẫn chưa hạ cố đến thị trường Việt Nam), và tất nhiên không mất mát gì về thông điệp nghệ thuật. Để có mấy lời tâm sự “mưa nắng ở đời” như thế thì đứng trước trụ sở ủy ban nhân dân hay trụ sở McDonald’s không có gì khác nhau. Nói cách khác, nếu là một nhà thơ tự do, tác giả của mấy cây dầu đó có thể khuân chúng ra tận.., tâm sự mông lung hơn nữa cũng không phải giải trình trong sáng với ai. Đã từ lâu không kiểm soát nổi những nhà thơ tự do, nền phê bình chỉnh huấn chỉ còn ngắc ngoải bằng dăm ba nỗ lực uốn nắn nền thi ca chính thống, nơi điều duy nhất có thể mất và vì thế cần bảo vệ không phải là tự do, mà là sự lệ thuộc. Thấm thía điều này hơn ai hết có lẽ là người đã rời – chắc chắn không phải vì tự nguyện – cương vị đứng đầu ngành tuyên giáo quốc gia để trở về “chường cái mặt ra trong thơ”: ông Nguyễn Khoa Điềm.
Nhưng trước khi yên vị trong nhà quàn, nền phê bình chỉnh huấn ấy còn muốn cống hiến cho chúng ta một cú giãy, tuy quá thiểu não để có thể giải trí nhưng đáng để bình luận, vì rất có thể là cú giãy cuối cùng. Lần này, nó dồn hết những mảnh vụn kí ức sót lại về một thời sinh sát oanh liệt vào ngọn roi tàn, giáng xuống một bản luận văn thạc sĩ ba năm trước về nhóm thơ tự do đáng kể nhất từ thời Đổi mới ở Việt Nam, nhóm Mở Miệng.
Trong cuộc truy sát Nhân văn-Giai phẩm, ít ra chúng ta biết: Người “vạch trần bộ mặt thật” “trụy lạc phản động” của Trần Dần là nhạc sĩ Đỗ Nhuận; người hô hào cả nước “phải chặn lại không cho Trương Tửu được tự do truyền bá những tư tưởng phản động, những tác phong đồi bại” là nhà phê bình Hoài Thanh, cũng chính là người xác định tính chất “xuyên tạc”, “vu khống”, “phản động” của bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần; người tố giác cả một “hệ thống những sai lầm xấu xa”, những “dụng ý rất đen tối” của Tử Phác là nhạc sĩ Lương Ngọc Trác; người lột “cái mặt gian xảo” của Lê Đạt như “một kẻ ẩn núp, tàng hình, đã từng quay quắt được một thời gian, nhưng rốt cục cái bản chất phản lại giai cấp vô sản lòi ra mồn một” là nhà thơ Xuân Diệu, cũng chính là người phát hiện Văn Cao “gài mìn chống phá Đảng và nhân dân”; người quyết “vạch rõ tội lỗi của Phan Khôi đã bao nhiêu năm làm tay sai cho đế quốc, nịnh hót phong kiến, huyễn hoặc, lừa bịp, đầu độc nhân dân để kiếm bát cơm, manh áo”, “chống Đảng, chống cách mạng, phản nhân dân, phản Tổ quốc”, “từ bé đến già bóc lột của nông dân, ăn cướp của nhân dân” là nhà văn Nguyễn Công Hoan; người gọi tác phẩm của Trần Duy là cái thứ “văn nghệ vô nhân đạo của thần chết”, là “những thứ cỏ độc, mà chúng ta phải nhổ sạch, quét sạch, để vứt vào rác, hoặc làm một thứ phân bón cho những bông hoa chân chính trong vườn văn nghệ của ta” là nhà phê bình Vũ Đức Phúc…; chưa kể hàng trăm văn nghệ sĩ không kém danh tiếng khác – từ Thế Lữ, Bửu Tiến, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Đoàn Giỏi, Tú Mỡ, Đoàn Văn Cừ, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tuân…, đến Nguyễn Đổng ChiNguyễn Đình ThiVõ Huy TâmĐào VũBùi Huy Phồn… – hăng hái góp đinh cho những chiếc búa tạ nêu trên chốt quan tài những đồng nghiệp “nổi loạn” của họ.
Còn bây giờ, vung roi dọa nhà nghiên cứu Nhã Thuyên và nhóm Mở Miệng là lèo tèo một nhúm vô danh hay ẩn danh: một Cẩm Khê nào đó trên Nhân dân, một Tuyên Hóa nào đó trên Quân đội Nhân dân, một Minh Văn nào đó trên Thanh tra, những tờ báo lẽ ra không có phận sự thì miễn vào địa hạt văn học và cho đến lúc này không có đồng minh tự nguyện từ giới văn nghệ, trừ một người: nhà phê bình Chu Giang.
Quan hệ của chúng ta với các nhà phê bình văn học thực ra không khác lắm quan hệ với những người bán cá ở chợ, nó dựa trên sự tin cậy [i]. Sự tin cậy ấy đương nhiên tùy thuộc vào mỗi người và phải có cơ sở. Song chẳng cần nhiều lắm; đôi khi chỉ cần nếm vị, ngửi hơi là ta chấm xong điểm tín nhiệm. Ai muốn biết tầm vóc của nhà phê bình Chu Giang, tức ông cựu giám đốc NXB Văn học Nguyễn Văn Lưu, tác giả cuốn Luận chiến văn chương từng đoạt Giải thưởng Hội Nhà Văn năm 1996, có lẽ chỉ cần thưởng thức vài dòng trong loạt bài luận chiến đăng trên Tuần báo Văn nghệ TP HCM năm ngoái, phê phán tác phẩm và con người Nguyễn Huy Thiệp, đối tượng được ông chiếu cố từ thuở Văn học Đổi mới đến giờ chưa buông. Cá nhân tôi tưởng mình đang lạc vào vườn trẻ, nơi ông Lưu giậm chân mách cô giáo rằng văn chương thằng Thiệp không ra gì vì nó vừa đái bậy xong lại tranh đồ chơi của thằng khác. Nhưng ông cũng có thể rất nghiêm túc. Khi nghiêm túc, ông tuyên bố rằng: “Nếu chúng ta đi theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất cùng bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện theo những lời dạy của Hồ Chí Minh, thì đoàn kết được cả dân tộc, đoàn kết được cả giới văn nghệ”. Mọi bình luận ở đây là thừa.
Có những nhà phê bình mà khi được họ khen thì ta nên giật mình, còn lời chê của họ là bảo đảm đáng tin cậy nhất cho giá trị của tác phẩm bị họ phê phán. Tôi coi ông Nguyễn Văn Lưu thuộc loại này. Năng khiếu phê bình văn học (!) của ông nằm ở sự dị ứng không nhầm lẫn trước tất cả những gì vượt khỏi thước đo hạnh kiểm bỏ túi và cẩm nang thuật ngữ chính trị xuất bản năm 70. Ở thời hoàng kim của nền phê bình chỉnh huấn, phẩm chất ấy đáng giá vài cái Giải thưởng Hồ Chí Minh. Song sinh bất phùng thời, bây giờ nó được huy động cho cú giãy cuối cùng của nền phê bình ấy. Tôi tin rằng cả những người bị coi là phải chịu trách nhiệm về phương diện nhà nước cho công trình nghiên cứu mà ông hùng hồn gọi là “một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối” lẫn tác giả Nhã Thuyên đều đủ rộng lượng để ghi nhận hành vi mang tính lịch sử này. Không phải ngày nào cũng có một nền phê bình giãy chết.
Còn nhóm Mở Miệng? Họ thà bị đem ra tra tấn bằng thơ, chứ nhất định không chịu mở miệng giải trình cái gì mà trong sáng. Nhưng tất nhiên họ sẽ mở miệng thật rộng để cười, dù biết rằng có những thứ giãy mãi không chết.
© 2013 pro&contra

Phần nhận xét hiển thị trên trang