Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

GỬI BÁC NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH






Văn vẻ như đang cần gừng?
Lâu lâu phải cay một chút!
Món chua khoan đã
xin đừng
lại càng không nên dỗ ngọt

Người đọc đâu phải trẻ con?
Kẻ xem không là thằng ngốc!
Muốn cho văn nghệ nên hòn..
Đừng khen
tài anh tụt đốc!

Muôn năm khó đường lên trời!
Văn nghệ phải đâu làm chơi??



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài của Buoi hay Beo gì đấy, anh không nhớ, bỏ qua nha!


TUỔI TRẺ VIẾT SAI BÉT



Tìm trên Gúc, cơ man nào là bài viết về cảnh khốn cùng của nhà văn Lê Lựu, tác giả cuốn sách nổi nênh tên tuổi sự nghiệp ông: Thời xa vắng.

Lấy tạm một bài tiêu biểu của tờ báo tiêu biểu và tờ báo mạng dùng lại bài cũng tiêu biểu luôn, để dẫn chứng: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/120736/nha-van-le-luu--xa-vang-mot-doi-nguoi.html

Sự thật thế nào?

Lê Lựu hiện không chỉ sống bằng lương hưu của một vị  hàm đại tá ( suy từ Dédé nhà Beo thì quãng 11 triệu/ tháng), ông còn có 2 căn nhà cho thuê, 1500m2 đất và hơn 5 tỷ tiền tươi thóc thật gửi ngân hàng.

Chưa hết. Ông đang tranh giành đất với bà vợ đầu ở quê. Mảnh đất ông bà được cấp từ...cải cách ruộng đất, khi ông lấy bà Hai lên HN sống, bà Cả và cô con gái ở từ bấy đến nay. Khi bà Cả làm sổ đỏ, thì nảy ra chuyện. Cô con gái đầu, một cô giáo vốn dĩ cực kì hiếu thảo với ông, nay gần như không muốn nhìn mặt ông, là vì vậy.

Lại cũng chưa hết. Hai con của người vợ hai cư xử với ông cũng không hề tệ bạc. Họ đều khá giả và thỉnh thoảng vẫn đến thăm nom ông. Hiện ông thuê đến 2 người phục vụ mình hàng ngày.

Trung tâm văn hóa doanh nhân là đơn vị hạch toán độc lập, trực thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Lê Lựu là người khai sinh ra trung tâm này và ông có công xin thành phố cho Trung tâm căn nhà 360 m2 hiện ông đang tạm trú.

Không biết vì lẽ gì mà báo chí bi thảm hóa cuộc đời Lê Lựu đến vậy?. Câu này viết cho ra sì-tai ngây thơ, chứ Beo, đương nhiên biết thừa.

Nói thêm cho rõ: Các số liệu trên trích từ hồ sơ chứng minh tài chính gửi Bộ Nội vụ nhằm xin thành lập Quỹ Lê Lựu.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tức Tin


TIN NÓNG: TBT BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT ĐINH ĐỨC LẬP SẮP HẦU TÒA



Thông tin mới nhất Vụ Đinh Đức Lập:
Khiển trách về mặt chính quyền!
Đảng đoàn Mặt trận có dấu hiệu sai phạm?

Sau vài ngày hẹn sẽ thông tin tới đọc giả, hôm nay, chúng tôi xin gửi tới quý đọc giả thông tin nóng hổi vừa diễn ra trong buổi sáng hôm nay tại Hội trường Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc Ban Thường trực Ủy Ban Trung ương MTTQ VN công bố Quyết định kỷ luật ông Đinh Đức Lập về mặt chính quyền.

Vì ông Vũ Trọng Kim – Phó Chủ tịch Kiêm Tổng thư ký Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam – Thủ trưởng cơ quan đi công tác tại Nga nên bà Bùi Thị Thanh – Phó Chủ tịch – Chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm tra Đảng ủy – Phụ trách công tác Tổ chức cán bộ của MTTQ VN chủ trì cuộc họp công bố Quyết định kỷ luật ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết.

Thành phần tham dự cuộc họp có hai Phó Chủ tịch MTTQ VN khác là ông Nguyễn Lam và ông Nguyễn Văn Pha. Tất cảcác Ban, Đơn vị thuộc MTTQ VN đều được mời tham dự. Về phía báo Đại Đoàn Kết có ông Đinh Đức Lập – đương sự; ông Nguyễn Quốc Khánh – Bí thư chi bộ Phó Tổng biên tập; ông Mai Ngọc Tuyền – Chủ tịch BCH Công đoàn báo Đại Đoàn Kết. Ngoài ra, những đoàn thể khác từ Cựu chiến binh; Công đoàn; Thanh tra nhân dân; Đoàn thanh niên đều được mời tham dự…

Bà Bùi Thị Thanh giao cho ông Nguyễn Ngọc Ba – Phó Ban Tổ chức cán bộ - Thư ký của Chủ tịch Huỳnh Đảm đọc bản Quyết định. Quyết định này được ký sau cuộc họp của Ban Thường trực Chủ nhật ngày sinh nhật Bác 19/5 vừa rồi. Ban Thường trực Ủy Ban Trung ương MTTQ VN đã ra Quyết định với hình thức Khiển trách đối với ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết. Mức kỷ luật này tương đương với mức kỷ luật Khiển trách về kỷ luật Đảng trước đó đối với ông Lập.

Phát biểu sau khi nghe Quyết định, ông Lập nói giọng có phần bức xúc khi cho rằng: Đây là Quyết định của Ban Thường trực thì ông phải chịu nhưng ông không phục. Theo ông Lập thì lẽ ra ông phải không bị kỷ luật gì. Tuy nhiên, nhìn vào sắc mặt của ông Lập, nhưng người tham dự thấy rất là vui tươi, hể hả.

Ông Nguyễn Quốc Khánh – Bí thư chi bộ báo Đại Đoàn Kết phát biểu: Lấy làm tiếc vì sự việc ở báo và rất thông cảm với anh Lập.

Còn ông Mai Ngọc Tuyền – Chủ tịch BCH Công đoàn báo Đại Đoàn Kết thì phát biểu: Việc sai phạm vừa qua của Tổng biên tập Đinh Đức Lập đã gây tổn hại đến hình ảnh, uy tín của báo Đại Đoàn Kết. Tia ra của báo sụt giảm mạnh (dù cố quảng bá trên truyền hình mỗi sáng –PV).

Bà Hồng – Phó Ban Dân chủ Pháp luật của MTTQ VN phát biểu bày tỏ sự cảm thông với ông Lập khi phải làm việc ở báo ĐạiĐoàn Kết. Bà Hồng nói: các đơn vị khác của MTTQ được rót tiền còn báo thì không nên chúng ta phải biết thương anh Lập…

Còn vài ý kiến khác nói chỉ để cho có.

Như vậy, ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết đã bị kỷ luật Khiển trách cả về mặt Đảng và chính quyền. Tức là những người tố cáo như Hữu Nguyên, Kim Ngân, Mạnh Thắng tố cáo đúng. Vậy thì sao ông Lập, ông Khánh cố tình kỷ luật ba người tố cáo là vi phạm pháp luật, chống lại lãnh đạo MTTQ VN!. 

Với hai bản Quyết định này thì ông Vũ Trọng Kim đã quyết bảo vệ những sai phạm của ông Đinh Đức Lập đến cùng. Nhưng bàn tay sao che nổi bầu trời?. Ban Nội chính Trung ương đã chính thức đề nghị Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương vào cuộc điều tra lại những nội dung đơn tố cáo ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết khi cho rằng lãnh đạo MTTQ VN đã bao che cho ông Lập.

Một thông tin vô cùng quan trọng cho thấy cái sai của Đảng đoàn MTTQ VN trong việc ra hai văn bản Kết luận số 42 và 43 về việc giải quyết đơn tố cáo đối với ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết là: Cấp có thẩm quyền ra Kết luận phải là Đảng ủy MTTQ VN chứ không phải Đảngđoàn MTTQ VN!. Đảng đoàn MTTQ VN không có chi bộ trực thuộc, không phải quản lý chi bộ báo Đại Đoàn Kết và quản lý trực tiếp về mặt chính quyền đối với báo ĐạiĐoàn Kết. Có lẽ khi ký hai bản Kết luận 42 và 43 này, ông Vũ Trọng Kim không muốn đứng danh là Đảng ủy MTTQ VN vì ông là Bí thư Đảng ủy, mà với danh nghĩa Đảngđoàn MTTQ VN (ông chỉ là Phó Bí thư Đảng đoàn, ông Huỳnh Đảm là Bí thư Đảngđoàn MTTQVN). Với cách ký này, ông Kim đã dự phòng nếu có bị cấp có thẩm quyền xem xét thì Đảng đoàn (tức ông Huỳnh Đảm) phải chịu trách nhiệm.

PV xin tiết lộ thêm: 

1. Thông tin về việc ký sai hai bản Kết luận số 42 và 43 của Đảngđoàn MTTQ VN đang được cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.

2. Tòa án Nhân dân Quận Hoàn Kiếm đã chính thức tống đạt quyết định vào sáng thứ 2 (ngày 20/5/2013) triệu tập ông Đinh Đức Lập Tổng biên tập báo ĐạiĐoàn Kết ra tòa vào đầu tháng 6 tới.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghe giật cả đùi!


MỘT NỀN VĂN NGHỆ SÔI ĐỘNG MÀ TRỐNG RỔNG

 ( Hội thảo tự do*)
Lời Bà Đầm xòe:
Ngày 19 tháng 5  là ngày sinh nhật ông Hồ Chí Minh. Chào mừng ngày sinh nhật này, mấy anh tôi tụ tập tại nhà nhà văn Nguyễn Đình Chính bàn về văn học nước nhà làm móm quà tặng chúc mừng ông Hồ Chí Minh.
7 
Nhà văn Nguyễn Đình Chính:
Một số nhà văn sinh sống ở nước ngoài có đưa ra nhận định về nền văn nghệ ở trong nước trong vài năm gần đây rằng, “Nó đang rất sôi động. Tôi trả lời ngay rằng, “đúng, nó sôi động, thậm chí rất sôi động nữa là khác, nhưng là sôi động mà trống rỗng”.
Tôi đã có đánh giá khải quát như vậy, tất nhiên là tôi không nói chơi, nói cho nó sang cái lỗ mồm mà là nói trên cơ sở của nó. Trống rỗng bởi vì nền văn học không thấy xuất hiện những tác phẩm văn nghệ xứng tầm, không thấy một định hướng có khả năng để cho ra đời những tác phẩm văn nghệ xứng tầm.
Tôi xin tạm dừng lời ở đây, nhường lời cho nhà văn khác.
Nhà văn Phạm Thành:
5Nó sôi động mà trống rỗng, cụm từ mới này nghe hay đấy. Hay là vì nó phản ảnh đúng bản chất của hoạt động văn nghệ hiện nay. Tôi muốn làm rõ hơn nội hàm của cụm từ này: nó sôi động ở điểm nào, nó trống rỗng ở điểm nào.
Nó sôi động vì thấy kênh truyền hình nào, phát thành nào, cũng như báo chí in trên giấy, báo nào cũng có chuyên mục bàn đến chuyện văn học nghệ thuật, thậm chí văn học nghệ thuật xuất hiện dưới dạng diễn, dưới dạng câu chuyện… ngày nào cũng ồn ào, hò hét vang vang. Nào là: Mỗi ngày một cuốn sách, nào là “ai đồ”, nào là “cả nhà cùng hát”, nào là “cặp đôi hoàn hảo”, vân vân. Nhiều đến mức mà tôi phát chán không muốn nhìn mặt sao nay, nhìn đùi, vú sao kia, nhà biên kịch này, nhà văn, nhà thơ, nhà đạo diễn hay nhạc sĩ nọ nữa. Các “món ăn” nghệ thuật xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng nhiều đến mức nghe đã chán tai, nhìn đã mỏi mắt như vậy thì chẳng hạ một câu sôi động thì còn biết hạ chữ gì.
Sôi động như vậy những thực chất thì vẫn trống rỗng. Tôi tán thành. Thực chất, các màn sôi động của nền văn nghệ nước nhà chỉ là sự sôi động trong các trò diễn của đàn cào cào, trâu trấu hay như lũ “cá mán động sòng”, còn những chân nhân, những tác phẩm thực sự có giá trị thì vẫn nằm bên lề sự sôi động ấy hay là nó chưa chịu “sủi tăm” lên
Tôi chí nói gọn bằng cách đưa ra những câu cho những tác phẩm thực sự có giá trị tính trong thời gian xuất bản gần đây:
“Thời của Thánh thần là cuốn sách có giá trị”. Nó nằm ở đâu trong chuỗi sôi động của nền văn nghệ nước nhà? Nó không nằm ở đâu hết. Nó chỉ nằm ở đám in sách lậu để kiếm lời không biết là bao nhiêu. Sự sôi động này là sôi động các nhà văn đang bị xéo thịt vì sự cố tình không quản lý chặt chẽ nạn in sách lậu từ phía chính quyền. Mục đích để làm gì thì ai cũng biết.
“Dưới Chín tầng trời”, “con ngố” cũng chịu cùng số phận.
Rồi tập thơ “chẹc chẹc” được bạn đọc trong và ngoài nước đánh giá cao, nhưng cũng không nằm trong sự sôi động này. Hay dở của nó, phản động hay không phản động của nó cũng chả được ai có ý kiến đánh giá hay hội thảo về nó.
Mới đây nhất “Bên thắng cuộc”, mặc dù sách không in ở trong nước nhưng nó được xuất bản trên mạng, nhiều người đã đọc, nó cũng không nằm trong chuỗi sự sôi động của nên văn nghệ nước nhà.
Và rồi còn bao nhiều cuốn sách các nhà xuất bản từ chối không in, nó cũng là vấn đề rất đáng được sôi động, nhưng nó cũng chí nằm im “chờ chết” không có chỗ trong sự sôi động kia.
Tóm lại, sự sôi động của hoạt động văn nghệ nước nhà thực chất chỉ là sự sôi động giả tạo, vì trong đó không thấy xuất hiện những tác phẩm văn học có giá trị đích thực của văn học nghệ thuật nước nhà.
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức:
4Tôi đồng ý với nhận định của Nguyễn Đình Chính về nền văn nghệ nước nhà hiên nay: ồn ào nhưng trống rỗng.
Nhà văn Phạm Thành đã nói đến khía cạnh sôi động từ truyền thông, tôi bổ sung vào đây sự sôi động của nền văn học nước nhà còn là ở các giải thưởng. Giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Đông Nam Á. Giảỉ thưởng này, thực chất chỉ là dùng nhãn tem phiếu của cơ quan Bưu Điện gắn mác cho văn học mậu dịch đã hết thời. Nó không lôi kéo được các nhà văn chân chính tham gia hay có tham gia cũng chẳng được, nhưng cái tồi tệ của nó là tạo ra dòng xoáy kế tiếp nhau cho kẻ hám lợi, hám danh, kẻ thích được nhận phiếu bé ngoan và hoan ngênh những miếng thịt, cân gạo ghi trong tem phiếu và đấu đá lẫn nhau để tranh giành.
Văn học phục vụ là văn học của cái máng lợn ở trong chuồng lợn. Người Việt Nam nhỏ bé chí thích cái gì cũng be bé. Tầm nhìn thì quẩn quanh: “Đi xa nhà thì nhớ em. Đói thì nhớ bánh chay, bánh đúc. Văn chương nghệ thuật chỉ đủ dụ dỗ các bà già và lừa phỉnh đám trẻ con.
Nền học vấn của ta với phương pháp đào tạo ra để làm quan, cho nên ít khi họ dám ngảng mặt nhìn lên trần nhà hoặc cao hơn trần nhà mà họ chỉ nhìn vào bàn ăn, nhìn tiền, nhìn quyền, họ luôn luôn muốn hòa vào cốc nước mậu dịch vì trong đó có đường. Nghệ thuật như vậy thì đâu có tương lai.
Vụ Đoàn Văn Vươn ầm ĩ đất nước như vậy, mây ông văn nghệ sĩ lại chui vào quán uống trà, uống rượu đến mức say rồi lên giường trùm chăn lại ngáy kho kho, khi tỉnh lại thì cái mặt trang trang nghiêm nghiêm đòi người khác đứa giấy bút để sáng tác. Như thế thì tác phẩm làm sao mà không trống rổng.
Hơn nữa, giải thưởng thường niên kiểu này chí tạo ra sự ly khai trong lực lượng sáng tác ngay một mạnh mẽ hơn, và chính những người kiên quyết ly khai mới có khả năng tạo ra nhưng tác phẩm văn học có giá trị.
B.L. Pasternak ( Nga) là ly khai.
Ở Việt Nam ta cũng đã xuất hiện những ly khai mới. Nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam không nhận giải thưửng, nhà văn Y Ban trả lại giải thưởng, trả lại chức vụ. Đó là sự thức tỉnh và đã bắt đầu nhận ra “sự tủi nhục khi đứng chung trong cùng một chuồng”.
Lẽ ra nền văn nghệ nước nhà phải nắm lấy những câu chuyện này để tạo ra sự sôi động mang sức sống mới của nền văn nghệ thì nền văn nghệ lại cứ suốt ngày cả bài ca cũ, khuôn mặt cũ, kích thích cái trò nhố năng mang đậm chất của xướng ca ngay đêm trên các phương tiện thông tin đại chúng thì nên văn nghệ ấy sẽ sôi động nhưng trống rổng còn dài.
Nhà phê bình sân khấu Nguyễn Thành:
2Tôi xin nói về sân khấu, một loại hình nghệ thuật của văn học nghệ thuật. Nó là loại hình rất gần với đời sống, có sức cổ động, lay chuyển, rung động đám đông hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác.
Hiện nay loại nghệ thuật này đang tồn tại như thế nào. Tôi cũng đau lòng lắm, mặc dù sân khấu bây giờ khác trước nhiều. Sân khấu hiện tại cũng tồn tại hai loại: Mậu dịch và phi mâu dịch và nó đang thoái trào với căn bệnh là thiếu sáng tạo, trì trệ và xa cách với đời sống.
Dòng sân khấu chính yếu hiện này là sân khấu hề, sân khấu trò, mua vui, vô thưởng, vô phạt, chưa có tác phẩm nào đạt tới hài kịch. Hài kịch bản chất là phát hiện mâu thuẩn. Thời buổi này nhiều tiêu cực, đạo đức suy thoái… nó là “đất” cho hài kịch phát triển, nhưng nhưng vỡ gọi là hài kịch của ta thực chất chí là những vở hài, hề, chủ đề cũng chỉ dám nói đến nhưng cái nhố nhăng trong sinh hoạt để anh tròn trách nhiệm ăn lương của nàh nước và xã hội, rằng “tôi cũng có, tôi cũng đã”. Nhà hát tuổi trẻ có tới chín vở “đời cười”, nhưng ở đây cũng không có hài kịch đích thực. Làm như vậy thực chất là trốn tránh trách nhiệm.
Cũng là sự trốn tránh trách nhiệm trong khai thác đề tài, nền kịch nghệ hiện tại của ta lại phát triển từ Hề kịch sang Kịch Kinh dị. La liệt những vở gây cảm gíac sợ được dàn dựng với các chủ đề như: người ma, người sợ ma, ma sợ người… Nhưng vở diễn này luôn làm cho trẻ em sợ mà khóc thét lên khi xem. Kịch bản và đạo diễn chỉ chú trọng đến “nội dung” gây cảm giác. Bởi vậy mà có hàng loạt vở diễn đã biến Kịch lịch sử thành kịch giả sử; biến anh hùng dân tộc, danh nhân thành thành tình nhân. Ngay cả vở vụ án Lệ Chi viên viết về Nguyễn Trãi cũng vậy, họ đã biên một danh nhân văn hóa thành một người của trai gái nhố nhăng.
Bản chất sự việc này cũng là cách né tránh hiện thực.
Họ quên mất rằng “ Sân khấu chân chính phải là Hàn thử biểu của thời đại”, dùng nó để đo độ nóng, lạnh của thời đại.
Vở diễn chỉ nhằm tác động đến cảm giác nào đó cho người xem, nó chỉ là “động tác” nhằm ru ngủ người ta quên đi hiện thực mà thôi.
Bản chất của cách “ biến thể” này cũng là một:
- Trò hề
- Nhố nhăng.
Sân khấu Việt Nam hiện nay đang tự làm bé mình đi, đang tự biến đổi mình từ hoạt động chuyên nghiệp thủ đô sang nghiêp dư làng bản.
Nhà văn Nguyễn Đình Chính:
Chúng ta đã đánh giá về sự trống rổng trong sự ồn ào của văn nghệ nước nhà trong giai đoạn hiện này, vậy đâu là nguyên nhân của hiện tượng tượng này?
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức:
Như ông Nguyễn Thành nói, chung quy lại là kịch sợ hiện thực. Tai sao lại như vậy, cái chính là các nghệ sĩ hèn trong một cái hèn chung của trí thức Việt Nam. Văn học Việt Nam không bao giờ có sám hối và rất hay đánh đồng khái niệm. Người ta hay đồng nhất: “ Put sit kin – Nga là nhà thơ, Nguyễn Du – Việt Nam cũng là nhà thơ”, nhưng Nguyễn Du thì sánh thế nào được với Put sit kin.Cách đánh đồng như thế là ăn gian.
Người Việt Nam ta, văn nghệ sĩ Việt Nam ta đang là sản phẩm của tiểu nông, lối sống tiểu nông, trí tuệ tiểu nông. Thế giới, một nghệ sĩ múa có phẩm cấp thì người múa luôn phấn đấu để múa thế nào mà người xem thấy họ múa mà như không múa, còn Việt Nam mình thì ngược lại cứ cố múa làm sao cho như múa.
Nhà văn Nguyễn Đình Chính:       
Ông cha ta nói: trong đầu không chứa vạn quyển sách, chân không bước qua ngàn vạn nẻo thi không nên viết cái gì. Thế hệ tôi lê bám cơ quan, hương thụ tem phiếu, rồi cố viết mấy câu có vần, có vè cốt cho nó có cảm súc thì tự mãn. Họ không thấy rằng, sản phẩm Văn chương của họ còn thua cả lớp tem phiếu trước.
Phạm Thành viết xong tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa thực chất là một cuốn tiểu thuyết tổng kết cái khốn nạn trên 40 năm theo tem phiếu của đời anh. Hiện thực ngồn ngồn trong đó. Liệu có nhà xuất bản nào của Việt Nam dám in, cũng như “ chẹc chẹc”?
“Online ba lô” không cho tái bản với ly do là nhiều cái “zịt zịt” quá, nhưng “Thời của thánh thần” không cho tái bản thì là lý do gì?”
Nhà phê bình Nguyễn Hoang Đức:
Trong đầu không chưa vạn quyển sách…” thì là đúng rồi, nhưng kêu gọi ngươi ta đi thực tế là sai, vì nước Việt Nam minh nhỏ bé, công nông binh trà trộn trong một xóm một làng, đủ cả nên thực tế có thể lúc nào cũng đầy trong người anh, nhưng anh không có tác phẩm ra hồn không phải là vấn đề thực tế mà là trình đọ kém và nhiệt huyệt không có. Việt Nam ta các nghệ sĩ sang tác thường chỉ lấy cảm xúc làm phương tiện mà không xuất phát từ lý trí.
Nguyễn Đình Chính:
Ý tôi nói là không phải đi nhiều mà viết được mà ở cái nghĩa nghệ sĩ phải dấn thân. Đọc sách để có kiến thức. Đi cơ sở, chấp nhận thử thách: dân thân.
 Nguyễn Hòang Đức:
Con người là sản phẩm của tự nhiên và của xã hội. Do đó, chỉ ở xã hội Mỹ mới có Obama da đen lên làm tổng thống. Trung Quốc thì chỉ có người Hán. Ở Việt Nam ta chỉ có bọn nhà văn tem phiếu mới được nhận tiền tài, bổng lộc. Đó là một đướng hướng phát triển sai. Chân lý phổ quát, quyền lực đối với nhà văn là “tác phẩm” của anh ta. Nhưng ở Việt Nam người ta ngăn cấm tất là tại sao? Tại sao chỉ có bọn mậu dịch mới được “đội mũ” quyền lực và “ngai vàng”.
Nhà văn Phạm Thành:
Các ông nói đến sự dấn thân. Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó. Dân thân vào thực tế đến mức không còn sức để cầm vững cây bút thì sự dấn thân ấy cũng dễ đi tong lắm. Hoặc chỉ chăm chắm vào viết lách mà sách bị đốt thành tro, vợ con nheo nhóc, mình không có gì cho vào bụng ngày ngày, có muốn dân thân cũng không thể.
*
“Hội thảo” kết thúc lúc 16 giờ ngày 19 tháng 5 năm 2012 với lời hẹn, nhân một ngày đẹp trơi nào đó trong năm chủ đề này lại được tiếp tục “hội thảo”, tất nhiên cũng là để chúc mừng một sự kiện nào đó của nước nhà để duy trì sự “sôi động” cho văn nghệ đương đại nước nhà.
Bà Đầm xòe lược ghi
* Hội thảo gồm: Nhà văn Nguyễn Đình Chính; nhà phê bình sân khấu Nguyễn Thành, nhà phê bình văn học, triết gia Nguyễn Hoàng Đức; Nhà văn, bloger Nguyễn Tường Thụy, Nhà báo Nguyễn Hùng và nhà văn Phạm Thành – Bà đàm xòe.
167IMG_0875



Phần nhận xét hiển thị trên trang
IMG_0875
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Người Thanh hóa viết về quê mình:

313495_523484311027804_265334971_n.jpg



PhầnNgười Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh giờ bị kỳ thị. Đi đâu cũng thấy người ta nói ghét dân Thanh Nghệ Hà, cầm hồ sơ xin việc mà giọng điệu, cái hộ khẩu ở vùng này thì coi như trượt rớt từ vòng đầu. 

Thanh - Nghệ - Hà mà thực chất là hai xứ Thanh, Nghệ (tức là hai vùng đất có những khu biệt về Văn hóa). Trải khoảng ngàn năm tạo dựng, đi kèm theo đó là những tương đồng và dị biệt về lịch sử, văn hóa hình thành nên cốt cách, tâm tính con người.

Khu biệt văn hóa.


Thanh - Nghệ được ví như Việt Nam thu nhỏ. Cái gì Việt Nam có thì Thanh - Nghệ cũng có. Lịch sử hai vùng này ước chừng trên ngàn năm, nghĩa là tương đương với lịch sử Việt Nam (từ Ngô Vương lập quốc đến giờ). Dân số ước chừng trên 8 triệu người, bằng gần 10% dân số Việt Nam.

Cả hai xứ đều là biên thùy trọng trấn của Vương quốc Đại Việt khi xưa. Là đất căn bản đế vương, Thanh - Nghệ quan trọng đến nỗi: Thanh Nghệ còn, Quốc gia còn, Thanh Nghệ mất Quốc gia mất.

Có ít nhất hai vương triều, hai nhà Chúa mà gốc tích là từ Thanh Hóa - người "làm vua" gần đây nhất mà xứ Thanh có được là ông Lê Khả Phiêu (nguyên TBT BCH Trung ương Đảng CSVN). Văn thần võ tướng xứ Nghệ bạt ngàn. Bắc sông Lam thiên về võ tướng, nam sông Lam thiên về văn thần.

Cụ Hồ cũng là người xứ Nghệ (nguyên gốc Quỳnh Lưu).

Trên khắp cõi Việt Nam đâu đâu cũng thấy mồ tử sỹ Thanh Nghệ. Nghĩa trang Trường Sơn phần lớn là tử sỹ Thanh - Nghệ. Chiến trường phía Bắc, hồi chống Tàu 1979 - 1984, lính Thanh kiên cường, quật khởi đánh cho người Tàu bạt vía.

 


Không phải đương nhiên mà sân Vinh được gọi là cái Chảo lửa. Người Nghệ mang cái bản sắc Choa dân 37 làm nên cả chảo lửa sân Vinh ở ngay Mỹ Đình.

Nhiều nhân vật lẫy lừng của Việt Nam từ quãng năm 30 trở lại đây có cái gốc chung Thanh Nghệ. Yếu tố lịch sử như thế vô hình chung khiến người Thanh - Nghệ tự bản thân đã mang cái tính ương ngạnh, kiêu hãnh và trịch thượng.

Loạn kiêu binh thời Lê mạt cũng bởi binh tướng túc vệ người Thanh Nghệ.

Trong một cơ quan, dù nhỏ mà có hai người Thanh Hóa ngồi tương đương vị trí thì tất mất đoàn kết. Căn nguyên rất đơn giản, người Thanh Hóa tính hãnh tiến, có máu làm thủ lĩnh, làm lãnh đạo và không chịu kém người.




Gềnh đá sông Mã, photo by Sông Hàn

Người xứ Thanh, thân ai làm người ấy chịu, hành xử theo cái kiểu anh cả nhưng cũng thiếu phần bao dung, thiếu hẳn phần khiêm hòa. Người xứ Nghệ thì cố kết cộng động cao, sẩy việc cả nhóm cùng đứng ra gánh vác, người Nghệ phần nào có sự bao dung hơn người xứ Thanh.

Nhưng ngay ở Nam - bắc sông Lam cũng có sự phân cách. Người Nghệ An luôn tự thị là anh, tính cố chấp, trịch thượng cao hơn hẳn. Người Hà Tĩnh mềm dẻo hợp thời hơn. Đất chật, người đông, chiến tranh tàn phá, thiên nhiên không ưu đãi, vô hình chung khiến người Thanh - Nghệ trở nên cần kiệm, chắt chiu.

Núi sông, thời tiết xung khắc mãnh liệt khiến người hai xứ này chênh vênh giữa trạng thái tốt và cực đoan. Cần kiệm thì đến mức chi li bủn xỉn, đoàn kết thì đến mức thái quá. Lại bảo thủ, ương gàn, chậm thích ứng với cái mới.

Điều tệ hại hơn cả là người Thanh - Nghệ dường như có máu làm chiến binh, không chịu khuất, không chịu nhún ai bao giờ. Có doanh nghiệp Hàn Quốc về Nghệ An đầu tư nhà máy may thế mà lao động đi làm cứ gắn tai phone rồi gật gù (theo tiếng nhạc), chủ xưởng bảo mãi không chịu bỏ đi. Rồi đó lao động từ Nam về, xin đi làm lại lại so sánh lương giữa hai chỗ làm rồi nói ở đây trả thấp thế là xúi bãi công khiến chủ xưởng phát hoảng.

Cả cái nhà máy mấy ngàn công nhân rốt lại toàn làm chậm tiến độ, hàng đem ra bị trả về. Ông chủ phải dồn 5 nhà máy ở các KCN phía Bắc lại hỗ trợ mới xong.

Có bận mình ngồi nói chuyện với ông Cao Văn Vĩnh, Giám đốc sở Văn hóa Nghệ An, ông bảo: "Tình xứ Nghệ quen lâu" vấn đề là trong thời buổi này bao giờ thì người ta quen được mình. Lâu quá không được, y như cô gái cứ chờ để về nhà chồng vậy, lâu sinh ra mỏi mệt". Còn ông Phan Thanh Tịnh, Giám đốc sở Công thương tỉnh thì bảo: "người mình cần cù chịu khó nhưng lại không khéo, tính người Nghệ cũng không thuần"

Nói thế để biết rằng người Thanh - Nghệ có những cái nhược điểm cố hữu của mình. Mà nhược điểm cao nhất là cái tôi quá lớn cái tôi cả cá nhân và cái tôi của khu biệt văn hóa, ghét bị sai khiến. Và họ cũng hiểu về điều đó!

Tất nhiên ta có thể hỏi làm thế nào để người Thanh Nghệ bớt bị kỳ thị?

Cần hiểu.


Rất khó để ngày một ngày hai, người hai xứ này bớt đi cái nhược điểm của mình, vậy chỉ còn một cách là phải biết chấp nhận chính nó. Mà muốn chấp nhận thì phải hiểu đặc tính Thanh Nghệ. Hò sông Mã cao ngạo, thanh âm như đục thẳng vào lỗ nhĩ. Ví giận thương trữ tình sâu lắng hai cái đó là cốt cách Thanh Nghệ.

Tất cả phần nổi của đặc tính Thanh - Nghệ, tất cả những cái xấu của tâm tính người Nghệ An - Thanh Hóa ai cũng thấy rõ còn cái tốt thì bị khuất lấp, rất khó để tiếp cận.

Thế tính tốt của Thanh Nghệ là gì? Xin thưa nó cũng nằm một phần trong những mặt xấu của Thanh - Nghệ: tính cương cường quyết liệt, không chịu nhún nhường. Ở một cơ quan, một doanh nghiệp mà biết tận dụng và khơi dậy cái đặc tính này, cố kết nó trong khuôn chung thì rất khó có đối thủ cạnh tranh nào vượt lên được họ. Nói cách khác doanh nghiệp đó có thể vượt lên mọi khó khăn, trở ngại.

Thứ nứa khi người Nghệ đã tin, đã yêu thì tất dốc lòng hết sức, tận tụy, nhiệt tâm làm việc. Tính trung thành là điều không thiếu ở người Nghệ, tính quyết liệt là điều không thiếu ở người Thanh. Người Nghệ đói no có nhau, anh em sống chết làm việc, không (hoặc hiếm khi nào) bội phản hoặc chạy theo tiếng gọi của lợi ích riêng mình mà bỏ rơi cộng đồng

Dân hai xứ này đều rất khó khăn về mặt kinh tế, gia cảnh, sự cần cù chịu khó chịu khổ là không thiếu. Nhưng đây là đất học, người thành danh rất nhiều, nên sử dụng lao động Thanh - Nghệ - Hà cần phải đặc biệt thấu hiểu văn hóa của họ, trọng thị họ để họ thấy mình được coi trọng, có chỗ đứng trong doanh nghiệp. Còn ngược lại chỉ mang lòng kỳ thị thì tất tâm lý đối kháng (ghét giàu, ghét ông chủ) sẽ có đất để trỗi dậy. Đến lúc đó không có nhiều chỗ cho việc thương lượng, thấu hiểu lẫn nhau.

Về phía Thanh - Nghệ, cái đào tạo lao động là khâu yếu khuyết nhất, phần đa lao động đi vào Nam hay ra Bắc đều từ đồng ruộng mà ra (tính làng xã, tư tưởng tiểu nông vẫn rất cố hữu). Cả ba tỉnh (Thanh - Nghệ - Hà) đều chưa bao giờ nói những điều mà người lao động của mình cần và phải hiểu.

Họ có thể đào tạo tay nghề nhưng lại thiếu hẳn đi đào tạo kỹ năng và cung cách ứng xử. Tức là cứ thả nổi cho người xứ mình tự bươn chải với đầy đủ tính xấu theo kiểu tự sinh tự dưỡng. Như thế cũng rất khó cho doanh nghiệp.
Cái chè xanh của xứ Nghệ, hay cả xứ Thanh cũng vậy với người ngoài, rất chát, rất dẳng nhưng uống lâu sẽ nghiền vấn đề là phải chịu uống (nghe rất khó) và người bán chè phải biết cách tiếp thị.@bài của ku Hàn, giám đốc Trâu Qùy trại, kiêm hiệu trưởng Xã Đàn trường. nhận xét hiển thị trên trang

Không có gì để nói!





Dáng đứng..



Nóng hỏng cả tranh





Và cả cứt



Vãi hết cả hồn ( Đúng ra là Cù Lần )



Người tử tế








Ninja Vịt





Nhi đồng thối tai, đời trai...chấm hết



Tập trung



...và quây bắt



 thoát vị bẹn


Thiên tài vận tải



Móa ơi...



Ăn chửa ra voi



Bão về




Hai con bò


Đạp vịt và...đạp mái



Hã hã

Nguồn; nhặt trên NET

Phần nhận xét hiển thị trên trang