Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

TrichsTT:


Không biết những câu chuyện của anh Bình chồng chị Nhiên đối với anh hai tôi có ý nghĩa như thế nào? Một hôm anh anh ấy hỏi tôi: “Mày có biết trai thời loạn, gái thời bình có ý nghĩa như thế nào không?” Tôi bảo tôi chưa nghĩ lắm chuyện này. Giờ cái quan trọng nhất với tôi là phải cố học cho thật giỏi. Anh tôi lại nói: “Thời nào cũng vậy, nhất quyền, nhì tiền, ba mới là tài năng”. Tôi bảo có khi anh lầm. Ở đời chữ tài chữ đức mới quan trọng bậc nhất. Muốn có hai cái này người ta cần phải học để biết phân biệt tốt xấu, đúng sai, mới tu tâm rèn tính để thành tài và có đức được.
Anh cười khẩy: “Mày nói cứ như mấy ông cụ hủ nho! Cái gì tu nọ, tu kia? Anh Bình nói với tao muốn thành sự nghiệp vào thời loạn này, không gì hơn vào quân đội. Đấy mới là môi trường phấn đấu, có chỗ đứng sau này..”
Cứ tưởng anh nói vậy thôi, chứ chưa chắc đã làm như lời nói. Không ngờ anh làm thật. Một buổi chiều tôi ở trường về, bá tôi đưa tôi mảnh giấy, bảo: “thằng Khiêm trốn bá đi bộ đội rồi! Nó muốn đi cứ nói với bác bá một câu, ai ngăn cản nó làm gì? Sao lại phải trốn đi? Bá chả chuẩn bị được cho nó cái gì. Đi đánh nhau chứ có phải đi chơi đâu mà vội vàng thế?”
Tôi không biết nói với bá thế nào. Trước khi đi anh ấy có nói gì với tôi ngoài những lời tôi vừa mới nhắc đến đâu?
Trước đó mấy tháng, anh đã bỏ học ở nhà, theo nghề một ông thợ mộc ở gần nhà bá tôi. Anh bảo: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay”. Câu này hình như anh đã nhắc đến mấy lần!
Thực ra, cùng lớp với anh có hai thằng  nhà ở Cầu Đen. Trước ngày chúng thân với anh lắm. Sau này vì ghen tuông bởi một cô bạn học gì đấy, hai đứa luôn tìm cách phục đánh anh giữa đường.
Anh học buổi đực buổi cái vì chuyện này và học sút hẳn, bị thầy quở trách sinh chán nản. Tôi nhớ có lần anh Bình khoe là “vào bộ đội còn được học võ thuật”. Không khéo anh Khiêm vì động cơ này? Muốn có dăm ba miếng võ để trị hai tên bạn xấu kia chăng?
Người ta cứ hay thi vị những cái thực ra nó rất bình thường, chẳng hạn như việc tòng quân của anh tôi. Nguyên nhân của những “phi thường” nói quá lên thường lại do từ những cái nhỏ nhặt, có khi còn tầm thường nữa. Chưa chắc đã cao đẹp ngay từ lúc dự tính ban đầu! Chỉ trong quá trình và môi trường sau này mới hình thành và xây đắp nên hình tượng về sau.
Có lẽ do bị khống chế áp bức, anh tôi với mong muốn rửa hận nhiều hơn những lý do cao cả? Đó là ý nghĩa thiển cận, có thể hồ đồ của tôi lúc bấy giờ.
Ngày anh tôi trở thành sĩ quan, gặp hai tên bạn kia anh vẫn vui vẻ như không, chả nhớ đến chuyện cũ. Lúc ấy tôi mới khẳng định là mình nhầm..

Nhà còn có mình tôi đi học. Quyết chí thành tài là ý nghĩ luôn rạo rực trong tôi!
Cũng là thời gian ở dưới quê giặc càn quét dữ quá. Bố mẹ tôi một lần nữa lại chạy lên trên này. Bác bá tôi đã chuyển ra chợ, phố ngoài bờ sông. Khu vườn cũ, nhà đã chuyển đi, giờ trồng sắn. Hai ông bà giao lại cho bố mẹ tôi. Bố tôi nhất quyết đòi trả tiền cho bác bá. Hai người chỉ lấy mươi đồng bạc có ý nghĩa tượng trưng. Với lại đất cát hồi ấy chưa có giá trị gì nhiều, chẳng qua là tính chút công trồng nương sắn.
Bố tôi dựng tạm cái nhà bằng tre nứa. Kiểu nhà như vậy không tốn mấy công. Từ khi bố mẹ lên, tôi không ở nhà bá nữa. Tôi về nhà mới của mình.
Chỗ này như đã nói, mãi sau có người giỏi phong thủy nói là: “ Tàng long, tụ thủy”, tốt về lâu về dài. Nhưng khi đó cả bố mẹ tôi, tôi và nhiều người khác chưa hề nghĩ đến. Vẫn mang tâm trạng của người đi tản cư “nay ở mai về”. Chưa có chuẩn bị gì cho dài lâu cả. Tôi mới lớn chưa đủ ý thức được:“Con người ta sinh ra mỗi người có một nơi để sống, một nghề để nuôi thân, một nơi để kết thúc một đời”.
Gần đến ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, tình hình dưới quê tạm yên, bố mẹ tôi lại lần về quê. Kỳ này chỉ còn mình tôi ở trong căn nhà bé nhỏ, xung quanh trồng toàn chuối ngay sát mặt hồ.
Một hôm làm vườn, tôi tình cờ thấy một căn nhà nữa cách nhà tôi một quãng. Đó là nhà ông Tủm bố anh Cu Tý năm xưa.
Không biết hai ông bà ấy lên đây từ lúc nào mà tôi không biết?
Anh cu tý giờ đang làm gì? Ở đâu?
Hỏi bố mẹ anh ấy nói không biết. Hai người lên đây trước bố mẹ tôi nửa năm do có người nhà trong phố mua cho chỗ đất này.
Bố mẹ tôi có biết việc này. Sở dĩ không ai nói với tôi vì thấy tôi suốt ngày ở trường, chả có liên quan gì đến họ.
Đúng là “không phải ngẫu nhiên mà gặp, mà gần một người nào đó”. Sự liên hệ của ta với họ, có thể không ngoài một chữ “duyên”?


( Còn nữa..)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN



 alt

            Nhà thơ Đỗ Hoàng 

 
                                                   Đỗ Hoàng
 
      Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những người làm thơ cổ động cho miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến hai miền Nam Bắc Việt Nam thập kỷ 50, 60, 70 thế kỷ trước có sự trợ giúp của nước ngoài ở cả hai phía. . Trong chiến tranh chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm xếp sau các nhà thơ khác như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy…Khi Nguyễn Khoa Điềm làm quan to thì thơ ông mới to theo, trước đó mấy ai biết ông.
 Thơ của thế hệ này là thơ tuyên truyền một chiều, một phía..
Lạ lùng cuộc đời nay
Đến văn chương cũng đĩ
Loài người làm khổ thay
Cái chiến tranh vô nghĩa!
(Tâm sự người lính 1973 – Đỗ Hoàng)
 Chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào cũng là nỗi đau muôn kiếp của nhân dân cần lao. Các bậc thánh nhân ngày trước bất dắc dĩ mới dùng đến binh khí:
Nãi tri binh dã thị hung khí
Thánh nhân bất đắc nhĩ nhi dụng chi
(Lý Bạch)
Binh đao ác độc vô cùng
Thanh nhân cực lắm mới dùng ai ơi!
(Túy thì ca – Đỗ Hoàng dịch)
Sư chi sở xứ
Kính các sinh yên                                    
Đại quân chi hậu
Tán hữu hung niênalt
(Lão tử)
Chỗ đóng quân lính
Gai góc mọc đầy
Đằng sau cuộc chiến
Đói khổ lắm thay!
(Đỗ Hoàng dịch thơ)
 Những người tham gia cuộc chiến hai miền họ cũng không thoát khỏi áp lực của thể chế, vừa do văn hóa, do tầm nhìn, tầm nghĩ hạn chế nên cả một thế hệ nói theo bài bản định sẵn, viết sẵn hay áp nà, nói lấy được. Những câu chưởi địch không đau, không phải thơ,  kiểu chưởi hàng tôm, hàng cá:
Thành phố mọc như nấm độc những xnách-ba
Mỹ và đĩ
 (Con gà đất cây kèn và khẩu súng – Nguyễn Khoa Điềm)
Hay:
Chỉ cần sự bảo chứng của đô la và súng máy
Cùng cái đầu tối tăm của Giôn xơn, Ních Xơn đặt vào trên đấy!
(Giặc Mỹ - Nguyễn Khoa Điềm)
 
  Thơ họ là dàn đồng ca không lồ muôn người như một, hô khẩu hiệu suông, cũ kỹ, mòn vẹt , véo von, rập khuôn, sáo rỗng, không có tư tưởng, vô cảm trước nỗi đau của nhân quần trong cuộc chiến đầy chết chóc, xương núi, máu sông! Hình thành nên trùng trùng điệp các nhà cổ động viên, nhà ca học, cười học, hót học, hát học, tấu hài học vô tình hoặc cố tình …
  Thơ Nguyễn Khoa Điềm là loại dịch nghị quyết tuyên huấn cấp xóm khô khan, không một chút truyền cảm.  Nhiều kiểu định nghĩa các phạm trù đất nước, quê hương không đầy đủ, không chính xác, có phần phản cảm:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm(!)
(Đất nước – Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
Đất là nơi anh đá bóng cũng  phải kể  ra chứ… Nước là nơi em khỏa thân soi gương phải kể ra chứ…
   Trong văn chương cũng như trong toán học có những cái không định nghĩa mà chỉ mô tả. Điểm. mặt phẳng, trong toán học; tổ quốc, đất nước, quê hương trong văn học…là những mệnh đề người ta chỉ mô tả mà thôi. Nguyễn Khoa Điềm định nghĩa đất nước thì bao giờ cho đủ.
     Khi đường công danh Nguyễn Khoa Điềm càng cao, sự khô khan xơ cứng trong thơ lại tỷ lệ thuận với chức quyền, còn chất lượng thơ thì tỷ lệ nghịch với chức quyền. Đúng là được mùa cau thì đau mùa lúa; được mùa lúa thì úa mùa cau.
  Cammus từng nói: “Tôi không vì thơ ca mà hy sinh chính trị, nhưng tôi hy sinh những gì làm hại cho thơ ca”. Đấy là chính trị của một châu lục có truyền thống dân chủ tiến bộ, còn chính trị của cộng sản phương Đông, chính trị Tàu Ô thì thôi rồi lượm ơi! Phải bỏ thơ ca mà đi làm kỹ thuật thôi!
  Nguyễn Khoa Điềm muốn bắt cá hai tay, vừa làm quan thật to, vừa là nhà đại thi hào. Con rô cũng tiếc, con diếc cũng tham. Nhưng cuộc đời không cho ai vừa giàu như Bin gết, vừa tài thơ như Đỗ Phủ, vừa nhà chính trị quân sự lỗi  lạc như Thành Cát Tư Hãn, đep trai như Platini (cầu thủ đá bóng) …Thời coi Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều tiếng không hay cho lắm. Ông ta trù úm Hoàng Minh Chính, bắt nhà văn Dương Thu Hương, bôi nhọ Trần Độ, loại bỏ nhiều nhà bất đồng chính kiến, đàn áp những người đòi tự do dân chủ, cấm mạng , cấm internet, đốt thành tro bụi nhưng tập sách như Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Chúa trời ngù gật của Nguyễn Dậu, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, ngăn cản nhiều nhà văn tài năng vào Hội Nhà văn Việt Nam…Ký duyệt nhiều dự án tiêu hàng triệu đô là tiền ngân sách, thuế dân đống để phe nhóm hưởng lại quả nhưng hiệu quả không là bao như: phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, (phim bỏ kho) 1 triệu đô, phim Dòng sông phẳng lặng (phim bỏ kho), làng văn hóa Đồng Mô (làng bỏ hoang), Bác Hồ với văn nghệ sỹ…
   Đường hoạn lộ của Nguyễn Khoa Điềm khá hanh thông. Nguyễn Khoa Điềm quan quá to. Ông trùm tư tưởng văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Rồi đứt gánh giữa chừng. Ông quan to Nguyễn Khoa Điềm phải về vườn lúc tuổi chưa đến 60, còn một hai nhiệm kỳ trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nữa, nhưng lại bị ông cậu ruột của vợ là Nguyễn Đức Đạo viết đơn tố Nguyễn Khoa Điềm không phải là đảng viên và có thời gian bị tù ở lao Thừa phủ - Huế khai báo với địch.
 Chuyện này tôi biết ở Bảo Đảng Bình Trị Thiên năm 80 – 87. Hồi ấy có chủ  trương ngầm là ai bị tù ngụy thì phải hy sinh cho Đảng, không được tham gia chính quyền vì không biết ai khai, ai trung thành.
  Khi ra Hà Nội học, tôi nghe các anh trong Ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam bảo là có đơn tố cáo nói là Nguyễn Khoa Điềm không đảng viên. Tôi nói, tôi có biết việc này hồi ở Huế, nhưng tôi không tin. Vì tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam chặt lắm. Võ Đại Tôn gián điệp về nước đòi lật đổ chính quyền, mới qua biên giới Thái - Lào, mà Hà Nội đã chưởi cha ông Võ Đại Tôn bóc lột nhân lao động Bắc bộ, biết cả chuyện cha ông Võ Đại Tôn hiếp dâm nông dân đẻ ra hàng loạt địa chủ cường hào ác bá khác.
  Nguyễn Khoa Điềm không dấu sự len lỏi để làm quan và làm quan to của mình:
Anh mê mải trên đường hoạn lộ
Ngảnh về quê hư ảnh một vầng trăng
(Cõi lặng).
Thời làm quan to của Nguyễn Khoa Điềm là thời uy tín Cách mạng Việt Nam ở vào “ giai đoạn thoái trào”. Đảng Cộng sản Việt Nam xóa bỏ tất cả các đảng phái trở thành đảng độc tài chuyên quyền, đảng trị mất uy tín trầm trọng trong lòng dân tộc. Thời oanh liệt của Đảng Lao động Việt Nam không còn nữa. Thời dân và Đảng trên dưới một lòng, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào đi vào miền cổ tích. Nạn tham nhũng, mua quan bán tước lan tràn vô phương cứu chữa, quan lại làm giàu trên nước mắt mồ hôi người lao động.
Nó không khác gì bài ca tố cáo địa chủ, phong kiến đàn áp dân nghèo thời tiền Cách mạng:
Chưa hết mùa, trong nhà ta đã hết lúa
Đói xác xơ thương đàn con vất vả
Môn khoai sắn ngày qua ngày lọt dạ
Bởi địa tô chúng bóc lột công sức ta.
Chúng cấu kết cùng nhau cường hào gian ác
Đại chủ ngoan cố đè nén lên đầu bao người
Làm giàu trên nước mồ hôi người nông dân
Cướp trâu, cướp ruộng, cướp nhà người nông dân
Cướp con, cướp vợ, cướp nồi người nông  dân
Bần cố nghèo khổ muôn đời…
   Trước đó nhiều kẻ sỹ, thi sỹ như: Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi, Trương
Tửu, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán ...đã rút lui để giữ khí tiết.
 Bang hữu đạo tắc hiện, bang vô đạo tắc ấn. Bang hữu đạo bần ngã tiện ư sỷ giả, bang vô đạo phú ngã tiện ư sỷ giả (Nho giáo – Khổng tử) Nghĩa là: Nước có đạo thì nên ra làm việc giúp đời; nước vô đạo thì nên lui về giữ danh tiết. Nước có đạo mà ta nghèo là ta xấu; nước vô đạo mà ta giàu là ta xấu. Bỡi vì nước có đạo dung hiền tài, ta không tài nên mới không được dung nên phải nghèo. Nước vô đạo dùng kẻ xấu xa, ta xấu xa nên mới được dùng thì giàu là quá xấu.
  Người quân tử phải hiểu ra điều đó. Người không hiểu ra thì không phải là quân tử. Kẻ không quân tử mới bè phải, đảng phái.
   Quân tử bất đảng phải (Luận ngữ) - Quân tử không bè đảng, không bè phái. Quân tử, đại trượng phu, thi nhân không a dua, không hùa với đám đông:
Thị dĩ đại trượng phu
Xử kỳ hậu bất cự kỳ bạc
Xử kỳ thực bất cự kỳ hoa
Cố khứ bỉ thư thử
(Lão tử)
Phàm bậc trưởng lão
Xa chốn nhố nhăng
Bỏ hoa lấy quả
Trời đất cân bằng!
(Đỗ Hoàng dịch)
 
 Chuyện chính trị nói như trong Nam là không bàn, nay chỉ nói chuyện thơ của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức về vườn.
  Người Việt hay nhân loại nói chung đều tha thứ lỗi lầm của con người trước đây. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn viết được, còn trăn trở cùng nhân dân thì là điều đáng quý. Chuyện đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma thì mặc áo giấy là chuyện người tầm thường của muôn đời rồi. Những tài năng xuất chúng, thiên tài mới không mặc áo, ở trần dù đi với ai.
  Thánh Phê rô một tông đồ thân cận của Chúa Giê su. Trước đó là một tội đồ quyết tâm hành hung giết Chúa. Sau khi được cải hóa, thánh Phê rô có nhiều thành tích trong làm việc nghĩa, việc thiện được Chúa tin yêu. Có lần Thánh Phê rô hói Chúa: - Người bị phạm lỗi 7 lần tha thứ có được không? Chúa trả lời: - Kẻ phạm tội, ta 77 lần tha thứ.
   Thơ tuyên truyền của Nguyễn Khoa Điềm trước đây được giới phê bình chính thống tung hô rầm rộ; thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm khi về vườn cũng được một số người cỗ vũ.
  Để có cái nhìn đúng về những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm mà gọi là thơ gần đây, tôi có vài thiển ý nhỏ.
  Tất cả những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm trên các trang mạng xã hội, báo in chính thống đều thể hiện một tâm trạng bực tức, hằn học, tiếc nuối thời vàng son. Không có một chút gì gọi là thơ ca. Nó là một thứ Vô lối đang thịnh hành mà Nguyễn Khoa Điềm cố từ chối không nhận mình là làm Vô lối:
Rằng tôi không bợ đỡ ngôn từ, điếu đóm hậu hiện đại
Bưng mâm cho các cô nàng gót sen ba tấc chữ
(Comment – Tạp chí Thơ số 4 -2013)
 Nguyễn Khoa Điềm làm Vô lối nhưng viết không chân thành, giả nên không vào lòng người đọc.
 Từ xưa đến nay, trong nước và trên thế giới, nhiều nhà thơ làm quan to, thậm chí là vua giữ nhiều trọng trách của đất nhưng thơ của họ đi vào lòng dân, được nhân dân truyền tụng:
Oa oa …oa oa..oa oa!
Cha  trốn đi lính nước nhà
Nên khổ thân em vừa nửa tuổi
Phải theo mẹ đến ở nhà pha!
(Hồ Chí Minh)
Chu Thần nay ở nơi đâu
Để cho Miên Thẩm lên lầu không an
Tháng ngày tựa án lan can
Mãi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn
Dấu xưa nay biết đâu tìm 
Thương ai bảy nổi ba chìm nước non
Trăng kia khi khuyết khi tròn
Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi.
(Sóng Hồng- Trường Chinh)
   Nguyễn Khoa Điềm viết cho bạn thân là người từng đóng gạch với mình, người tri âm tri kỷ nhưng vẫn lấy cái giọng kẻ cả, khệnh khạng quan trên  ban phát thương xuống, không một chút rung động:
Bạn chừ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người
Bất ngờ bạn đến thăm tôi
Gửi cho nhiều sách, Ối giời là thơ!
….
Mong sao bạn bớt bồi hồi
Hãy làm thơ nữa để rồi gặp nhau.
(Bạn thơ – Nguyễn Khoa Điềm)
 
Sự khệnh khạng, cao ngạo bề trên, hổn xược với tiền nhân thể hiện nhan nhản trong thơ và trong Vô lối của ông:
Cái chết của viên tham tri hay thơ âm thầm trong chính sử
Mất hút một con thuyền chuồi qua cửa Thanh Long
(Nguyễn Du)
 
Thơ ca là bộc lộ sự thành thật, sự thành thật được trọn vẹn thì thơ hay (Bê se)
 Ngày trước,  thi hào Bạch Cư Dị là một trong tam kiệt của Đường thi (Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị). Ông làm quan đến Thượng thư nhưng thơ rất chân thành. Ông không đạt chiều cao của Lý Bạch, chiều sâu của Đỗ Phủ nhưng ông đạt được chiều rộng của thơ, chỉ vì khi nói tới nỗi khổ con người ông là người ngoài cuộc. Nhưng không vì thế mà không xúc động, không lưu truyền đến đời sau:
Kim ngã hà công đức?
Tằng bất sự nôn tang
Lại lôc tam bách thạch
Tuế án dữ dư lương
Niệm thử tự tứ quý
Tận nhật bất năng vương
(Quan nghệ mạch)
Ta có tài đức gì?
Không hề đi cấy cày
Lương ba trăm thạch thóc
Hết năm bồ còn đầy
Nghĩ vô cùng hổ thẹn
Mặt đỏ hết mấy ngày!
(Xem gặt lúa)
Thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm luôn luôn giả, luôn luôn sượng không thành tâm chút nào:
Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ
Bên dòng sông như chưa biết chiều tan
Tôi với nó lặng im bè bạn
Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang
(Chiều Hương Giang)
 Bản thân anh và loài người anh xơi tái hàng tỷ con bò mà vẫn coi nó là bạn thân thì là một việc xưa nay hiếm(!)
Một việc xưa nay chưa từng có.
Anh xơi tái muôn loài gặm cỏ
Mà chiều nay anh nổi tuyên ngôn
Anh với chúng bạn bè gắn bó!
(Thơ 4 câu – Đỗ Hoàng)
  Nhìn chung tất tần tật Nguyễn Khoa Điềm viết cái gì đều không thật, như là của giả.  Trong chính trị người ta thường dùng thủ đoạn để lừa nhau, để tranh thủ phiếu. Chỉ một cái táng tận lương tâm, kẻ hãnh tiến đoạt được một giang sơn. Song trong thơ ca dùng lừa đảo hoặc nói điều giả đối thì anh mất sạch. Giả dối là điều tối kỵ với thơ ca.
 Nguyễn Khoa Điềm than nghèo, nhưng người đọc nghe nó sến sến thế nào, bởi Nguyễn Khoa Điềm có nghèo đâu. Nhà lầu bốn năm tầng ở khu quan to Đội Cấn – Hà nội một thời có lính gác, nhà vường ở Huế mấy con mèo, con chó chạy một ngày chưa chắc đã hết vườn. Rồi còn biết bao của chìm của nổi khác nữa. Lương hưu của Nguyễn Khoa Điềm cao gấp mấy chục lần nhưng cán bộ quèn đang công tác. Làm sao mà nghèo được. giả nghèo thì được làm thơ giả nghèo thì là đồ giả.   Một ông quan to cỡ tột đỉnh như Nguyễn Khoa Điềm, nhiều kẻ có trang trại trên núi non chuyển đổi đất mường thành đất thủ đô thì làm sao họ cơ ngã như nông dân được. Họ làm sao mà nghèo đói. Một ông bí thư chi bộ xóm trong thể chế đảng trị cộng sản hơn nhiều lần quan phụ mẫu ngày xưa. Nên cái việc than nghèo của ông quan nhất phẩm Nguyễn Khoa Điểm rất giả dối:
Đêm đêm cái nghèo vuốt ve trán người chồng
Khẻ nâng bàn tay người vợ
Đặt cái hôn lên đôi chân trần đứa trẻ
Và thầm ngủ ngon… ngủ ngon…
(Đêm đêm – tạp chí Thơ số 4 -2013)
        Cái nghèo đi đêm của Nguyễn Khoa Điềm không đàng hoàng chút nào. Cái nghèo này là cái nghèo khai bậy để hưởng hộ nghèo mà Nhà nước triển khai mấy năm qua.
      Hơn nghìn nắm nay, các thi hào kim cổ đều nói tới cái nghèo. Cái nghèo của họ có thật nhưng không bị lụy, không khai gian nghèo. Họ nói lên được  cái nghèo của họ được mọi người đồng cảm thấu hiểu và chia sẻ. Nghèo họ cũng là nghèo mình. Nghìn năm rồi đọc cái nghèo của Đỗ Phủ ta còn xúc động:
An đắc hạ thiên vạn gian
Đại tý thiên hạ hàn sỹ câu hoan nhan
Ô hô! Hà thì nhãn tiền đột ngột hiện thử ốc
Ngô lư độc phá thu đồng tử diệc tức.
 
(Ước được vạn gian phòng rộng rãi
Kẻ sỹ nghèo có mái nhà che
Bao giờ? Hãy hiện ngay đi.
Thân ta chết cóng có gì ngại đâu.)
(Đỗ Hoàng dịch)
(Mao ốc vị thu phóng sử phá ca -
Bài hát gió thu thổi tốc nhà)
Xúc động với cái nghèo của Nguyễn Trãi:
Thập tải đọc thư bần đáo cốt
Bàn vô mục túc tọa vô chiên
(Mười năm đọc sách nghèo đến tủy
Mân không rau cỏ, chỗ đâu ngồi)
(Đỗ Hoàng dịch thơ)
Cái nghèo của Nguyễn Du thậm đau đớn. Cha làm quan mà con đói rét. Có khác gi Đỗ Phủ làm Tả thập di – Quan can gián vua mà con chết đói:
Thập tử cơ hàn bắc môn ngoại
( Mười miệng đói xanh ngoài cửa Bắc)
Và Nguyễn Khuyến:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu cau chẳng dám mua.
 Thơ ca cổ kim có nói đến cái chết. Chết là cái quan định luận. Lúc đó mới nói đúng cái được cái mất của đời người. Các thi hào xưa nay nói tới việc này một cách vô tư, thanh thoát, nhẹ nhõm, bởi vì cuộc đời của họ quá sáng trong, không bụi mờ:
Sống không để tiếng đời ta thán
Chết lại về quê quán hương thôn
Mới hay trăm sự vuông tròn
Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì
(Di chúc thư – Nguyễn Khuyến)
Hay:
Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời
(Cao Bá Quát)
Nguyễn Khoa Điềm nói đến cái chết như một lời thách thức, cao ngạo, rất cải lương, khô khan đại hạn:
Khi cái chết chắn cửa
Đời tôi
Cám ơn!
(Comment)
 Phần viết của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức quan to về vườn không có đổi mới, sáng tạo gì. Nó là một  thứ Vô lối xuất hiện từ mấy thập kỷ vừa qua. Nhiều câu dở hơn câu nói bộ:
Dậy thức hút thuốc vặt ( Đất nước những tháng năm thật buồn)
Tôi bày tỏ chính tôi,câu chữ của tôi, nước mắt của tôi (Comment)
Ngoài đường trẻ con đi học, trong nhà người già ngủ (Mùa bình thường)
Dùng nhiều âm Hán Việt , chữ nước ngoài chưa được Việt hóa: trật cước, comment…
  Người đọc tìm đọc Nguyễn Khoa Điềm làm thơ khi mất chức là vì người đọc tò mò, hiếu kỳ, không biết ông quan to hưởng không biết bao nhiêu bổng lộc của “triều đình”, bao nhiêu phần trăm dự án ma, dự án không ích nước lợi dân, bao nhiều biệt thự, đất đai mà vẫn làm thơ, thơ hồi hưu có khác gì không?
  Dù những điều Nguyễn Khoa Điềm viết ra chưa phải thơ nhưng bạn đọc cũng có phần đồng cảm những nỗi trăn của ông. Hóa ra khi ngồi dưới đất ông mới thấy rằng dân đen người ta đau khổ biết nhường nào. Nỗi khổ của họ có phần do ông gây nên.
 Bây giờ có nhiều quan điểm thơ: thơ siêu việt, thơ hậu hiện đại, thơ hậu hậu hiện đại. Tìm tòi là đáng quý, nhưng tìm tòi phải vào trái tim người đọc. Còn viết những điều mình cũng không hiểu, không biết thì làm sao thành công.
 Thơ hậu hiện đại của Ion Milos (nhà thơ Thuỵ Điển) vào được đọc giả vì có tứ, có nghĩa, tầm tư tưởng, triết học cao:
Tôi mua một con chó 
Để có bạn bầu
Trò chuyện sớm hôm..
 
Và rồi một hôm
Chó thổ lộ với tôi một điều rất lạ.
Rằng con người đã từ lâu
Không còn nói ngôn ngữ của con người…
(Con người và con chó - Phạm Viết Đào dịch)
Thơ và Vô lối Nguyễn Khoa Điềm không như vậy.
    Đáng ra nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm phải chân thành hơn, sám hối hơn:
“Ta xin chịu tội khi ta u mê cái triết học du nhập lai căng lỗi thời, không nói cho đám đầu trâu mặt ngưa đồng liêu với ta tỉnh ra, 
khi ta trù úm, sát phạt với các huynh Hoàng Minh Chính, Trần Độ, 
Xin thắp nén nhang cho các tác phẩm ta ra lệnh đốt thành tro
Lạy văn sỹ tài danh Dương Thu Dương bị đi tù.
Vái linh hồn các nhà dân chủ , các trang mạng xã hội chính ta đàn áp
Các chị bán cá Vỹ Dạ ơi!
Tôi xấu hổ giọt nước mắt tôi trộm rơi
Khi nhìn các chị chao chát nói cười, tiếng thở than hả hê, tiếng rên rỉ của những tờ bạc vụn.
Trong khi tôi tiêu hoang bạc kho, vàng đụn
Lấy thuế từ tấm lưng còng của các chị đây!
Từ nay đi cùng các chị 
Tôi tự căm tôi đã đào tạo nguồn những tay làm nghề tôi, nối ngôi tôi là nghề nói láo!
Nghề mà phải bớt gạo 
Trong nồi của các chị để cho chúng nó ba hoa!
Ôi biết bao cuồng phong văn chương bão táp do tôi gây ra
 
Tạ lỗi quê nhà
Tạ lỗi những người mò hến không có hến ngày ngày đêm đêm bên Cồn Hến để kiếm cháo rau
 
Điềm tôi đây
Xin đập đầu chịu tội!
   Tôi tin nếu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết như thế chắc bạn đọc sẽ quý trọng ông nhiều hơn nữa!
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2013
Đ - H

( Bài viết thể hiện quan điểm riêng, có thể chưa chính xác của tác giả, Biên tập đã bỏ những ý, đoạn quá khích, chưa phù hơp giai đoạn này, mong được NT thông cảm, coi như một tư liệu  mà nhiều người quan tâm để rộng đường dư luận. )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Trích TT:



  ( Vị nào muốn sở hữu xin liên hệ )

....Giờ thì ba đứa chúng tôi đang ngồi bên bờ sông Lư. Con sông vừa chứng kiến những trận đánh kinh hoàng giữa ta và địch. Giữa những người lính mặc quần sooc, áo trấn thủ vá vai với lính thủy, lính dù mũ sắt, giày đinh.
Có những quãng sông từng loang đỏ máu pha lẫn phù sa. Những xóm làng bình yên bỗng chốc một chiều khói đen mù mịt, cuộn thành cột tủa nấm ngang trời. Những gềnh đá còn vắt ngang tàu giặc, vạt lau cháy xém bởi bom đạn.
Chúng tôi nhìn sang bên kia núi Dùm. Nơi có thác nước ào ạt chảy giữa lòng khe, hai bên chằng chịt dây leo quấn quanh bờ đá. Vào sâu nữa phía bên trong còn có cả một hang đá chứa vừa vặn một lớp học. Thầy Sản từng dẫn chúng tôi đến đó chạy giặc trước khi tản vào rừng sâu..
Bây giờ thì thanh bình trở lại.
Dòng sông mùa này nước trong. Thấp thoáng hai bên bờ nếp nhà bè bé nhỏ của dân chài. Thỉnh thoảng xuất hiện chiếc thuyền nan qua lại đôi bờ. Ánh nắng chiều lấp loáng trải mãi tới vô cùng, nơi có những đỉnh núi nhấp nhô, tim tím màu lam phủ.
Thằng Khánh người Hà Nội học cùng lớp chúng tôi. Nó trắng nhễ trắng nhại, tay mềm và hồng như tay con gái. Được gái nó học toán rất giỏi. Hầu như bài tập nào khó đến đâu nó cũng giải được. Chỉ phải tội ít nói, có đứa bảo nó kiêu ngầm.
Thằng Hạnh người Thổ thì ngược lại. Thằng này chân tay to, “lò xo ngắn” bọn con gái hay trêu nó thế, vì tính cả thẹn.
Hạnh học gạo, sử địa nó thuộc vanh vách nhưng lại kém toán, văn vào loại xoàng nhất lớp.
Nhà nó ở mãi trên Xiêm Hóa, từ đây lên đấy gần bằng nửa từ đây về Hà Nội. Trên đấy chỉ có cấp một, nên nó phải về đây học cấp hai. Nó ngại mỗi khi về nhà hơn là từ nhà nó xuống trường. Phải đi bộ mất một ngày cật lực mới lên tới nơi. Còn khi xuống coi như không thành vấn đề. Chỉ cần cái mảng nứa nhỏ là có thể “yên trí lớn”, không cần lo nghĩ. Mỗi bận nó về, bố mẹ nó xếp cho đủ thứ. Nào gạo nào gà, thịt lợn kho trám ăn cả tháng mới hết.
Trong ba đứa chơi với nhau, nó là đứa có sức khỏe nhất. Tôi thì làng nhàng, không ốm đau vặt nhưng không bền sức. Thằng Khánh èo uột như con gái, đi chân đất một quãng là kêu oai oái. Quanh năm nó xỏ chân vào đôi giày mang từ Hà Nội lên tróc hết xi, có lỗ thủng ở chỗ mắt cá chân. Nó là thằng duy nhất mang giày và biết đi xe đạp của lớp. Nó hay được thầy giáo sai ra chợ mua thứ gì đấy cho thầy. Bố mẹ nó ở cả dưới huyện “Con Dê”, nơi đầu não kháng chiến. Thỉnh thoảng ông bà ấy cho người mang cho nó gạo, tiền.
Chỉ có tôi là “kinh tế” kém nhất. Nhưng chẳng đứa nào suy bì hơn thiệt. Chúng tôi ở chung một phòng và thổi cơm chung. Ban đầu nhà trường cũng có bếp ăn tập thể, sau đợt chạy tản cư mới phải tự túc nấu nướng. Nhà ăn, đồ đạc của trường bị phá hủy, một cái bát ăn cơm cũng không còn nguyên vẹn.
Ban giám hiệu nói phải thời gian nữa mới củng cố nhà ăn tập thể.
 Không hề gì. Chúng tôi nấu lấy ăn lại có có vẻ khoái hơn vì được ăn no, được cải thiện thêm nếu biết kiếm thêm được rau cỏ.
Về mặt này thằng “Hạnh Thổ” là bậc kỳ tài. Nó biết nhiều loại rau mà chúng tôi nghĩ không thể ăn được mọc trong rừng, ven bờ sông. Tài tôm cá của nó lại càng không cần nói. Nó là “bậc thiên tài” bẩm sinh về mặt này.
Nó nói: “Tao ở vùng cao, nhưng nhà gần sông, đầu nguồn con sông này nên giỏi bơi lội từ bé. Sông chỗ tao nước chảy xiết lắm, chứ sông ở quãng này ăn thua gì?”.
Tôi chưa lên nhà nó lần nào, nhưng tin là nó nói thật. Người Thổ ít khi nói sai bao giờ.
Thằng Khánh đi theo chúng tôi chẳng qua cốt để vui bạn. Nó rất ngại lội xuống nước vì không biết bơi. Có tắm sông cũng ngồi trên bờ lấy cái chậu múc đổ lên người, kì cọ rất cẩn thận.
Có lần chúng tôi nghịch ác xô nó xuống nước, ngụ ý để nó quen dần rồi tập bơi. Nó giãy giụa, kêu gào thảm thiết như bị người ta làm thịt, làm bọn tôi áy náy ân hận mãi. Nó giận đến cả tháng mới lại chơi cùng. Chả bao giờ tôi và Hạnh dám nghĩ đến chuyện tập bơi của nó nữa.
Hôm nay nó kiếm đâu được quyển sách mang theo. Nó dựng xe gần chỗ chúng tôi cất quần áo, mải miết đọc. Chắc là cuốn sách hay lắm, tôi đoán thế, nhưng lúc này tôi chú tâm chuyện khác.
Quãng sông này nước lặng. Bờ sông chỗ mép nước rặt đất gan gà dẻo quẹo. Cỏ mọc xòa cả ra mặt nước. Những chỗ như thế thường có hang tôm, hang cá làm tổ. Có cả rắn nữa. Nhưng rắn nước chúng tôi không sợ. Cả tôi và thằng Hạnh đều bị rắn cắn vài lần. Chỉ bị đau, ngứa mất mấy hôm vì rắn nước không độc. Tôi từng bắt bỏ vào ống nứa để trêu bọn con trai nhát gan trong lớp.
Thằng Hạnh không mò tôm hú họa như tôi. Chiều hôm trước nó đã thả xuống những chỗ kín đáo chỉ mình nó biết, bây giờ là việc ra nhắc lên. Toàn những chú tôm càng đen rức, lưng xanh xám màu rêu, to bằng ngón tay.
Tôi đến phát ghen với nó nhưng lại không biết đan lờ. Vài lần định học mót nghề của nó, không thành. Cái lờ tôi đan dúm dó, méo xẹo, có chỗ hở nghiêng bàn tay lọt qua. Thế thì đơm tôm làm sao được?
Ông trời hình như rất có ý. Chỉ cho mỗi người hay một số nghề, chứ không cho tất cả. Tỷ như nghề cắm cần của anh trai tôi, tôi học mãi có được đâu?
 Bố tôi hay triết lý. Ông bảo “Đấy là đức hiếu sinh của trời đất dành cho mỗi con người”. Để ai cũng có thể sống trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Tôi lần đến mấy cái hang mà chưa bắt được chú tôm nào. Bất chợt thàng Hạnh kêu rú lên:
- Tính ơi ( Tính là tên tôi), lại đây mau!
Tôi tưởng nó bị rắn hay con gì cắn, hóa ra không phải. Thằng Hạnh mò từ dưới nước lên tay cầm vật gì đó giơ lên cao:
- Có cái gì đây này!
Thì ra đấy là cái bình gốm nhỏ, màu lam, thuôn thuôn giống cái chai, hai bên có hai cái quai liền với bình, nom rất ngộ. Tôi chưa thấy cái chai hay cái bình như thế bao giờ. Bình được gắn xi rất kỹ. Chúng tôi vội lên bờ gọi thằng Khánh. Nó cầm xoay ngang xoay dọc một lúc, xem xét chưa khám phá ra chuyện gì, bảo thằng Hạnh đưa con dao nhọn mang theo. Khánh khéo léo cạy cái nút cũng bằng gốm được gắn xi ra. Bên trong chẳng có gì, ngoài chút nước lõng bõng, một tờ giấy nan nát, có chữ đã nhòe hết không đọc được. Rồi làm như am hiểu nó bảo:
- Tao có nghe bố tao kể chuyện hồi quân Pháp bị quân Cờ đen vây hãm trong thành. Bọn chúng không làm sao liên lạc được với bên ngoài để xin quân ứng cứu. Có một sĩ quan nảy ra sáng kiến. Ông ta viết những lá thư bỏ vào trong chai, thả xuống cống ngầm từ thành nhà Mạc chảy ra sông. Quân Pháp ở Hạc Trì nhờ thế mới biết tin đêm quân lên giải vây.. Chẳng nhẽ cái bình này là một trong số đó?
Hạnh hỏi:
- Nếu vậy nó phải nổi chứ sao lại chìm..
Khánh cười nhếch mép ra vẻ:
- Có thể trong lúc vội vã, tên sĩ quan đó không nghĩ rằng cái bình này nặng không thể nổi được? Tao nghĩ có lẽ là thế!
Tôi thì tôi không tin. Quãng này là phía trên thành nhà Mạc, chả nhẽ cái bình trôi ngược lên đây hay sao? Mảnh giấy trong bình có thể là văn bản hay giấy tờ đặc biệt người ta cất giấu, hoặc bị trôi dạt từ đâu về thì đúng hơn.
Những trận lũ đường rừng còn cuốn trôi cả bia đá, chuông đồng từ những chùa chiền mạn nược về đây. Có lẽ cái bình cũng trong trường hợp ấy.
Chúng tôi cãi nhau một thôi một hồi, không đi đến ngã ngũ.
Thằng Hạnh không tham gia. Nó lẳng lặng tiếp tục công việc vớt lờ.
Chiều hôm ấy tôi mang cái bình về nhà bá tôi. Ông bác dượng rất thích. Ông lấy cát đánh cho nó bóng lên rồi cất kỹ trong tủ.
Từ hôm ấy nhà bá tôi hay có chuyện lục đục. Những chuyện cãi nhau với người xung quanh mà nguyên nhân không đâu vào đâu. Tôi nghĩ có thể tại cái bình có ám khí, hay sự rắc rối nào đấy, nhưng không dám kể với ai.
Không biết có phải lỗi từ việc mang cái bình bí ẩn về hay không? Sau này tôi gặp nhiều ái oăm chắc trở?
Tôi định mang ý nghĩ này hỏi thầy Sản. Thầy lúc đấy hình như có chuyện không vui.
Tôi đứng lưỡng lự trước cửa phòng thầy một lúc rồi quay ra..
Câu chuyện về cái bình cứ làm tôi day dứt mãi một thời gian dài. Có lúc tôi muốn tìm cách trả nó về với khúc sông, nhưng không được. Tủ khóa, bác dượng tôi lúc nào cũng kè kè chùm chìa khóa bên mình..


( Còn nữa..)

Chia sẻ thêm:

Hôm nay mới biết kỹ về "Ngày của Cha". Dù xuất xứ thế nào, thì hôm nay cũng là ngày tôi nghĩ nhiều về cha tôi.
Cha tôi cho tôi nhiều lắm, nhưng có một điều mà cha tôi đã nói trong lúc buồn: "Nếu cái nhà này là con thuyền thì ta đã đẩy nó đi nơi khác lâu rồi". Đó là tư tưởng của cha để lại cho anh em chúng tôi. 
Cha tôi mất năm 53 tuổi, năm 1980. Mãi 10 năm sau tôi mới viết được:

VỚI CHA
Kính dâng hương hồn cha

Từ Điện Biên cha mang về vết thương còn rỉ máu
Và những lời ca hành khúc hào hùng
“Hò dô ta… nào!” Mẹ cùng cha kéo đất
dựng một ngôi nhà bé tí giữa mênh mông!

Con tha thẩn một mình bên gốc gạo
Nhặt những cánh hoa rải kín sân nhà
Mà cứ tưởng rằng cái màu đỏ ấy
Nuôi sống người qua cái đói tháng ba!

Rồi cứ thế con lớn lên bằng khoai sắn
Và chỉ sắn khoai thôi, con cũng thành người
Rồi cứ thế cha già đi thầm lặng
Cau trong vườn mỗi tháng một tàu rơi!

Con mải miết đi săn tìm hạng phúc
Đến một hôm lần tóc bạc trên đầu
Vội vã chạy về tuổi thơ ngày trước
Thẫn thờ ngồi trước một nấm đất nâu.

Cha đã khuất. Hoa gạo không còn đỏ
Người ta chặt đi cây cổ thụ cuối cùng
Đường đi học giờ chỉ toàn là cỏ
Nước mắt dù chảy mấy cũng bằng không!

Thái Nguyên 1980-1990
HOÀNG ĐÌNH QUANG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thử ngan cứu xem đại tá sai đúng chỗ nào?:


CÁI GỌI LÀ “ĐẠO ĐỨC” CỦA TÁC GIẢ BẠCH DƯƠNG LÀ THỨ ĐẠO ĐỨC GÌ?


BÙI VĂN BỒNG
            Nhân vụ việc, cũng coi là ‘sự kiện’ chủ blog Phạm Viết Đào mới bị bắt, tôi đã tìm hiểu những sự tình có liên quan trên mạng, và bắt gặp bài trên trang nguyentandung.org có bài Vì sao ông Phạm Viết Đào bị bắt?  của tác giả Đại Lâm, và tôi đã post bài đó lên trang blog của tôi để rộng đường dư luận. Theo đó, trên list LINK tại bài này, tôi thấy đi kèm đường dẫn LINK bài:  Phạm Viết Đào là ai ?  của tác gỉả Bạch Dương.

Sau khi dẫn liệu giới thiệu với bạn đọc về những nội dung kèm lời bình, phân tích về ông Phạm Viết Đào là ai, tác giả bài viết có đoạn cuối bài như sau: “Không riêng gì Đào mà hiện nay còn có rất nhiều chủ trang blog đình đám xuất thân là nhà báo, nhà văn như: Nguyễn Xuân DiệnBùi Văn BồngHuỳnh Ngọc ChênhNguyễn Quang Lập,Trương Duy Nhất họ vốn là những người giỏi chữ nghĩa, có quan hệ rộng trong quá trình hoạt động báo chí, có điều kiện theo dõi những thay đổi, chuyển mình của đất nước nhưng tất cả đều có chung một tư tưởng thích lên giọng “dạy đời” người khác. Và thường nhân danh sự thật, nhân danh tự do, dân chủ để tung hoành đủ thứ vấn đề của đất nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Tiếc thay cho những tài hoa nay đã tự biến mình thành những tai họa của đất nước. Đến đây tôi lại chợt nhớ đến câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Có tài mà không có đức thì cũng chỉ là người vô dụng”. Mong rằng cái kết đắt giá này sẽ giúp Đào sớm tỉnh mộng để không hoài phí tài năng của mình”.
Trước hết, tôi xin nói rõ để tác giả Bạch Dương biết rằng: Vì có độ dày cuộc đời làm báo, vì (như tác giả nêu) “có điều kiện theo dõi những thay đổi, chuyển mình của đất nước”. Điều đó, tác giả đã đúng. 
        Ai hiểu được từng chặng đường thay đổi, chuyển mình, phát triển, hiểu thấu những thăng trầm, những cuộc chiến hy sinh biết bao máu xương của nhiều thế hệ của của đất nước đều thấy đau lòng trước hiện trạng biết bao thành quả của cách mạng, nhất là hai cuộc kháng chiến, và chặng đầu đổi mới, đang bị chính những đảng viên có chức có quyền nay suy thoái, bién hất làm cho tan biến, vô nghĩa dần. Cũng do đó, đảng cộng sản Việt Nam bị mất uy tín lớn trong nhân dân hiện nay, chế độ tốt đẹp XHCN mấy thập kỷ qua được báo chí ca ngợi, lòng dân hy vọng, tin tưởng, tác động, nay bị “bộ phận lớn” (NQTW4 nêu là “bộ phận không nhỏ”) cán bộ đảng viên có chức có quyền, suy thoái, biến chất, trở cờ, tham nhũng, gây hậu họa lớn cho đất nước, gây mất niềm tin trong nhân dân, đẩy cuộc sống người dân khó thoát khỏi loanh quanh kiếp nghèo, kìm hãm bước phát triển đầy kỳ vọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Chính Đảng, Nhà nước đã có những chỉ thị và phát động phong trào “toàn dân tham gia chỉnh đốn đảng, tham gia giúp đảng phê bình và tự phê bình” để  giúp vào cuộc chỉnh đốn đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ Nhà nước trong sạch, vững mạnh, có đức có tài, thực sự vì dân vì nước, vì chế độ xã hội mang bản chất “của dân do dân, vì dân”.
 Chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và nói chung các vị trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo các bộ, ngành, tỉnh thành, cơ quan, đơn vị ở đâu cũng hô hào, kêu gọi mọi cán bộ đảng viên cùng toàn dân mạnh dạn phê bình, nói thẳng nói thật, thẳng thắn đấu tranh với những hiện tượng, những cá nhân tiêu cực, tham nhũng tha hóa, suy thoái, biến chất.
Bản thân tôi đã 40 năm tuổi đảng, trên 30 năm trong nghề báo càng thấu hiểu điều đó. Khi vào đảng, tôi đã thề suốt đời đi theo đảng, trung thành với mục đích, lý tưởng của đảng, nay thấy những cán bộ đương chức đương quyền ‘khoác áo đảng’, ‘mang danh cộng sản’ gây những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng lớn, thành nhiều nhóm, tập đoàn, hệ thống lợi ích, bị hư hỏng cả về đạo đức, lối sống, xa rời mục tiêu, lý tưởng, không học tập và không làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Những người như lớp chúng tôi đã cống hiến suốt đời mong một chế độ xã hội tốt dẹp cho đất nước cường thịnh, dân thực sự được làm chủ, nay thấy thực trạng tréo ngoe ấy, thật đau lòng.
Những nỗi đau đời, trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm ấy, tôi đã viết nhiều bài (cả khi đương chức) nhưng không được đăng, hoặc nếu có đăng thì bị vo tròn, nắn vuông, cắt cụt chẳng ra làm sao. Phần lớn những bài viết về tiêu cực, tham nhũng, phê phán lãnh đạo này, chức danh kia đều không được đăng, mà nếu có đăng cũng phải 'chờ xin ý kiến lãnh đạo'!.
Khi đương chức, muốn lập trang blog, trang mạng cá nhân, hoặc viết bài cho báo khác, trang mạng “lề trái” nào đó (cho dù bài viết thẳng thắn, xây dựng đề xuất có lý có tình) đều bị cấm đoán triệt để.
Khi đã nghỉ hưu, viết các loại bài như trên cũng không được đăng. Lối thoát nào cho dồn nén tư tưởng và nỗi lòng trắc ẩn? May là nay khoa học kỹ thuật trên thế giới đã tiến bộ vượt bậc, bùng nổ thông tin, 'thế giới phẳng'. Vì thế, công nghệ thông tin hiện đại, thời @ với sức dẫn truyền nhanh và chuẩn xác của mạng Internet, có các trang cá nhân, blog. Trời đã ban tự do ngôn luận, mở rộng tầm mức giao lưu  cho con người! Hiện nay, tính ra trên cả nước có hàng chục triệu cư dân mạng có trang cá nhân tại các kênh chủ, mạng dẫn truyền gốc như: Facebook, Google, Yahoo, Blogspot, Netlog, 360, 180 (độ), Blog tiếng Viẹt, Yume, những trang có các chấm đuôi org,net,com, info, vv. Tại sao khi chúng tôi lập trang cá nhân để góp tiếng nói cùng cộng đồng mạng nhằm phê phán cái xấu, khen cái tốt, đưa thông tin nhằm góp phần “xây dựng chế độ xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như Nghị quyết Đảng nêu, lại bị coi là “lợi dụng các quyền dân chủ chống dảng, chống chế độ, chống nhà nước”!? Quan điểm của chúng tôi là chống sai trái, chống cái xấu, kết hợp ‘xây’ và ‘chống’ để giữ uy tín cho đảng, nhà nước, kéo lòng dân hiểu thấu để gần hơn với đảng, nhà nước. Đồng thời, muốn vậy phải mạnh dạn, kiên quyết phê phán những cá nhân có chức có quyền suy thoái, biến chất, tham nhũng hại nước hại dân chỉ vì lòng tham cá nhân chủ nghĩa mà quên nghĩa đồng chí đồng bào, quên trách nhiệm với quốc gia, dân tộc. Chẳng lẽ phê phán, kể cả rất mạnh mẽ, thẳng thừng với những cái xấu, những tồn tại nguy hại ấy là “mất đạo đức”, là đồng nghĩa với nói xấu đảng, nhà nước, là bôi bác chế độ? Chính những hành động, lối sống của họ làm hại đảng, bôi bác hế độ hay những người viết bài phê phán họ?
Thế mà, trong bài viết nói về nhà văn Phạm Viết Đào, tác giả Bạch Dương lại nèo thêm nhiều người khác một cách vô lối, đưa trích dẫn câu nói của Bác Hồ, rồi mượn đó để thóa mạ chúng tôi (trong đó có tôi) là “có tài mà không có đức”. Đó là sự vu khống liều lĩnh, tùy tiện và trắng trợn. Như bài của tác giả Bạch Dương nêu trên cũng là lợi dụng quyền tự do báo chí xúc phạm, vu khống, bôi nhọ danh dự người khác. 
           Tác giả Bạch Dương cứ đọc hết, đọc cho kỹ trang blog của tôi xem xấu xa ở chỗ nào, bịa đặt, vu khống ở chỗ nào? Động cơ không lành mạnh ở chỗ nào, và nhất là không'đạo đức' ở chỗ nào? Thế nào là "dạy đời"? Những kẻ tham lam, mất hết đạo đức cách mạng, thiếu nhân đức mà khoác áo đảng CS, không thể xưng là đại điện đảng, đại diện nhà nước, chế độ được! Những kẻ đó phải được dạy là phải rồi, sao lại nói các trang blog 'dạy đời'? Vậy, thử hỏi làm như vậy, ném lên những câu chữ như vậy, tác giả Bạch dương có lên mặt 'dạy đời'? Có đức không? Và cái đạo đức mà tác giả nêu trong bài, áp đặt cho người khác như thế là thứ đạo đức gì? 
         Bác Hồ cũng nói: “Nhà báo trước khi viết bài phải tự đặt cho mình câu hỏi: Viết cho ai, viết để làm gì?...”; “Suy nghĩ trước khi nói, cẩn thận khi cầm bút”, và “chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói”. Thử hỏi tác giả Bạch Dương: "Bọn sâu mọt suy thoái, biến chất, khoác áo đảng, mệnh danh cách mạng làm hại nước hại dân là thứ đạo đức gì? Những kẻ xu nịnh, cơ hội 'đi theo voi ăn bã mía' là thứ đạo đức gì?".Tác giả Bạch dương cần suy nghĩ nghiêm túc, còn viết báo còn phải lo tu tính, tu đạo, tích đức và tu nghiệp, sao cho xứng đáng là nhà báo cách mạng, nhà báo của đảng. 
Để kết bài ‘phản biện ngắn’ và cũng như thư ngỏ gửi tác giả Bạch Dương, tôi trích lời Bác Hồ (đoạn này nhà báo Hà Đăng đã trích dẫn trong bài “Bác Hồ nói về tình chiến đấu của báo chí”), như sau: “Bác Hồ chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ Quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý”. Đoạn này, tác giả Bạch dương nên đọc nhiều lần để có định hướng và nhận thức đúng! Ít nhất là có được văn hóa nghề nghiệp, văn hóa giao tiếp, ứng xử. Tôi không biết Bạch Dương là bút danh của ai, trẻ hay già, ông hay bà? Nhưng nếu già mà viết báo kiểu đó thì tốt nhất nên bỏ bút đi cho thiên hạ được nhờ; còn nếu tác giả còn trẻ người non dạ, cần học đạo đức cho sâu, học nghề cho chín, cái gì không biết phải khiêm tốn hỏi bậc cao niên có kinh nghiệm trong nghề báo. Nhân 21-6 sắp tới, cũng coi như đồng nghiệp, chào!
BVB
 
-----------------

LẶNG ...


Có những ngày chẳng ra giống ôn gì cả
Vui chẳng ra vui, buồn chả phải buồn
Nhìn quanh thấy cuộc đời ráo hoảnh
Rặt những miệng cười tay bắt rập khuôn

Chẳng lẽ lại gieo những câu thơ buồn
Xin giả dối khen cuộc đời đẹp quá
Sài Gòn hôm nay thanh bình đến lạ
Giá điện sắp tăng cùng tiếng thở dài

Chợt thấy những gã bụi đời Chợ Lớn
Rầu rĩ đi ngang mặt báo buồn tênh
Thấy khuyến mãi ồn ào công nghệ mới
Cắt amidan qua đường hậu môn

Thành phố sáng nay không vui không buồn
Chỉ chợt thấy trái tim mình đi vắng
Người vẫn nói cười nhưng thiếu vắng niềm tin
Bỗng thấy hay ho nhất là im lặng

Sự im lặng chưa từng là thói quen
Nên chất đầy vị đắng

15.6.2013

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đọc và suy ngẫm, đừng tự ái!












Phần nhận xét hiển thị trên trang