Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Dành cho người yêu thơ

Trân trọng giới thiệu ba bài thơ mới của NĐC: 

 Những cái vỏ ốc thối và máu, Giấc mơ    Bài thơ thắp đèn .
   
   Những cái vỏ ốc thối và máu

Chúng ta đang sống trong một  thế giới
khắp mọi nơi
vung vãi
vô vàn vỏ ốc thối
những mảnh sắc nhọn
đêm ngày chầm chậm cứa vào tâm hồn ta
rỉ máu
đau đớn ngàn lần

em bảo hãy chạy đến đây
ngã vào vòng tay mềm mại 
và… và…
ngủ đi ngoan nào
lãng quên giấc mơ tình yêu

nhưng em ơi
ngột ngạt
trong giấc mơ
mùi vỏ ốc thối
sặc sụa
máu
ngập ngụa

mi (zê) không thể chịu nổi sự vô cảm

             trợn trừng mắt nhìn
chiếc lá xanh đang uốn cong trên cành
ánh nắng mùa xuân thơm mùi mật ong
ánh nắng không vỏ ốc thối
ánh nắng không máu

chúng ta phải dìu nhau
chạy thoát ra khỏi những cơn lên đồng ngu xuẩn 
quét dọn con đường hàng ngày vẫn đi
chùi sạch sẽ chỗ ngồi
tẩy rửa thói quen nô lệ
             trải rộng tâm hồn hoa vàng huyền thoại
đón chờ ánh nắng tự do bay về

xin đừng ngã lòng
đừng chịu thua
những ảo giác tập thể mù loà

chúng ta vẫn phải đang sống trong một thế giới
sặc sụa mùi vỏ ốc thối
và máu
máu vẫn chảy ngày đêm
đau đớn ngàn lần

            
           Giấc mơ

             Tôi đã nhìn thấy
             dòng sông nhân dân
             đang lặng lẽ trôi
             lặng lẽ trôi
             trên mảnh đất thiêng ngàn đời
             Tổ quốc
             mảnh đất
             đầm đìa mồ hôi
             đầm đìa máu
             đầm đìa đau khổ
             đầm đìa nhẫn nhục
             mảnh đất
             đầm đìa khát vọng
             độc lập tự do

             mi (zê ) có nghe
             tiếng hát
             trôi trên dòng sông
             bài hát lạc quan buồn
             trong tâm hồn nhân dân

             mi (zê ) có  nghe
             tiếng gầm
             những con sóng ngầm
             cuồn cuộn vặn mình dữ dội
             trong tâm hồn nhân dân

             những con tầu nước sơn giả trá
             chất đầy tiền bạc ăn cắp
             chất đầy nơ ron thần kinh bệnh hoạn
             đang chầm chậm rạn vỡ

             trong giấc mơ
             tôi đã nhìn thấy
             dòng sông nhân dân
             vẫn đang lặng lẽ
             trôi
             và cuốn đi
             và nhấn chìm tất cả
           
              chẹc chẹc  .

                             

           Bài thơ thắp đèn 
  
                    (Tặng bạn thơ ở Mỹ)

             Thắp đèn lên
             góp một niềm vui nhỏ
             chung triệu niềm vui ánh lửa đồng bào
             những ngày này ta nắm chặt tay nhau
             nắm thật chặt
             cố gắng chạy
             chạy
              
             chạy chạy
             băng qua nỗi buồn cúi đầu nô lệ
             rửa mặt thật sạch
             hàng triệu hàng triệu người
             đang hiện rõ mặt con người
             hiện rõ mặt con người (không phải mặt con vật)
             ngẩng lên
             không còn sợ hãi

             xin lỗi - đếch thể hiểu được
             tức cười
             tại sao mà lâu nay lại sợ thế nhỉ
             thật ra chúng nó chỉ có một dúm
             mấy chục thằng bệnh hoạn
             lai lịch mờ ám
             đang chết sặc trong quyền lực và tiền bạc
             đao mèo

             tôi vẫn mơ tới một ngày
             đi phượt cùng anh
             hai thằng nằm dài trên đỉnh núi
             lục túi hút chung một điếu vi na
             tán lăng quăng về thơ tân hình thức
             chỉ có thế
             rồi đất lở chôn vùi hai đứa  
             nhưng…còn lâu hai thằng mới ngoẻo
             xin lỗi mấy em thổ mừ cứu hộ
             các anh đang thèm một ly cốt nhắc
             cốt nhắc thứ thiệt
             và có thể lại một điếu vi na
             và cũng có thể
             hai em vén váy ngồi xuống đây
             trợn mắt lên mà xem
             những bàn chân loạng choạng lơ ngơ   
             đang lò mò bước đi
             tìm tự do bác ái dân chủ công bằng
             chẹc chẹc    
             xin lỗi - sao thế nhỉ
             tức cười
             giấc mơ nhỏ nhoi

             thắp đèn lên
             góp lửa triệu người
             mong một ngày
             lửa tự do
             sáng bừng đất việt
             sáng bừng đất việt .
N.Đ.C

Bài cuối về Nguyễn bản


Nhà văn Nguyễn Bản và cái "vạ" văn chương!

Trần Huy Thuận

Vạ là một danh từ, nói về những tai hoạ bỗng dưng ập đến cuộc đời một người, một nhóm người,  buộc họ phải gánh chịu một cách oan uổng. Cùng miêu tả điều oan trái đó, còn có danh từ  "vạ vịt" và động từ "vạ lây". Đó đều là những tai hoạ không may, không do "đương sự" chủ ý gây ra. Nói một cách khác, đương sự không phải là kẻ "chủ mưu" hay "tác giả" của những sự việc, vấn đề... trực tiếp gây nên cái "vạ" đó. Có vạ nhỏ, nhưng cũng có vạ tày đình. Vạ nhỏ - chả nói làm chi: Con người ta vốn sớm nhận thức, "Đời là bể khổ" mà!. Vạ tày đình thì "gánh" chịu hết cuộc đời, có khi. Thày giáo, nhà văn Nguyễn Bản là một người như thế.

Nguyễn Bản sinh năm 1931, tại Bắc Ninh. Mười tám tuổi theo học trường Sư phạm Trung cấp Trung ương trên chiến khu Việt Bắc. Hai nhăm tuổi tốt nghiệp khoa văn Đại học sư phạm Hà Nội, cùng khoá với nhiều người sau này trở thành  những nhà văn, nhà giáo "tên tuổi"; được phân công về dạy ở trường cấp III Hàn Thuyên Bắc Ninh - tỉnh nhà. Là cán bộ kháng chiến, lại dạy giỏi, lại viết văn hay, lại "hào hoa phong nhã" nữa, nên Nguyễn Bản rất được đồng nghiệp, bạn bè và học sinh yêu mến, kính trọng. Và anh đã lọt mắt xanh một người con gái diễm kiều, để chỉ một thời gian ngắn sau, hai người nên duyên vợ chồng.

Hạnh phúc của họ chắc sẽ êm đềm trôi trong cõi mơ, nếu như đất nước không xẩy ra vụ "nhân văn giai phẩm"! Đấy là một vụ án văn chương - chính trị, mà những người chủ chốt sau một thời gian bị kết tội, bị treo bút, bị đầy ải,... đến nay hầu hết đã được "trả lại" danh dự, công việc, lương lậu,... Trong đó có nhiều người đã được trao tặng những giải thưởng cao quý! Còn kẻ bị vạ lây thì sao?

Nguyễn Bản là một kẻ bị vạ lây. Đó là điều hoàn toàn có thể khẳng định, bởi anh chưa bao giờ là thành viên của nhóm "nhân văn giai phẩm", cũng không hề có bài đăng trên các báo ấy. Anh chỉ mê một số bài viết của họ. Từ mê, anh lại muốn truyền cái cảm thụ đó của mình cho đám học sinh thân yêu. Thế là trong một lần cao hứng, sau khi giảng xong bài thơ "Ta đi tới" của Tố Hữu, Nguyễn bản đã "ngoại khoá" cho các học trò của mình nghe bài thơ "Lời mẹ dặn" của Phùng Quán. Ai đó đã tố cáo chuyện ấy lên trên. Thế là một bản án không thành văn giáng xuống đầu thầy giáo trẻ - "một cú đòn âm", như cách gọi của nhà văn Hoài Anh. Nguyễn Bản không chống cái gì và cũng không a dua theo ai để chống bất cứ một ai. Thấy bài thơ "Lời mẹ dặn" có tứ hay, thì anh thích và muốn truyền cái thích ấy cho mọi người, thế thôi. Ngay từng câu từng chữ trong "Lời mẹ dặn" cũng chả hề chứa chút nội dung "chống" nào cả, ngoài chống thói dối trá, thiên thẹo:

Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Theo cách nói của dân gian, cái tội vạ lây ấy của Nguyễn Bản, là thứ vạ miệng - do cái miệng gây nên!

Sau đó, Nguyễn Bản vẫn được hành nghề dạy học, nhưng là dạy bổ túc cho cán bộ, rồi về "hưu non". Là sinh viên khoa văn khoá đầu, được đào tạo bài bản để trở thành người thầy cho các nhà văn, nhà báo sau này, Nguyễn Bản còn là người có năng khiếu văn chương và dịch thuật như ta biết; vậy mà cái "đòn âm" đã loại anh ra khỏi cả cái chân "hội viên" Hội văn nghệ địa phương! Người bạn đồng môn thân thiết thời nhỏ, tuy không được học hành đến nơi đến chốn, lúc ấy  đang làm chức lãnh đạo cấp cao của tỉnh, nhưng đã không những không có được cái đức của Dương Lễ đối với Lưu Bình - Nguyễn bản, mà còn muốn bạn cũ "mở mắt" ra mà xem, đừng tưởng cứ có học vấn cao là muốn gì cũng được đâu! Rồi đến cái cứu cánh cuối cùng là hạnh phúc gia đình, cũng tiếp tục bị vạ lây: trước sức ép của đời sống quá khó khăn, sức ép của dư luận về tội ảnh hưởng "Nhân văn giai phẩm" của chồng, người vợ anh đã không chịu đựng nổi: Nàng đang là "đối tượng" phấn đấu về mặt chính trị, nàng lại không có được cái cốt cách quý báu của Bội Trâm, người vợ yêu của Phùng Quán, người đã hết lòng cùng chông gánh chịu mọi tai hoạ, mọi khó khăn - và có thể nói không quá rằng, không có Bội Trâm, chắc không thể có một Phùng Quán như chúng ta đã biết. Vợ Nguyễn Bản tỏ ra rất bất mãn với việc làm của chồng, liên tục dày vò, dằn vặt anh. Cuối cùng, để "giải thoát" cho nhau, sau nhiều ngày tự đấu tranh tư tưởng, Nguyễn Bản đã lặng lẽ chia tay vợ, đẻ lại cho chị và các con toàn bộ nhà cửa, tài sản, ra đi tay không! Tìm đến tá túc nhà bạn tại một ngõ hẻm suốt mấy chục năm trời, cho đến tận những năm chín mươi của thế kỉ trước, mới may mắn được cô con gái lớn thương tình, cố gắng gom góp, vay mượn mua cho bố mảnh đất mười mét vuông cạnh nhà mình và cất cho ông một gian nhà mà nhà thơ Nguyễn Khôi đặt tên là "Hộp diêm"! Khi ấy nhà văn của chúng ta đã bước qua tuổi sáu mươi! Vậy là từ ấy Nguyễn Bản được về sống bên con cái, được con cái chăm sóc, không còn cô quạnh trong túp lều ở nhờ bạn bè nữa. Cuộc đời ông như vậy, kể ra cũng là "có hậu"!

Đằng đẵng chịu cái gọi là "đòn âm" mấy chục năm trời , Nguyễn Bản vẫn không rời cây bút: Văn chưong như cái nghiệp chướng, quấn chặt cuộc đời anh. Anh là một "cây viết" truyện ngắn có cá tính, để lại nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc. Nguyễn Khải nhận xét truyện "Ánh trăng" của anh như sau: "... được viết bởi cây bút lão luyện nên nó giản dị, nó thật, đọc lời thoại mà như sờ nắn thấy người". Nguyễn Khôi, nhà thơ đồng hương thì đánh giá: "Ở Nguyễn Bản, ta có cảm tưởng anh đang nối tiếp dòng của Thạch Lam với "Gió đầu mùa", chỗ khác của Nguyễn Bản là những cuộc tình thường éo le, trắc trở...."[1]. Một số truyện của ông đã được dịch ra tiếng nước ngoài. Nhưng Nguyễn Bản không chỉ sáng tác, mà còn dịch thuật. Anh từng tâm sự: " Tôi đã từng dịch thuê “tạp nham” đủ loại bằng tiếng Anh như: tài liệu kỹ thuật, những truyện trinh thám cho NXB Công An như Vụ giết người trên chiếc thuyền hoa, Những kẻ giết người bệnh hoạn, Trước toà pháp đình để kiếm tiền"[2]. Dù sáng tác hay dich, cây bút Nguyễn Bản cũng luôn thể hiện là một người tài hoa và có trách nhiệm; đau đáu với đời, hướng về những lớp người nghèo khó, lam lũ. "Vì sống khá lặng lẽ tại một ngõ nhỏ của Hà Nội nên văn của ông phảng phất cô đơn, tiềm ẩn xúc cảm số phận con người trong đường đời, đường tình"[3]. Cuộc đời đã tạo nên tính cách anh, với một tâm hồn vị tha và khép kín.

Những người trực tiếp làm báo "Nhân văn giai phẩm" giờ đã kẻ còn người mất, nhưng thảy đều đã được đắp đền bằng những giải thưởng này giải thưởng kia. Còn bao nhiêu kẻ vạ lây như Nguyễn Bản, vẫn cô đơn cầy cuốc trên mảnh vườn văn chương gập ghềnh sỏi đá. Giá như hồi ấy anh có một vài bài đăng trên báo Nhân văn hoặc tạp san Giai phẩm, chắc có khi anh cũng được xét tặng một cái gì đấy. Thậm chí còn được ai đó bỏ tiền ra, thuyết phục anh để họ được mua tác phẩm của anh như đã từng làm với Hữu Loan[4], chưa chừng!

Bây giờ đã là những tháng cuối của năm sát kề thập niên thứ hai thế kỷ hai mươi mốt. Không còn mấy thời gian nữa, Nguyễn Bản sẽ vào tuổi "bát thập". Sức viết, sức sáng tạo của anh vẫn rất tràn đầy, với rất nhiều dự định. Chúng ta sẽ còn được đọc từ anh nhiều tác phẩm mới, kể cả sáng tác lẫn dịch thuật. Đấy không chỉ đơn thuần là lời chúc, mà còn là sự trông đợi. Chắc chắn là như thế! ./.


(NGANG QUA CUỘC CHƠI)



Truyện viết từ năm mươi năm trước của Nguyễn Bản

SÔNG ĐÂU RỪNG ĐÂU RỒI?

 

Truyện ngắn của Nguyễn Bản
    Hắn nhìn ra ngoài. Nắng sáng trắng và rập rềnh như những cồn cát. Đêm buốt cóng, ngày chói chang. Trong nhà vẫn giá buốt. Hắn nhắm mắt và chỉ muốn ngủ gật. Nhưng hễ cứ nhắm mắt, giấc mơ đêm qua, những khoáy nắng tím sẫm mầu bồ quân lại ù ù trong đầu hắn. Hắn thèm được ngủ gật. Con Dốp cũng đang ngủ gật ngoài bậc cửa. Nhưng nó có trải qua một giấc mơ như giấc mơ đêm qua của hắn không? Dốp ơi, mày có mơ không, có mơ như tao mơ không? Hắn lại hỏi như thời nào hắn vẫn thường vẩn vơ tự hỏi. Giống vật có mơ không? Nhưng thời đó hắn hỏi rồi tự trả lời: thôi đi, con người chúng tao trở thành chúa tể chính là vì những giấc mơ kỳ diệu chứ chẳng phải vì cái cóc khô gì hết. Mặc xác cho vượn tiến biến thành người. Nó đã biến thành người hàng chục vạn năm rồi. Ta chỉ cần những giấc mơ.   Thời đó là bao giờ? Hình như thời đó hắn còn là một học sinh trung học, hoặc cùng lắm mới chỉ là một gã tân binh khoá sáu lục quân.   Thời đó, một đêm ngủ không mơ đối với hắn là một điều bất hạnh, thiệt thòi, thất vọng. Hắn cảm thấy giấc ngủ nhạt nhẽo. Đêm vừa qua, ta chẳng sống một chút nào, hắn phàn nàn, ta là một cái gì khác chẳng phải là ta. Nghĩa là hắn không còn tồn tại, tồn tại theo ánh sáng riêng của hắn. Hắn thấy tiếc và thường cố ngủ thêm, may ra vì lẽ gì, giấc mơ lạc đường mà đến muộn.   Mơ nghĩa là được sống đủ trong lúc ngủ, được chắp cánh bay, mung lung trong ảo tưởng, đắm đuối trong cảm giác yêu đương, ngây ngất trong chuyện ân ái còn vô cùng xa lạ đối với hắn.   Hắn mơ mẹ sống lại, gỡ từng sợi tóc bết mồ hôi, quạt gió vào chân tóc hắn, những làn gió xanh rờn, tê lạnh.   Hắn mơ, cái bút máy “Wearever” bạn tặng ngày hắn đi bộ đội, hắn đánh rơi xuống sông khi vốc nước rửa mặt ở bến Bình Ca, vẫn nằm nguyên trong túi.   Và mơ, chao ôi, cô nữ sinh học dưới hắn hai lớp, hắn yêu thầm và thường mất hồn khi bất chợt gặp nàng, tóc nàng lại ấp vào môi hắn.   Hắn mơ… bao nhiêu giấc mơ lấm tấm, lấm tấm những bụi trăng và lơ lửng…  Vậy mà lại có những đêm không mơ, làm sao hắn không khỏi bần thần suốt ngày hôm sau?  Mỗi lần ngủ mơ tỉnh dậy, hắn đều nhẩm lại, sợ quên, để nhớ, muốn nhớ mãi và tự nhủ tối mai ta lại mơ, gì cũng được, miễn là mơ, dù nhỏ bé, dù vô lý, thậm chí không may, dữ dội cũng được.  Quả thật, không phải không có những giấc mơ làm hắn phát hoảng như bị vây dồn giữa một đàn chó đến chục con giữa một khoảng đồng trống trơ gốc rạ, không gạch đá, cây que chống trả, một con rắn đen văng mình từ một ngọn cây cao quấn vào cổ hắn, đánh vỡ cái bình hoa, kỷ niệm duy nhất còn lại của mẹ, để quên ví tiền ở bãi tắm… Nhưng ngay cả những giấc mơ như thế vẫn cần thiết biết bao, bởi lẽ khi bàng hoàng tỉnh dậy, bình hoa vẫn còn nguyên, không có rắn, cũng không có chó và hắn vẫn thèm cả những giấc mơ như thế. Chứ sao, hắn tự nhủ, còn hơn là không có gì, ta được ngủ trong những kỷ niệm, ta tồn tại trong cõi vô thức.   Nhưng đó là chuyện thời ấy, thời chống Pháp, lúc hắn còn là một thanh niên yêu đời, hăng say, thể lực cường tráng, leo núi, băng rừng, ngủ đêm nhờ ở trạm đổi ngựa ở cổng trời… với một tâm hồn lãng mạn, phơi phới, hoặc xa hơn nữa từ thời niên thiếu.  Bây giờ thì khác rồi.   Bây giờ hắn không còn là một trung uý công binh nữa. Hắn đã chuyển ngành thành một cán bộ văn hoá làm những việc linh tinh, vô bổ. Không thiết làm thơ, hắn đã thôi làm thơ và lấy vợ. Vợ hắn là một giáo viên, yêu hắn lúc hắn đang làm thơ, bây giờ thường bất đắc ý và hờn trách vì chuyện đó.  - Anh lại làm thơ đấy ư?  - Thơ thẩn gì đâu?  - Thế anh đang viết gì?  - À, - hắn ngập ngừng - mấy dòng nhật ký ấy mà.  - Có giống thơ không? Đưa em xem nào!  Vợ hắn vơ lấy cuốn nhật ký.   Ngày …4-64  Chúng tôi đang nói chuyện về thơ, tự nhiên S hỏi  Anh có biết cô K không?  Không  Vẫn hay hát Xan-ta-lu-xi-a ấy.  Không, cũng vẫn không biết - tôi cười và nói đùa - từ khi lấy vợ, mình không còn biết cô nào nữa và về sau mình sẽ lên thiên đường…  Vợ hắn ngừng đọc và nguýt hắn.  Chưa chi anh đã vội giữ ngôi rồi.  Không biết chết đi rồi sẽ ra sao?  Sẽ thành hữu cơ, thành đất, bón cho mảnh đất cằn cỗi này - cô bạn quê Phát Diệm, ít nhất cũng một lần rửa tội, trả lời S rất tự nhiên như vậy.  Hết chuyện “sống là đấu tranh”, chúng tôi xoay quanh chuyện “chết” là hết, thành hữu cơ, bón cho đất khỏi cằn cỗi. Sợ hay tiếc? Chôn luôn cái khát vọng - chứng giải “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”?  Trời nổi giông. Tôi về phòng mình và tự nhiên bị xúc động mạnh. Ý nghĩ cái chết rập rình chơi vơi, và hỗn loạn trong đầu óc tôi như những bóng ma đang khiêu vũ trá hình nơi dạ hội. Đây chẳng phải là lần đầu tiên trong mấy năm nay. Tôi sợ, tôi xua đuổi nhưng trong vùng sâu kín nhất của tâm hồn, tôi lại như níu lấy, cầu mong. Tôi linh cảm hình như đây mới là tôi đang tư tưởng thực sự. Còn tất cả đều nhạt nhẽo rỗng tuếch, gượng gạo. Nhưng thường là tôi không thoát ra khỏi mớ rối mù hỗn độn ấy. Tôi choáng váng. Tôi đâm sợ. Tôi lại cố xua đuổi. Nhưng mỗi lần những bóng ma ấy hiện ra, chập chờn trên những cầu vồng khói, tôi lại cảm thấy mừng rỡ và hy vọng. May ra lần này nắm bắt được cái gì.  Chết là chẳng còn gì nữa. Vậy tốt nhất là đừng tồn tại từ một khởi điểm thời gian không gian nào ư? Nhưng sự thật lại khác. Tôi đã sinh ra vào ngày X tại một nhà hộ sinh bé nhỏ. Tôi đã từng sống những giờ phút sung sướng, đau buồn và vui tươi, lo lắng, hy vọng và thất vọng. Một ngày kia tôi sẽ chết. Finita la Comédia.  Tôi không phải là tín đồ Thiên chúa, Phật hay Hồi giáo để có thể tin rằng sau khi chết sẽ lên thiên đường hay xuống địa ngục. Ừ, giá có địa ngục thật thì hay biết mấy. Một lần nữa tôi sẽ nhường thiên đường cho tội lỗi và tham vọng mà vui vẻ tụt xuống chỗ tối tăm này. Ít ra như thế, tôi vẫn còn tồn tại, còn được suy nghĩ, tư tưởng. Và may ra không tồn tại trong giấc mơ bé nhỏ, thì thôi, tôi tồn tại nơi địa ngục.   - Trời ơi, sao cứ chết với địa ngục thế này?   Vợ hắn tối sầm mặt và chợt nhớ tới có lần người ta gần như tâm sự với cô ta: “Chị thì chẳng có chuyện gì, nhưng anh ấy…” và người ta buông lửng.  - Anh không muốn sống, cũng phải để cho con nó sống chứ?  Vợ hắn vứt toẹt cuốn nhật ký xuống trả hắn.  Sao lại là không? Hắn cũng muốn sống lắm chứ. Hắn đã có một đứa con trai và hắn nghĩ sẽ đem cả đời mình - cái cuộc đời rối beng, hiện rất hư sinh, hư nghĩa của hắn ra đắp điếm cho nó.  Và có thể vì vậy hắn không còn thèm muốn những giấc mơ như xưa. Hắn muốn thoát ra, muốn xua đuổi, nhưng càng xua đuổi, chúng càng quấn vào, bám riết, trước còn đêm, sau cả ngày nữa.  - Anh Hoàng, anh Hoàng, khổ quá lại mơ rồi!  Hắn ú ớ một lúc rồi bàng hoàng tỉnh dậy.  - Anh mơ gì mà kêu ghê thế?  - Mơ người ta bắt mất con, họ bảo không phải con mình, mà em mua lậu ở Yên Bái mang về.  Vợ hắn thường phải lay gọi và đập mạnh vào người hắn. Hắn vẫn cứ ú ớ và đôi khi lại kêu lên như lợn bị chọc tiết.   Những chuyện ấy xảy ra luôn.  Lần này, người hắn nhẹ bỗng, được nâng dẫn mãi lên cao, càng lên cao, càng quay tít, mọi vật càng hỗn độn mịt mù, trăng sao tím sẫm, rồi hẫng một cái hắn bị tuột dù lao xuống.   Lần khác, hắn bị lăng qua, lăng lại trên một dây thừng to treo giữa trần nhà, hai gã to lớn không có mắt, có mũi, chỉ có mồm và răng, đeo bao tay quyền anh, đứa bao đen, thằng bao đỏ, đấm vào mặt hắn từ đầu này sang đầu khác, máu mặt giỏ xuống nền nhà, vạch một đường chấm chấm theo đường chao của chiếc thừng treo.  Dần dần như một bệnh truyền nhiễm, nó lây sang vợ hắn. Đến lượt hắn lay vợ:   - Tự, Tự, kìa Tự!  - Ôi - Như một xác chết đã được vuốt mắt, vợ hắn từ từ mở mắt ra ngơ ngác:   - Sao kêu khóc dữ thế?  - Ôi sợ quá! - Vợ hắn quệt nước mắt xem thực hay hư, rồi giơ tay lên xem, nhìn thật kỹ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu thắp đêm, rồi lại sờ tay lên trán lên ngực đứa con nằm bên cạnh, một lần nữa xác nhận thực hư và thảng thốt. - em mơ con ốm, em khóc, rồi lại thấy nước mắt toàn là máu… mơ thế có độc không anh?  Rồi vợ hắn ôm đứa con khóc nức nở:  - Ôi con chim xanh của mẹ… Liệu có độc không anh?  - Độc à? Có lẽ là không đâu. Cơ thể chúng ta quá mẫn cảm rồi.  Hắn không phải là thầy thuốc, nhưng hắn biết đó là dấu hiệu của chứng psychasthénia, tâm thần suy nhược, như gã bác sĩ nội khoa bạn hắn có lần đã nói với hắn. Những loại thuốc an thần, định tâm, những loại barbiturique chỉ chữa triệu chứng, không chữa nguyên nhân và thường gây nghiện. Thuốc chữa nguyên nhân người ta không bán, không cho bào chế, chẳng bao giờ bán.   Tới tình trạng đó, hắn không mong thoát những cơn mơ dữ nữa. Hắn, có thể cả vợ hắn sẽ gắng chịu, chịu cho quen dần, miễn mong sao trong cơn mơ đừng có máu. Cứ đấm, cứ ngã, cứ cắn, cứ vỡ vụn… hắn sẽ chịu hết. Vợ hắn cũng sẽ quen dần, chỉ cần đừng có máu. Không có máu. Hắn chẳng phải đợi lâu. Đêm qua nó đã đến với hắn.   Hắn mơ thấy dắt con đi chơi. Con đường rất quen thuộc, nhưng hắn chịu không nhớ ra nơi nào. Một bên là vách núi cao, có những chỗ hở, hở đá sắc, đất đỏ, một bên là dòng sông lúc hiện ra những bờ lau rậm rạp, lúc bị che khuất, bởi rừng cây. Tiếng bìm bịp đều đều nhịp một, chìm sâu trong những rặng lau như vừa sau một trận mưa rừng.   - Bố ơi, đi đâu thế này?  - Về thăm cội nguồn.  - Có hoa không?  - Nhiều lắm, hoa rừng  Hắn trả lời nhưng chính hắn cũng không biết mình đang ở đâu. Rõ ràng là con đường đã đi qua, nhưng ở đoạn nào, từ bản Riềng đi Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng hay ven sông Lô đi Bắc Quang rẽ  Hoàng Xu Phì, hay qua chợ Hiên đi ven sông Chảy sang Phủ yền Bình yên Bái? Dù sao hắn cũng thấy thích thú, biết đâu không gặp lại những cảnh vật năm xưa, biết đâu lại không qua trạm đổi ngựa của người Mán ở cổng trời hắn đã ngủ nhờ năm ấy.  - Bố ơi, con mỏi lắm.  - Cố đến cây đa to kia ngồi nghỉ.  - Nhưng con mỏi lắm.  - Để bố cõng, mà hình như có tiếng trống.  Tiếng trống bịt bùng rộn rã phía cây đa. Hắn xốc con đi về phía đó. Tiếng trống mỗi lúc một rõ. Nhưng nó ở đâu? Cây đa như thể cây đa nguyệt cầu. Bỗng từ tán lá rậm rì, một người, hai người, rồi cả một bầy người nhảy xuống, mang theo đủ trống và cờ phướn. Mặt họ ngây ngô nhưng đầy vẻ kiêu hãnh, dáng dấp thánh thần. Họ kêu lên những tiếng kỳ lạ như tiếng vọng của cõi hồng hoang rồi lao vào nhảy múa. Bố con hắn kiếm một chỗ ngồi nghỉ dưới gốc cây. Thằng bé có vẻ thích thú. Những lá cờ phướn lượn lờ chao đi, chao lại lấp lánh những chữ vàng bằng giấy trang kim. Những chữ giống như những chữ được ghi lại khắp trong các đền đài cung điện cổ, lấp lánh trong mắt hắn.   - Chữ gì thế bố?  - Bố không đọc nổi thứ chữ cổ xưa.  Bỗng từ trong bọn họ có một cá thể tách ra nhìn bố con hắn. Một giống cái, đúng rồi, mặc dầu nó e lệ che giấu các bộ phận giới tính. Tuy vậy, nó nhìn hắn như thể tống tình. Nó đã chán mùi vị thánh thần hay không thích mùi vị thánh thần bằng mùi vị người chăng? No ngửi thấy mùi người, mùi đàn ông? Vẫn đôi mắt tống tình, nó lẳng lơ đi về phía hắn. “Thôi được, ta đang cô đơn, ta đang buồn chán, đang không hiểu nổi con người, ta đang muốn trở về hồng hoang” Hắn nghĩ vậy và giơ tay lên vẫy nó, bế nó ngồi lên đùi. Nó ngoan ngoãn ngồi vào lòng hắn, kéo con hắn lại, vít đầu bắt chấy cho thằng bé. Phần giống cái của nó chạm vào phần đàn ông của hắn, hắn bỗng rạo rực, muốn được cùng nó ân ái. Chợt nó giật mình ngước nhìn về đám linh nhân đồng loại. Hắn cũng ngơ ngác nhìn theo. Tiếng trống đập loạn xạ. Những tiếng hú man dại. Đám linh nhân dừng múa và tranh nhau bóc chữ trang kim trên cờ phướn bỏ vào mồm. Mắt họ long lanh rực lửa . Mắt hắn như bị quáng. Những chữ giấy trang kim bỗng phình to và đám linh nhân nuốt lấy nuốt để, nuốt luôn cả cây cỏ, bờ lau ở xung quanh, vừa nuốt, vừa vục đầu xuống sông để uống nước. Uống đến đâu sông cạn đến đấy, bụng họ phình to dài ra và trở thành mất cân bằng so với tứ chi bé nhỏ. Một số phải bò. Trong khi ấy con linh nhân cái đã rời khỏi hắn, kéo cả con hắn đi theo tới đống cờ phướn. Nó cũng xông vào, xô đẩy, bóc chữ, nuốt vội, và nhét lấy nhét để vào mồm thằng bé như sợ đồng loại của mình tranh hết. Nó dịu dàng hỏi con hắn:  - Con thấy thế nào? Có ngon không?  - Con thấy bầu trời đầy sao - Thằng bé vuốt ngực, nhìn lên bầu trời.  Nhưng bầu trời không có sao. Chỉ có nắng. Nắng rực lên và toé ra, chói lọi từ mắt đám linh nhân lúc này đã biến thành những con khủng long vàng có cánh đang nặng nề cố bay về phía nguyệt cầu. Dòng sông gần cạn sôi lên, tỏa hơi mù mịt. Rồi đáy sông trơ ra, cát và cuội nóng bỏng. Cây cỏ bị nuốt hết, khắp xung quanh là đá và cát, những núi cát, cồn cát triền miên. Nắng cuồn cuộn xoáy trên đầu thằng bé. Một chất như sữa đặc màu xám phùi ra và chảy xuống dọc hai bên má nó rồi chảy tiếp xuống cát cháy. Một mùi gây khét như mùi óc bò bị đốt. Hắn bỗng nhớ tới bọn buôn vịt buôn ngan ở gốc cây bên đoạn đường sắp vào thành phố. Chúng lôi bánh đúc ra nhồi, nhồi lặc lẽ cả diều lẫn cổ những con vật đáng thương, có con không thở được, lưỡi thè ra, mặt mày xám lại. Chúng kiếm lãi ở mỗi con một cái diều vài ba lạng. Nhưng ở đây, con quỷ cái kia, mày lãi được cái gì? Mày sẽ giết thằng bé mặc dầu nó không có mào. Hắn thét lên:   - Dừng tay lại, đồ quỷ cái.  Nhưng dường như con linh nhân không nghe thấy hoặc cố tình không chịu nghe. Nó chen đẩy, bốc chữ ấn vào mồm thằng bé.  Trời ơi, nó làm thằng bé chết mất, hắn tức giận, hắn tìm quanh xem có một cái gì đó. Phải đập chết con quỷ cái. Hắn cuống lên, nắng cháy, cát cuồn cuộn và sôi réo. Hắn cuống quýt, chạy vòng quanh.   - Chuyện gì thế?  Bỗng đâu xuất hiện ra một cái mặt to phè, mồ hôi sùi ra như những hạt mỡ bò. Mắt trợn trạo, nhìn quanh hỏi trống không. Chợt y ghé tai nói nhỏ với người đứng cạnh. Lão này dương mục kỉnh trố trố nhìn hắn khiến hắn bối rối và lo lắng. “Quái, mình lại phạm sai lầm gì nữa chăng?” Hắn nhìn lại quần áo của mình. Cúc quần, cúc áo đều ngay ngắn. Vả lại có phải là ngày tưởng niệm gì đâu. Hắn hơi yên tâm và lại nghĩ về con hắn. Dẫu sao cũng phải đập vỡ sọ con quỷ cái. Nhưng cái mặt sùi mỡ lại lừ lừ tiến về phía hắn. Hắn hồi hộp. Y sẽ làm gì đây? Nhưng y chỉ nghiêm nghị nhắc hắn:   - Anh Bá bảo anh nên cất dép đi.  - Cất dép à? Được thôi.  Hắn vừa trả lời vừa chạy vụt vào phòng mình cất dép. Nhưng phòng mình sao lại ở đây? Thôi mặc kệ chuyện đó. Phải đập vỡ đầu con quỷ cái đã. Cát vẫn chảy xiết, nắng ù ù như cối xay giớ. Mùi óc bò khét lẹt. Hắn vồ lấy một tảng đá và lao về phía con linh nhân.
  Nhưng hắn chưa kịp ra tay con linh nhân cái đã kêu thét và lập tức lão đeo mục kỉnh đã chặn trước mặt hắn, trừng mắt, tay chỉ con linh nhân đang nằm co rúm nhìn hắn vừa giận dữ vừa thê thảm. Hắn nhìn vào đôi mắt nó, đôi mắt hơi lồi ra, màu đồng thau dưới cái trán hẹp và giô, đầy vẻ hờn trách và cái mồm chẩu ra như muốn chửi rủa hắn. Càng nhìn kỹ càng giống cái trán, cái mồm, con ngươi màu đồng thau của vợ hắn những lúc thị hờn trách. Chả lẽ đây là vợ hắn thật ư? Hắn hoang mang đến tột độ. Đúng lúc ấy, lão đeo mục kỉnh ghé tai hắn nói thầm:
  - Anh thấy chưa, phải tin tưởng chứ!
  
Phải tin tưởng chứ. Câu nói bỗng rung lên bịt bùng, xa xôi như tiếng trống phía cây đa làm hắn chóng mặt. Hắn bỗng nhớ ra thời kỳ hắn còn làm thơ, lão đeo kính không biết có phải lão này không, đã trịnh trọng bảo hắn:
   “Phải tin tưởng chứ” rồi hắn được đưa về lao động ở một nông trường mênh mông những cát, đang quy hoạch trồng dứa và nuôi bò giống Cuba. Lão ta cũng cẩn thận nhắc hắn bỏ dép để sau ba năm có thể trở thành một nhà thơ chân đất, bám rễ vào công nông. Nghĩ đến ba năm đó, hắn như người muốn quỵ.

  Lão đeo kính nhếch mép cười. Mấy chiếc răng vàng trong mồm lão như còn mắc dính những giấy trang kim chưa nuốt hết.
  Hắn hoảng hốt nhìn xung quanh cầu cứu. Nhưng xung quanh chỉ còn vài con khủng long lặc lè, mệt mỏi vì chưa có cánh và mặt chúng mới lạnh làm sao. Chúng hướng cả về phía lão. Chết tôi rồi. Chẳng ai nói đỡ cho mình một câu, chẳng ai thanh minh cho mình cả. Bầu trời đầy sao ư? Nhưng trong mắt hắn, cát chảy và nước sôi sùng sục.  - Con ơi!  Hắn kêu lên như muốn cầu cứu chính con mình. Nhưng con hắn đâu hay lũ khủng long nuốt chửng cả nó rồi? Hắn càng cuống và cảm thấy khát dữ dội. Nước trong người hắn như bị dóc kiệt. Cơn khát vật vã. Cơn khát sa mạc. Nắng bùng cháy trong mồm và cát rào rào trong cổ hắn.   - Nước!!! Sông đâu rồi? - Hắn gào lên - Rừng đâu, bóng râm đâu, bìm bịp đâu, cho tôi đi tìm con tôi trong những rặng lau!  Những rặng lau cũng đâu rồi? Đâu rồi, tất cả đâu rồi?  Hắn gào lên chợt nghe thấy tiếng mình, phải một lúc lâu mới tỉnh dậy được. Người hắn đầm đìa. Mặc dầu đêm sương lạnh buốt, hắn tung chăn tỉnh dậy thay ngay bộ quần áo ướt đẫm mồ hôi.   - Làm gì mà tung chăn ra, lạnh thế?  - Dậy thay quần áo.  - Sao đang đêm lại thay quần áo, anh điên à?  - Mơ, rồi đái dầm, đốn quá.  Vừa lẩm bẩm trả lời vợ, trả lời cả chính mình, hắn vừa xỏ nốt một chân vào ống quần. Cũng may mà lần này vợ hắn lại ngủ say, không nghe thấy hắn kêu gào. Dĩ nhiên hắn không thể kể cho vợ nghe giấc mơ, mặc dù giấc mơ không có máu. Chỉ sột soạt những giấy trang kim, đám linh nhân những con khủng long vàng và không có máu.   Nhưng cát chảy, nắng sôi, đáy sông nóng bỏng, rừng biến mất, bờ lau không còn, bìm bịp câm lặng và phảng phất mùi óc bò khét.
1964    
Nguyễn Bản


Nguyễn Bản - người thầy, nhà văn ở ẩn

Nguyễn Văn Thọ - 
VanVN.Net - Nhà văn Nguyễn Bản không phải thày dạy học của tôi. Song có thể nói ông là bậc thầy…
Năm 96, tôi gặp ông lần đầu tiên ở Nhà xuất bản Hội nhà văn, khi nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư, trân trọng hướng vào một người đã cao tuổi, trên bẩy chục, nhỏ thó, vai nhỏ, trán cao vuông, mắt cũng nhỏ, lóe ra cái ánh nhìn tinh sáng, miệng tủm tỉm: Đây là nhà văn đàn anh Nguyễn Bản! Tôi bắt chặt bàn tay không nhỏ, dầy, ấm, khi thấy ở đôi mắt nho nhỏ kia sáng lên cái nhìn thân thiện. Thầm nghĩ, ô hay, Nguyễn Bản, tác giả Ánh Trăng đây ư? Ở Đức, khi đọc Ánh trăng, truyện ngắn đoạt giải Ba trong cuộc thi 1992 trên Tuần báo Văn nghệ (1), tôi cứ nghĩ, tác giả chỉ tứ tuần. Ánh trăng – câu chuyện tình lãng mạng, day dứt, ám ảnh da thịt mỹ miều dưới trăng hay một tuổi trăng từ thuở học trò với một người đàn bà đẹp, là áng văn toàn bích tạo nên từ sự khao khát yêu đương còn mãnh liệt, sao có thể của một người già như đến thế?
Nhà văn Nguyễn Bản

Hóa ra, chúng tôi là hàng xóm với nhau trong làng Ngọc Hà.
Làng rày, chuyện nay còn ghi lại ở đền thiêng Đống Nước, xưa vua nhà Lý và Trần, trước khi đi đánh giặc đều ghé thuyền tấp qua gò đất, nhờ cô gái thôn dã, thần thiêng phù trợ… Sông xưa đã lấp, bồi lên làng hoa Ngọc Hà, qua nhiều thế kỉ đã bước vào văn chương với những cô gái gánh hoa làng Ngọc. Hoa Ngọc Hà trở nên một nét trong tâm thức văn hóa Hà Nội xưa và, thời nay lại là làng quy tụ nhiều văn nhân, lắm nghệ sĩ thành danh như nhà thơ Nguyễn Phan Hách, cố đạo diễn Lê Mạnh Thích, vợ chồng nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng một thời Ngọc Lan, Ngô Mạnh Lân v.v… Nhà văn già Nguyễn Bản cũng âm thầm ẩn tụ ở đấy hơn chục năm nay, sau bao năm trôi nổi, về sống một mình trong căn  nhà nhỏ hộp một tầng, mặt bằng 24 m2, xây nên từ tiền nhuận bút. Khách tới, ông tiếp chuyện sát cái bàn viết đầy tự điển và chồng truyện tiếng Anh. Cái bàn nước ép sát tường, dăm tách nhỏ cáu ám màu trà, kế bên là tủ sách cũ đầy tiểu thuyết đã  dịch, các tập truyện ngắn của riêng ông và bao Tập tuyển truyện ngắn hay nhiều tác giả …cuốn cũ, cuốn tái bản còn mới tinh-xi-ông. Trên nóc bếp và khu vệ sinh là xép đựng sách vở, tài liệu, cất giữ cả những tờ Văn học in truyện Nguyễn Bản từ thập kỉ sáu mươi. Những giai phẩm đã chuyển sắc vàng, dễ vỡ, rơi ra những hạt chữ, nếu người xem không cẩn trọng nâng niu.
Ở Ngọc Hà, ông và tôi hay dùng cơm với nhau, cùng nhìn ra cái vườn bốn mùa đầy hương mộc, hương cau và ăm ắp tiếng chim. Những bữa cơm với rau sạch, thịt nạc rim tiêu, vài chén rượu thơm ngon, đủ cho những câu chuyện bất tận về văn chương, bao nhiêu thăng trầm đời ông: một người chỉ dạy văn và viết văn, sống đúng nghĩa người trí thức, làm thầy, là nhà văn có tấm lòng, suốt đời sống với ngòi bút sạch trong.
Nguyễn Bản sinh năm 1931, trong một gia đình phong lưu làng Đình Bảng, hậu duệ trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính thuộc đất huyện Đông Ngàn, đất khoa bảng đã sinh ra tiến sĩ, văn nhân nhiều thời nhất nước Việt. Đông Ngàn cũng chính là quê cụ Ngô Tất Tố.
Nguyễn Bản xưa là học trò trường Chu Văn An, Hà Nội, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ lên chiến khu học trường Lương Ngọc Quyến Thái Nguyên. Nhắc đoạn này, ông tự hào là học trò giỏi toán, 1948 đi thi toán học sinh giỏi Đệ tứ của liên khu Việt Bắc cùng Phan Thu - sau là thứ trưởng Bộ quốc phòng. Dang dở tú tài, chiến tranh chống Pháp cần người, ông làm việc tại Ban huấn học trung ương đoàn cứu quốc. Năm 1950 do yêu cầu Rèn cán chỉnh cơ, lại được cử đi học Trường Sư phạm đầu tiên của cách mạnh, thụ giáo các giảng sư bậc thầy hồi đó như giáo sư văn học Phạm Văn Bảng, giáo sư toán Ngô Thục Lanh. Từ 1952, thầy giáo Bản dạy văn trường Cấp II Lê Hồng Phong, Hà Giang. Hòa Bình ông quay về Thủ đô học tiếp trường Đại học Sư phạm văn khoa Việt Nam Hà Nội(2), rồi 9-56 về giảng dạy văn trường Trung học Hàn Thuyên, Bắc Ninh. Tháng 9-1971, ông về hưu tại Trường Sư phạm Bắc Ninh. Kết thúc quá trình 21 năm 9 tháng tham gia cách mạng, ông được tưởng thưởng huy chương chống Pháp hạng nhì, huân chương chống Mỹ hạng nhì. (3)
Học trò thày Bản nhiều người sau này là giáo sư, tiến sĩ. Kỉ yếu trường Hàn Thuyên, nơi nhiều vị giáo sư từng là học trò ông, còn ghi: Thầy Nguyễn Bản là người có nhiều ảnh hưởng đến sự trưởng thành của chúng ta. Nguyễn Bản kể cho tôi chi tiết này và ông rất cảm động. Ông nói, hồi ấy khi dạy cho học trò về tính ngay thẳng, trung thành, yêu tổ quốc và cách mạng, ông đã dẫn nhiều thơ Phùng Quán, đặc biệt đem giảng chính khóa bài Lời mẹ dặn và, tất nhiên ông gặp sự oan khiên, bởi sự đó khi ấy khó tránh được, nay được chính học trò Hàn Thuyên ngày ấy đã trưởng thành giải oan cho.
Song điều ông hay nhắc tới lại là việc nhiều trò của ông sau này là lớp lứa giáo viên có uy tín. Có người  đã đào tạo nên nhà văn Đỗ Chu, có người trở thành nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Quang Hà. Nhắc tới giai đoạn này, ông thổ lộ: Dạy văn phải khơi nguồn, vốn tiềm ẩn trong mỗi trò, để các em giữ gìn tình yêu con người, thêm yêu quê hương, đất nước; bên tri thức văn học, văn hóa phải dậy cả điều tín, nghĩa, trung thực và công bằng.
Cuối 2011, tôi đi Huế thăm nhà văn Nguyễn Quang Hà, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương vang bóng thời đổi mới, người đoạt giải Nhì với Vùng lõm ở cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009. Khi hỏi về thầy cũ, Nguyễn Quang Hà nói: “Thầy Bản dậy tôi không nhiều giờ, dù bao nhiêu năm, tôi vẫn nhớ những tiết học rất hay, rất quyến rũ tụi tôi khi ấy. Chính ông chứ không ai khác, đã khơi dậy ở tôi tình yêu văn học sâu đậm, lòng trung thành với quê hương, đất nước, để tôi không dứt nổi văn học. Tôi ơn thầy...“ Hơn nửa thế kỉ, ấn tượng những tiết học và Thầy văn cất dấu trong tâm khảm anh học trò, nay là nhà văn hon 70 xuân, bừng sáng như ánh mắt tuổi trẻ, khi kể về thầy mình! Thật hạnh phúc và cao quý!
Những ngày ở Ngọc Hà, chúng tôi cũng hay đàm luận về văn chương thế giới. Khi nghe ông bàn việc đọc văn và viết, nói về các tác giả kinh điển và hiện đại, mặc dù bỏ ra mười năm không viết một chữ, chỉ đọc sách, tôi cũng phải ngả mũ kính trọng ông qua nhiều kiến thức sâu, kiến văn rộng, trí nhớ trác tuyệt và khả năng thẩm thấu tinh tế. Ông đúng là bậc thầy, tôi là trò. Ông nói về từng tác phẩm với các chi tiết cụ thể. Làm rõ hơi khí từng nhà văn, không chỉ là mẹo luật của nghề, mà còn rõ ra sự đồng điệu của ông ở chỗ nào với các nhà văn thế giới Pháp, Đức, Anh và Mỹ. Ai, tác phẩm nào, nhân vật hay đoạn văn nào, toát lên cái tình yêu con người, nhân loại, điều mà theo ông, bất cứ dạng thức văn học nào, mới hay cũ, bất cứ thuộc dân tộc nào, cũng cần phải đạt để tới nhân loại.
Kiến thức uyên bác, sâu hậu, lại sinh ra trên vùng văn hóa Kinh Bắc, nơi có truyền thống, cất dấu nền văn hóa tộc Việt lâu đời kể trên, đã hun đúc nên một Nguyễn Bản - một người thầy nhân học. Cũng không chỉ là học, dạy học mà còn cả sự hành.
Truyện ngắn Nguyễn Bản từ năm 61, bắt đầu từ lòng thương cảm, chia sẻ với một cô gái điếm trên sân ga. Giá trị mới, tác phẩm đầu tay rất nhân ái, đi trên Văn học số tháng 89-1961 đã được Nhà xuất bản ngoại văn Hà Nội dịch ngay ra tiếng Pháp, Anh, Nga. Từ đó, ông mải miết viết tay, theo đuổi sự hành, trình làng 8 tập truyện ngắn. Truyện ngắn Nguyễn bản có mặt trong nhiều Tuyển chọn văn học hay, trong Tổng tập 50 năm văn chương của nhiều nhà xuất bản uy tín. Những truyện ngắn như  Ánh trăng, Bức tranh màu huyết thạch, Chuyến ly hương cuối đời, Rừng đêm cuối nămhay Thời chuồn chuồn cắn rốn sáng tác gần đây đều là cái nhìn đầy chia sẻ, tràn ngập lòng yêu con người, khát khao hạnh phúc cá nhân. Nhiều trang văn của ông rất day dứt, ám ảnh. Văn ông đạt tới độ dung dị, chơi chữ tự nhiên, không lộ liễu, câu văn hiện đại, ngắn gọn mà hàm xúc. Không thoát ly cuộc sống, khi cần vẫn bầy tỏ thái độ, ngọn bút ông rất rõ ràng, chống lại cái ác trong xã hội. Song dù phê phán, thì văn Nguyễn Bản vẫn là thái độ điềm tĩnh của một trí thức lớn. Sâu đau, có khi chua chát mà không hậm hực xóc xách, đặc biệt ông không khi nào ám chỉ thô bạo. Văn ông nhiều thiên truyện nói về tình yêu trai gái. Nhiều đoạn, truyện đề cập tới sex. Những giai phẩm như Mùi tóc thảo, Cơn lũ(Giải thưởng báo văn nghệ) là sự treo sex tới sát ván, nhằm phát biểu về con người, tình yêu có sex mà không hề dung tục tầm thường. Sex của ông gợi và đẹp. Viết về tình yêu, đề tài trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Bản đều có ý thức: “bàn tới tình yêu mà né tránh hay vắng bóng tình dục, là thiếu đi một nửa cái đẹpcó điều phải dùng chữ nghĩa ra saođể sex tuy là cái cớ, hay là một nửa, nhưng vẫn phải là văn hóa!“ Điều đó đồng điệu với nhận thức ở thế giới phát triển, khi con người tiến hóa, tiến bộ thì tình dục, dù thuộc cái bản năng, cũng phải có văn hóa. Và, điều ấy trong dòng văn học Việt đương đại, Nguyễn Bản là bậc thầy.
Văn chương Nguyễn Bản nói chung khi mong manh như Ánh trăng, khi ngầm dữ dội như Rừng đêm cuối năm, song dù hơi khí hay sự chuyện thế nào, ông vẫn làm cho bạn đọc đều thấy gần gũi. Nhân vật và sự chuyện, quen thuộc như da thịt của con người, nên truyện ngắn Nguyễn Bản thu hút đa giai tầng trong xã hội, càng đọc nhiều lần càng thú vị hay phát hiện thêm sự thú vị. Ấy là sự hàm xúc, đa tầng của nghệ thuật hệ thống ngôn ngữ Nguyễn Bản. Đọc văn Nguyễn Bản, tỉ như khi ta nhâm nhi chén rượu quý, thưởng loại trà hương hạng nhất, có hương và vị dịu đậu, lâu bền.
Nguyễn Bản có vốn ngoại ngữ giỏi. Ông có bè bạn cùng thời như Nguyễn Xuân Khánh - Pháp văn, Lê Bầu - Trung văn, Phạm Toàn – Anh, Pháp văn, đều là lứa được giáo huấn cẩn thận, giao lưu hai ba nền văn hóa lớn. Tiếp tục là người thầy ở việc truyền bá văn học thế giới, suốt 15 năm tới nay, ông bỏ công dịch 15 đầu sách. Những cuốn kinh điển, người khác đã dịch, ông vẫn dịch lại, khá thành công như Ba người lính ngự lâm pháo thủ - Alexandre Dumas - Cha.Đỗ quyên đỏ là cuốn sách bán khá chạy, tái, nối bản nhiều lần. Nó được giới văn nghệ già, trẻ, ai từng đọc đều đánh giá cao. Mấy năm gần đây ông quan tâm và dịch liền tới 4 đầu sách của nữ nhà văn Mỹ gốc hoa Anchee Min. Ông có lý khi yêu nhà văn này, bởi văn chương của bà đạt tới độ rất tinh tế về tâm lí, ngào ngạt hương tình yêu, đặc biệt luôn đề cao tư tưởng giải phóng con người, nhất là phụ nữ. Sự giao cảm giữa văn hóa Đông Tây rất rõ ràng qua Anchee Min. Nhà báo Lan Anh và tôi từng nghe ông cao hứng dịch trực tiếp những áng văn của Anchee Min trên vài trang đã được ông đánh dấu cẩn thận, chi chít. Gian nhà nhỏ cũ kĩ, già nua, lành lạnh sớm mùa đông ấy, dường như run rảy theo tiếng đọc dịch khá biểu cảm của ông. Có lẽ văn chương muốn đạt ngưỡng về thẩm mỹ nhất định, nhất thiết phải cầnMột tình yêu lớn với văn học, giống như khi hết lòng yêu một người đàn bà đẹp. Sang tuổi 81 rồi, lương hưu không đủ sống, bao nhu cầu trong mối quan hệ xã hội chằng chịt phức tạp, Nguyễn Bản ẩn mình xác lập tự do trong cô độc, âm thầm viết đêm ngày kiếm thêm thu nhập. Bữa ấy, trở về với trái tim nguyên vẹn trong khiết một tình yêu, một bậc thầy, ông lại say mê như trên bục giảng, giảng cho chúng tôi nghe điều hay, cái đẹp văn  Anchee Min.
***
Tính cho tới nay, tôi làm bạn vong niên với ông chỉ gần hai chục năm. Tôi chưa khi nào thấy ông tức giận. Chuyện trò bao lần, với ông ngoài việc văn và dạy văn là miên man chuyện tình yêu. Thi thoảng lắm, ông cũng buồn phiền thoáng qua, tỉ như thở than việc trả nhuận bút với một người chỉ sống nhờ ngòi bút sao lắt léo quá. Nhà sách Phương Đông in tập Thời chuồn chuồn cắn rốn (4), người ta ghi cuối sách là in 2000 cuốn, ông phải đi đòi, lên tận Mai Thời Chính giám đốc Nhà xuất bản Thanh niên nhờ can thiệp nơi xuất bản đồng ý trả nhuận bút theo bìa sách, nhưng có 6 phần trăm. Ông là thày dạy yêu người, viết văn chứ không tường việc từ Nhà xuất bản Thanh Niên tới Nhà sách Phương Đông bán chác qua ai và ra sao, để ông nhận lại sự buồn phiền ngao ngán như thế. Mà cũng phút lát thôi, ông lại trở về roi rói chuyện yêu ở trang văn, chuyện khao khát một người đàn bà để ông yêu nữa, dù tới Nhâm Thìn này ông tựa rồng sang tuổi 83.
Mùa xuân tạm biệt Người thầy Nguyễn Bản, tôi ôm xiết  người bạn văn vong niên và vô tình chạm phải cái cái lưng đã gù gù của ông. Tết Hà Nội, phố dài hun hút lạnh với dòng người hối hả, chen chúc, vui, buồn vội vã. Những gánh hoa cúc mơn mởn vàng cho người nghèo và những chậu hoa điệp lan vàng chanh, hoa modeln màu năm nay, giá cả năm sáu triệu trên ô tô bóng nhãy lởn vởn trong óc tôi. Chắc ông cũng nhìn thấy cả hoa Tết ở cái phố đầu ngõ làng hoa Ngọc.
Tôi hình dung ra, Nguyễn Bản một mình trở về nơi phòng ấy với cây bút và bàn viết, bên lọ hoa cúc trắng tinh khôi. Những bước chân khoan thai trên ngõ cổ Ngọc Hà, giữa đám đông người vồi vội ngược chiều…
Hà Nội mồng Một Tết Nhâm Thìn
---------
1 - Ánh Trăng của nhà văn Nguyễn Bản xuất hiện trong cuộc thi truyện ngắn trên tuần báo Văn Nghệ Hội nhà văn VN 1992 và đoạt giải ba.
Giải nhất khi đó thuộc về tác phẩm Kẻ sát nhân lương thiện.
2 - Sau khóa ông học, trường này giải tán và lập ra trường đại học Sư phạm Hà Nội
3 - Nguyễn Bản khi về hưu hưởng hàm lương Tham sự bậc 10c 1952, ngang chủ tịch huyện. Nay sau nhiều quy đổi tiền hưu 2011 của ông là 2 triệu.
4 - Nguyễn Bản kể, cuốn sách này in năm 2011, số Đăng kí xuất bản 293-2010, Nhà sách Phương Đông liên kết Nhà xuất bản Thanh Niên. Nguyễn Bản thấy sách ra lâu rồi mà không có nhuận bút, phải tới gặp giám đốc Mai Thời Chính mới đòi được tiền.
CHUYỆN Ở LÀNG ÉO
            Ghi chép của Hồng Giang

Tay ấy bảo:
- Tôi sang ông lần này là lần thứ bốn rồi, giờ mới gặp..
Mình mời uống nước, hỏi có chuyện gì không?
Tay nói:
- Chuyện vui thôi mà. Hôm này tôi cưới con, thằng cả ấy mà. Nhờ ông sang giúp tí việc.
Vậy là hiểu. Không chụp ảnh cũng là quay phim, toàn những việc quen tay của mình. Nhưng thú thật mình chưa nhớ tay là ai, ở đâu? Những người như này mình gặp hơi bị nhiều. Có khi người nọ nhớ sang người kia. Làm cái anh phó nháy như mình có một thói quen xấu là hay bị nhầm người. Chỉ toàn để ý đến cái “bố cục” bên ngoài, có mấy khi chú ý đến cái nội tâm, cá tính “nhân vật” đâu mà nhớ được lâu?
 “Phàm đã là con người” cái nhớ bên trong mới được lâu. Bên ngoài rất dễ bị nhầm, bị quên. Tất nhiên không phải “phó nháy” nào cũng như vậy, có những ông nhớ rất dai.. Giả dụ như ông X, ông I cờ lếch, mấy ông này trí nhớ đến như ông Ma Núi, đạo diễn điện ảnh lừng danh có trí nhớ nổi tiếng cũng còn phải gọi “bằng anh”. Nói là nói cái chung, cái phần đa, trong đó có mình..
Mình giả bộ lóng ngóng pha trà thật lâu.. Không cái tệ nào bằng cái tệ đối diện với nhau mà lại quên cả tên gọi của người ta! Thật may, mình nhớ ra rồi. Tay này mình gặp ở các đám cưới ít nhất là ba bốn lần. Tên là Thanh hay là Thành gì đấy. Tay ấy khi thì làm “quan lang”, khi làm đại diện nhà trai, có khi đại diện nhà gái, hoặc trưởng ban tổ chức. Đại loại thế. Nhưng nhà ở đâu? Chịu. Mình vẫn chưa kịp lần ra?
Mình làm như quen lắm, nhớ lắm rồi, ( Cái nghề của mình nó thế, đôi khi phải giả vờ, giả tảng sợ người ta mếch lòng. Làm như thân lắm rồi, gần gũi lắm rồi.. Sự giả tạo này xem ra mục đích vốn tốt, chả hại đến ai. Có khi còn có giá trị củng cố tình cảm ).
- À Thành này, đường đi bên đó bây giờ tốt chứ hả? ( Thực ra còn chưa biết là đi đâu?)
- Quá tuyệt vời luôn. Tuy chưa bằng Éo con bên này, nhưng đường bên Éo lớn bây giờ vô tư đi. Khỏi phải nghĩ. Cứ xe máy tênh tênh ông chạy, không phải đi bộ đâu mà lo. Sang khỏi đò đã là đường bê tông rồi. Nhớ đừng để nhỡ chuyện hạnh phúc trăm năm của các cháu..
- Yên Tâm đi, tôi không làm nhỡ ông là được chứ gì?
Hỏi chụp ảnh hay quay phim? Thành bảo:
- Ông buồn cười, chơi hẳn “công nghệ cao”, quay phim luôn. Chụp ảnh bây giờ xã hội hóa rồi, còn là cái gì? Nhưng cũng chụp một tí làm kỷ niệm..
Ái dà. Cái tay người Dao này cũng chịu chơi đấy chứ, lại nói năng chặt chẽ, kỹ càng về công việc vốn dĩ là nghệ thuật, xa lạ đời sống hàng ngày của đồng bào vùng sâu vùng xa như thế này!
 Cũng phải thôi, trong mấy chục dân tộc, bây giờ có lẽ người Mông và người Dao là giữ được bản sắc văn hóa tương đối nhiều nhất. Người Dao vốn chuộng nghệ thuật, màu sắc từ trang phục đến lễ nghi cưới hỏi..
Mình còn nhớ, lâu rồi, ngày còn chụp ảnh bằng công nghệ cũ, tráng phim in ảnh bằng đèn dầu ở các bản người Dao. Chụp mỏi hết cả tay, hết cuộn phim này đến cuộn phim khác, vẫn chưa hết người. Đi hết làng Dao này đến làng Dao khác vẫn chưa kết thúc chuyến đi.. Bấy giờ công nghệ không như bây giờ, khá vất vả. Đời sống người dân bấy giờ còn khó khăn, đồng bào còn mến mộ nghề ảnh đến thế, huống hồ bây giờ?
Của đáng tội, trong lòng vẫn còn chút e ngại, về con đường từ đây sang đấy..
**
Không thiếu gì tên. Nơi gọi An Lạc, nơi Đức Ninh, nơi Hồng Đức.. Có kém văn hoa một tí nữa gọi Ao Dăm, hay Đồng Rôm, chả hay mấy, nhưng vẫn còn dễ gọi, còn hay hay.
Ai lại là Éo lớn, Éo con? Chẳng biết ai đặt tên làng từ đời nào? Éo là éo le, là trắc trở, và là gì gì nữa? Vì sao đến giờ vẫn chưa thay đổi, vẫn địa danh cũ? Mình đứng chờ đò ở bến sông, nghĩ ngợi linh tinh như thế.
Quãng này là phía trên gềnh Éo một chút. Khi xưa hai bên bờ sông lau sậy um tùm, san sát, khó len được bàn chân. Đường chỉ là đường mòn, trèo lên, tụt xuống rất khó đi. Qua sông chỉ có cái mảng ngóc làm bằng mấy cây tre mai, hay bằng cốn nứa. Cũng phải thành thục lắm mới dám bơi mảng ngang qua khúc sông này. Phía dưới một chút nước cuộn ào ào như có hàng trăm con thuồng luồng đang đợi sẵn sàng nuốt chừng cả mảng lẫn người. Đó là nơi có cái ghềnh đá vô vàn hiểm trở. Dòng nước bị xé vụn ra thành các con xoáy khủng khiếp. Mảng và người chẳng may lọt vào chỗ ấy, khó thoát được ra ngoài. Chỉ còn lại hình thù biến dạng, kỳ quái ở phía hạ lưu.
Mãi tới khi khôi phục lại đường thủy, phải mất hàng trăm tấn thuốc nổ, hàng nghìn giờ của máy khoan, máy đào, cái ghềnh ghê gớm ấy mới bị xóa sổ. Tuy vậy vào mùa nước cạn, nó vẫn gợn lên, thuyền trọng tải lớn vẫn khó đi.
Có lẽ vì những lí do đó mà làng người Dao này đặt tên làng mình là Éo? Non nửa bên này sông đi lại còn đỡ. Già nửa bên kia khá vất vả. Đó là mảnh đất hình cái móng ngựa, ôm quanh dãy núi cao, bị chia cắt bởi hai con sông gặp nhau ở quãng này. Mảnh đất có hình hài kì dị ấy, nhiều năm về trước đi lại cực kì khó khăn. Cầu phà không có, ngay đến đường đi xe đạp cũng không có luôn.
Nó như một người tình lành hiền, chất phác, bị bỏ quên bên bờ sông Gâm. Là nơi những kẻ chuột chạy cùng sào, trốn nợ, hảo hán và cả lưu manh, đĩ bợm chọn làm chốn dung thân. Cờ bạc, trộm cắp là cái xảy ra như cơm bữa. Chỉ nghe đến người ta đã không mấy cảm tình. Người làm ăn đàng hoàng, người tử tế ngại đến.
Mà thực ra người dân sở tại lành hiền, có phần rụt rè, nhút nhát, rất quý trọng tình nghĩa. Rất trọng lời hứa, bạn chơi thủy chung như nhất.
Chẳng qua chỗ đất khó, như dòng sông vướng ghềnh, nên rều rác, bọt bèo tụ lại..
Đó là chuyện của ngày xưa, còn giờ mọi cái đã khác.
**
Hình như năm nay, đám cưới thưa hơn năm ngoái. Dân ở đây chẳng hão huyền ba cái chuyện ngày tận thế theo lịch này, lịch nọ như ở nơi khác. Cũng không hẳn do kinh tế thoái trào mà ít làm đám. Có chiến tranh, hỏa hoạn hay thiên tai gì gì đi nữa người ta vẫn phải yêu, vẫn phải lấy nhau, vẫn phải làm đám cưới như thường. Chỉ có điều thuận lợi khá giả thì làm rộng rãi, rôm rả, sang trọng. Khó khăn, tiềm tiệm chút ít đi cũng xong.
Mình nghĩ cái này có lẽ do kinh nghiệm dân gian, theo mười hai con giáp. Sang năm là năm con Tỵ rồi, nên có phần e ngại ở một số người. Hình tượng con rắn đối với nhiều người không hấp dẫn lắm. Lấy vợ lấy chồng năm nay, sinh con tuổi Tỵ, sợ con sau này vất vả..
Có lẽ vì thế mà đám cưới người ta làm ít đi chăng? Chả bù với năm ngoái. Làng nào xã nào cũng đám cưới rộn ràng để năm sau sinh quý tử tuổi con rồng. Khắp thiên hạ đám cưới, “đại hỷ hội” tưng bừng. Đó là theo ý chủ quan chủ mình. “Thực ra tuổi tỵ là Sa trung kim, vàng trong cát, khối người giàu có quyền thế. Người tuổi ấy thường đứng đắn, đàng hoàng”. Đó là sách vở vỉa hè nói như thế. Thực ra tuổi nào chả có người sang hay kẻ hèn? Chẳng có người ăn không hết, người lần không ra? Mấy vị cao tuổi trong làng đang nói chuyện này có vẻ rôm rả.
Ngại phức tạp, mình không tham gia. Mình ra ngoài rạp tranh thủ quay cảnh cái phông và ảnh cô dâu chú dể làm đầu đề của phim.
Đang mùa gió heo may, lại ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới, cái phông cứ như bị rét run bần bật. Tấm ảnh cỡ lớn của dâu dể cứ đưa qua đưa lại. “Quay cảnh này có mà vứt”. Định nhờ mấy cậu choai choai giữ hộ, lại chẳng cậu nào rảnh. Đứa thì bưng mâm, đứa dọn bàn, thuốc nước. Đang lúng túng có tiếng phía sau:
- Này anh nhà báo ơi, đề nghị anh đeo thẻ vào nhớ.
Mình không quay lại, nói với:
- Đám cưới việc gì phải thẻ? Có ai quy định thế đâu? Nhà em “được làm dững cái pháp luật không cấm” mà? Quy định như ngày xưa bỏ lâu rồi!
- Nhầm đấy, bỏ là bỏ thế nào? Yêu cầu đeo vào thì cứ đeo vào!
Ai mà gay go thế nhỉ? Mình quay lại. Hóa ra là tay Mã người làng này, ngày xưa chở đò dọc chạy thuyền máy, quen gọi bằng thuyền Cole. Từ ngày có đường quốc lộ hai xê, tuyến đường thủy ít khách. Mã lên bờ, bán thuyền, từ biệt dòng sông. Anh ta chán nản cờ bạc, thuốc phiện một dạo. Có lần mình gặp trong “đội lao động” làm đường, Mã môi khô, da sạm, chả thấy thần khí, thần hồn đâu..
Hôm nay gặp lại, béo tốt, đỏ da, ăn vận đàng hoàng thế kia chắc bỏ được tệ cũ rồi?  Mã cười:
- Trêu ông tí thế thôi, xong đám sang bên nhà chơi nhá. Cái nhà đang đổ mái chỗ đầu lối rẽ vào ấy.
Mình ừ. Biết là chàng khoe khéo đây. Nhưng cũng mừng cho tay ấy. Người như thế, tuy có vấp váp rồi cũng nên người. Biết làm, biết ăn lại không biết sống hay sao?
Chợt buồn cái hồi nảo hồi nao, chưa xa là mấy đâu. Ngày đấy đi chụp ảnh cứ như làm việc gì vụng trộm, lén lút. Giấy má nọ kia quá là cầu kì.Mà giấy nào cũng chỉ cho phép ngắn hạn. Bị hỏi, bị thu máy là cái không phaỉ ngạc nhiên, hay lấy làm lạ. May mà ngày đấy qua rồi.
Cái đùa vô tình của Mã làm mình thoáng chột dạ. Thói quen, bản năng sinh tồn của một thời chưa mấy là xa..
***
Tay ấy trách sao không sang từ sáng? Mình nói bận tí việc. Đằng nào theo phong tục hai, ba giờ mới đi “ngủ dể” kia mà? Hắn bảo không, vì xa nên hôm nay đi sớm hơn. Hỏi ăn gì chưa? Ngồi vào mâm tí ? Mình cảm ơn. Ăn rồi. Nghỉ tí rồi đi. Nhà đám, bận bao nhiêu việc, bày vẽ ăn uống cho một mình làm gì? Tay cười, vậy tùy ông nha! Mình ngồi xem bên ngoài pha thịt ngựa, thịt trâu. Toàn dân lành nghề cả, làm cỗ đâu có kém ở phố?
Hai giờ bắt đầu đi. Hai quan lang, một dể phụ ra trước. Tiếp đến chú dể một mình một xe. Cuối cùng một cua dơ chở mình, vừa đi vừa quay dọc đường.  Hai lão quan lang đi cùng lần này lù văn lì, ít nói cực kỳ. Ai hỏi gì cũng nhen nhen cười, chỉ được mỗi cái tốt tính chứ xem ra lễ lạt, cách thức không được như những cặp quan lang khác. Chính yếu điểm này, đêm đó mình một phen buộc bụng. Số là ông cả, quan lang tương đương trưởng đoàn không bao quát quân số. Nhà gái sắp ai, mời ai ông ta mặc. mình với cua dơ kia đứng ngoài sân, nhà gái không biết ai nên mặc. Lúc trở về bên “nhà trọ” lại còn thông cảm với mình, lúc ấy mình rất ghét. Cho là lão xỏ mình. Dưng mà nghĩ lại, lão làm “ông cả” áp lực nghi lễ nặng nề. Truyền thống văn hóa từ ngàn năm, lão đang gắng sức làm cho được. Thể hiện cái bản sắc văn hóa sâu xa. Lại còn phải xem í tứ hai ông quan lang bên nhà gái thế nào? Có quên mình cũng không nên trách. Với lại nhà đám, thường tùy nghi mà ngồi vào mâm. Khách khí gì? Lại còn trách?
Làm xong thủ tục, trừ chú dể ngủ lại nhà cô dâu, cả bọn về nhà “ông giữa” tức là nhà trọ đã nói ở trên. Sau hành trình mấy chục cây số, căng mắt, mỏi tay quay với chả dựng, lúc này mình mệt rã người, chỉ muốn  lăn ra ngủ. Nhà gái cách đấy không xa, loa đài vẫn oang oang. Lạ thay, đám cưới mà mở toàn nhạc tiền chiến? Toàn bài “chia li” với “thất vọng”, “Tình sầu” cái quái gì đấy. Toan chạy sang góp í. Nghĩ lại thôi. ờ thì phụ thuộc cái anh cho mướn phông bạt. Nó có đĩa nào mở đĩa ấy. Xem ra thằng cha này văn hóa lùn, hay nhà chủ thất cách thế nào đó, nó phật ý, nó mới mở như vậy.
Đang mơ mơ được lúc, có chó sủa rộ. Người Dao nuôi chứ không ăn thịt chó nên nhà nào thường cũng nhiều chó.
Lại bốn bà “bắc cầu giải yếm” hát đối lúc chiều ngoài ngõ nhà gái. Là mình phỏng đoán thế, chứ sợi dây chăng ngang đường chờ đối đáp hình như là bằng cái bao lưng hay dây vải thêu gì đấy chứ không phải “cầu giải yếm” như mình phóng tác ra.
Hát chán bên nhà gái mấy canh giờ, bây giờ lại theo về “ nhà trọ” của “ông giữa” A..Ố..À ê ..đến hai giờ sáng mới ngừng.  Đúng là cơ hội thuận lợi để ghi âm loại bài hát giao duyên đối đáp cổ. Nhưng không mang máy ghi âm. Điện thoại lại hết pin rồi chẳng biết làm thế nào? Mình vừa mất ngủ, vừa tiếc hùi hụi cơ hội vàng!

Buổi sáng hôm sau nghi thức đơn giản hơn. Chú dể mò sang nhà trọ thăm cả bọn từ sáng sớm, đồ rằng lo mọi người ngủ dậy muộn. Mặt chú tươi hơn hớn. Từ nay biết mùi đời, làm người lớn rồi ai không phấn khởi?
Cả bọn lại lúc túc kéo nhau sang nhà gái. Chợt nhớ mình hỏi anh cua dơ chở mình sao không thấy thằng em chú dể hôm ở nhà nhỉ. Cua ấy bảo : Nó “đi vàng” ở bên Lào. Cái công ty gì đó, tháng trả sáu triệu. Có sòng phẳng không? Cua bảo công ty ấy nghiêm chỉnh không kém gì nhà nước. Cũng giờ giấc, lương tháng đàng hoàng.  Chính Cua cũng vừa bên ấy về xong. Chỉ mỗi cái khổ xa chỗ có dân và ăn cơm nếp nóng hết cả ruột. Thì chỗ nào làm vàng mà chả xa khu dân cư? Nếp hay tẻ ăn mãi rồi cũng quen mà. Cua ấy kể “Thằng em chú rể vừa gửi về cho bố ba mươi triệu. Có thế mới xổng tay thuê nhạc sống, thuê nhà quay phim là ông đấy”. Cái tay này chỉ được cái thật thà. Một quãng đường ngắn từ “Nhà trọ” đến nhà gái mà tiết lộ với mình bao nhiêu là chuyện hay. Tay này làm văn công văn nghệ thì được, làm an ninh nghe chừng không ổn. Bất chợt có tiếng điện thoại. Cua dơ đang chuyện dở với mình, vội cầm máy nghe. Một lúc quay sang bảo mình: “Nhà trai bổ sung người xuống đón dâu, đến đầu làng Đặng rồi!”. Đây là làng Cháy, từ Đặng vào đây đường bê tông có bao nhiêu đâu?
Các lễ đã hoàn chỉnh từ tối hôm trước rồi. Sáng nay chỉ việc uống rượu, đón dâu là về.
Vì ở xa, hai bên thương lượng trước với nhau về nhà trai uống rượu một thể. Nếu không phải làm các động tác theo thủ tục có lẽ về nhà trai còn sớm hơn. Cô dâu vừa rời nhà mình ra ngõ, đã có người trải chiếu, chải tóc thay áo quần một lượt, khăn mặt cầm tay, có người che ô mới lên đường. Dể chính cô dâu chính, dể phụ dâu phụ, bốn người một xe. Các xe tùy tòng chở xoong nồi, ấm chén, phích phung, va li chăn màn.. Của hồi môn, cô dâu chất đầy mấy xe.  Lo được đám cười trầm trồ như thế này quả là không đơn giản!
Nắng tháng mười đường quê trải lụa. Non xanh núi thắm một màu. Đường nhựa, đường bê tông xe cứ vun vút, còi inh ỏi. Nói cười, chả nghe rõ là những gì? Nửa tiếng phổ thông, nửa tiếng trong làng, cứ như đi trẩy hội.Mình cũng thấy vui lây. Ngày nao đường qua Tân Tiến lên đỉnh Mười có mười mấy cái cầu, không nhớ bao nhiêu suối? Có đi nhanh cũng phải từ sáng tới tối, nhà gái mới về đến nhà trai. Bây giờ đã là đường cấp tỉnh, trải nhựa, đi như đi chơi. Có chậm cũng không tới hai giờ đồng hồ
Tới bến đò đã nghe nhạc sống từ nhà trai vọng sang. Hình như ca sĩ không chuyên, hay chỉ chuyên đám cưới đang ca bài gì có câu: “ Hãy tin lấy ngươi..Hãy yêu lấy người, giọt mồ hôi trên đất cằn sỏi đá”. Bài này còn được, hợp với ngày vui.
Đến ngõ, chiếu lại trải. Cô dâu lại sửa lại áo quần, vấn khăn, thát bao lưng.. Người đứng xem chật ních xung quanh. Nhà trên, nhà dưới cỗ bày hai hai dãy, không biết là bao nhiêu người?
Tranh thủ lúc ấy, anh chàng Mã chạy thuyền chiều hôm qua tóm được cô bạn quen bảo mình chụp cho một kiểu. Cô kia đỏ mặt tía tai cố giằng ra. Sau rồi nghe khích, cô tặc lưỡi : “Đã chụp, chụp luôn bốn năm kiểu” Mình bảo sợ gì? Mã nhăn nhở : “Có phim không đấy?” Lại là đùa tếu táo, phim nào bây giờ. Người ta kỹ thuật số từ lâu rồi, ở đấy mà hỏi phim!
Nhạc cung đình không có lời tấu lên. MC dẫn chương trình. Thầy cả trong nhà sắp lễ, lẩm nhẩm ngồi trên nền nhà cúng bái. Thầy đang trình bày, cầu khẩn với vua Bàn Vương che chở, nâng đỡ cho lứa đôi đang chầm chậm bước tới trước bức tranh thờ trình ngài.
Tiếng con dao cuối cùng “keng” một cái, cô dâu tiền đưa, hậu ủng, khăn tay che mặt bước vào nhà..

Tay chủ nhà bấy giờ mới chạy lại bắt tay, cảm ơn mình rối rít. “Ơn iếc gì, cũng là công việc nhà nghề phải làm thôi. Có gì thiếu sót thông cảm cho tôi nhá. Các cháu thành công, đám vui là được rồi!”
Tay ấy bảo:
- Ấy, đừng nói thế. Không có dân làng, bà con giúp, mình có tiền tấn cũng chẳng làm được. Nghe thằng cháu chạy xe chở ông về nói, tôi ân hận quá. Ai lại nhịn đói một đêm thế bao giờ? Cũng tại tôi thiếu sót, quên dặn ông “quan lang” mà ông ấy lại thật thà quá..Thôi lát nữa tôi thân chinh ngồi với ông, ta uống rượu bù?

Giời ạ, bù gì chứ bù rượu có mà.. Mình chẳng dám nói hết câu. Đang là ngày vui, đại hỉ của người ta, nói năng gì cũng phải đắn đo, ý tứ chứ? Hơn nữa cũng chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ, có gì đáng nói đâu?

********