Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Trích TT thằng khờ viết:


( Hà Nội xưa )

Thoạt đầu ai cũng nghĩ chỉ đi tản cư ít năm rồi trở về. Quê hương bản quán mới là nơi người ta sinh sống dài lâu.
Cuộc chiến thời nào cũng nảy sinh ra những ý nghĩ giản đơn như vậy, bởi tự thâm tâm người đương thời, ai cũng cầu sự bình an..
 Rồi kháng chiến trường kì, chưa biết tới khi nào hòa bình, chấm dứt chiến tranh?
Công việc mặc nhiên vẫn phải duy trì, không ai có thể khoanh tay chờ đợi mãi. Cuộc sống giống như một sinh thể, một guồng máy vẫn phải quay, phải tiếp tục tìm cách duy trì sự vận động của mình.
Một lần bố tôi trở lên bàn với bá tôi về chuyện học hành của mấy chị em chúng tôi. Ông chỉ ở chơi một ngày, hôm sau lại trở về xuôi. Bá tôi bảo “đang thời loạn lạc này, dượng cứ để các cháu ở trên này. Ở đâu chẳng đường đất nhà trời? Ở đâu cũng phải ăn phải làm, phải lo cho lũ trẻ..”. Bố tôi bảo “Vợ chồng em cũng biết thế. Các cháu ở với bác bá cũng coi như ở nhà. Nhưng muốn chúng nó về xuôi tiếp tục đi học. Thời thế nào có ăn có học vẫn hơn. Sợ nhất để chúng thất học, sau này thiệt thòi..”. Bá tôi nói trên này cũng có trường. Có khi trường còn đàng hoàng hơn ở dưới quê!
Rồi bá kể bá có quen ông Hạp vốn là hiệu phó trường Canh Nông dưới Hà Nội. Ông này cùng họ Nguyễn với gia đình tôi, cũng tản cư lên đây, được tỉnh mời đứng ra mở lại trường, có đủ các lớp từ tiểu học đến trung học.
Trường này vốn khi xưa do bà  Nguyễn Thị Thục Viên, giáo viên trường Đồng Khánh trong Huế đứng ra mở, chỉ có từ lớp một cho đến lớp năm bên bờ sông Lư. Ngẫu nhiên cả hai vị ấy cùng họ Nguyễn với tôi. Tuy không nói ra nhưng anh em tôi rất lấy làm hãnh diện, chỉ mong sớm được đến trường.
Học để làm gì? Chúng tôi chưa có khái niệm, hay sau này người ta nói là “lí tưởng”rõ ràng.
Thời buổi đổi thay, bom rơi đạn lạc như thế này, học để hòng sau này làm quan là việc không thể và quá mơ hồ.
 “Nhân bất học bất chí lý, ngọc bất trác bất thành khí”, câu này chúng tôi được nghe không biết bao nhiêu lần từ thời ông nội tôi còn sống. Đến đời bố tôi cũng hay nhắc đến, như một khẳng định làm người.
Ngu dốt, tối tăm bao đời đều là nguyên nhân của đói nghèo, đau khổ và tội lỗi.
Còn nhớ chưa quên câu chuyện của ông Tú Ất nói ngày đầu tiên tôi bước chân đến trường.
Ông kể về các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh tâm huyết về sự học của dân mình như thế nào?
Đó là những con người vì “dân trí”, vì sự học sau nữa vì độc lập, tự do, cường thịnh của đất nước này mà dâng hiến cuộc đời mình..
Nghe ông kể, đầu óc còn dại khờ non nớt, tôi chưa hiểu hết. Nhưng nó đã là ánh lửa nhen lên, thổi vào tâm hồn thơ dại của chúng tôi niềm say mê học tập. Dù có thế nào, hoàn cảnh ra sao chăng nữa cũng không thể bỏ lỡ sự học hành!
Anh tôi còn một năm nữa mới hết tiểu học, tôi còn hai năm. Chị Nhiên lúc đấy đã lớn tuổi, muốn ở nhà phụ giúp bá tôi công việc chợ búa.
Thực ra trong việc này có khi chỉ mình tôi biết lý do thực sự của chị: Một là cùng lứa với chị phần đông đã nghỉ học lấy chồng. Hai là chị nghe anh Bình bàn với chị xin đi học một lớp y tá do anh giới thiệu. Lớp này nghe đâu mãi trên Xiêm Hóa. Chị dặn tôi không được kể điều này với ai, vì lý do cần phải giữ “bí mật” lúc bấy giờ.
Thời “Tiêu thổ kháng chiến” trường Thi Sách cũ đã bị phá hủy gần hết chỉ còn ít dấu vết, khu con gái mé phía trong, khu con trai phía ngoài trên con phố nhỏ dọc bờ sông.
Gọi là phố thực ra chỉ là hai dãy dài nhà cất bằng tranh tre, nứa lá. Nhà cửa lụp xụp chả khác gì thôn quê. Chỉ có điều đường rộng và quang đãng hơn.
Vẫn là con đường rải đá, chưa đổ áp phan như bây giờ. Hai bên đường trồng hai dãy cây bàng đã lâu năm, tán lá xum xuê.
Dân phố hãy còn thưa thớt, nhiều quãng hai bên đường vẫn bỏ hoang, nham nhở những  bức tường đổ, không có nhà cửa. Ban ngày gần như không có người.
Tiếng là thị xã, cư dân vẫn phải đi nơi khác làm nương trồng lúa, tỉa bắp kiếm kế sinh nhai. Chỉ có buổi tối mới có người về tá túc trong những căn nhà tạm bợ, thắp ngọn đèn dầu một lúc, sáng sớm hôm sau đã lại đi từ sớm tinh mơ.
Tôi đi học ngang qua là lúc nhà nào nhà đấy đóng cửa im lìm. Không tiếng chó cắn, mèo kêu, như đi qua chốn không người..
Chỉ khu quanh thành Nhà Mạc là có cái chợ nhỏ nằm khuất sâu trong cổng thành. Hàng họ cũng chẳng có gì nhiều. Mấy thứ hàng hóa thiết yếu được bày ra chõng tre, hay phản gỗ nhỏ, chưa có kệ hay tủ đựng hàng đồ sộ như thời bây giờ.
Toàn hàng người buôn phải trốn tránh khó khăn lắm mới mang từ vùng địch hậu lên đây. Hết tây lại đến ta, kiểm soát rất ngặt nghèo, nhiêu khê hạch họe..
Ta thì “cảnh giác đề phòng địch cho người giả danh xâm nhập vùng tự do thám thính  tình hình”. Địch ngăn trở nhằm “bao vây kinh tế vùng Việt Minh”.
Lại thêm nạn cướp bóc dọc đường.
Hết quan tha lại ma làm..
Một hạt muối, viên đá lửa, một tờ giấy, cái thông phong đèn.. ra đến vùng tự do có khi phải đổi bằng xương máu, bằng mạng sống của người đi buôn..
Giả dụ hàng hóa có nhiều hơn cũng không ai có tiền để mua. Làm đủ miếng ăn đã khó, mấy ai có tiền dư dật?
Bố tôi định kết hợp việc mua bán qua lại, lên xuống trông nom, thêm thắt cho chị em tôi bớt thiếu thốn, sau đành phải bỏ.
Ông mất một chuyến hàng gần đồi Cây Me, phía dưới Phủ Đoan. Hôm ấy trời đã nhá nhem tối..





( Còn nữa..)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Hơn chán vạn người!

THẾ GIỚI VẪN CÒN MỘT GÓC THẾ NÀY ĐÂY!
Một bộ tộc người da đỏ lưu vực sông Amazone. Các dân tộc ở Tây Nguyên Việt Nam còn đi trước rất xa
(Video hơi nặng, nếu sốt ruột thì nên bỏ qua)
(Trích phim tài liệu dài 2h của Mỹ) — với Son Ho Nguyen.


( Bấm vào ảnh để xem Video )


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nói nhảm mà thật:



Có mấy vị đang leo lẻo trên đài “tàng hình”.Chuyên mục là “Nghĩ mở rộng và nói toang hoác”. Nhưng xem ra chủ đề vẫn mãi mãi là chủ đề. Người nói chả dám mở rộng biên độ toang hoác được bao nhiêu. Vẫn lanh quanh chuyện nọ xọ chuyện kia. Đổ lỗi cho nền kinh tế ốm nhách, nhà văn cũng như tất thảy mọi người tất tưởi lo cái ăn cái mặc. Cái sự “tiểu nhược” phổ tổng quát cho mọi chuyện trên trời, dưới đất..
 Rồi thì thiếu sự nghiêm túc, cố gắng, chuyên tâm trong sáng tác. Người ta dẫn ra các tấm gương, từ cụ K trong nước, ông Lép bên Nga “ngố” bản thảo hàng ngàn trang mà viết đi viết lại cả trăm lần.( Có phải cứ viết lắm là hay cả đâu? Mà các ông này nào có được giải Nô Ben bao giờ, ví mới chả von!).
Mấy ông mấy bà thày đời dẫn cả chuyện Vũ Trọng Phụng phải nằm sấp trên cái khăn bông để viết, không ngồi thẳng lên được vì chứng ho lao, thổ huyết..”Người viết bây giờ còn viết theo cảm tính, chưa đủ nội hàm, chưa có một cái phông văn hóa. Bản thảo mới chỉ mang tính khái niệm sơ lược chưa có tính nọ, tính kia.. “So với văn chương thế giới còn một trời một vực”. Cái nhà chị Đ chả giấu diếm nói huỵch toẹt luôn rằng thì “có một thằng tây sang ta học tiếng Việt. Nó bảo tầm của văn chương Việt còn ở mức thấp”.. Các vị ấy đi đến kết luận: Có nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân quan trọng: “Cơm áo không đùa với khách thơ”! Khốn nạn, điều này ai chẳng biết? Người ta nói câu này từ thời cụ Tản Đà còn tất tả ngược xuôi vừa viết vừa kiếm sống rồi. Có phải đến bây giờ mới ngộ ra đâu?
Nhưng phải nói thật là thời ấy nhiều cuốn sách còn đáng đọc. Những người như cụ K, Ông NB, TV là những tay chơi thực thụ, văn hóa đầy mình. Nói và viết được đến mấy thứ tiếng, họ chịu học và chịu đọc vô cùng. Không như thói lười và ngại đọc của nhau như bây giờ. Thật là buồn cười khi có ban giám khảo văn chương lại không đọc hết tác phẩm dự giải mà chỉ chấm theo cái tên? Quan trọng hơn các cụ còn biết thế giới hồi ấy có bao nhiêu trào lưu tư tưởng? Có những triết lý, những triết gia, nhà tư tưởng nào? Hê Ghen, Sartre là ai? Kan hay KapKa, Ca Muy thực ra là người như thế nào? Có đúng đấy là mấy tay phản động không?
Đã là nói thẳng nói thật, sao không nói mẹ nó ra là thiếu và yếu một nền tảng tự do tư tưởng?
Nước mình mấy ngàn năm văn hiến thì cũng có mấy ngàn năm lệ thuộc. Ngay từ trong trứng mầm mống tư tưởng, tự do tư tưởng đã bị ngoại bang triệt nọc đi rồi. Đến khi làm chủ mình vẫn còn thói quen trông cậy vào người khác. Ngay cả đến sách vở, chữ viết nguồn cội cũng chả giữ được. Phải nói thật rằng người mình chả có tư tưởng mẹ gì! Toàn là vay mượn tư tưởng triết lý của người khác mang về làm cẩm nang của mình. Hết nho giáo, đạo giáo lại đến các thứ không tưởng viển vông. Người Việt cơ bản là nghĩ theo cảm tính, theo kinh nghiệm của nền văn minh trồng trọt. Lành hiền, cả tin và có phần nhút nhát.
Bảo nước nhỏ không có tư tưởng lớn, không có nền văn hóa lớn là rất chủ quan và sai lầm. Bằng chứng là chúa Giê Su và cụ Kac Mac từng là người Do Thái, con dân của một dân tộc không lấy gì làm lớn nhưng đã làm thế giới nghiêng ngửa hàng bao nhiêu năm? Nhưng đấy là một dân tộc thông minh, ý chí tự do hơn hẳn các dân tộc khác. Một quốc gia từng bị chà đi xát lại tan nát, tứ tán tám phương, bốn hướng nhưng có tư tưởng người ta vẫn cứ phục quốc, có được quốc gia riêng cho mình!
Có tư tưởng hay không cái quyết định lại ở tâm hồn, tính cách và số phận dân tộc. Không yêu quý, đề cao, kính trọng biết lựa chọn thì làm sao có được tư tưởng, nhất lại là tư tưởng tiến bộ khoa học, trách nào chả vướng bận cơn mê hoảng, lú lẫn?
Đã từng có những vị như Trần Đức Thảo nhà triết gia của nước Việt. Nhưng thử hỏi số phận ông ấy ra sao? Mấy người biết đến? Ảnh hưởng đến tinh thần dân tộc được đến đâu? Rồi còn bao vị khác, hoàn cảnh cũng không sáng sủa may mắn gì.
 Không hẳn là người Việt không có tư tưởng. Do nhận thức, do thói quen, do hoàn cảnh đã đành. Tự mình làm tổn thương đến mình, đó là lỗi không thể bỏ qua, xuê xoa được. Đã ít, lại không được tôn vinh, thậm chí làm khó vì sự đố kị, hoài nghi.. Đó là thiệt thòi lớn cho nhiều thế hệ.
Nguyên nhân quan trọng nhất chính là ở chỗ này. Không những kính tế, chính trị chậm tiến bộ, thậm chí thụt lùi, mà văn chương chưa thể mở mày mở mặt ra ngoài thế giới.
**
Đừng nghĩ có ăn có mặc đầy đủ mà viết văn hay. Từng có khối ông bà thủa hàn vi, thất nghiệp, đói cơm rách áo tác phẩm viết ra ngời ngợi, được công chúng ghi nhận. Nhưng lúc được cất nhắc lên làm quan văn nghệ rồi, nghề viết cũng tịt luôn. Suốt ngày bận bịu hội họp tiệc tùng. Tung hứng đâm chóng mày chóng mặt còn đâu thời gian để ngẫm nghĩ đau đáu tình người, tình đời phổ vào trang viết, lấy đâu ra văn hay? Chưa nói đến thói quen tự kiểm duyệt, dáo dác nhìn trước nhìn sau, phập phồng e ngại đủ thứ trên đời. Từ cái chau mày hay nhăn mặt còn phải cân nhắc, huống chi giấy trắng mực đen vv và vv.
Nói đến tầm văn chương ở mức trung bình đã khó. Nói Nô Ben văn học bây giờ thật viển vông!
Bao giờ chúng ta thành thực với nhau về tất cả mọi câu chuyện mới cũ, để có thể có ý kiến xác thực. Vẫn còn “cái này, cái nọ” ý tứ không dám nói thì đừng nên bàn.
Bao giờ nhà văn Việt đủ khí phách, đủ can đảm, đủ nội hàm tư tưởng, đủ tầm vóc văn hóa, lúc đó “đỉnh cao” sẽ được nhìn thấy.
Việc trước mắt của mỗi người hãy bắt đầu sửa soạn lại, thay đổi chính mình, Quyết liệt đến chừng nào để có được thành công ban đầu dù còn rất xa với Nô Ben văn học.
Đã đành tài năng là ngọn lửa thần Poromete, không phải ai muốn cũng có được. Không có tài mà làm văn chương thì đó là bi kịch.
Mình đồng ý với các vị ở điểm này.
Nhưng làm sao biết ai tài hay không tài? Tài năng đến từ đâu? Vẫn là câu hỏi từ vô thức chưa có định nghĩa rõ ràng, chưa có câu trả lời.
Văn chương không có tư tưởng, không mang tính triết lý nhân sinh, xa rời đời sống, mô phỏng giả mạo thì chỉ là cái bóng của xác chết, không có ý niệm gì.
Sao các anh các chị không nói toạc ra?







Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn Thế Uyên qua đời, thọ 78 tuổi


Tin từ gia đình cho hay, nhà văn Thế Uyên đã qua đời lúc 5 giờ 31 chiều ngày 11 tháng 6, 2013 tại tư gia ở Bothell, tiểu bang Washington sau một thời gian dài bệnh hoạn, thọ 78 tuổi.


Vào tháng 3 năm 1999 ông bị “stroke” lần đầu tiên, bị tê bại một nửa người, phải ngồi trên xe lăn để di chuyển trong nhà, nhưng nhờ nghị lực phi thường ông đã tập viết lại bằng tay trái, và đã viết bài cho các tạp chí văn học hải ngoại. Tuy nhiên vào tháng 8 năm 2012, bị “stroke” lần thứ hai, ông rơi vào tình trạng hôn mê nhiều tháng trước khi qua đời. Ông đã qua đời đúng một tháng sau ngày mất của người cậu ruột của ông là cụ Nguyễn Tường Bách (qua đời vào ngày 11 tháng 5 năm 2013 tại Garden Grove, California).

Nhà văn Thế Uyên tên thực là Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam. Cùng với người anh ruột là nhà văn Duy Lam, Thế Uyên khi vừa qua tuổi 20 tên tuổi đã hiện diện trong làng báo. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, ông là người sáng lập tạp chí Thái Độ, như là một điểm khởi hành mới trong hành trình chữ nghĩa cho chính bản thân ông. Ông là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam như Mười ngày phép của một người lính, Tiền đồn ... Và đặc biệt hơn cả, ông là một trong những số rất ít nhà văn tiên phong trong việc đụng tới vấn đề tình dục, một vấn đề mà dường như văn học Việt Nam còn coi như một cấm kỵ trong thế kỷ 20 vừa qua.

Nhà văn Thế Uyên tốt nghiệp Trung học Chu Văn An, theo học tại Đại học Văn Khoa và Sư Phạm, trở thành giáo sư Việt văn, dậy tại nhiều trường trung học công lập ở miền Nam, rồi thuyên chuyển lên dậy ở Ban Mê Thuột, trước khi bị động viên vào khoá 14 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng một lượt với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Sau 1975, cũng như hàng trăm ngàn sĩ quan của miền Nam, ông bị đi tù cải tạo một thời gian, trước khi đến định cư tại tiểu bang Washington – Hoa Kỳ vào năm 1987. Sau khi định cư  ở Mỹ ông vừa viết văn vừa đi học, ông tốt nghiệp bằng BA về Khoa Học Xã Hội tại Evergreen State College – Olympia, WA năm 1992.

Trước tháng 4-1975 ông đã có 21 cuốn sách được xuất bản, gồm đủ loại sáng tác, biên khảo, giáo khoa cũng như dịch thuật (cuốn sách dịch được nhiều người biết tới là cuốn Về miền đất hứa (Exodus- Leon Uris). Sau khi định cư ở Hoa Kỳ ông có thêm mười cuốn được in ra: Sài Gòn sau mười hai năm, Con đường qua mùa Đông, Nghĩ trong mùa Xuân, Tuyển tập truyện ngắn Thế Uyên, Tuyển tập dâm tình của các nhà văn nữ Hoa Kỳ, Khu vườn mùa mưa, Nhà văn gìa và cô bé gù, Không một vòng hoa cho người chiến bại, và Những người Mỹ chung quanh chúng ta.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

TU LIEU LS:

Những điều chưa biết về sự kiện bắt “Lũ bốn tên”



 kể từ khi xảy ra vụ đêm 6/10/1976, những người lãnh đạo Trung Quốc quyết định bắt giữ “Bè lũ bốn tên” đang nắm giữ những chức vụ lãnh đạo đất nước sau khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời.
Nhung dieu chua biet ve su kien bat Lu bon ten
“Lũ bốn tên” bị đưa ra xét xử năm 1980
Có nhiều chuyện xảy ra trong cái đêm lịch sử ấy chưa được mấy người biết đến. Ông Châu Khởi Tài, nguyên Cục trưởng Cục Bảo mật Trung ương Đảng CSTQ đã ghi lại sự kiện này.
Hồi ký của Châu Khởi Tài đã được công bố trên tờ “Tin tức ngọ báo” và được đăng tải trên mạng “China.com” ngày 27/3/2006.
TPCN xin trích dịch để bạn đọc hiểu thêm về sự kiện đã làm thay đổi vận mệnh của đất nước Trung Quốc.
Đêm Trung Nam Hải chấn động Trung Quốc và thế giới
Ngày 6/10/1976, đêm trong Trung Nam Hải – đại bản doanh của Trung ương Đảng CSTQ rất yên tĩnh, nhưng đó là một đêm gây chấn động trong, ngoài nước và đi vào sử sách.
Cũng như mọi ngày, nhiều phòng làm việc của Cục Thư ký, Văn phòng TW vẫn sáng đèn. Các nhân viên công tác vẫn bận rộn với công việc của mình.
Khoảng 21h15’, Uông Đông Hưng (chỉ huy đơn vị 8341 bảo vệ trung ương - ND) dùng điện thoại bảo mật gọi cho tôi (tức Châu Khởi Tài - ND) thông báo: “Chuyện “Lũ bốn tên” tối nay đã giải quyết rồi, tiến hành rất thuận lợi.
Trung ương quyết định vào 22h đêm nay sẽ tổ chức Hội nghị khẩn cấp Bộ Chính trị tại nhà số 9 Ngọc Tuyền Sơn là nơi ở của Diệp soái (Nguyên soái Diệp Kiếm Anh-ND).
Bây giờ đồng chí Hoa Quốc Phong và Diệp soái đã rời Hoài Nhân Đường cùng đến Ngọc Tuyền Sơn rồi. Tôi đang thông báo cho các ủy viên BCT có mặt ở Bắc Kinh đến họp. Đồng chí phải tới ngay đó trước để bố trí hội trường và làm các công tác chuẩn bị khác. Nghe rõ chưa?”. Tôi đáp: “Rõ rồi, tôi sẽ đi ngay!”. “Thời gian rất gấp, đồng chí phải đi làm ngay!”.
Tôi vội vã xuống lầu rồi lên xe phóng tới Ngọc Tuyền Sơn với tốc độ nhanh nhất.
Hoa Quốc Phong tuyên bố “Lũ bốn tên” đã bị bắt giam!
Tôi đến nơi ở của Diệp soái vào lúc 9h40’. Cảnh vệ và thư ký của Diệp soái thấy tôi, liền đưa ngay vào phòng ngủ của ông. Lúc này Hoa Quốc Phong và Diệp soái đang ngồi ở mép giường ngủ bàn bạc công việc.
Thấy tôi vào, Hoa Quốc Phong hỏi: “Lão Châu, đồng chí biết chuyện rồi chứ?”. Tôi đáp: “Mới biết sơ qua, đ/c Đông Hưng bảo tôi tới để nghe đ/c và Diệp soái chỉ thị!”.
Hoa Quốc Phong: “Hội nghị khẩn cấp BCT sẽ họp tại phòng khách của Diệp soái. Đ/c tới đó sắp xếp trước”. Tôi đáp “Vâng!” rồi ra ngoài, hai người tiếp tục bàn việc.
Đúng 22 giờ, tôi báo cáo với Uông Đông Hưng các thành viên BCT đã có mặt đầy đủ. Các ủy viên BCT dự hội nghị này có: Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng, Ngô Đức, Trần Tích Liên, Kỷ Đăng Khuê, Trần Vĩnh Quý, Tô Chấn Hoa, Nghê Chí Phúc, tất cả 11 người. Tôi và Lý Hâm được dự thính.
Bắt đầu cuộc họp, Hoa Quốc Phong mời Diệp soái chủ trì hội nghị và phát biểu trước. Diệp soái nói: “Hội nghị này phải do anh chủ trì. Anh là người được Mao Chủ tịch đề nghị và Bộ CT đã thảo luận phê chuẩn làm Phó chủ tịch thứ nhất của Đảng, trước nay vẫn chủ trì công việc hàng ngày của trung ương, trách nhiệm không ai thay được. Anh chủ trì hội nghị đi!”.
“Thế thì tôi xin nói trước mấy câu rồi xin Diệp soái chủ trì cho! Tôi xin tuyên bố để mọi người biết: Hồi 20 giờ tối nay, với cớ triệu tập cuộc họp Thường vụ BCT tại Phòng họp chính trong Hoài Nhân Đường, Trung Nam Hải để bàn việc xuất bản “Tuyển tập Mao Trạch Đông tập 5” và xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Trạch Đông, trung ương đã bắt giữ Vương Hồng Văn và Trương Xuân Kiều.
Diêu Văn Nguyên không phải là ủy viên thường vụ cũng được thông báo đến dự thính để phụ trách việc hiệu đính Mao tuyển rồi bắt luôn tại phòng nghỉ cạnh Hoài Nhân Đường. Giang Thanh thì bị bắt tại nhà nghỉ trong Trung Nam Hải.
Căn cứ tội nghiêm trọng cướp Đảng đoạt quyền của chúng, đã lần lượt thông báo cho chúng quyết định của trung ương do tôi ký về việc thực hiện cách ly họ để thẩm tra. Việc bắt Vương Hồng Văn và Trương Xuân Kiều tại Hoài Nhân Đường do Diệp soái tọa trấn, tôi tuyên đọc lệnh.
Việc bắt Giang Thanh và Diêu Văn Nguyên thì do người phụ trách làm nhiệm vụ tuyên đọc lệnh. Đối với Mao Viễn Tân thì thực hiện quản thúc thẩm tra. Mấy phần tử cốt cán của “Lũ bốn tên” ở Bắc Kinh thì giao cho thành uỷ và Bộ Tư lệnh cảnh vệ Bắc Kinh xử trí theo chỉ thị của trung ương”.
Hoa Quốc Phong vừa dứt lời thì Diệp soái nhấn mạnh: “Việc đập tan tập đoàn phản cách mạng “Lũ bốn tên” được tiến hành vào thời điểm quốc gia lâm nguy sau khi Mao chủ tịch qua đời.
Khi còn sống, Mao chủ tịch đã nói đến việc phải xử lý “Lũ bốn tên” nhưng chưa kịp ra tay. Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, hoạt động cướp Đảng đoạt quyền của chúng ngày càng hung hăng, điên cuồng, chúng đang chuẩn bị để ra tay!”.
Diệp soái nói tiếp: “ở trung ương, chúng ta đã giải quyết được vấn đề “Lũ bốn tên” về tổ chức và chính trị, đây là thắng lợi bước đầu. ở các địa phương còn có nhiều phần tử cốt cán thuộc bang phái của chúng cần phải thanh lọc.
Nhiệm vụ khó khăn hơn là việc triệt để loại bỏ tàn dư nọc độc tư tưởng và ảnh hưởng của chúng. Việc này cần phải nỗ lực trên mọi mặt và trong một thời gian dài!”.
Các ủy viên BCT dự họp đều bày tỏ hoàn toàn đồng ý với quyết sách quả đoán của thường vụ trung ương Đảng, nhất trí thông qua quyết định thực hiện cách ly Vương, Trương, Giang, Diêu để thẩm tra.
Thảo luận và quyết định người làm Chủ tịch Đảng
Hoa Quốc Phong nói: “Mao chủ tịch vĩnh biệt chúng ta đã được gần một tháng. Tập đoàn phản cách mạng “Lũ bốn tên” loạn Đảng, loạn quân, loạn quốc, mưu đồ cướp đoạt quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã bị đập tan. Trong tình hình mới mẻ này, tôi đề nghị Bộ Chính trị mời Diệp soái của chúng ta làm Chủ tịch Đảng, chủ trì công tác của trung ương”.
Diệp soái đứng bật dậy nói lớn: “Đồng chí Quốc Phong đề nghị như thế không ổn. Tôi tuổi đã cao, năm nay đã 79 rồi, vả lại tôi lâu nay làm công tác quân sự, diện công tác hẹp. Qua thận trọng xem xét, tôi đề nghị đồng chí Hoa Quốc Phong giữ chức Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Quân ủy TW.
Đồng chí ấy trẻ hơn tôi 20 tuổi, có kinh nghiệm thực tiễn, là người thực tế, tác phong dân chủ tốt, đoàn kết được người khác, biết tôn trọng các đ/c già.
Hiện đ/c đang là Phó chủ tịch thứ nhất, chủ trì công tác hàng ngày của trung ương. Tôi cho rằng đ/c ấy là người thích hợp nhất. Gánh nặng này thật không nhẹ chút nào, mọi người chúng ta cần giúp sức. Đề nghị các đ/c xem xét!”.
Qua thảo luận sôi nổi, những người dự họp đều hoàn toàn tán thành ý kiến của Diệp soái, nhất trí thông qua quyết định cử Hoa Quốc Phong làm chủ tịch Đảng, chủ tịch Quân uỷ, đợi sẽ triệu tập hội nghị toàn thể trung ương để truy nhận.
Tiếp đó, hội nghị thảo luận và thông qua về nguyên tắc Quyết định xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Trạch Đông, Quyết định xuất bản Mao tuyển tập 5 và chuẩn bị xuất bản “Mao Trạch Đông toàn tập”. Hai bản quyết định này được hoàn chỉnh tại Hội nghị BCT ngày 8/10 và cho đăng các báo ra ngày 9/10/1976.
Hội nghị khẩn cấp Bộ Chính trị này đã họp liên tục suốt 6 tiếng liền, suốt từ 22 giờ đêm mồng 6 đến 4 giờ sáng mồng 7 tháng 10 mới kết thúc.
Hoạt động bận rộn của Bộ chính trị tại nhà số 5 Ngọc Tuyền Sơn
Nhung dieu chua biet ve su kien bat Lu bon ten
Giang Thanh bị giải ra xét xử trước toà năm 1980
Sau khi hội nghị khẩn cấp Bộ Chính trị giải tán, Uông Đông Hưng đã tìm tôi và chỉ thị mấy vấn đề:
Thứ nhất, gọi điện cho Bí thư thành ủy Thượng Hải Mã Thiên Thuỷ và Tư lệnh BTL Cảnh bị Thượng Hải Châu Thuần Lân, thông báo họ phải về Bắc Kinh ngay sáng nay để lãnh đạo trung ương có việc cần gặp.
Thứ hai, bắt đầu từ hôm nay mọi hoạt động của Bộ Chính trị gồm hội họp, làm việc tập thể, gặp gỡ cá nhân đều tiến hành tại Phòng khách nhà số 5 phố Ngọc Tuyền Sơn. Lãnh đạo nghiên cứu quyết định cho phép đ/c được tham dự các cuộc họp BCT, các cuộc làm việc tập thể.
Thứ ba, Diệp soái tuổi đã cao, khi Diệp soái đứng lên, ngồi xuống trong phòng họp và vào phòng vệ sinh, đ/c phải dìu để bảo đảm an toàn.
Tuân theo chỉ thị của Uông Đông Hưng, tôi đã yêu cầu tổng đài trực tại nhà số 5 dùng điện thoại bảo mật để tôi liên lạc với Mã Thiên Thuỷ và Chu Thuần Lân.
Gọi cho Mã Thiên Thuỷ trước, tôi nói: “Tôi là Châu Khởi Tài, Thư ký của Văn phòng TW. Lãnh đạo TW bảo tôi gọi mời đ/c hôm nay về ngay Bắc Kinh, có việc gấp cần bàn!”.
Mã hỏi: “Bàn chuyện gì, lãnh đạo TW có nói không?”. “Không thấy nói!”. Mã lại hỏi: “Thế Từ Cảnh Hiền, Vương Tú Trân có về không?”. Tôi đáp: “Không thấy nói báo họ về”. Mã hỏi tiếp: “Còn ai ở Thượng Hải phải về nữa không?”. “Còn có Tư lệnh Châu Thuần Lân!”. “Thế để tôi báo Châu Thuần Lân”. “Không dám phiền đồng chí, tổng đài đang nối điện thoại tới Châu Thuần Lân cho tôi rồi”.
Tôi báo cho Mã Thiên Thủy biết, trung ương sẽ cho chuyên cơ tới Thượng Hải đón họ về. Tư lệnh Châu Thuần Lân là người bị phe cánh của “Lũ bốn tên” ở Thượng Hải bài xích.
Sau khi nối được điện thoại, tôi thông báo cho ông ấy biết việc lãnh đạo TW gọi về, ông nói ngay “Tốt lắm, tôi sẽ đợi thông báo từ sân bay!”.
Gọi điện cho Thượng Hải xong, tôi liên hệ với bộ phận chủ quản chuyên cơ của TW để bố trí máy bay. Sau đó gọi cho khách sạn Kinh Tây để bố trí nơi ăn ở cho Mã, Châu.
Sáng 7/10, Mã Thiên Thuỷ và Châu Thuần Lân đáp chuyên cơ tới Bắc Kinh vào ở khách sạn Kinh Tây. Hôm đó lãnh đạo TW không đưa họ tới số 5 Ngọc Tuyền Sơn làm việc.
Sáng 8/10, những người lãnh đạo đảng, chính quyền, quân đội của các tỉnh kề cận Thượng Hải là Triết Giang, Giang Tô cũng bị triệu về Bắc Kinh. Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng đã gặp họ tại Phòng họp nhà số 5, truyền đạt cho họ tin trung ương đã đập tan “Lũ bốn tên” và mấy quyết định quan trọng của Hội nghị khẩn cấp BCT. Họ đều bày tỏ ủng hộ trung ương, mọi người tập trung bàn bạc vấn đề ổn định cục diện của tỉnh và giải quyết vấn đề Thượng Hải.
Đến chiều 8/10 thì Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng đã gặp Mã Thiên Thủy tại phòng họp nhà số 5, cùng dự có Châu Thuần Lân.
Tại cuộc gặp, Hoa Quốc Phong nói về tội ác cướp Đảng đoạt quyền của “Lũ bốn tên” và quyết định của trung ương áp dụng biện pháp cách ly họ để thẩm tra.
Nghe xong, thái độ của Mã Thiên Thuỷ rất ngoan cố, kiên quyết phản đối quyết định của trung ương, mấy lần đề nghị cần xử lý nội bộ vấn đề của “Lũ bốn tên” trong Đảng. Quan điểm của ông ta đã bị các vị lãnh đạo trung ương nghiêm khắc phê phán và nhẫn nại giáo dục.
Tư lệnh Châu Thuần Lân cũng mấy lần khuyến cáo và phê bình, nhưng Mã Thiên Thuỷ vẫn không hề có ý hối lỗi. Hoa Quốc Phong nhìn đồng hồ rồi nói: “Thôi hôm nay nói đến đây thôi!”, rồi ông nói với Mã: “Anh về đến khách sạn Kinh Tây thì gọi điện ngay cho Từ Cảnh Hiền và Vương Tú Trân, bảo họ mai về Bắc Kinh họp!”.
Rồi ông quay sang tôi: “Lão Châu, anh gọi xe đưa bí thư Mã về khách sạn”, đồng thời nháy mắt với tôi. Lúc đó tôi hiểu ý ông nhắc tôi hãy giám sát việc Mã Thiên Thuỷ gọi điện cho Từ, Vương. Tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu ý. Xe về đến khách sạn, tôi theo Mã Thiên Thuỷ lên phòng.
Vừa vào đến cửa phòng, ông ta bảo thư ký, nối điện thoại cho gặp Từ Cảnh Hiền. Điện thoại được nối, Mã cầm lấy ống nói: “Tôi Mã đây, trung ương bảo anh với Tú Trân mai về Bắc Kinh họp, sẽ có máy bay đến đón”.
Bên kia nói gì đó, tôi nghe không rõ, chỉ thấy Mã nói: “Tốt lắm!”. Bên kia lại nói gì đó, Mã bảo: “Thôi để đến Bắc Kinh bàn nhé!”, rồi dập điện thoại.
Tôi trở về số 5 Ngọc Tuyền Sơn báo cáo với Hoa Quốc Phong và Uông Đông Hưng chuyện Mã Thiên Thuỷ gọi điện cho Từ Cảnh Hiền.
Từ Cảnh Hiền, Vương Tú Trân đến Bắc Kinh liền cùng với Mã Thiên Thuỷ và Châu Thuần Lân tới nhà số 5 Ngọc Tuyền Sơn dự “Hội nghị chào hỏi”, nghe Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng phát biểu. Nghe xong, Mã, Từ, Vương cảm thấy đã thất thế, không dám manh động, lấy trứng chọi đá. Một nhóm nhỏ dư đảng của “Lũ bốn tên” ở Thượng Hải âm mưu phát động bạo loạn vũ trang phản cách mạng đã bị đánh bại.
Tại một hội nghị trước khi Mã, Từ, Vương trở về Thượng Hải, Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh đã phát biểu chỉ rõ tính nghiêm trọng của vấn đề ở Thượng Hải và nêu rõ chính sách đối với họ, nhẫn nại giáo dục, nêu ra hy vọng và yêu cầu với họ.
Họ bày tỏ: sau khi về Thượng Hải nhất định sẽ truyền đạt và quán triệt lại các quyết định quan trọng của trung ương làm tốt công tác để ổn định tình hình. Vương Tú Trân còn khóc lóc, nói mình bị mắc lừa “Lũ bốn tên” và tố cáo các vấn đề của Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên.
Ba bản bút tích của Mao Trạch Đông trong tay Hoa Quốc Phong
Trung ương đã chia đợt họp các hội nghị riêng rẽ theo kiểu “Hội nghị chào hỏi”, đến ngày 14/10 thì kết thúc. Mỗi hội nghị đều do Hoa Quốc Phong chủ trì, Hoa Quốc Phong và Diệp soái phát biểu.
Mỗi khi phát biểu, tay Hoa Quốc Phong đều cầm 3 bản bút tích của Mao Trạch Đông. Một bản là “Từ từ làm, chớ vội vàng”, “Làm theo phương châm trước đây”, “Đồng chí làm việc, tôi yên tâm”.
Bản thứ hai là “Giang Thanh can thiệp nhiều quá, dám tự triệu tập 12 tỉnh về để gặp”.
Bản thứ ba là tài liệu của Giang Thanh đề nghị xử lý vụ “Phong Khánh Luân”, Hoa Quốc Phong thỉnh thị ý kiến Mao Trạch Đông, được ông phê vào “Không nên sao gửi, việc này không ổn!”.
Hoa Quốc Phong đã truyền đạt cho các hội nghị về ba bản bút tích của Mao Trạch Đông. Sau đó tập trung nói về một bản bút tích đầu tiên. Hoa Quốc Phong nói: “Mao chủ tịch viết 3 câu này vào tối ngày 30/4/1976. Sau khi cùng Mao chủ tịch tiếp Thủ tướng New Zealand Mondale tại nơi ở của ông tại Trung Nam Hải, tôi đã báo cáo một số việc tôi đã xử lý và vấn đề ở mấy tỉnh và nghe chủ tịch chỉ thị. Chủ tịch đã viết 3 câu này vào lúc đó.
Lúc ấy, chủ tịch nói năng đã rất khó khăn, có lúc ông nói tôi không nghe được rõ, không hiểu gì. Chủ tịch bảo thư ký lấy giấy bút ra viết 3 câu này và đưa cho tôi.
Hai câu đầu viết khi nghe tôi báo cáo công tác, câu thứ ba là nói với cá nhân tôi. Hai câu “Từ từ làm, chớ vội vàng”, “Làm theo phương châm trước đây”, tôi đã truyền đạt tại Hội nghị Bộ Chính trị họp sau đó, có mặt cả “Lũ bốn tên”, còn câu “Đồng chí làm việc, tôi yên tâm” thì tôi không truyền đạt.
Sau khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời, “Lũ bốn tên” đã vội vã cướp Đảng đoạt quyền, chúng bí mật bàn nhau sửa chỉ thị của chủ tịch “Làm theo phương châm trước đây” ngụy tạo thành Di chúc của Mao Trạch Đông lúc lâm chung “Làm theo phương châm đã định” rồi gây dư luận tạo phản trên báo chí. Do lúc đó chúng ta phải dốc sức lo việc tang lễ Mao chủ tịch nên không kịp thời xử lý được”.
Nhân đây cũng xin nói thêm, ủy viên BCT Hứa Thế Hữu đã tham dự “Hội nghị chào hỏi” cuối cùng. Trước hội nghị ông đã căm phẫn lên án tội ác của “Lũ bốn tên” và bộc bạch: “Trong thời gian tang lễ Mao chủ tịch, khi họp hội nghị Bộ Chính trị, lưng tôi luôn giắt khẩu súng ngắn, nếu “Lũ bốn tên” dám gây chuyện cướp quyền tại hội nghị là tôi bắn ngay lũ khốn kiếp ấy!”
Thu Thủy dịch

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trang ban be:





Tân Quảng


DỰ ÁN TREO

Xóm xưa cỏ ngợp ngang người
Kìa khu công  nghiệp nnằm phơi bẽ bàng
Đêm buồn vẳng tiếng mèo hoang
Hoa xoan thảng thốt hồn làng còn vương


CHIỀU LỌT KẼ TAY 




Nghe chiều nắng lọt kẽ tay
Mùa thu đánh đổ heo may xuống đồng
Tình giờ đã cạn như sông
Đất âm thầm giấu nỗi lòng vào cây

Cầm thu hư ảo hương bay
Ngu ngơ bện tuổi làm dây buộc thuyền
Hồn giờ đắng rượu chát men
Vịn vào trượt ngã vực lên bóng mình

Người ơi duyên phận tròng trành
Xin đừng vẽ gió cho thành cơn giông
Mùa đi trên nhánh sầu đông
Nhặt đôi trái rụng về trồng chiêm bao.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn & nỗi sợ


Sợ làm nên cộng đồng người, làm nên văn hóa và văn minh…
Inrasara

Sợ dã thú, con người hợp quần để tạo sức mạnh, các bộ lạc ra đời. Sợ bộ lạc khác, con người tạo lập cộng đồng có tổ chức mạnh mẽ hơn để tránh bị tiêu diệt, nền văn hóa xuất hiện. Sợ sức mạnh siêu nhiên chưa thể lí giải, con người tạo ra tôn giáo. Vân vân… Thế nhưng, ngoài óc thực tế, loài người còn được ban cho trí tưởng tượng. Bên cạnh ổn định cuộc sống vật chất và đảm bảo an ninh thân xác, con người muốn làm giàu sang đời sống tinh thần của mình. Một khi sử dụng đến trí tưởng tượng ấy, tinh thần phiêu lưu được huy động tối đa vào cuộc. Từ đó, sự dũng cảm – không phải là dũng cảm của tự vệ, mà là cái dũng của sáng tạo – có đất sống.

Để thỏa mãn trí tưởng tượng cùng tinh thần phiêu lưu kia, kẻ thám hiểm, đạo sĩ cô đơn, nhà tư tưởng, nhà văn… ra đời. Dĩ nhiên, nếu là nhà văn, phải là nhà văn lớn. Sợ hãi và dũng cảm song hành tồn tại trong suốt lịch sử nhân loại. Cả ở phạm vi cá biệt nhất: văn chương.

1. Hắn bị ném vào thế giới ngôn ngữ đó trong cộng đồng văn học đó. Ở đó, cộng đồng lớn nhất là Hội Nhà văn Việt Nam, tiếp đến là các chi hội địa phương, rồi bạt ngàn câu lạc bộ thơ văn các loại rải rác khắp đất nước. Hắn sống trong đó, thở hơi thở bầu khí quyển nền văn học đó. Không thể khác. Để tồn tại, hắn phải phấn đấu vào tập thể đó, gò mình chấp nhận vài khế ước cộng đồng. Hắn cần đút túi tấm thẻ Hội Nhà văn, để được cộng đồng hay ít nhất – tập thể kia gọi là “nhà thơ”, “nhà văn”. Sợ không là gì cả, không ai biết đến sự tồn tại của mình, hắn cần đồng hóa với một tập thể lớn hơn. Như kẻ hâm mộ tự đồng hóa với thần tượng, Zidane hay Micheal Jackson. Như công dân đồng hóa với quốc gia, tôi người Mỹ, mà Mỹ thì oách hơn Maroc là hẳn rồi.

Trước tập thể to lớn kia, hắn sợ đứng một mình. Hắn sợ cô đơn – cô đơn như là định phận của nhà văn.

Viết, hắn không những bị chi phối bởi tập thể chuyên môn, mà còn vì một tập thể khác lớn hơn mà sinh phận hắn gắn vào: nghề nghiệp (giáo chức chẳng hạn), dòng tộc, hay cơ chế chính trị của quốc gia hắn sống. Viết, mắt hắn luôn dè chừng lắm lét nhìn trước ngó sau, xem sinh viên hắn nghĩ sao khi đọc đến trang viết lạ lẫm này, bà con họ hàng phản ứng thế nào trước câu thơ táo bạo kia. Rồi đoạn văn nhạy cảm nọ có bị dao kéo kiểm duyệt của chế độ cắt xén không? Dù một mình trước trang giấy, hắn vẫn không cô đơn. Hắn sợ. Sợ tác phẩm không được in, nếu in thì bị dư luận phê phán, hay lớn hơn – bị thu hồi. Sợ, hắn tự kiểm duyệt, sao cho vừa vặn với tầm mong đợi của số đông, của thứ mĩ học đang lưu hành được cộng đồng chấp nhận.

Chịu chan hòa với đồng nghiệp, chịu tự kiểm duyệt nhưng hắn vẫn bị nỗi sợ hãi ám. Bao nhiêu là sợ hãi, như loài ma, không thoát ra được. Sợ dư luận hờ hững, hắn cần đến buổi ra mắt sách, cần đến báo chí giới thiệu. Sợ bị nhà phê bình chê, hắn xun xoe đủ kiểu để tránh làm nhà này mất lòng. Sợ bị hiểu sai, bị chụp mũ, hắn thêm tâm lí định hướng dư luận. Ý tôi thế đó, đoạn văn trên nghĩa thế này, xin đừng hiểu lầm tôi… Dòng chữ cuối cùng đã kết, cuốn sách đã ra khỏi nhà in, hắn vẫn chưa thôi nơm nớp lo sợ. Hắn không chịu để chính tác phẩm tự vệ, mà luôn ngoảnh lại để bảo vệ “đứa con tinh thần” của mình. Nhà văn nói thay tác phẩm, là điều nhảm nhất trong tất cả điều nhảm diễn ra trong sinh hoạt văn học Việt Nam, thời gian qua.

Cuối cùng, sợ tác phẩm chết trước khi tác giả qua đời, là nỗi sợ lớn nhất của hắn. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tên tuổi hắn cùng lắm chỉ nằm ở góc khuất trong Kỉ yếu của Hội ở mỗi mùa Đại hội. Có khi nó chỉ có mặt mơ hồ đâu đó nơi dấu ba chấm (…), rất tội. Viết, hắn hi vọng để lại dấu ấn hoành tráng hơn, trong văn học sử. Nạn chạy hội thảo, nạn tự làm tuyển tập dăm năm qua trong văn giới như một thứ dịch, là rất điển hình. Một điển hình nhảm của nền văn học nước nhà. Lo lắng văn chương mình bị thời gian gặm nhắm, hắn hối hả gom tất cả trang viết qua vài chục năm sáng tác, “gạn đục khơi trong”, để làm tuyển. Lắm lúc “tinh tuyển”. Tinh tuyển có khi lên tới… mấy trăm trang! Các bài báo viết vội, bài giới thiệu sách khen lấy được, mấy phát biểu cảm tưởng vu vơ, vân vân… cũng được thu gom về làm tuyển. Làm, và chạy biếu thư viện từ trung ương đến địa phương, lớn nhỏ chẳng chừa. Tuyển, để không ai đọc cả. Thương!

2. Từ bao nỗi sợ kia, nhà văn – dù được liệt vào nòi sáng tạo, vẫn thích đi trên con đường mòn. Sợ đi lệch lối mòn các bậc văn hào thi bá đã đi, sợ khác truyền thống, sợ khác cả người viết cùng thời. Nhưng sáng tạo là gì, nếu không phải là thả cho trí tưởng tượng bay bổng, khai phá xứ miền xa lạ để làm ra cái mới. Ý thức được sứ mệnh cao cả này, không ít nhà văn đã thử nhập vào phong trào cách tân. Họ đã dám làm khác thế hệ đi trước, khác đàn anh đàn chị hôm qua, thế rồi bởi rất nhiều nguyên do, họ không dám chặt đứt cây cầu vừa bước qua, để còn cơ may trở lại. Họ vẫn ở lại, ở lại để giống nhau. Giống người viết cùng thời. Xuất phát điểm vẫn là do sợ hãi, sợ cô đơn. Sợ rơi lạc khỏi bầy đàn.

Làm thế nào nhà văn Việt Nam hôm nay có thể thoát khỏi bóng ma sợ hãi kia?
Mở mắt chào đời, hắn nhìn thấy cha mẹ, anh chị, thấy cô bác, anh họ chị họ, ông bà họ nội ngoại, dì dượng gần xa, vô thiên lủng… Chớ gì ai dại dột đi phản đối truyền thống đùm bọc ấm áp đó. Nhưng lạ là dường tất cả sẵn sàng chỉ tay khuơ khoắng nên thế này với không được thế nọ đầy quyền uy, đe nạt. Nề nếp gia phong luôn được đặt lên hàng đầu, trói buộc tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Truyền thống gia đình Việt Nam dạy con cháu yêu quý sự ổn định hơn là đam mê tinh thần mạo hiểm khai phá. Từ đó, cá nhân sớm hài lòng với thành quả nhỏ bé đạt được, chứ không nỗ lực theo đuổi mục đích to lớn hơn.

Gia đình đã vậy, nhà trường cũng chẳng hơn. Thực tế, môn triết học – được cho là môn học nền tảng của mọi nền tảng giúp con người suy nghiệm cuộc sống chiều sâu – đến hôm nay vẫn chưa có mặt nghiêm túc trong các Đại học Việt Nam. Không có truyền thống triết học, ta cũng chưa sẵn sàng cho truyền thống đó. Ngồi giảng đường, sinh viên không được khuyến khích suy tư độc lập, thì làm gì hi vọng sau đó họ phát kiến ý tưởng mới lạ, liều lĩnh khai phá lối viết mới mẻ, dám thể hiện mình (không phải thể hiện cái tôi chủ quan èo uột hay lớn lối như đã) mà không ngại thất bại. Còn xã hội mênh mông ngoài kia thì miễn bàn. Bởi xã hội là gì, nếu không là các cá nhân họp lại?

Bao nhiêu là nỗi sợ hãi vây bủa nhà văn. Dưới hay trên, ngoài và trong, xa và gần! Sợ bị soi mói, bị chụp mũ. Sợ cho mình, sợ cho nhau và sợ nhau, nên người viết rất sợ mình viết không giống ai. Vừa viết, ta vừa liếc sang kẻ bên cạnh. Ta sợ đi một mình. Là nỗi chưa đủ cô đơn cho sáng tạo. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng. Sự cô đơn cần thiết để tạo nên tác phẩm lạ biệt.

Chưa đủ cô đơn trong giai đoạn đầu tư thai nghén. Nhà văn bị cuốn vào cuồng lưu hội hè đình đám, hội thảo chòm nhóm. Văn chương chưa ra trường phái đã biến thành phe phái. Chưa đủ cô đơn khi đối diện với trang giấy/ màn hình trắng. Bao nhiêu bóng ma u ám, giọng nói mơ hồ lởn vởn trong ta, quanh ta, sẵn sàng đe dọa thân xác ta, uy hiếp tinh thần ta. Nó lên tiếng thì thầm vào tai hay trừng mắt răn đe, riết rồi ta lơi tay hay bẻ cong ngòi bút lúc nào không biết. Chưa đủ cô đơn cả lúc tác phẩm đã sinh hạ. Ta dỏng tai nghe ngóng dư luận về nó, rằng nó có vấn đề gì không, các nhà phê bình có để mắt đến nó và, tệ hơn cả là ta mãi tư thế đứng ra bảo vệ nó khi nó bị chê bai.

Bấy lâu, nhà văn Việt Nam luôn là con người của số đông. Số đông trong giới văn nghệ, số đông giữa người đọc và, số đông cả khi chỉ ngồi một mình, cô độc! Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, nhà văn không dám sống tới cùng tư tưởng chọn lựa, không dám viết tới cùng, và nhất là không dám theo đuổi đến cùng dự án lớn lao không giống ai của mình [nếu hắn may mắn nghĩ ra được và hoạch định trước đó]. Mà đã sợ hãi, thì làm gì có sáng tạo đúng nghĩa!

3. Thế nhưng, đâu đây vẫn có kẻ chinh phục được nỗi sợ, dám tách đàn để làm cuộc đi cô độc. Vẫn có nhà văn viết mà không hề bị ám ảnh bởi bóng ma kiểm duyệt nào bất kì. Vẫn còn tên tuổi dám thách thức tầm mong đợi của độc giả, mà không sợ thất bại.

Triết học hiện sinh đặt nền tảng trên cảm thức xao xuyến angoisse. Con người bị ném vào thế giới, rùng mình khi ý thức sinh phận nhỏ bé đầy hữu hạn trước vũ trụ vô cùng. Nỗi sợ hãi căn nguyên vồ chụp lấy hắn. Hắn chạy tìm chỗ bấu víu, cố vùng vẫy, vẫn không thoát ra được. Cảm thức kia luôn trở lại và ở lại. Đức Phật cho rằng chỉ khi con người ý thức sâu thẳm nỗi sợ căn nguyên kia, sống với nó và chinh phục nó, con người mới tìm được chân hạnh phúc.

Con của loài người không có đất gối đầu, nên cần đến bàn tay an ủi vỗ về – ai nói thế? Lạ, nhà văn lại là loài, hay đúng hơn là kẻ tự nguyện chọn vô sở trú trên bước đường cô độc và bất trắc của sáng tạo. Tiếp nhận truyền thống, sở hữu ngôn ngữ dân tộc, là thành viên của Hội đủ loại… nhưng hắn phải cô đơn toàn phần khi đối mặt với trang viết. Đó chính là khoảng trắng của sáng tạo, là quê hương thân yêu của hắn. Khoảng trắng đầy bóng tối, nguy cơ làm hắn run rẩy, chùn bước. Chính tại đây – như Đức Phật đòi hỏi kẻ tu hành vô bố úy trước cái KHÔNG – nhà văn cũng tự giữ tâm trí không nao núng, không sợ hãi trước khoảng trắng này.

Vậy, làm thế nào một nhà văn có thể trụ vững, mà không thối chuyển? Không gì khác! Hắn hiểu mệnh, nhận mệnh và, yêu mệnh. Yêu mệnh Amor Fati theo nghĩa mạnh mẽ nhất của từ.

Nhà văn là kẻ sống thời đại mình, phơi trần toàn bộ con người mình ra với nó – trọn vẹn. Trong lúc thời cuộc ẩn chứa đầy rẫy tai ương rình rập. Sợ hãi, hắn đã từng đui điếc trước thời cuộc, chui vào vỏ sò cô độc, viết vọng ra. Không ít kẻ chạy thoát thân, như đám chuột vội vã rời bỏ con tàu sắp đắm; rồi khi đã yên ấm, từ ngoài viết vào, như thể một cách ban bố. Số khác chọn cho mình quyền vô trách nhiệm với cuộc sống nhân quần, sống chết mặc bây… Có thể không? Khi tất cả đã bị đẩy xuống tàu, con tàu thời đại. Nhà văn không thể chọn lựa, dù hắn biết con tàu hôi rình và, trong đó bao nhiêu là kẻ thô bạo, sẵn sàng quăng ném hắn xuống biển đen.

Thức nhận định phận, nhà văn học chấp nhận cư trú trên đường biên nhiều bấp bênh bất trắc, chịu sự co kéo giằng xé giữa miếng bánh béo bở của quyền lực và sự cô đơn bần hàn của sáng tạo. Hắn không sợ cô đơn, không sợ cô độc, cả không hãi cô lập. Hắn hiểu sâu thẳm rằng sinh phận của hắn là trở về với trang viết, cô đơn trước trang viết, một cô đơn toàn phần. Nỗi cô đơn không ai có thể lấy đi của hắn. Là giấc mộng của hắn. Hắn yêu nó như là quê hương mình, ngôi nhà vĩnh cửu mà định mệnh đã dành cho hắn.

Chắc chi thiên hạ đời nay

Mà đem non nước làm rầy chiêm bao.

(Nguyễn Trãi)

Suốt chiều dài lịch sử văn học, kẻ sáng tạo luôn bị rầy. Ở đâu cũng vậy, chế độ nào cũng thế. Solzhenitsyn sau thời gian dài chịu tù đày, đã bị trục xuất khỏi quê hương. Kazanzakis bị mạt sát, rẻ rúng ở Hi Lạp. Sách Henri Miller bị cấm bán thời gian dài tại Mỹ đến nỗi người Mỹ phải mua lậu sách ông từ Pháp mang về. Mới nhất, Orhan Pamuk bị đại đa số trí thức Thổ Nhĩ Kì tẩy chay, đành sống cuộc đời bán lưu vong…

Bị rầy, kẻ sáng tạo luôn nhớ nhung miền “chiêm bao” vời vợi. Cho bị rầy, chấp nhận “hòa” vào nỗi “non nước” để “thiên hạ đời nay” rầy, nhưng hắn vẫn không thôi nhớ nhung. Trăm bận quyết dứt áo ra đi, trăm lẻ một lần mang thân trở lại. Sự giằng xé co kéo diễn ra ngay trong tâm thức kẻ sáng tạo. Kéo dài, và thường trực. Cuộc chiến tinh thần – theo cách nói của Rimbaud – như muốn hủy hoại hắn. Hắn quyết hóa giải để hòa giải chúng, dịch chuyển “non nước” vào trong “chiêm bao”, biến “non nước” làm một phần không thể thiếu của “chiêm bao”, cho chính sự “rầy” chốn “non nước” kia thành chất liệu làm giàu sang xứ miền “chiêm bao” mộng huyễn của hắn.

Theo InrasaraHiển thị bớt
8
Thêm 

Phần nhận xét hiển thị trên trang