Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Lột ( TXH )

Miên kể với bọn chúng rằng Miên thường tự lột da mình.
“Tao làm miết, và làm ngon lành!”
Bọn chúng không tin có kẻ nào đó lại ngu đến nỗi tự đi lột da mình. Bọn chúng cho rằng đó chỉ là một cách nói ẩn dụ.
“Đệch! Ẩn dụ cái lềnh!”
Miên đứng dậy và ngay trước mắt chúng, lột phăng bộ da của mình như cởi một bộ đồ lặn. Bộ da còn hơi non nên một số chỗ bị rách. Miên ném phịch bộ da đó lên bàn. Bọn chúng đưa tay sờ mó vào bộ da, nhăn mặt nghĩ ngợi. Một số đứa sờ vào tấm thân trần truồng nóng hổi của Miên. Chúng ấn ấn vào những mạnh máu, có đứa còn kéo căng những sợi gân của Miên rồi thả chúng đánh bạch một cái vào da thịt.
“Đệch! Bọn mày đâu có đui?”
Chúng hỏi tại sao Miên phải tự lột da mình.
“Bọn đéo nào cũng hỏi câu ấy, ngu vãi banf” Miên nghĩ.
“Làm trò chơi vui!” Miên trả lời.
Bọn chúng nói rằng như thế thì thật ngu xuẩn, trừ khi Miên có một lý do nào khác. Mặt bọn chúng đần ra.
“Tao thà tự lột da mình, chứ đéo để bọn chó đẻ đó lột da tao!”
Chúng hỏi bọn chó đẻ nào thế.
“Bọn nào cũng chó đẻ hết, cả bọn mày. Bọn mày tưởng bọn mày ngon lắm hả? Bọn mày chỉ chăm chăm lột da tao, nhưng bọn mày sợ tao biết. Bọn mày muốn đợi lúc tao ngủ say.”
Chúng nói rằng chúng chẳng có lý do gì để lột da Miên cả. Chúng muốn làm bạn với Miên.
“Bạn bè cái đéo giề! Có khi bọn mày đã lột da cả trăm người rồi.”
Bọn chúng phản đối dữ dội. Bọn chúng thề có Chúa, bọn chúng chưa bao giờ lột da một người nào. Đây là lần đầu tiên chúng nghe đến chuyện đó.
“Vậy thì bọn mày cũng sẽ bị bọn chó đẻ lột da!”
Chúng sợ hãi. Chúng xúm lại quanh Miên và hỏi tại sao bọn chó đẻ đó lại muốn lột da chúng.
“Vì vợ con chúng khoái ăn những bộ da của người khác, và bọn chúng sẽ lột da bất cứ tên nào không phải là chó đẻ. Vậy đấy!”
Chúng hỏi Miên có cách nào để chúng có thể trở thành bọn chó đẻ.
“Cứ đi lột da người khác nhiều vào, bọn mày sẽ là chó đẻ, ngay lập tức!”
Chúng nói chúng không đủ can đảm.
“Đúng thật! Làm bọn chó đẻ đâu có dễ!”
Chúng hỏi có cách nào để vừa không phải làm bọn chó đẻ, lại vừa không phải tự lột da mình. Miên điên tiết với bọn chúng. Miên rít lên rằng chỉ một trong hai cách. Chúng hỏi Miên tự lột da như thế thì có đau không.
“Chẳng đau chút nào cả, khi biết cách. Nếu để bọn chó đẻ lột thì đau đến chết được, vì chúng toàn làm ẩu. Chúng dùng dao chứ chẳng dùng tay đâu! Tao đã bị một lần.”
Chúng hỏi nếu chúng tự lột da rồi thì bọn chó đẻ có tìm đến chúng nữa không.
“Không, nếu bọn mày lột thường xuyên. Bọn chúng sẽ chẳng còn cái đéo gì để lột cả.”
Chúng thừ người nghĩ ngợi. Rồi chúng lại hỏi thế có ai lột da bọn chó đẻ đó không.
“Chẳng có ai đụng đến bọn chó đẻ cả. Nhưng chúng sẽ chết ngạt trong những bộ da cũ rích và dai nhách. Chúng chỉ quen lột da người khác mà đéo biết rằng thỉnh thoảng chúng cũng nên tự lột da chính mình.”
“Tới lúc tao phải về.” Miên nói và với tay lấy bộ da trên bàn.
Một kẻ đến trước mặt Miên và khẩn khoản nhờ Miên bày cho hắn cách lột da. Miên chỉ cho hắn, và hắn tự lột da hắn một cách ngon lành, dù có lúc hắn cũng rên lên vì đau vì da nơi mặt và chỗ bìu dái của hắn mãi mới chịu bong ra. Miên nói rằng sẽ quen thôi. Những lần sau sẽ có cảm giác sung sướng. Hắn nói không ngờ lại dễ dàng đến thế. Hắn đã thấy sung sướng rồi, và nhẹ nhàng nữa. Miên cười. Một số kẻ khác cũng đang đưa tay lên đầu và bắt đầu lột da mình. Một số kẻ khác nữa thì hứa sẽ làm thử ở nhà. Miên biết rồi chúng sẽ làm, nếu chúng không muốn bị khốn đốn với bọn chó đẻ.
“Làm gì với những bộ da đã lột?” Chúng hỏi.
“Dùng chúng cho bữa tối. Tao vẫn thường làm vậy. Luộc hay trộn vả tuỳ thích.”
Chúng nói rằng chúng chưa ăn như thế bao giờ.
“Không thì đốt đi. Nhất quyết không được để bọn chó đẻ lấy mất, thế thì có khác gì bọn chó đẻ vẫn được ăn mà chẳng phải tốn chút công sức nào!”
Chúng gật đầu và cười thú vị. Miên cũng cười. Miên biết chúng tin lời Miên. Miên nói với chúng rằng Miên rất khoái khi nghĩ đến cái cảnh bọn chó đẻ trở về nhà mà không kiếm chác được gì. Có khi vợ chúng sẽ lột da chúng để làm bữa tối. Cả bọn cười rộ lên và vỗ tay tán thưởng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Động loạn:


TTX VỈA HÈ ANH BA SÀM THÔNG BÁO DỜI NHÀ 
ĐỊA CHỈ MỚI: basam.info
THỜI GIAN: TỪ 1 THÁNG 6 NĂM 2013

Từ 1 tháng 6, Ba Sàm sẽ dọn về nhà mới, ở địa chỉ:www.basam.info

Đây là một trang web được xây trên nền WordPress, với giao diện cũ để độc giả không cảm thấy bỡ ngỡ khi vào nhà mới.

Đến nay, dù đã đã làm nhiều cách để giành lại quyền kiểm soát blog Ba Sàm nhưng chúng tôi chưa thật sự yên tâm về khả năng tự vệ của WordPress, cho nên chúng tôi quyết định làm một trang web mới, có khả năng tự vệ tốt hơn.

Như quý vị đã biết, trong 5 năm qua, trang Ba Sàm đã bị tấn công ba lần. Lần nặng nề nhất là cách nay khoảng ba tháng và mục tiêu có lẽ vừa là tiêu diệt blog, vừa làm những người thực hiện trang Ba Sàm nản lòng, bỏ cuộc.

Tuy nhiên, vì đã xác định rằng, sẽ chỉ ngưng làm việc khi không còn được độc giả quan tâm, chúng tôi cố gắng để Ba Sàm vẫn là Ba Sàm.

Đến nay, chúng tôi đã khôi phục được khoảng 99% dữ liệu cũ (khoảng 1.800 bài), chỉ bị mất chừng vài chục bài. Đó là những tin – bài đã đăng trong hai khoảng thời gian: từ 13/01/2013 đến 31/01/2013 và từ 26/02/2013 đến 28/02/2013 bị mất do việc backup bị gián đoạn. Và những tin – bài đã đăng trong nửa đầu của tháng 03/2013 (thời điểm trước và sau khi blog Ba Sàm bị tấn công).

Xin thưa thêm là cũng có một số bài không còn hình ảnh, âm thanh và các file đính kèm vì chúng tôi tự xóa để đề phòng hacker chèn mã độc (chúng tôi không dùng lại bất kỳ file nào còn trong các blog đã từng bị hacker kiểm soát). Trong tương lai, chúng tôi sẽ cố gắng bổ sung toàn bộ những tin – bài hiện đang còn thiếu.

Cũng xin nói thêm rằng, ngoài basam.info, chúng tôi còn có Facebook Ba Sàm, cũng là nơi cập nhật tin tức, giới thiệu bài vở, do BTV phụ trách. Mặt khác, do quá bận rộn, chúng tôi chưa thể cập nhật tin, bài trên Basam News ở Facebook và Twitter. Ngoài các trang vừa kể, những trang còn lại không phải của chúng tôi.

Nhân đây, một lần nữa xin chân thành cảm tạ tất cả các vị độc giả đã động viên, hỗ trợ chúng tôi về mặt tinh thần, bày tỏ sự cảm thông, mong muốn chia sẻ những khó khăn trong thời gian chúng tôi bị tấn công. Cũng xin cám ơn những vị độc giả đã mở blog tặng chúng tôi, những vị đã đề nghị hỗ trợ chi phí liên quan tới việc làm blog và website. Dẫu không dám nhận nhưng chúng tôi thật sự biết ơn tất cả những việc làm, lời đề nghị đó.

Trân trọng,
BTV
BỌ LẬP - chủ trang QUÊ CHOA THÔNG BÁO:

Blog Quê Choa (quechoa.vn) bị chặn tứ tung, nay Bọ Lập chuyển sang quechoa.info
Kính mời bà con ghé chơi.  Trân trọng cám ơn.

TRẦN NHƯƠNG.COM THÔNG BÁO 

Alô alô alô 
Thứ tư ngày 29 tháng 5 năm 2013 10:43 AM

Thưa bạn đọc ! 


Trong những ngày tới website Trannhuong.com sẽ có sự chuyển đổi sever nên tạm dừng hoạt động một thời gian ngắn. Xin bạn đọc thông cảm cho công việc kĩ thuật cần thiết. Hy vọng sẽ trở lại sớm phục vụ bạn đọc.  
Trần Nhương


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ thẩn:


NGÀY BUỒN
                                Thân tặng N.

Ngày thật buồn
Đó là ngày anh đi buôn
Buôn chúa buôn vua, học đòi anh Thuyết
Nghề đó xưa nay chưa từng trên đất Việt,
Nên ngày thật dài và
 ngày không bình yên..

Ngày thật dài đó là ngày mưa tuôn
Mấy đứa bạn xa đã lâu không gặp mặt
Tên hàng xóm cận kề gang tấc
Lúc nào cũng đeo mặt nạ
nên ngày thật buồn!

Ngày thật buồn
khi tình đã trơn
Ai gục ngã giữa màu son phấn lạ?
Ai lừa ai, lừa chính mình không sợ?
Đời quá hoang vu giữa đông đúc mọi người?

Bây gờ thì chỉ còn anh và tôi
Đời buồn hay vui lúc này không đáng kể
Ngày không viết, không nói lời vô lý
Không nghĩa gì đâu..
Ngày buồn anh và tôi!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Đồ cũ lục lại:


Chế Lan Viên. Ai? Tôi!

 CheLanVien.jpg image by laoxichlo
Chế Lan Viên   
                          Ai? Tôi! 

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi!

Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười 


Chế Lan Viên

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đọc truyện đêm khuya:


ÂM BẢN

Đúng ra chưa qua “bảy bảy bốn mươi chín ngày”, vong còn chưa tụ sau sự biến kinh hoàng “hồn siêu phách lạc”. Vong chưa thể siêu thoát, rong ruổi đi đâu, xuống địa ngục hay lên cõi niết bàn.
May nhờ có những đợt gió heo may nên X mới có thể tới đây. Khi còn ở cõi thế, ngoài việc giúp đỡ người này người khác, chướng nghiệp hầu như X tạo nên không quá nặng nề. Nhờ vậy mới có cuộc trở lại đất này vào một đêm tối trời như đêm nay. Lúc bấy giờ dọc sông gió hun hút thổi, cảnh vật yên ắng. Duy nhất khu nhà của anh đèn đuốc vẫn sáng trưng, tiếng nhạc tưng bừng. Có chuyện chi lạ vậy?
Khi người ta đã về cõi khác, mọi khái niệm về cuộc sống cũ đều thay đổi. Có thể vui biến ra buồn hay ngược lại giống như âm bản hồi ở dương thế X còn võ vẽ biết về nghề ảnh.
Thực tình lúc này anh không hiểu đang xảy ra chuyện gì?
X kéo lại vạt và cài lại khuy cổ áo véc làm bằng giấy bồi màu đen như thuốc súng cho đỡ lạnh. Cơ thể trong suốt còn yếu ớt của anh vẫn run lên. Nhất là khi gặp ánh đèn lade chiếu lên từ mặt đất, hoặc tiếng xe gắn máy bọn trai trẻ nghịch ngợm tháo bỏ ống pô rú rít. Anh định thần nhìn về ngôi nhà một thời mình sinh sống. Qua tán lá lòa xòa X nhìn thấy người đi lại nhộn nhịp, nói cười rầm rĩ. Thoáng có chút tự ái: Không lẽ sự ra đi của mình khiến đám người đó dửng dưng, vô tình và sung sướng đến thế sao?
Đã là vong thì không còn nước mắt, chỉ thấy nhói buốt ở trong lòng..
X nhìn thấy nàng. Nàng vẫn chẳng khác xưa bao nhiêu. Vẫn tay cầm điếu thuốc ve vẩy điệu bộ ra dáng bà chủ. Vẫn khuôn mặt có gò má cao, cặp môi dày thâm thâm và cặp mắt tròn vo vo nằm dưới đôi long mày xênh xếc. Tự nhiên anh có ý nghĩ rất lạ lùng: Còn người này có nét gì gọi là nữ tính đâu? Có gì hấp dẫn đâu mà ngày ấy mình rời bỏ quê nhà lên sống với nàng hơn hai chục năm trời? Hai chục năm ấy ngoài cái nghề thợ mộc bất đắc dĩ, khổ cực, mình chẳng có mấy ngày thảnh thơi. Anh đã có với nàng hai đứa con trai. Thằng lớn thấp dùn dụt, đầu bút thép, đít xê xệ như gà mái vỡ bọng trứng. Thằng bé cao ráo giống mình, nhưng mặt lại không giống. Mặt nó lưỡi cày, mắt dã trắng, môi cong. Chính vì hai đứa này mình không nỡ rời, ở với nàng cho đến khi vết thương cũ tái phát, vợ cũ dưới quê lên đón mình mới trở về nơi chôn rau cắt rốn. Trước đó anh đã kịp lo vợ cho thằng anh.. Có lẽ đám ồn ào này là lo nốt cho thằng em? Không phải thế chứ? Bố chết chưa đủ trăm ngày đã lấy vợ còn gì là đạo hiếu? Hay tôn ti trật tự của dương thế bây giờ đã thay đổi, không còn như trước?
Lòng bàng hoàng kinh hãi và lo sợ cho người thời nay. X chưa vội đáp xuống sân nhà mình. Mà ồn ào thế kia, đèn sáng như vậy có muốn xuống vào lúc này cũng không thể xuống được. X ngả mình lên một cành cây. Một cành cây không hiểu vì sao lại có dáng cong cong như hình cái cáng cứu thương năm nào khi người ta đưa anh từ mặt trận về..
Anh định chờ cho bên dưới yên ắng sẽ bay xuống, tìm hiểu xem sự nhẽ dưới đó hư thực ra sao.
Đêm cuối năm trời không có lấy một vì sao. Gió ngăn ngắt lạnh. Y hệt cái lạnh đêm tiểu đội đặc biệt của anh mò rừng trinh sát trận địa quân địch. Pháo lớn từ MalePo cứ cách mười lăm phút lại như trận mưa lửa xé rách bầu trời. Cuộc đấu pháo hàng năm trời giữa hai bên chưa phân ngã ngũ. Hỏa tiễn Cachiusa của cả hai bên như giàn nỏ thần khổng lồ điểm vào sau mỗi trận đấu pháo làm rung chuyển cả bầu trời và mặt đất. Có cảm tưởng như không còn bất cứ sinh vật nào sống sót được dưới trận mưa thép và lửa. Từng mi li mét một, không chừa một chỗ nào không có sự hiện diện của những mảnh thép chết chóc kinh hoàng gieo rắc khắp nơi.
Vậy mà tiểu đội của anh vẫn tồn tại. Họ sống bằng mì tôm khô, mắm tép cô đặc và khí trời nồng nặc mùi thuốc súng.
Ta và địch chỉ cách nhau trong gang tấc. Nghe cả tiếng ầm ồ, léo nhéo của chúng vang từ vách hầm cách đấy vài ba mét.
Chiến tranh hiện đại bỏ qua những khái niệm, quy chuẩn thông thường. Không hẳn trội về số quân, về binh lực, hỏa lực mà có thể nuốt chửng đối phương như cái đầu nóng, ngu xuẩn và điên rồ của một số kẻ từng nghĩ. Chiến thuật biển người xem ra không mấy kết quả. Quân càng đông thương vong càng nhiều. Ăn nhau ở sự tinh nhuệ về con người và vũ khí. Ăn nhau ở lòng quả cảm và sự thông minh của mỗi chiến binh và quan trọng nhất là ở mưu lược của người chỉ huy, người chịu trách nhiệm với từng tấc đất biên thùy, sinh mệnh của chiến sĩ.
Bây giờ nhớ lại, vong X như thấy vừa mới đây thôi.
Cuộc đời vốn không dài, những chuyện như thế dễ gì quên được?
**
“Tôi sốt li bì. Vết thương bên hông nóng như áp lửa. Thỉnh thoảng một cơn đau lóe lên từ chỗ ấy, cảm giác đau buốt chạy dọc sống lưng nhói đến đỉnh đầu. Cả ngày nửa phần thân thể tôi để trần để dễ thay băng gạc và lau rửa vết thương. Có thể là một mảnh đạn cối hay mìn lá cắm vào chỗ đấy. Người ta đã lấy mảnh đạn đó ra rồi nhưng ngờ rằng nó có chất hóa học nên vết thương chậm lành.
Người tôi như kiệt hết nước, chỉ còn da bọc lấy xương. Có cảm giác nếu châm vào lửa, thân thể này sẽ bùng cháy như vỏ một cây thông. Thứ thông đuôi ngựa mọc hoang dại gần chốt đã cụt ngọn, long gốc nằm chềnh ềnh ngay trước miệng hầm. Lúc đầu chúng tôi định đẩy nó ra xa để dễ ra vào. Một tay lính trẻ măng người Thanh Nghệ bảo cứ để đó, nó tác dụng như một tấm chắn miệng hầm. ( Tôi nhớ hồi đó lính giữ chốt phần nhiều là người Thanh- Nghệ - Tĩnh. Có nhiều lời bàn về chuyện này lắm, nhưng không hiểu vì sao mãi sau này tôi mới rõ ?).
Sau trận đánh bị một tên quân báo phản bội, đơn vị tôi tổn thất khá nhiều. Những đứa bị thương nặng đã chuyển sâu về tuyến sau. Tôi nhẹ hơn nên được chuyển về đây. Lúc đó tôi chưa thông thạo vùng này. Chỉ nghe bảo đó là một làng phần đông người dân tộc, nằm bên một con sông có đến mấy cái tên. Về việc này tôi không hiểu. Sau này ở lâu mới biết con sông nước lúc nào nước cũng đục ngầu, đỏ xậm như đang mùa lũ bởi pháo dội. Nó qua địa danh nào thì gọi tên theo địa danh ấy. Và nữa, nó vốn xanh trong từ ngàn vạn năm rồi, lần đầu tiên bây giờ mới đục ngầu, nước đỏ pha máu như thế..

Đoàn cứu thương tiền phương sau khi lấy mảnh đạn và băng bó cho chúng tôi xong gấp rút chuyển về tuyến trên. Chỉ để lại một hai người cùng dân làng hàng ngày chăm sóc chúng tôi.
Nàng là một trong số các cô gái của đội dân công hỏa tuyến tại chỗ của cái xã heo hút này.
Hàng ngày nàng lau rửa vết thương, tiêm thuốc kháng sinh và nhắc tôi uống thuốc. Kiêm cả việc giặt rũ và nấu nướng phục vụ thương binh.
Nàng không đẹp, quá lứa, nhưng rất tận tình. Tóc nàng búi cao, ban đầu tôi cứ ngỡ nàng là đàn ông. Ngay cả tiếng nói cũng rất giống nam giới.
Tôi hết sốt nóng lại sốt rét. Ký sinh trùng sốt rét thường nhằm khi cơ thể kém sức đề kháng mà hoành hành.
Những lúc như thế, có bao nhiêu mùng mền, bao nhiêu chăn nàng đắp hết cho tôi. Lúc cơn rét cao trào người tôi run lên bần bật. Nàng không biết làm thế nào, quên cả việc ý tứ ôm chặt lấy tôi để tôi đỡ lạnh. Kỳ lạ thay hơi ấm đàn bà, dù đàn bà không đẹp cũng có hiệu nghiệm kì lạ. Cơn sốt từ từ lui đi. Chiếc áo tôi đẫm mồ hôi, thấm cả sang mặt, sang ngực nàng. ( Có người sau này giải thích hiện tượng kì lạ ấy là bởi xuất hiện xung điện do dòng điện sinh học tạo ra ). Nàng có vẻ lúng túng sau những phút như thế. Hai gò má cao của nàng ửng đỏ. Tuy sức còn yếu, không hiểu tại sao lúc đó tôi có cảm giác rất lạ. Thấy nàng gần gũi như một phần thân thể mình. Khái niệm về cái đẹp cũng rất kì quái, thấy nàng đáng yêu, đáng mến làm sao!
Thực ra nàng chỉ làm theo bổn phận của mình. Tôi lại nghĩ khác. Nàng có cần tận tụy, lo lắng đến thế không?
Nàng cẩn thận đút cho tôi từng thìa cháo. Y như hồi tôi còn bé mẹ tôi thường ép mỗi khi tôi ươn người. Tôi cảm động và biết ơn, Còn nàng bước qua một khoảng cách vì vết thương tai quái của tôi khó mà giữ ý tứ mãi được.
Vết thương của tôi kín miệng. Tôi định xin phép nghỉ ít ngày về thăm nhà. Người vợ mới cưới của tôi trước khi lên chốt không hiểu vì sao không thấy lên thăm? Có lẽ đường lên biên giới xe cộ khó khăn. Những người không có nhiệm vụ cần thiết không được vào vùng chiến sự. Cũng có thể người ta giữ kín chuyện này. Bí mật quân sự không phải lúc nào cũng có thể thông báo cho thân nhân nếu không thực sự cần thiết.
Cũng có thể.. Biết bao nhiêu phỏng đoán làm lòng dạ tôi rối bời, xôn xao..
Nàng khuyên tôi ở lại thêm ít ngày cho sức khỏe hồi phục đã. Đi lại lúc này đến người lành lặn còn khó khăn, đừng nói vừa bị thương như tôi. Nghe rất có lý.
Để tôi khuây khỏa, nàng đưa tôi về nhà nàng cách đấy mấy cây số. Nơi mà bây giờ, tôi ngồi đây, trên ngọn cây này trong đêm khuya khoắt mà dưới kia rực sáng ánh đèn..”

***     
“ Một trăm ngày trước. Tại thế. X cảm thụ cuộc sống không như bây giờ. Lúc đó anh gần như phát điên lên.
Dương bản hàng ngày làm anh ngán đến tận cổ. Chao ôi mục tiêu ban đầu thời trai trẻ với cái kết cục hiện tại không thể chấp nhận được.
 Không biết tự lúc nào X bị lôi kéo vào nạn đỏ đen. Ngôi nhà gỗ năm gian chính anh làm thợ cả phải gán vào tay người khác. Ngôi nhà tạm mới được mấy tháng, tự nhiên tự lành nửa ngày bốc cháy đùng đùng. Người ta nghi ngờ là có kẻ phá hoại? Nào mình có ăn ở ác với ai đâu? Hay sự hiện diện của mình ở đất này làm gai mắt một kẻ nào đó?
X đã định về HH, vùng quê ven biển, nơi cha sinh mẹ đẻ ra mình. Lại sợ thiên hạ cho mình là thằng hèn, thấy lúc vợ con khốn khó tìm nước tháo lui. Tuy rằng chả có sự nào ràng buộc, X cũng không thể tùy tiện ra đi. Tuy chẳng đăng ký đăng kèo, cưới xin gì thì nàng cũng đã có hai đứa con với mình. Điều đó còn sâu sắc quan trọng hơn nhiều mọi thủ tục lễ nghi. Rồi những ngày nàng chăm sóc, lo lắng cho mình không dễ gì quên đi hay bạc bẽo cho được..
Sau hội nghị Thành Đô, biên thùy im tiếng súng. Đáng lý ra quân, X về với người vợ cũ. Những tin tức anh nắm được về ả, đã khiến X không muốn trở về. Nghe đâu suốt thời gian chiến sự, ả cặp kè với một gã thủy thủ tàu viễn dương..
 Thập kỷ tám mươi là thập kỉ khốn nạn với nhiều gia đình. Nhưng là khó khăn chung chứ đâu chỉ là nỗi khổ của riêng ả? Từng nghe có gia đình không còn hạt ăn sống người bèn rang mớ ngô tẩm thuốc trừ sâu để “sống chết có nhau, vẹn nghĩa, trọn tình”.

Vậy là X chọn cách ở lại bên bờ sông này sống với người đàn bà quá lứa nhỡ thì là nàng bây giờ.
Con người có thể tránh được con đường không muốn đi, ngôi nhà không muốn ở, nhưng không thể tránh được số phận dành cho mình..
Ở lại, cuối cùng không phải là lựa chọn hay.
Có sống gần, ở lâu mới biết lòng người.
Tổ ấm mới nào đã hay?
Nghề thợ mộc cắm cổ đục đẽo suốt ngày không lại được. Cái xóm “con cò” nằm bên bờ suối y thể “xứ u tì quốc”. Buồn và hoang vắng không sao chịu nổi. Không có trò gì giải khuây ngoài trò cờ bạc. Ban đầu X rất dị ứng, nhưng rồi phải theo “phong trào” nếu không muốn bị cô lập.

Một trăm ngày trước.. Một buổi chiều có tốp người lạ mặt ập đến nhà. Nàng đang ghi số đề cho mấy người xã trên. Họ rút thẻ và lập biên bản tại chỗ. Hôm ấy vết thương cũ của X tái phát. ( Đó là vết thương có thêm khi lần thứ hai X quay trở lên “chốt”). Khi tỉnh lại thằng con thứ hai bảo: “ Họ đưa mẹ về công an huyện rồi bố ạ!”. Hôm sau X xuống CA huyện tìm người quen. Không biết họ đi vắng thật hay tránh mặt? Không gặp ai.
Nửa tháng sau thì phiên tòa mở.. Cũng là lúc vợ cũ ở quê và đứa con gái lên đón anh về. Vàng vọt, xanh xao, đi không nổi.. thôi thì cáo chết ba năm quay đầu về núi.
Phần kết của dương bản ấy đến bây giờ X vẫn chưa hiểu nó diễn tiến như thế nào?
Nàng và hai đứa con làm thế nào để qua cầu thoát nạn? Theo như kết luận của tòa với ba năm tù giam, nàng lúc này không thể có mặt ở nhà để lo cưới vợ cho con! Cách nào nhỉ? Lo lót hay được ân xá?  Đúng là cuộc đời nhìn qua âm bản thì không sao có thể biết được. Mọi cái cứ tỏ tỏ, mờ mờ!”
Mới nghĩ được bấy nhiêu điều, vong X đã choáng váng. Đã là vong ít có thói quen nghĩ ngợi, chỉ trông vào sự tinh anh. Nghĩ nữa linh khí sẽ tan hòa vào đám sương đêm lạnh lẽo.
X quyết định không chờ thêm nữa, nhao xuống.
Rạp đám cưới tự nhiên tắt điện. Tiếng la hét hoảng loạn khi có làn gió lạnh ào tới.
Ba bề tối thui. Có giọng khàn khàn như giọng đàn ông:
- Biết rồi, ở đâu cứ ở nguyên đấy!
Một bóng khệnh nệnh bước ra giữa sân quay ra phía ngọn cây gạo chỗ vong vừa đậu. Người đó rì rầm khấn vái hồi lâu. Điện sáng trở lại. Nhưng từ đấy loa đài hỏng không sao chữa được nữa.

Ngày hôm sau cũng vậy.
Có người nói vu vơ:
- Nhà đang có tang, dẫu làm đám cưới cũng không nên bật nhạc, như vậy mới phải phép!

X đã trở lại ngọn cây, nhưng đang là ban ngày nên anh không nghe rõ điều này. Trước mặt, sau lưng anh đang là một âm bản mênh mang. Nếu cựa mạnh, anh sẽ tan như hơi nước đang dập rờn trên đám cỏ bờ sống kia.
Chỉ có tiếng pháo nổ lúc này may ra mới cảm thấy được. Tiếng nổ luôn là nỗi ám ảnh cả mấy kiếp người, nó luôn áp đảo tiếng của con người, tiếng của chim muông hay bất kì thứ tiếng nào khác!

===========






Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sao lại ra thế này?

Nợ công đã lên tới 95% GDP?

(Dân trí) - Tổng nợ công năm 2012 ước tính khoảng 55,4% GDP. Tuy nhiên, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của DNNN và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác thì nợ công Việt Nam lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn 60% GDP.

 >> Nợ công Việt Nam bao nhiêu là “ngưỡng an toàn”?
 >> Nợ công của Việt Nam gần 1,4 triệu tỷ đồng
 >> Mỗi người dân Việt Nam gánh gần 800 USD nợ công

Đồng hồ nợ công của Việt Nam trên Economist: Mỗi người dân cõng trên lưng 817,74 USD nợ công.
Đồng hồ nợ công của Việt Nam trên Economist: 
Mỗi người dân "cõng trên lưng" 817,74 USD nợ công.

Tại báo cáo nghiên cứu "Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam", Uỷ ban Kinh tế cho biết, tính đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam vào khoảng 54,9% GDP, trong đó nợ công nước ngoài và nợ công trong nước lần lượt là 30,9% và 24,0% GDP. Các con số tương ứng ước tính cho năm 2012 là 55,4% GDP; 29,6% GDP và 25,8% GDP. 
Tuy nhiên, theo nhận xét của Uỷ ban, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách. Vấn đề nằm ở những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) - mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả - mới là mầm mống đe doạ tính bền vững của nợ công Việt Nam. Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư, mà chủ yếu là DNNN, không được Chính phủ bảo lãnh chiếm 10,6% GDP.

Ngoài ra, nợ trong hệ thống ngân hàng của khu vực DNNN theo ghi nhận tại đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính (2012) cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5% GDP. Nếu tính đến các con số này và cộng với các khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác của DNNN, Uỷ ban Kinh tế cho biết, nợ công Việt Nam sẽ lên tới xấp xỉ 95% GDP!

Tỷ lệ này rõ ràng đã vượt xa so với ngưỡng an toàn (60% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Đồng thời, cao hơn nhiều so với tỷ lệ được công bố trên Đồng hồ nợ công thế giới của Economist.


Cấu trúc nợ công của Việt Nam.
Cấu trúc nợ công của Việt Nam.

Hiện nay, theo định nghĩa, tổng nợ công là nợ trong nước và nợ nước ngoài của khu vực công, bao gồm nợ của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương nhưng không bao gồm nợ của DNNN, kể cả những doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn. Chỉ có nợ của các DNNN được Chính phủ bảo lãnh mới được tính vào tổng nợ công.

Nợ nước ngoài tính bằng nội tệ tăng với tốc độ chóng mặt

Uỷ ban cũng lưu ý rằng, mặc dù nợ nước ngoài có thể được hưởng lãi suất thấp song lại tiềm ẩn đầy rủi ro về tỉ giá. Sự mất giá của đồng nội tệ sẽ khiến cho gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ tăng lên.

Các chủ nợ lớn của Chính phủ Việt Nam bao gồm Nhật (chiếm 34,3% tổng nợ) và các tổ chức quốc tế như IDA (24,9%) và ADB (15,0%). Mỹ và khối EU chỉ chiếm lần lượt 0,3% và gần 6,9% tổng nợ của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên nợ theo đồng tiền của các nước/khu vực này lại chiếm tỉ trọng lớn.

Theo nhận xét của Uỷ ban, các chủ nợ thường có xu hướng sử dụng những đồng tiền mạnh, và việc vay nợ theo các đồng tiền mạnh này khiến nợ nước ngoài chịu rủi ro cao khi chúng có xu hướng lên giá theo thời gian.

Cụ thể, chỉ tính kể từ đầu năm 2010 đến cuối tháng 6/2011, ba đồng tiền chủ chốt gồm EUR, USD và JPY trong giỏ nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên giá lần lượt khoảng 12%, 13% và 26% so với VND. Điều này cũng đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ đang tăng với tốc độ chóng mặt và gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ.

Uỷ ban Kinh tế đánh giá, việc tiếp cận các nguồn thông tin chính thống và cập nhật về nợ công, nợ nước ngoài và nợ của DNNN ở Việt Nam là hết sức khó khăn. Nguồn thông tin chính thống về nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay được cung cấp duy nhất qua Bản tin Nợ nước ngoài phát hành định kỳ 6 tháng/lần của Bộ Tài chính. Dù vậy, bản tin mới nhất cũng chỉ phản ánh sơ sài về thống kê nợ nước ngoài cho tới hết năm 2010.

Các thống kê khác về nợ công trong nước và đặc biệt là nợ của khối DNNN đều không được công bố chi tiết và chính thống. Các số liệu của DNNN được nhóm nghiên cứu của Uỷ ban Kinh tế thu thập và tính toán đề dựa trên báo cáo của Bộ Tài chính tại các kỳ họp Quốc hội và thống kê dư nợ tín dụng trong hệ thống ngân hàng của NHNN.

Do vậy, Uỷ ban Kinh tế cho rằng, thách thức đầu tiên trong việc quản lý nợ công Việt Nam đó là việc xây dựng một hệ thống cung cấp và quản trị thông tin nợ công/nợ nước ngoài một cách minh bạch và nhanh chóng. Điều này cần có sự nhìn nhận đúng đắn của các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Việt Nam về vấn đề quản lý rủi ro nợ công hiện nay.

Bích Diệp
Nguồn: DÂN TRÍ


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Trích đăng TT của chủ nhà:


**
Bác Tỏm toét mắt, làm cho nhà tôi từ hồi tôi chưa là cái trứng kia.
Không ai biết gốc gác, cội nguồn của bác ý như thế nào?
Một năm vỡ đê, ông nội tôi dẫn quan phủ đi kinh lý, bắt gặp mẹ bác ấy bế một đứa bé, ngồi co ro ở đầu làng. Cái váy bà ấy mặc quai cồng xắn lên cả hai bên, vá phải đến hàng trăm miếng. Đầu bà không vấn khăn, tóc như đám rơm mục che gần kín khuôn mặt. Thấy quan quân rầm rộ, bà hãi, lẩn tránh sau một bụi chuối. Ông nội tôi thoáng thấy e là có kẻ gian bảo một anh tuần đinh đi theo xem xem là ai, có động thái gì? Anh tuần: “ Bẩm cụ, mẹ con ăn mày”. Ông nội tôi bảo: “ Thày đưa mụ ấy về cho bát gạo, đừng để quan trên nhìn thấy. Vùng ta làm gì có người đói rách, ăn mày, ăn xin?”
Người này cui cúi, vâng dạ rồi đi.
( Thế mới biết, với cấp trên, kẻ dưới thường “làm láo báo cáo hay” như một lẽ dĩ nhiên có từ đời kiếp nào rồi. Chả đợi đến thời suy thoái đạo đức sau này mới xuất hiện ).
Hết ngày, quan phủ về thành Hạc Trì, ông tôi mới trở về nhà.
Dân tình đói khát, mặt ông nội tôi khó đăm đăm. Bữa tối hôm đó Người chỉ ăn qua loa vài miếng, không uống rượu. Nằm chưa giãn lưng, đã lại có tiếng chó xủa rộ ngoài đầu xóm. Có tiếng quát tháo, thịnh nộ, tiếng kêu xin thảm thiết. Ông tôi sai người nhà ra xem chuyện gì? Một lúc người nhà về báo có kẻ hỗn láo lẻn vào ăn trộm cỗ đình. Đấy là phần cỗ định mời quan phủ nhưng ngài vội về không kịp thụ hưởng. Cụ bá là ông nội tôi lại vội về, đám chức dịch chưa dám đụng tới, còn cất tạm chỗ tam quan.
Kẻ trộm không là ai khác, chính là mụ già hồi sáng ông tôi bắt gặp. Nghe xong câu chuyện ông tôi bảo:
- Anh tuần, ra đưa về đây tôi xem.
Bà nội tôi bảo:
- Chỉ là con ăn mày, có gì phải xem. Cứ đuổi đi là được. Có đưa lên huyện, lên phủ người ta cũng thả ra thôi. Đói ăn vụng, chưa phải tội ngồi tù..
- Tối tăm thế này đuổi người ta đi đâu/ Không khéo tuần phiên lỡ tay đánh chết hay ngã xuống ao lại mang tiếng, tội cả làng.
Bà tôi cho là phải, không nói gì.
Mấy người tuần phiên đưa bà ta về, quần áo còn tả tơi hơn lúc sáng. Ông nội tôi bảo đưa xuống cái buồng trống chỗ nhà ngang cho mẹ con bà ta ở đấy. Buồng này trước là buồng tằm, nhưng nhà tôi từ lâu không nuôi tằm nữa. Căn buồng không được sáng sủa vì không có cửa sổ, nhưng khá sạch sẽ.
Lúc mới đến bà ăn mày cứ quỳ xuống cúi lạy, van xin rối rít. Ông tôi phẩy tay:
- Thôi, không cần như thế. Nhà chị có còn đói nữa không?
- Lạy cụ, con chót xâm phạm cỗ ngoài đình. Bây giờ thì không ăn được nữa. Chỉ xin cụ rộng lòng tha cho làm phúc, con đội ơn..
- Thôi mang con vào kia đi nghỉ đi, mai tính..
Đêm hôm ấy người trong nhà cứ đoán già đoán non, không biết ngày mai ông nội tôi sẽ cho xử lý bà ăn mày táo tợn ấy như thế nào?
Bố tôi là lý trưởng, bổng lộc của nhà nước chỉ có tính tượng trưng, hơn người làng ngồi cái chiếu tiên chỉ, ngồi cỗ trên.
Thực ra cũng vẫn phải làm lấy mà ăn, chả thể sống nhờ lương như thời sau này.

Khi từ thành cổ Sơn Tây, thường vẫn gọi xứ Đoài, bà nội tôi mang theo nghề bún bánh sang đây. Bánh hòn, bánh tẻ Phú Nhi ngon có tiếng, thành thương hiệu về sau này. Nghề làm bún bánh truyền đến đời mẹ tôi đã phát đạt lắm. Chức bá hộ của ông tôi cũng nhờ từ đấy mà ra, khác với bố tôi có được học hành chút đỉnh làm lý trưởng.
Hôm nào cũng vậy, cứ từ ba bốn giờ sáng người nhà đã dậy xay, vắt bột làm bánh, sáng rạng ra, tỏ mặt người là vừa mang ra chợ, hoặc bỏ mối cho người ở xa đến cất. Trong nhà không mấy khi hết việc. Việc này nối việc kia, đầu năm chí tháng không lúc nào dứt.
Chính sự ăn làm, cần kiệm, căn cơ trở nên khá giả lại là nguyên nhân của tai họa ít lâu sau xảy đến gia đình tôi.

Lại nói, bà ăn mày đêm đó không biết có ngủ không, nhưng sáng sớm đã dậy. Đứa con của bà ta là bác Tỏm bây giờ vẫn đặt trên giường. Đúng là trẻ con nhà nghèo dễ ngủ như khoai, như củ, chỗ nào cũng được.
Không ai sai, bà ta cứ xen vào quét dọn, xách nước, châm củi. Thấy vậy mẹ tôi dừng tay, vào nhà lần một hồi, mang ra cho bà ấy bộ váy áo cũ của mình. Tuy là cũ nhưng váy áo chưa rách chỗ nào. Bà ta mừng lắm, miệng mếu mếu chả ra khóc hay là cười.
Mẹ tôi bảo:
- Ra cầu nước rửa qua đi rồi mặc bộ này vào. Ăn mặc như nhà chị, làm hàng ai dám mua?

Hóa ra bà này nhanh nhẹn,đảm đương. Khó tính như bà nội tôi cũng có cảm tình. Bà tôi bảo: “ Nếu không muốn đi đâu nữa, ở đây, chị tính thế nào?” Bà này mừng, ứa nước mắt. Từ đấy nhà tôi có thêm hai thành viên mới.
Bác cu Tỏm lúc bấy giờ còn chưa có họ, ông tôi ra nhà “hội đồng” làm giấy khai sinh cho bác ấy mang họ Nguyễn nhà chúng tôi. Năm bác Tỏm mười bảy tuổi, ông tôi đứng ra lo vợ cho. Hai vợ chồng ăn khỏe, đẻ tài, lại lười nữa nên không muốn ở chung với nhà tôi. Ông tôi cho miếng đất đầu làng, định bảo làm cái quán bán bánh, nhưng chả được lâu. Sáu bảy đứa con như tằm ăm rỗi, bánh quà nào cho lại? Quán tan. Bác Tỏm đi bổ củi thuê trong vùng. Mấy đứa con mỗi đứa một cửa. Anh cu Tý về nhà tôi theo “quy án” linh tinh xòe ấy của bố mẹ đẻ ra minh.
Sự “hội nhập” của bà ăn mày vào gia đình tôi chỉ đơn giản thế. Không có lý do, mục đích, tôn chỉ hay sự áp đặt nào của ai, rườm rà như người ta nói thời sau này. Chỉ là đói đầu gối phải bò và “ăn mày là ai? Ăn mày là ta..” và khi có người ra tay cứu giúp kẻ ăn mày.
Chẳng ai ngờ đó lại là nguồn gốc của sự bi thương mấy chục năm sau này khi gia đình tôi vướng phải..
Nhưng đó là việc lâu lâu nữa mới xảy ra.
Còn bây giờ tôi và anh Tý đang ngồi trên bờ đê, dưới bóng cây đa già phải đến hàng trăm tuổi. Tự nhiên anh ấy nảy ra ý định muốn ra phía bìa sông. Chỗ ấy có cái thuyền nan không chèo, không lái. Dầm bơi có lẽ chủ thuyền mang về nhà. Thuyền chỉ buộc bằng sợi dây thừng đã ải, có lẽ là do mùa này nước chảy rất lặng nên người ta chủ quan.
Anh Tý cõng tôi lên thuyền, đặt tôi ngồi xuống cái sạp giữa thuyền rồi lấy con sào đẩy thuyền ra. Lúc bấy giờ tôi thích lắm. Thậm chí còn reo lên nữa kia. Tôi có biết đâu cả hai đang đứng trước một tai họa, một nguy hiểm chết người nếu không may thuyền bị lật. Thuyền ra xa một quãng, từ từ trôi ra phía tim sông. Bấy giờ anh cu Tý mới hốt hoảng kêu la toáng lên.. Tay anh cầm cái sào cuống quýt bơi, nhưng càng bơi thuyền càng xoay, càng ra xa.
Trên bờ đã có người phát hiện ra tai họa này, kêu làng nước vọng vào trong xóm. Một đoàn người cứ thế chạy dọc theo trên bờ mà không biết làm cách nào vì không ai biết bơi. Nguy cơ thuyền trôi về ngã ba sông, chỗ ấy có nhiều vật xoáy là rất có thể..
Thấy mọi người hoảng hốt, đầu óc non nớt và bản năng sinh tồn của tôi chợt hiểu. Tôi khóc chẳng ra hơi nữa, nước mắt mũi rãi đầm đìa. Rồi tôi ngất đi trong cơn hoảng loạn.
Khi tôi tỉnh dậy, mới biết là thuyền được một người cứu lôi vào bờ. Ông giáo Tú phải dừng buổi học, bơi gần ra giữa dòng mới túm được mũi thuyền
Đấy là tai nạn sông nước đầu tiên xảy ra trong đời tôi. Mà lại là con sông quê hương tôi, con sông tuổi ấu thơ tôi, không thể quên cho dù bao nhiêu năm tháng trôi qua.. Nếu không có ông Tú Ất, chắc chắn chả có câu chuyện để kể lúc bây giờ!


( Còn nữa..)




Phần nhận xét hiển thị trên trang