Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Thoi su:Tham luận của Đại biểu Trương Trọng Nghĩa trước Quốc hội



Tuổi trẻ
Tối qua báo Tuổi trẻ đăng bài tham luận trước Quốc hội của Đại biểu Trương Trọng Nghĩa, nhan đề ”Lo lắng kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc“. Tuy nhiên, so với bản gốc mà ông gửi cho các báo, bản trên Tuổi trẻ có thiếu vài đoạn.
Do đó, chúng tôi xin đăng toàn văn bài tham luận này. Toàn bộ phần chữ có màu xanh là nguyên văn bản tham luận, riêng phần màu danh dương ở đầu không có trên Tuổi trẻ. Phần chữ có màu đen là Tuổi trẻ thêm vào so với bản mà chúng tôi có được.
30/05/2013 21:12 (GMT + 7)

Lo lắng nhiều lĩnh vực của nền kinh tế đã và đang phụ thuộc vào Trung Quốc, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (đoàn TP.HCM) đã có bài tham luận đăng ký phát biểu tại hội trường Quốc hội ngày 30-5.

1
Do không đủ thời gian, ông đã gửi tham luận đến Ban thư ký kỳ họp. 
TTO xin gửi đến bạn đọc bản tham luận này.

Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa cho biết:

Kính thưa Quốc hội, kính thưa chủ tọa đoàn,

Tôi xin góp một số ý kiến như sau.

Các đại biểu QH, trong đó có tôi, với tinh thần chia sẻ khó khăn với Chính phủ, đã đem hết tâm huyết và trách nhiệm  để phân tích tình hình và đề ra giải pháp phát triển KT-XH cho năm 2013. Điểm nổi bật  là, tuy thừa nhận những nỗ lực và thành tựu của Chính phủ trong 2012 và 4 tháng đầu 2013, khá nhiều đại biểu cho rằng Báo cáo của Chính phủ không phản ánh đầy đủ và xác thực tình hình khó khăn, yếu kém, cả về những con số lẫn đánh giá, nhận định. Mặt khác, 8 giải pháp của Chính phủ nặng về liệt kê các đầu việc, các yêu cầu và mục tiêu phán đấu, không ít nội dung chỉ mới là những khẩu hiệu. Ban Thư ký đã có bản tổng hợp rất đầy đủ những ý kiến của đại biểu, rất mong Thủ tướng và các thành viên Chính phủ nghiên cứu kỹ các thông tin đó để vận dụng trong trọng trách của mình nhằm làm chuyển biến tình hình.

Tôi xin phép tập trung vào một điểm ít được nêu lên. Nhiều cử tri, doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế đã hết sức lo lắng về việc nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta đã và đang phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc với tốc độ, qui mô và tính chất đáng báo động. 

Về đầu tư xây dựng, nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu nhiều (thậm chí phần lớn) dự án lớn, chủ yếu dựa vào tiêu chí giá rẻ, và những cam kết “muốn gì có nấy”, về sau mới thấy công nghệ, nhân lực và cả nguồn vốn của họ đều không đạt yêu cầu. 

Thương lái TQ xâm nhập sâu vào các vùng miền nước ta, chi phối thị trường bằng các thủ thuật giá, thu mua với giá rẻ những mặt hàng để lại tác hại nhiều mặt cho chúng ta (như vụ mua cây trâm cổ ở Quảng Ngãi). Có những thứ không biết họ mua để làm gì. Nông sản, thực phẩm  và hàng công nghiệp TQ giá rẻ tràn ngập nước ta mà không bị kiểm soát về chất lượng và vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng dán mác VN. Có trường hợp dán cờ TQ lên hàng hóa bày bán trong siêu thị Việt Nam, mà chẳng dán cờ của nước nào khác, kể cả cờ VN. Hình cờ TQ dùng minh họa trong sách học đánh vần trong nhà trường VN, với lý do sách dịch từ TQ nên phải in cờ họ. 

Do sức cạnh tranh giảm sút, thiếu công nghiệp hỗ trợ, ngày càng nhiều doanh nghiệp VN phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu đầu vào và cả công nghệ thấp của TQ, bởi vì giá rẻ, cách mua bán linh hoạt, và VN thiếu rào cản kỹ thuật rào, quản lý cửa khẩu lỏng lẻo. Trước tình hình kinh tế suy thoái, đang có sự e ngại về việc VN có thể trở thành bãi đáp công nghệ thấp cho các nhà đầu tư TQ, vì giá lao động rẻ, và quản lý dễ dãi về an toàn, vệ sinh, môi trường. 

Đã có sự báo động là một số ngành công nghiệp VN có thể sẽ nhường chỗ cho doanh nghiệp TQ trên sân nhà. Có chuyên gia cung cấp số liệu là trong khi nước ta xuất siêu trong năm 2012, thì chúng ta lại nhập siêu trên 16 tỷ đô la từ TQ. Có thể nói, mọi nỗ lực và thành tích của chúng ta trong hơn hai thập kỹ qua trong việc đa phương hóa, đa dạng hóa đầu tư, thương mại, công nghệ và thị trường đang có nguy cơ bị xóa sổ. 

Tôi cho rằng, chúng ta chưa điều tra và nắm rõ  đầy đủ số liệu, thông tin về sự phụ thuộc của nền kinh tế VN vào nền kinh tế TQ, nhất là  trong lĩnh vực đầu tư tài chính, mua bán công ty khi những thương vụ ấy diễn ra ngoài quốc gia. Sự lệ thuộc về kinh tế, nếu không có giải pháp đối phó, sẽ được sử dụng để phối hợp nhịp nhàng với cuộc đấu tranh về chủ quyền lãnh thổ trong tình huống cần thiết. Khi Trung Quốc uy hiếp tàu cá Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta, như báo chí đưa tin sáng nay, thì nguy cơ này càng hiển hiện.

 Trong thế giới ngày nay, dù toàn cầu hóa và hội nhập ở mức độ cao, tình trạng “mạnh được yếu thua”, “khôn sống mống chế” vẫn tồn tại và thách thức. Vì vậy, nhất là đối với các nước nhỏ yếu, hội nhập phải đi đôi với tăng sức cạnh tranh và bảo hộ hợp lý, nếu không thì chúng ta sẽ thua trên chính sân nhà. Đó là lời cảnh báo chuẩn xác cách đây gần hai mươi năm, khi chúng ta gia nhập AFTA, sau đó là WTO. 

Thua kém có nhiều mức độ, nhưng lệ thuộc về kinh tế là sự thua kém đáng sợ nhất, nhất là khi nó đi kèm với mối đe dọa về chủ quyền lãnh thổ. 

Rất mong Chính phủ sớm có giải pháp để khẩn trương, kịp thời ứng phó trước mắt, đồng thời có đối sách mang tính căn cơ, chiến lược lâu dài”. 

Xin cám ơn Quốc hội.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Truyện từ cái hội bố láo của mình:


Chuyên gia về em bé

Do người chồng bị chứng vô sinh nên gia đình Dunnet quyết định tìm "người thay thế" mong kiếm một đứa con. Đến ngày hẹn gặp "người thay thế", ông Dunnet hôn vợ và nói:

- Anh đi đây. Hắn ta sẽ đến ngay đấy.

Nửa giờ sau, một bác phó nháy dạo chuyên chụp ảnh trẻ con tình cờ đi ngang qua nhà Dunnet và gõ cửa định hỏi xem họ có cần chụp ảnh cho con không.

- Chào bà, tôi đến để...?

- Ồ, không cần phải giải thích đâu. Tôi đang đợi ông.

- Vậy hả? - bác phó nháy ngạc nhiên. - Tốt quá. Bà biết không, tôi là chuyên gia về các em bé.

- Tôi đợi ông chính là vì chuyện đó. Mời ông vào và ngồi ở đằng kia.

Sau một lúc, bà Dunnet thẹn thùng lên tiếng:

- Ưm… chúng ta bắt đầu ở đâu?

- Bà cứ để tôi lo. Thông thường tôi thử hai lần trong bồn tắm, một lần trên trường kỷ và hai lần trên giường. Đôi khi ngay cả dưới đất trong phòng khách cũng thú vị. Việc đó hoàn toàn có thể làm được ở bất cứ chỗ nào!!

- Trong bồn tắm à, rồi lại dưới đất trong phòng khách? Thảo nào mà ông chồng Jean của tôi chẳng thể nào làm được.

- Thưa bà, chẳng ai trong chúng ta có thể đảm bảo có kết quả tốt trong mọi trường hợp. Nhưng nếu như chúng ta thử ở nhiều tư thế khác nhau và tôi lấy khoảng sáu hay bảy góc độ gì đó, tôi chắc là bà sẽ được thoả mãn.

- Nhưng như vậy đã là quá nhiều rồi ạ...

- Thưa bà, theo cách của tôi, người đàn ông phải có đủ thời gian. Tôi có thể vào và ra ngay trong vòng 5 phút, nhưng tôi tin là bà sẽ cảm thấy thất vọng.

- Tôi chẳng biết nữa, - bà Dunnet thẹn thùng trả lời.

Bác phó nháy bèn mở túi xách và lấy ra một lô ảnh em bé.

- Đứa này là tôi làm trên nóc một chiếc xe buýt ở Luân Đôn.

- Ôi chúa ơi!? - bà Dunnet kêu lên, tay bóp chặt khăn mu-soa.

- Còn cặp sinh đôi này, bà sẽ thấy kết quả còn trên cả tuyệt vời nếu biết được người mẹ đã gặp khó khăn đến chừng nào.

- Bà ấy gặp khó khăn à?? - bà Dunnet hỏi lại.

- Ô dĩ nhiên rồi! Tôi đã phải đưa bà ấy dến tận Vườn thú Vincennes để làm việc này. Người ta xếp quanh bốn năm vòng, chen lấn nhau để được xem cảnh tượng tuyệt vời đó. Cứ y như là trong phim !

- Bốn năm vòng?? - bà Dunnet tròn mắt thốt lên.

- Đúng vậy đó, - bác phó nháy trả lời. - Cảnh đó kéo dãi khoảng 3 tiếng! Người mẹ không ngừng kêu thét. Tôi đã mất tập trung. Rốt cục tới khi trời tối thì tôi cũng đã làm xong việc. Lúc đó, khi bọn sóc bắt đầu gặm nhấm đồ nghề của tôi, tôi chỉ còn vừa đủ thời gian để đóng thùng.

Bà Dunnet nhổm người dậy:

- Ý ông muốn nói là bọn sóc đã gặm nhấm... hưm... đồ nghề của ông??

- Đúng vậy. Được rồi, thưa bà, nếu bà đã sẵn sàng, tôi sẽ chuẩn bị chân gác máy để chúng ta có thể bắt đầu.

- Chuẩn bị... CHÂN GÁC MÁY???

- Ô đúng là vậy, tôi cần phải dùng cái chân gác máy để đỡ cái Canon của tôi. Nó quá to để tôi có thể giữ được lâu... THƯA BÀ??? BÀ ƠI????.... Ôi trời ơi, sao bà lại ngất???…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trich TT của Moa:


5.
Đó là năm sau này người ta gọi là năm “lở giời”. ( ý nói rút gọn của câu “long trời lở đất”). Sau cái trận đói kinh hoàng. Quạ đậu đen trên ngọn cây gạo. Sau đợt vỡ đê, trâu bò, gà lợn và cả người nữa chết rất nhiều. Đặc biệt đến nỗi những cây gạo xung quanh đình làng tôi tháng ba năm ấy không ra hoa.
Mãi đến sang thu, cả làng như có trận động đất ghê gớm.
Phía núi Nghĩa Lĩnh đêm đêm lóe sáng bởi vô vàn vì sao xa. Các cụ trong làng bảo là điềm sắp xảy ra chiến tranh. Ban ngày phía Ba Vì, Tam Đảo kết mây thành như bức tường bao bọc lấy vùng trung du quê hương tôi. Lời đồn thổi về điềm này, chuyện nọ thật chẳng biết đâu mà lần.
Người ở đâu về rất đông, treo cờ đỏ khắp đường làng lối xóm. Trên ngọn các cây gạo cũng đỏ rực màu cờ. Y như thể hoa gạo bấy giờ mới nở.
Bao nhiêu năm chả thấy ai nói gì, hoặc chỉ thầm thì to nhỏ. Bây giờ mọi điều “bí mật chết người” mới được nói ra.
Làng xóm có rất nhiều bất ngờ. Ông hàng xóm lành hiền xưa nay không ai nghĩ ống ấy là Việt Minh?
Chị đi khâu trần áo bông thuê té ra lại là cán bộ cách mạng hoạt động bí mật tự bao giờ?
Bấy giờ cả làng tôi mới biết hóa ra ông Tú Ất về làng dạy học năm xưa, thực ra là về gây cơ sở. Nhà tôi được nhìn nhận là cơ cở cách mạng thời bóng tối.
Ông Tú Ất chỉ về qua nhà tôi có một lần. Thấy bảo bây giờ ông là cán bộ to, quan trọng lắm của vùng này.
Sau lần ấy hai người chú của tôi được ông nội tôi đồng ý cho theo ông Tú vì có chút chữ nghĩa. Cuộc cách mạng bao giờ và bất kỳ ở đâu, cũng cần những người có chữ. “Cách mạng không cần, và chả để làm gì những anh cù lần, đần đì, dốt nát và ngu ngốc”. Bấy giờ bố tôi bảo thế, nhưng ông vẫn ở nhà không đi cùng với các chú tôi.
Có lẽ vì bố bố tôi là con cả, đông con, bố mẹ giờ đã già, không thể đi. Hoặc ông được giao một việc gì đó, phải ở lại làng.
 Nhà tôi đã thôi nghề làm bánh bún vì thiếu nhân công. Với lại đang là thời trọng cái ăn sống người hơn là tìm món ăn ngon. Đặc hột, chắc dạ là cái người ta cần hơn là bún bánh.

Bố con bác Tỏm giờ hăng hái theo việt Minh, chả thiết gì vài đồng tiền hay đấu gạo kiếm được hàng ngày. Mấy người con lớn của bác ấy ra ngoài thành, xung vào vệ quốc.
Anh cu Tý vào đội dân quân xã, được cử làm tổ trưởng.
Hình như họp hành là công việc chính của làng lúc bấy giờ. Hết hội thanh niên lại đến hội phụ nữ. Đến cả đội của trẻ con.. Đêm nào ngoài đình đèn đuốc cũng sáng rực cho đến sáng.
Tôi mới lớn, vẫn chưa hiểu hết chuyện gì đang xảy ra?
Chỉ có ông tôi là có vẻ trầm ngâm, không hiểu đang buồn hay đang vui? Vui vì chuyện đổi đời nhờ cuộc cách mạng? Hay buồn vì cuộc sống khó khăn, miếng ăn sống người trở nên khó khăn, khó kiếm, nhà lại nhiều miệng ăn?
Mẹ tôi vẫn dọn hàng ra chợ, nhưng hàng hóa lèo tèo chả có nhiều như trước. Đặc biệt vải vóc và thuốc men trở thành mặt hàng khan hiếm dành để cho kháng chiến trường kỳ.
Người ta đồn quân Pháp đang tìm cách tấn công trở lại. Trên đê đã loáng thoáng những tốp đầu tiên quân Tưởng kéo về, nói là để giải giáp quân Nhật. Thực ra người Nhật đã rút về Hà Nội từ đã lâu.
Người làng tôi gọi đám quân này là bọn “Tàu phù”, có thể do cái hình dạng phù thũng bề ngoài của họ.  Người nào người nấy nom như người ngã nước, da bủng beo, vàng khè. Quần áo tóc tai ớn phát khiếp vì hôi hám. Những người này ốm đói khá lâu, nhân công việc “giải giáp” mà sang ta để hồi phục sức khỏe sau trận đại dịch, đói chết người của Trung Hoa Dân Quốc.
Thực ra đối với đám người này, dân làng thực sự chưa hiểu ra làm sao? Họ là bạn hay là thù?
Một tốp kéo về đóng ngay đình làng tôi. Bố tôi có chân trong ủy ban  lâm thời, dù không muốn, hàng ngày vẫn phải tiếp xúc với họ. Chính đây là cái cớ để sau này những người đồng chí của ông buộc cho bố tôi cái tội “hoạt động cho quốc dân đảng”.
May mà họ đóng ở đình làng tôi không lâu. Nếu lâu chút nữa trong làng sẽ chẳng còn chút gì để nuôi sống người.
Đám này “thùng bất chi thình”, ăn bao nhiêu cơm gạo vẫn kêu hãy còn đói, chưa bảo là no. Hình như họ đói kém từ kiếp nào, bây giờ sang đây ăn giả bữa vậy!
Ít lâu sau, có tin Pháp đánh chiếm trở lại. Làng tôi là nơi các cơ quan ngoài tỉnh “tản cư” về. Không khí như chùng xuống, bức bối thật khó hiểu.
Chữ “tản cư” bấy giờ là lần đầu tôi được nghe người ta nói. Trước đấy chỉ nghe “chạy loạn”, hay “chạy giặc” chứ chưa nghe ai nói “tản cư” bao giờ.
Các cơ quan bên Hạc Trì kéo về đình làng tôi rất đông. Dân làng bảo có thể bên Hạc Trì sẽ bị máy bay ném bom, mặc dù chưa ai thấy hình dáng cái may bay nó ra sao cả.
Ông Tú Ất bây giờ làm ở ty công an. Là chỗ quen cũ, ông không ở ngoài đình, mà cùng hai ông nữa dọn vào ở trong nhà tôi.
Tình hình khá căng thẳng. Các đoàn thể chuẩn bị ráo riết, họp hành liên miên. Các lớp bổ túc văn hóa vẫn được duy trì. Chỉ riêng có lớp học của bọn trẻ chúng tôi là nghỉ vì không có thầy. Ông giáo gày gò tôi từng kể, thấy nói là cùng gia đình tản cư mãi lên miền ngược.
        Ngôi trường lợp lá gồi, trát đất vắt từ bấy bỏ hoang. Sau này bị đốt cháy trong một trận càn. Nó chỉ còn tồn tại trong ký ức của số ít người. Ngày hòa bình lập lại, trường được xây chỗ khác, không dựng chỗ ấy nữa.
Nhưng với tôi nó vẫn mãi mãi còn ở đó,  tọa lạc trên bờ đê, nơi bến sông của cuộc đời mình.



( Còn nữa..)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Am cu


Người rừng

images
Tối qua xem ti vi thấy Nick* đi lại trên chiếc bàn lớn thốt nhiên mình nhớ tới ông già thời mình sống ở thung lũng Chớp Ri. Ông bị bom cắt cụt hai chân gần sát bẹn, may mỗi chân còn một mẩu chừng bốn phân nên vẫn đi lại được. Ông đi lại hệt như Nick, khác Nick là ông còn nguyên đôi tay. Quanh năm ông trèo đèo lội đi lại trong rừng nhờ đôi tay giúp sức. Không chỉ có tài đi lại, tài săn bắt của ông thuộc hàng số một thung lũng Chớp Ri.  Ông không có nhà, sống trong hang đá, kiếm ăn nhờ săn bắt hái lượm, dân Chớp ri gọi ông là Người rừng.
Hồi đó mình kính phục ông quá trời luôn, coi ông như ông nội, gắn bó không rời với ông suốt thời gian mình ở Chớp Ri. Chuyện thế này.
Mình lên thung lũng Chớp Ri năm mười hai tuổi, học lớp năm với con Sử con Lý, thằng Toàn thằng Côi. Chúng nó đẻ ra ở đây, thuộc đường rừng nằm lòng, có thể nhắm mắt đi mà không sợ lạc. Mình đeo theo chúng nó, kết thành một nhóm năm đứa gọi là nhóm Gà rừng. Ngày nào cũng giống ngày nào, đi học về lùa vội bát cơm là kéo nhau vào rừng đi ăn nấm, ăn hạt dẻ, ăn củ mài, ăn mật ong…. (Quê mình vào rừng hái lượm gọi là đi ăn).
 Săn bắn là món mình thích nhất. Hồi này chẳng nghe ai nói về bảo vệ thú rừng, từ con nít tới người lớn coi việc săn bắt thú rừng là chuyện bình thường, giống như ra đồng mò cua bắt ốc vậy. Con nít không có súng thì làm bẫy bắt những con thú nho nhỏ như chồn, nhím, thỏ, khỉ.v.v. Đứa nào cũng có vài chục cái bẫy rải khắp nơi. Hầu như ngày nào cũng bắt được một con gì đấy, không chồn thì nhím, còn gà rừng một ngày kiếm được vài ba con là chuyện thường.
 Không gì thích bằng đi thăm bẫy, hồi hộp khi gần tới bẫy, thấy đám lá  trước mặt rung bần bật là biết bẫy đã sập, sướng rêm. Đôi khi tới gần bẫy vẫn thấy im lìm hơi bị thất vọng, tới nơi mới biết bẫy đã sập, con thú nhỏ quẫy đạp mệt quá đang năm thoi thóp thở, mừng ơi là mừng!
Một chiều mình cùng nhóm Gà rừng đi thăm bẫy, chưa thăm được cái bẫy nào thì thằng Côi phát hiện ra một rừng ổi, quả chín vàng cả rừng. Những cây ổi to như cây cổ thụ chi chít quả, ổi chín rụng đầy các gốc ổi, vương vãi khắp nơi. Thuở bé đến giờ mình mới rừng ổi thế này.
Năm đứa đua nhau trèo cây vặt quả chín. Con Sử con Lý trèo cây còn giỏi hơn tụi con trai, bò ra đầu ngọn các nhánh cây, hái được những quả ổi cực ngon. Bỗng nhành cây con Sử đang đứng kêu răng rắc, con Sử nhảy đại xuống đất. Chân vừa chạm đất con Sử bỗng rú lên một tiếng thất thanh, phút chốc nó bị treo ngược lên lủng lẳng bởi một cần bẫy heo rừng. Đây là sự lạ, người ta bẫy heo rừng ở các lối đi, chưa thấy ai đặt bẫy ở các gốc cây. Có lẽ ai đó phát hiện heo rừng hay vào đây ăn ổi chín mới đặt bẫy thế này.
Con Sử bị treo ngược lên cao, dây bẫy heo rừng là loại dây thép bó rất bền rất sắc. Heo rừng mắc phải, dây cứa vào thịt, càng giẫy càng bị cứa đau, đành phải nằm im chờ chết. Con Sử bị dây thép cứa vào chân nó kêu khóc ầm ĩ. Muốn cứu con Sử phải chặt cần bẫy hoặc chặt dây,  cả nhóm lại không ai mang theo dao rựa. Ba thằng con trai ra sức vít cong cái  cần bẫy nhưng không được, sức tụi mình làm sao vít được cần bẫy heo rừng.
 Dây đã cứa sâu vào bắp chân con Sử, một vòng mỡ trắng vòng quanh, máu chảy ròng ròng. Để con Sử đỡ đau, mình và thằng Toàn thằng Côi cho con Lý đứng trên vai để nó ôm con Sử đùn ngược lên, dây chùng lại không xiết chặt chân con Sử. Con Sử hết bị dây cứa vào chân, nó cũng thôi khóc. Tụi mình cũng chỉ biết giúp con Sử đỡ đau, không ai nghĩ được kế gì giúp con Sử thoát khỏi cái bẫy, cả nhóm túm tụm bên con Sử chẳng biết làm thế nào.
Bỗng một ông già lùn tịt, tóc râu bạc trắng vác cây rựa nhúc nhắc đi vào. Ông không có chân, vừa đi vừa xoay như đang đi bằng mông vậy, hết xoay bên này lại xoay bên kia thế mà ông đi cực nhanh, như đang lướt trên cỏ vậy. Tới gần cần bẫy ông quát to một tiếng, nói đỡ lấy con nhỏ! Dứt lời ông vung rựa chặt liền một nhát, cần bẫy gãy đôi, con Sử rơi xuống. Dây bẫy được tháo ra mới thấy nó cứa vào bắp chân con Sử thật sâu, máu chảy ngập cả ống chân. Ông già rút trong túi một nắm sợi vàng vàng, rắc quanh vết cứa của con Sử. Sau này mình mới biết đấy là lông cây cu liền cầm máu rất tốt.  Máu cầm ngay tức khắc, tụi mình vực con Sử cõng nó về, ngoảnh lại không thấy ông già đâu nữa.
Không biết ông là ai, từ đâu tới? Trên đường cõng con Sử về trạm xá, cả nhóm cãi nhau ỏm tỏi. Gần tới trạm xá thằng Toàn chợt đứng khựng lại mặt mày nghiêm trọng, nói tau nhớ ra rồi, bọ tau nói đó là Người rừng. Tụi mình nói thiệt không thiệt không. Thằng Toàn nói thiệt, Người rừng không chân tóc râu bạc trắng. Ông ở trong hang Dơi đó. Tụi mình nói thiệt không thiệt không. Thằng Toàn nói tổ bọ đứa mô nói láo!
 Nói vậy nhưng chúng nó cũng quên, riêng mình là nhớ. Mình nì nèo thằng Toàn đòi nó đưa đến hang Dơi. Chiều tối hôm sau thằng Toàn đưa mình đến hang Dơi. Hàng này rất nhiều dơi, có đến hàng chục vạn con, hình như dơi toàn thế giới tụ tập về đây cả. Tụi mình đến vào khi trời chập choạng tối, dơi bay ra cửa hang từng đám đen đặc, y như từng đám mây đen vùn vụt bay ra. Bầu trời đen đặc dơi, trời chiều bỗng tối sầm. Kinh.
Mình bám theo thằng Toàn vào hang, nói răng Người rừng lại ở một mình ở đây. Thằng Toàn nói hỏi ngu, có rứa mới người rừng.  Đến lưng chừng hang thằng Toàn dặn mình, nói mi ngấp mồm nghe chưa, đừng để ông biết. Mình ngạc nhiên, nói ủa tao tưởng mình đến nói chuyện với ông. Thằng Toàn nhăn mặt quát khẽ, nói đom! Người ta là người rừng, nói chi mà nói. Chợt có tiếng cười vang lên ở phía sau. Tiếng cười được dội vang bởi hang đá nghe rờn rợn. Hai đứa quay ngoắt lại, Người rừng đã đứng sau lưng từ lúc nào. Ông đứng cười rung râu rồi âu yếm nhìn tụi mình, nói đến thăm ông phải không. Hai đứa rụt rè dạ, ông dang tay hai tay vỗ lưng hai đứa, nói vô đây vô đây.
Ông đi trước, tụi mình bám theo sau ông. Ông đi thật nhanh, cứ xoay xoay vậy mà đi rất nhanh. Gặp chỗ phải bước xuống thấp ông nhảy một nhảy, cái nhảy thật gọn y như có ai đó bế ông đặt xuống vậy. Gặp chỗ phải bước lên cao ông dùng tay bám vào gờ đá tự nhấc bổng mình lên  nhẹ nhàng như không. Mình phục quá đi mất.
Nơi ông ở là một hốc đá rộng chừng chục mét vuông, trước hang là một tảng đá thật lớn, phẳng lì. Ông cất đồ trong hốc, ăn ngủ trên tảng đá. Mình phát hiện mọt cái khe hẹp nước sâu hoắm chảy vòng vèo dưới các tảng đá. Người rừng nói ông ra rừng bằng lối đó, đó là lối tắt rất gần, từ đây ra rừng chỉ mấy trăm mét. Mình hỏi Người rừng, nói ra bằng cách chi, bơi hả ông. Ông ừ và nhảy bùm xuống suối lặn một hơi thật lâu mới nổi lên. Người rừng bơi ngửa, hai tay khoát nước đưa ông trôi theo dòng nước ra tới cửa rừng.
Tụi mình lội suối bám theo Người rừng, cùng ông vào rừng. Bây giờ mới biết ông chuyên đặt bẫy săn heo rừng, có đến mấy chục bẫy. Người rừng  chỉ ăn hoa quả, cơm thịt cá là cái gì đó thật kinh tởm đối với ông, chả hiểu ông bắt heo rừng để làm gì. Theo Người rừng tới năm cái bẫy không có gì, tới bẫy thứ sáu một con heo tạ sập bẫy. Mình đang đoán xem Người rừng bắt trói thế nào, mang vác ra sao con heo to thế kia thì ông lôi trong túi ra một bọc nilon, một con bồ câu ở trong bọc. Ông thả con bồ câu, nó bay vút lên, thoáng chốc biến mất trong cánh rừng sẫm tối.
Mình hỏi Người rừng, nói con bồ câu bay đi mô. Người rừng ngồi ( ngồi cũng như đứng) thong thả châm thuốc hút, nói bồ câu về làng báo người ra bắt heo về. Rồi ông khoát tay, nói ông cháu mình đi thôi, mau thăm bẫy khác, tối rồi. Tụi mình đi theo Người rừng, nói ngày mô ông cũng bắt được heo cả à, ông ừ. Mình nói một tháng ông bắt được mấy con. Ông nói chừng ba bốn chục con.  Mình nói ông ghét ăn thịt, bắt heo làm chi lắm. Ông nói để bán lấy tiền. Mình nói ông ở một mình, tuyền ăn hoa quả uống nước suối, cần tiền làm chi. Ông cười ha ha ha vỗ vỗ lưng mình, nói thằng ni khá, sau này làm công an được.
Từ đó ông cháu thân thiết. Ngày nào mình cũng bám theo ông quên mất nhóm Gà rừng, chúng nó chửi um mình cũng mặc kệ. Chơi với Người rừng thích hơn, khi cùng ông vào rừng thăm bẫy hái hoa quả, khi vào hang Dơi ngồi nghe ông hát.. rất thích. Ông có cây đàn cò, lúc nào buồn ông lại kéo đàn và hát Chinh phụ ngâm, đến giờ mình hảy còn nhớ đôi câu. Ông hát, da mặt giật giật tóc râu rung rung, nước mắt giọt giọt chảy vòng vèo trên má. Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,/ Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây./Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,/ Bước đi một bước dây dây lại dừng. Mình hỏi ông nhớ ai. Ông mỉm cười, nói nhớ đàn bà. Mình nói ông không có vợ à. Ông cười khì, nói có thì ông nhớ đàn bà mần chi.
Mình đinh ninh ông không vợ con gì, người như ông ai mà dám lấy, nên ráng gần gũi ông nhiều hơn cho ông đỡ buồn. Mình nhớ buổi chiều ngày chủ nhật hôm đó ông ngồi câu cá với mình ( ông câu cá giúp mình chứ ông không ăn cá), tự nhiên ông nói mi thương ông thiệt à. Mình nói dạ thiệt. Ông mỉm cười như mếu không nói gì. Mình nói ông nội con chết khi con chưa đẻ, con không có ông nội, thấy ông ở một mình con thương. Ông ôm chặt lấy mình, nói đừng thương ông, ông không đáng thương  mô, thiệt đo. Mình hỏi vì sao, ông lại mỉm cười như mếu không nói gì.
Chẳng dè đó là buổi chiều cuối cùng mình ngồi với ông. Sáng hôm vừa tới lớp thằng Toàn  báo ngay, nói Người rừng chết rồi. Mình giật mình hỏi răng chết. Thằng Toàn nói rắn cắn. Bị rắn cắn ngoài rừng Người rừng lết về hang Dơi, cố leo lên nằm trên tảng đá mới chịu chết. Mình vứt xắc bỏ lớp chạy về hang Dơi, thằng Toàn cũng chạy theo. Đám tang từ trong hang đi ra, rất đông người đưa tiễn.
 Mình ngạc nhiên thấy rất nhiều người đeo tang liền kéo áo thằng Toàn, nói răng nhiều người đeo tang. Nó nhăn răng cười, nói thằng ni ngu lâu cực kì. Nó hỉ mũi, quyệt bừa nước mũi vào áo, vừa quyệt vừa kể, nói người rừng ngủ với 19 người đàn bà khắp thung lũng, sinh được ba sáu đứa con. Mình trợn mắt lên, nói thiệt a. Thằng Toàn nói tổ bọ đứa mô nói láo.  Nó lại hỉ mũi,  lại quyệt nước mũi vào áo, nói mi không biết thì thôi, toàn đàn bà ế chồng, họ đua nhau mò vô hang Dơi xin ông đứa con. Mình trợn mắt há mồm không biết nói sao.
Mình  ngước nhìn đám tang, đoàn người đi sau quan tài đến năm sáu chục người, trai gái trẻ già đủ cả, tất cả đều mang khăn trắng.Bây giờ mình mới hiểu Người rừg kiếm tiền để làm gì, sau lưng ông là cả một gia đình lớn!
  Người rừng sung sướng nhất trần gian, thế mà mình không biết.
NQL
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Lại bờ lóc bờ leo


Nguyễn Quang Lập: Lại bờ lóc bờ leo

Hôm nay là một ngày thật mệt và vui. Bà con không truy cập được quechoa.vn gọi điện nhắn tin email liên hồi kì trận. Nhiều người lo mình bị bắt, gọi điện hỏi anh khỏe không, em khỏe không, bác khỏe không, chú khỏe không, mày khỏe không… Hi hi mỗi câu trả lời I’m fine thank you cũng đã mỏi mồm.

Định không nói nhưng Huy Đức nhạy mồm đã nói ra thì xin thưa thật thế này: Chiều qua bên quản lý tên miền .vn gửi thông báo cho mình, yêu cầu gỡ bỏ một số bài ” nhạy cảm’ và ” xấu”. Mình trả lời “Nếu quí vị thấy bog của tôi là xấu, ảnh hưởng đến quí vị thì quí vị cho gọi tôi đến thanh lý hợp đồng. Quí vị không có quyền yêu cầu tôi bỏ bài này bài nọ, vì làm như thế là vi phạm quyền tự do ngôn luận.” Sáng nay đã thấy họ tự động loại quechoa.vn ra khỏi sever của họ. Ok, thank you, bọ lại về nhà cũ của bọ. Mình cũng gỡ cái đuôi .vn, trở về với quechoa.info

Làm blog thật mệt, mất thời gian kinh khủng. Mỗi ngày mình có 16 tiếng trước máy tính vừa làm việc vừa làm blog, trong đó thời gian dành cho blog là một nửa, có khi tới 2/3 thời gian. Thu nhập của mình sút kém đi trông thấy, lo quá là lo. Rất nhiều lần mình tính bỏ, nhưng nghiện mất rồi bỏ không được. Thuốc lá nghiện 35 năm thì bỏ được, blog mới nghiện có 7 năm mà bỏ mãi không được. Tức thế không biết, hu hu.

Mình có viết stt lên Fb thế này: Có lẽ rồi cũng bỏ blog chơi FB, chơi blog lắm khi mệt mỏi quá. Bà con nghĩ răng? Người bảo nên người bảo đừng loạn cả lên. Riêng bác Dân Choa, một người bạn của mình, góp ý thế này: Báo cáo Bọ Nguyễn Quang Lập ! Em xin mạo muội có ý kiến :

- Vẫn duy trì cả hai, Blog và FB. Nhưng cần hiệu chỉnh lại

- Phần Blog, chủ yếu đăng các bài của Chủ nhân viết, vì đó là trang của cá nhân. Đồng thời đăng các bài chất lượng của các tác giả khác mà chủ nhân tâm đắc, nhưng tần suất vừa phải, không quá nhiều trong một ngày.

- Phần FB, dùng để chia sẻ liên kết Blog và trò chuyện với bạn bè, ví dụ như thế này. Thông tin chia sẻ trên FB nhanh, lan truyền mạnh, có hiệu quả hơn cả Blog.

- Bọ nên kết hợp cả hai. Đây là cái phép mà người ta vẫn nói, song kiếm hợp bích đó, hiệu quả vô cùng.
Báo cáo! Hết!

Mình thấy ý bác Dân choa khá hay. Ừ thôi, không bỏ được thì hạn chế vậy. Từ nay blog quêchoa chủ yếu dành cho bọ Lập viết được thì đăng không viết được thì thôi. Còn thì mỗi ngày chỉ đăng không quá ba bài của các trang khác, hoặc bài bạn bè gửi cho. Đó là những bài mình thật sự tâm đắc. Số còn lại sẽ dẫn liên kết qua FB.

Nhiều người nghe mình nói lại bịt mũi cuời ruồi, nói cái ông bọ này nói lời chẳng giữ lấy lời, được vài ba hôm lại trở lại như cũ. Hi hi lời hứa của thằng nghiện là vậy đó. Nhưng lần này thì bọ Lập đã quyết tâm lắm rồi, tin thì tin không tin thì thôi, he he! 

NQL
Quê Choa (quechoa.info)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích đăng TT của chủ nhà:

Hình ảnh: trong buon cuoi wa

( ảnh chỉ cho vui, không ý gì khác. đcm! )

Sau cái hôm thuyền tự nhiên vô lý xa bờ do trò nghịch tai quái của anh cu Tý, thày giáo Ất dạy trẻ con xóm tôi tập bơi vào buổi chiều hàng ngày.
Theo thầy: “mình sống gần sông, không thể không biết bơi, phải biết cách để dòng sông thành bè bạn chứ không phải nó là nguyên nhân tai họa”.
      Thầy còn nói dài và hay về điều này, lúc đấy tôi nghe, nhưng chưa hiểu. Đã không hiểu thì không thể nhớ.
Mặc dù sau này tôi cố nhớ ra, để ngẫm nghĩ mà đành chịu.
Phải năm sau nữa, tôi mới thành học trò. Nhưng sáng nào tôi cũng ra chỗ lớp học của thầy.
Ở đó gió thổi từ triền sông về rất mát. Lại có đông trẻ con chơi, lắm sự lạ lùng với một thằng nhóc như tôi/
Ngoài Hạc Trì mới có trường công lập. Nghĩa là thầy giáo được nhà nước bảo hộ trả lương. Còn ở vùng chỗ chúng tôi vẫn là trường dân lập, tính xã hội hóa rất cao. Phụ huynh phải góp gạo, góp tiền để nuôi thày dạy con cái  mình.
Sau này tôi đi dạy học ở những vùng núi non hiểm trở, dân cư thưa thớt và nghèo có cụm từ “lớp ghép”
Còn thời bấy giờ vùng tôi chỉ gọi nôm na là “lớp gộp”. Gộp với ghép thì có gì khác nhau về ngữ nghĩa?
Nhưng đấy là cách gọi nôm na, có thể là còn luộm thuộm, ôm đồm, một chút đơn sơ, một chút thô thiển.
Trường mái lợp lá gồi, vách trát bằng rơm vắt nhào với đất bùn. Lâu ngày mưa xa gió táp, bùn khô long lở bớt một phần, trơ lại những sợi rơm đen xỉn. Nhưng được cái thoáng vì trường tọa lạc trên mặt đê.
Mùa nước lên, lớp học biến thành điếm canh đê. Ban ngày đinh tráng trong làng thay nhau túc trực phòng đê vỡ, ban đêm tuần phiên làm chỗ ngủ coi giữ trật tự trị an.
Lúc yên bình, một mình thầy Tú Ất dạy chữ và trông nom cả ba lớp từ vỡ lòng cho đến lớp hai.
Bố tôi bảo phải sang năm nữa mới mở thêm lớp cho hết tiểu học. Giả dụ bây giờ có lớp trên lớp hai, cũng chưa có học trò.
Phòng học chia làm ba góc cho ba loại lớp, góc còn lại kê chiếc bảng đen. Phấn viết vẫn còn là thứ của hiếm hoi. Thầy nói miệng và hướng dẫn cụ thể cho trẻ viết vào sách là chính. Bảng chỉ là nơi ghi đầu bài, hay những mục quan trọng.
Tôi ngồi ngoài hè, thấy thầy hướng dẫn món trò nhỏ vỡ lòng thế nào, tôi học theo thế.
Mẹ tôi giấu ông nội và bố tôi sắm cho tôi cái bút chì và quyển vở. Sở dĩ phải giấu như thế vì ông nội tôi bảo tôi hãy còn non nớt, học sớm quá không tốt. Sợ sau này tôi còi cọc không lớn được, hoặc ảnh hưởng đến trí óc, phát triển không tốt.
Thực ra lúc này tôi chẳng thua kém bao nhiêu những đứa trẻ khác đến đây học.
         Anh cu Tý đã thôi không phải cõng tôi như những năm trước vì tôi đã lớn, cao gần bằng vai anh ấy rồi. Khi nào nhà tôi bấn việc anh ấy sang làm mấy buổi, còn không thì theo bố anh ấy đi đánh gốc tre thuê.
Bác Tỏm bây giờ có thêm nghề đánh nhủi.
            Mùa nước rút, đồng làng tôi còn đọng cả một vạt đất rất rộng ngập nước. Ở đó tôm cá khá nhiều. Đấy là nơi chiều nào bố con bác Tỏm cũng ra đấy đẩy nhủi, tối nhọ mặt người mới về.
Không hiểu tại sao lúc đấy tôi không thích thú lắm với công việc này của cha con bác?
Chỉ mãi sau này, lâm vào cảnh ba đào, trò đánh nhủi này mới nhắc nhớ tôi. Cũng chính cái nghề không lấy gì làm sang trọng này đã cứu giúp tôi qua bao đận khó khăn. Kể cả khi tôi đã trở thành “người giáo viên nhân dân” của thời bao cấp mấy chục năm sau.
Tôi ngồi sau cái cột đầu hè, lắng tai nghe từng lời thầy Tú, như thể một học viên chính thức của trường. Tôi khe khẽ học cách phát âm, cách đánh vần, nắn nót viết từng chữ cái vào quyển tập của mình. Hình như thày giáo biết, nhưng ông làm như không để ý gì.
Chính nhờ cách học này, luôn đi trước một bước, năm sau tôi nhập học không mấy khó khăn
Nhưng đến khi đó, Thầy Tú đã không dạy ở trường. Sở liêm phóng cho người về bắt vì tội tình nghi thầy có chân trong một hội kín, hội hở gì đó ngoài Hà Nội.
Hôm ấy trời vừa mưa xong. Bầu trời nặng trĩu những đám mây xám đục, màu chì. Nước ngoài sông dâng cao, ngầu đỏ một màu như mắt người đau mắt hột. Chiếc ca nô áp sát bờ sông. Đám lính súng ống, nai nịt chạy vội vã từ dưới sông lên, ập vào lớp học. Dẫn đầu là một ông Tây râu xồm, mũi lõ, mắt xanh như mắt mèo đen, đeo súng ngắn xệ bên hông. Bốn năm người Việt đi theo đeo súng dài, đội mũ bê rê, nét mặt căng thẳng, nghiêm trọng.
Đúng ra họ phải tới nhà hội đồng, làm việc với hương chính làng sau đó mới có việc khám xét hay bắt người. Nhưng hôm nay ngoại lệ, họ không làm như thế.
Tối hôm ấy ở nhà tôi không thắp đèn tọa đăng như mọi khi. Chỉ thắp đèn Hoa kỳ, khêu nhỏ lửa. Không khí trong nhà ngột ngạt, im ắng nghe thấy cả tiếng muỗi kêu, tiếng con thạch sùng chắt lưỡi rất khẽ trên xà nhà. Ông tôi bảo với bố và các chú tôi:
- Người ta bắt người khẩn cấp thế là có việc nghiêm trọng. Lại không qua chức việc của làng xã, là họ nghi ngờ có sự thông đồng. Ông giáo lại là chỗ thân tình với nhà mình. Các anh phải kín miệng, chớ có nói linh tinh mà khốn cho cả nhà.
Bố tôi và các chú tôi im thít, không ai nói điều gì.
Mấy ngày liền trong nhà tôi cứ nơm nớp, phập phồng lo sợ không biết rồi sau đó sẽ xảy ra chuyện gì?
Đúng là việc quan, có lúc nóng như nước lã. Chẳng có chuyện gì xảy ra.
           Lớp học mãi đến nửa năm sau mới tìm được ông thày khác về làng dạy thay thầy Tú Ất.
          Ông thầy này người gày gò, ít nói, hay ho sù sụ. Ông ở luôn cái chái nhà lớp học, không mấy khi đến chơi nhà tôi.
Tôi học ông được hai năm thì xảy ra nạn đói năm Ất Dậu.
Một năm sau này người ta bảo "xảy ra nhiều biến cố long trời lở đất".
Năm đấy người chết đầy đường. Năm kết thúc thế chiến thứ hai. Năm nhà nước phong kiến ở xứ sở này vĩnh viễn không tồn tại. Thành lập nước Cộng Hòa, rồi Nhật đảo chính Pháp, đầu hàng đồng minh… Toàn những sự kiện ghê gớm, đầu óc một thằng nhóc tì như tôi không sao hiểu và cắt nghĩa được. Có hỏi người lớn cũng không nói, hoặc giải thích theo kiểu người lớn chưa chắc đã hiểu. Có hiểu thì cũng rất mù mờ, sai lạc.
Đột nhiên ông Tú Ất trở về. Ông chỉ qua nhà tôi có một lần rồi ở hẳn ngoài Hạc Trì. Ông nội tôi bảo bây giờ ông ấy giữ cương vị gì to lắm của chính phủ kháng chiến.
Đối với tôi sự kiện ấy chỉ thoáng qua. Một là tôi không hiểu, hai là vì tính chất quan trọng của nó, với đứa trẻ như tôi, có gì để quan tâm?
         Ấn tượng nhất đối với tôi lúc bấy giờ và cả sau này nữa là một việc khác. Hôm đó phiên tôi trực nhật, phải đi sớm hơn ngày thường để quét lớp. Vừa bước chân vào lớp học, tôi vướng ngay phải chân một người đàn ông nằm dưới đất. Tôi loạng choạng suýt ngã nhào nằm đè lên người ông ta.
Định thần nhìn lại, tôi thấy người này mặt tím ngắt, rớt rãi sùi bọt hai bên mép, mắt mở trắng dã, trọn ngược.. Ông ta đã chết từ bao giờ rồi!
Tôi sợ, quăng cả túi sách, quăng cả chổi, chạy thở không ra hơi. Cả nhà hốt hoảng nhìn bộ dạng tôi lúc ấy chạy về, cứ gặng hỏi, nhưng tôi không trả lời.
Tôi ốm.
Một tuần sau mới khỏi.

( Còn nữa..)





Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGUYỄN KHOA ĐIỀM:


SỰ TẦM THƯỜNG

Bây giờ ta có thể bầu bạn với sự tầm thường
Vợ chồng sớm chiều treo mình lên cái đinh mắc màn
Bàn chuyện chạy chọt
Những đứa trẻ phải vào được lớp một
Đừng gieo vào đầu con những mơ ước xa xôi
Mơ ước nào cũng có giá.
Đôi người nhắc nhở rằng
Không phải độc lập tự do cao quý hơn tất cả
Mà chính là nhẫn nhục để ổn định.
Đức Phật từ bi
Xin người đừng mắng tôi
Khi tôi nói lắm kẻ muốn ngài ngậm miệng ăn tiền
Với tờ giấy bạc trên miệng.
Sự tầm thường thật kín kẽ
Mặc những tấm áo đúng thời tiết
Tụ tập trên các diễn đàn
Nói lời rỗng
Đồng phục các cuộc thảo luận đại sự
Luôn luôn tìm một mặt bằng để ngả lưng
Chúng ta có đủ mọi phong trào, các cuộc họp liên miên
Để chỉ nhõn sắm ra sự tầm thường
Tai quái.
Chúng ta coi sự sáng tạo là đáng sợ
Chúng ta ghét bọn “chơi trội”
Cứ bày ra chuyện đâu đâu
Họ đâu biết tiếng “ keng” của sự cụng ly
Nói nhiều hơn tất cả !
Bây giờ các bí thư sẽ chạy ra đường
- Thay vì bước vào phòng họp –
Để xua cán bộ làm việc.
Bây giờ các nàng ca-ve học nói lời lịch sự
Để tham gia nhóm lợi ích.
Các bậc lão thành đang ngủ trong phòng máy lạnh,
Nhường chỗ cho sự tầm thường lên ngôi …
Đôi khi tôi tin rằng chúng ta thua cỏ
Vì cỏ có thể lụi đi để sống lại
Tốt tươi hơn
Mãnh liệt hơn
Trong khi sự tầm thường đóng bộ áo
Tang chế, nhạt nhòa
Cúi đầu
Đi sau cái chết

Phần nhận xét hiển thị trên trang