Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

THƠ ĐOÀN THỊ TẢO

XẨM CHỢ



Này chị em ơi!!!
Ra chợ từ buổi sớm mai
Có ba đồng vốn giở vai với giời
Một đồng mua cái nổi trôi
Đồng mua duyên hẩm với người ngày xưa
Ốm đau mua lão là vừa
Hết ba đồng vốn chợ trưa mất rồi

Bôn ba tần tảo ngược xuôi
Thác ghềnh chèo chống một đời bán mua





TỨ TUYỆT TÌNH

I
Người đem buồn nhớ đổ đi
Còn tôi níu lại phòng khi giở giời
Sập sùi mưa  gió bời bời
Nỗi buồn còn đó đem chơi một mình.

II
Một mình ra ngẩn vào ngơ
Lặng nghe tiếng lá gọi mưa bồn chồn
Hạt mưa như lỡ độ đường
Yêu say đắm đó chán chường lại đi

III
Thơ yêu tôi tặng một người
Của thời vụng dại chỉ người ấy thôi
Một người với một mình tôi
Cũng làm nên cả một trời nhớ thương




 NGÔI SAO RƠI

Tôi đi về nơi ngôi sao rơi
Miền hoang vu gió
Một tinh cầu bé nhỏ
Bơ vơ rơi đâu

Tôi đi tìm nơi ngôi sao rơi
Hỏi từng ngọn cỏ
Có thấy một vì sao bé nhỏ
Bây giờ nơi đâu

Có ai tiếc thương một điều vô nghĩa
Giữa hằng hà thiên thể
Ngôi sao buồn bỏ đi nơi đâu
Cho tôi đi tìm
Một tinh cầu khờ dại đến xót đau





NGỌN ĐÈN VÀ ĐÊM ĐEN
        “Thà rằng chả biết cho xong”

Ngọn đèn dầu le lói
Rọi qua song cửa tre
Lập lòe đơn độc

Đêm đen đêm đặc
Nỉ non con dế khóc
Tủi duyên chú ếch kêu một mình

Người đa tình
Buồn sầu vô cớ
Đi không nỡ, ở chẳng trông ai
Thở dài thương
Thương cho ngọn đèn đầu phố   
Mở mắt trông thấy mặt đường lồ lộ
Đêm không đen
nhờ nhờ!....

Triết học

Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về gia đình và lịch sử văn minh (phần II)

Giáo sư Toshiko Nakamura,
Trường Đại Học Hokkai-Gakuen, Nhật Bản
Tqvn2004 chuyển ngữ

2. Tư tưởng Fukuzawa về văn minh

Lịch sử của nền văn minh

Mặc dù Fukuzawa viết rất nhiều bài viết trong cuộc đời mình, nhưng cuốn sách quan trọng nhất trong đó chính là 'Văn minh luận chi khái lược' (An Outline of a Theory of Civilization). Năm 1874, ông quyết định dừng việc dịch sách phương Tây và tập trung nghiên cứu lý thuyết về văn minh. Ông đọc các cuốn sách của học giả phương Tây như Guizot, Buckle và J. S. Mill và viết một vài dàn bài và bản nháp. Ông thảo luận với bạn hữu và sinh viên về chúng trước khi xuất bản cuốn sách năm 1875. Như thế, chúng ta có thể thấy ông đã bỏ nhiều nỗ lực vào cuốn sách này.
Trong cuốn Khái lược này, ông viết về lịch sử của nền văn minh, nói về các bước mà xã hội loài người đã trải qua để phát triển. Ông chia lịch sử ra làm 3 giai đoạn: 'man rợ', 'bán văn minh' và 'văn minh'. Mỗi xã hội đều phải đi theo con đường này cho tới khi họ đạt tới giai đoạn cuối của văn minh. Chắc chắn là ông đã lĩnh hội tư tưởng này từ các cuốn sách phương Tây mà ông đã được đọc.
Những yếu tố nào thúc đẩy tiến trình phát triển văn minh diễn ra? 
Thế Fukuzawa nghĩ những yếu tố nào thúc đẩy tiến trình phát triển văn minh diễn ra? Ông nghĩ rằng có hai yếu tố: Thứ nhất là sự tiến bộ của 'tri thức' (intellectual ability hay 'chi') và 'đạo đức' (virtue hay 'toku') của con người, tới mức mà anh ta có được vật chất đầy đủ trong cuộc sống và cóphẩm cách (dignity) như một con người. Thứ hai là sự tiến bộ trong các 'mối quan hệ xã hội loài người (human social relations hay 'jinnkan-kousai’). Hai yếu tố này phối hợp với nhau thúc đẩy xã hội tiến về trạng thái cuối cùng của văn minh. Tại sao lại như thế được? Ông giải thích như sau:
Trong giai đoạn 'man rợ', con người không có đủ 'tri thức' để hiểu các định luật của thiên nhiên. Và họ không biết cách đối phó với môi trường và kiểm soát nó. Khi họ gặp phải một tai ương tự nhiên hay một điều tốt nào đó, họ có xu hướng cho rằng nguyên nhân phía sau là do Thần (kami) Thiện hoặc Ác tạo ra. Cũng như thế với mối quan hệ xã hội của họ. Trong giai đoạn văn minh này, chắc chắn sẽ xảy ra sự cai trị mang tính đàn áp / đè nén trong xã hội. Nhưng vì con người không đủ 'tri thức' để hiểu lý do và nguồn gốc của sự cai trị mang tính đàn áp đó, do đó họ sẽ sợ hãi sự đàn áp và đè nén, coi chúng giống như những tai ương tự nhiên. Họ không có đủ 'tri thức' để hiểu và phản đối sự đè nén. Mọi thứ được quyết định bởi luật lệ do người cai trị đặt ra. Và người cai trị đặt ra luôn cả các giá trị đạo đức của xã hội. Mọi người buộc phải tuân theo các giá trị đạo đức mang tính ý thức hệ được đặt ra bởi người cai trị.
Nhưng vì con người không đủ 'tri thức' để hiểu lý do và nguồn gốc của sự cai trị mang tính đàn áp đó, do đó họ sẽ sợ hãi sự đàn áp và đè nén, coi chúng giống như những tai ương tự nhiên. Họ không có đủ 'tri thức' để hiểu và phản đối sự đè nén. Mọi thứ được quyết định bởi luật lệ do người cai trị đặt ra. Và người cai trị đặt ra luôn cả các giá trị đạo đức của xã hội. Mọi người buộc phải tuân theo các giá trị đạo đức mang tính ý thức hệ được đặt ra bởi người cai trị. 
Tiến trình văn minh khởi động khi 'tri thức' của con người bắt đầu phát triển trước tiên. Lúc đó, con người sẽ 'nghi ngờ' tất cả mọi thứ xung quanh anh ta. Anh ta muốn biết lý do, hay nguyên nhân, gây ra các tai ương thiên nhiên, và tìm cách tránh chúng. Và như thế anh ta bắt đầu kiểm soát được tự nhiên với 'tri thức' của mình.
Tiếp theo là gì? Anh ta sẽ bắt đầu nghi ngờ và suy nghĩ về tình hình của chính bản thân mình. Anh ta nghi ngờ những lời giảng dạy của ý thức hệ Khổng Giáo, và vào các câu chuyện về lòng trung thành của Samurai - những thứ đã từng định hướng cho anh ta phải hành xử ra sao. Anh ta bắt đầu suy nghĩ bằng trí óc riêng của mình, rằng mình cần phải trở thành con người ra sao. Và như thế, anh ta 'đã dành được tự do suy nghĩ [hay tự do tinh thần], vậy tại sao không tìm cách dành tự do thân thể'? Nói cách khác, anh ta đã kiểm soát được bản thân mình, và trở nên độc lập. Anh ta TỰ quyết định rằng mình muốn trở thành loại người gì, và mình cần phải làm gì, và làm như thế nào. Các giá trị đạo đức giờ đây được quyết định bởi chính cá nhân, từ trong suy nghĩ của anh ta, chứ không phải bởi mệnh lệnh của người cai trị bên ngoài anh ta. Fukuzawa nghĩ rằng nếu con người dành được quyền tự quyết, và có các giá trị đạo đức riêng của mình, thì con người đó được gọi là 'hiểu đức' (virtuous). Fukuzawa gọi hệ thống giá trị đạo đức do con người tự quyết định đó là 'đạo đức tư' (private virtue), bởi nó liên quan tới chính cá nhân con người đó. Ông nghĩ rằng việc phát triển 'đạo đức tư' là điều quan trọng, bởi khi con người độc lập, anh ta không được dựa vào bất cứ ai, ngoài chính bản thân anh ta, đặc biệt trong việc quyết định xem anh ta nên là con người như thế nào.

Con người giờ đây không còn bị ràng buộc bởi các giá trị đạo đức cổ hủ nữa. Anh thể làm những việc, mà nếu xét theo các giá trị đạo đức cũ do kẻ cai trị đặt ra, thì bị coi là sai lầm. Ví dụ như phản đối những sai trái của kẻ cầm quyền, điều mà trước đây bị coi là bất Trung.
Các giá trị đạo đức giờ đây được quyết định bởi chính cá nhân, từ trong suy nghĩ của anh ta, chứ không phải bởi mệnh lệnh của người cai trị bên ngoài anh ta. 
Khi con người đã độc lập và dành quyền tự quyết, thì anh ta bắt đầu nghĩ về mối quan hệ xã hội của mình. Bây giờ anh ta đã có thể dùng 'tri thức' của mình và biết mình muốn trở thành con người thế nào. Do vậy, anh ta suy nghĩ và quyết định bằng lập luận riêng của mình, rằng anh ta phải làm gì, và ứng xử như thế nào với những người khác. Anh biết cái gì là sai và cái gì là đúng khi đối xử với người khác [vì sao anh ta biết chắc cái gì đúng, cái gì sai? Là vì anh bây giờ đã có 'tri thức']. Và như thế, anh ta trở nên 'hiểu đức' (virtuous) trong quan hệ xã hội. Fukuzawa gọi loại đạo đức này là 'đạo đức công' (public virtue). Nếu con người trở nên 'hiền đức' và hành xử theo 'tri thức', thì mối quan hệ xã hội xung quanh anh ta sẽ phát triển. Đó là yếu tố thứ hai của sự phát triển của nền văn minh.
Khi con người ngày càng có 'tri thức' và trở nên đủ năng lực quyết định các giá trị đạo đức của riêng mình - không phải qua ý thức hệ áp đặt bên ngoài, mà từ suy luận bên trong, thì anh ta sẽ càng hành xử 'hiểu đức' với người bên ngoài. Tiến trình này sẽ làm các mối quan hệ xã hội xung quanh con người tiến bộ.
Fukuzawa tưởng tượng rằng các mối quan hệ xã hội của con người có thể được vẽ như những vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn đầu tiên của quan hệ xã hội là gia đình, và nó phải được cải thiện trước hết. Kế tiếp là vòng trong chỉ mối quan hệ trong một quốc gia. Con người trải qua tiến trình này từng bước một, và văn minh phát triển cho tới khi nó đặt tới trạng thái cao nhất của nền văn minh, khi mà ai ai cũng thông thái như Newton và hiểu đức như Khổng Tử. Cả thế giới sẽ sống trong hòa bình và cùng tồn tại như một gia đình. Sẽ không còn có tranh chấp và cướp giật, và con người không còn cần phải khóa cửa và viết ra những văn bản hợp đồng để làm bằng chứng với nhau. Fukuzawa gọi đó là 'thế giới hòa bình của văn minh' (the peaceful world of civilization - 'bunmei-no-taihei’). Nhưng ông biết thế giới đó chỉ có thể thành hiện thực vài ngằn năm nữa trong tương lai.

Khung tư tưởng Khổng Tử về văn minh và xã hội

Như tôi đã đề cập trước đây, Fukuzawa đọc rất nhiều sách phương Tây và học lý thuyết về lịch sử của nền văn minh từ đó. Chúng ta có thể thấy sự ảnh hưởng của các cuốn sách này trong lập luận của ông về tiến trình lịch sử của nền văn minh. Chúng ta cũng biết rằng ông đã nỗ lực rất nhiều để hiện đại hóa Nhật Bản. Và thế là chúng ta có xu hướng cho rằng Fukuzawa cố gắng bắt chước văn minh phương Tây mà bỏ qua các tư tưởng cũ. Nhưng, nếu chúng ta đọc lập luận của ông một cách cẩn thận, chúng ta sẽ thấy ông không chỉ hấp thụ tư tưởng của các học giả phương Tây, mà còn cố gắng điều chỉnh nó theo khung tư tưởng riêng của mình về con người và xã hội. Ông học sách Hán cổ khi ông còn trẻ và đặc biệt thích thú với các cuốn sách cổ về lịch sử. Ông đọc chúng nhiều lần và nắm rất vững chúng. Mặc dù ông tấn công ý thức hệ Khổng Giáo của hệ thống phong kiến Tokugawa trong các bài viết của mình, nhưng đó chỉ là [tấn công vào] chức năng ý thức hệ của Khổng giáo. Khung tư tưởng cơ bản của ông vẫn là Khổng Giáo. Ông hiểu lý thuyết của phương Tây về lịch sử phát triển văn minh thông qua khung tư tưởng Khổng Giáo, và cho rằng chúng tương thích và phù hợp với nhau.
Mục tiêu của Fukuzawa không phải là trở thành 'tốt' và 'đạo đức' theo tư tưởng Khổng Giáo, mà là trở thành một con người 'độc lập và tự trọng' 
Điều này có thể được nhận thấy dễ dàng khi chúng ta quan sát tư tưởng của Fukuzawa về 'con người'. Chúng ta thấy rằng Fukuzawa khẳng định rằng con người phải có tinh thần độc lập và tự quyết để phát triển nền văn minh. Điều này có nghĩa là con người phải phát triển được 'tri thức' và 'đạo đức' của mình và trở thành độc lập. Chúng ta có thể tìm thấy tư tưởng tương tự về con người và xã hội trong các sách vở phương Tây. Tuy nhiên, ông đã luôn gọi con người là 'linh ư vạn vật' (tinh khôn hơn vạn vật - 'banbutsu-no-rei'), vốn là ý tưởng của Khổng Giáo về con người. Trong triết lý Khổng giáo Hiện Đại, con người có bản chất chân thật (tính bản thiện?), và nó sẽ bộc lộ ra khi con người luyện tập để trở thành một người "hiểu đức". Fukuzawa cũng nghĩ rằng con người mang 'trái tim nhân hậu' trong lòng, và nó sẽ chỉ nổi lên bề mặt thông qua con đường duy nhất là nỗ lực phát triển 'trí tuệ' và 'đạo đức' của con người. (Đây là nền tảng tư tưởng của cuốn sách nổi tiếng mang tên "Khuyến học" của ông).
Mục tiêu của Fukuzawa không phải là trở thành 'tốt' và 'đạo đức' theo tư tưởng Khổng Giáo, mà là trở thành một con người 'độc lập và tự trọng' (dokuritsu-jison). Tư tưởng này dường như trùng khít với tư tưởng con người độc lập của phương Tây. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy một đoạn tương tự nằm trong sách vở Khổng Giáo trong thời Tokugawa. Vì thế, có lẽ đó không phải là ý tưởng do Fukuzawa nghĩ ra, mà có lẽ ông thừa hưởng từ những tư tưởng tương tự của các học giả Khổng Giáo thời Tokugawa. Fukuzawa trông đợi những người thuộc tầng lớp samurai trở thành hàng ngũ tiên phong dẫn dắt quá trình văn minh hóa ở Nhật Bản, và ông tin rằng họ có khả năng đảm nhận trọng trách này.

"Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" là nét tương đồng giữa tư tưởng Fukuzawa và Khổng Tử
Fukuzawa cũng viết rằng nếu con người trở nên có 'tri thức' và 'hiểu đức', nghĩa là 'linh ư vạn vật', thì các mối quan hệ xung quanh anh ta sẽ được cải thiện. Ông nghĩ rằng quá trình cải thiện sẽ đi từ vòng tròn bên trong ra vòng tròn bên ngoài bao quanh mỗi cá nhân. Và như thế, từ gia đình tới quốc gia, và cuối cùng là ra toàn thế giới. Ông viết rất nhiều lần rằng chỉ 'sau khi con người trở nên độc lập, gia đình anh ta sẽ trở nên độc lập, và sau đó quốc gia của anh ta sẽ trở nên độc lập, và cả thế giới sẽ trở nên độc lập'. Đoạn văn nổi tiếng này của Fukuzawa tới từ các sách vở Tân Khổng Giáo (Neo-Confucian).
sau khi con người trở nên độc lập, gia đình anh ta sẽ trở nên độc lập, và sau đó quốc gia của anh ta sẽ trở nên độc lập, và cả thế giới sẽ trở nên độc lập 
Chủ đề chính của triết lý Khổng Giáo là làm sao để trở thành người có đạo đức và cai trị đất nước bằng đạo đức. Con đường để thực hiện điều này trong Tân Khổng Giáo như sau: Đầu tiên, con người phải hiểu biết đạo lý (ri) của trời đất (kakubusu-chichi). Sau đó anh ta phải nỗ lực theo đạo lý từ trái tim mình và theo đó mà hành động (seii-seishin). Bằng cách làm như thế, anh ta sẽ tu thân thành công và trở thành con người có đạo đức (shushin). Quá trình chuyển biến con người thành ra có đạo đức là đặc biệt quan trọng trong triết lý Tân Khổng Giáo. Và sau đó anh ta mới tề gia (seika), và trị quốc (chikoku) và cuối cùng là đem đến hòa bình cho cả thế giới (heitenka).
Chúng ta có thể hiểu cách giải thích của Fukuzawa tốt hơn nếu chúng ta sử dụng khung tư tưởng này. Trong hệ tư tưởng Tân Không Giáo, đạo lý của trời đất mà con người cần biết có nghĩa là lý thuyết 'âm dương', lý thuyết cổ điển của Trung Quốc về đạo lý trời đất. Nhưng Fukuzawa đã thay đổi 'đạo lý trời đất' này bằng 'đạo lý khoa học hiện đại'. Ý tưởng của ông về "tri thức" có nghĩa là con người biết suy nghĩ một cách duy lý; và ông khẳng định rằng con người phải duy lý để hiểu biết và chế ngự thiên nhiên. Và rồi trong khái niệm Khổng Giáo, con người phải cố gắng hành động dựa trên lý thuyết 'âm dương'. Fukuzawa thay đổi lý thuyết này thành con người phải cố gắng hành động theo trí óc riêng của mình và trở thành 'hiểu đạo'. Như thế anh ta sẽ độc lập và tự kiểm soát được mình (tu thân) (isshin-dokuritsu). Sau đó, mối quan hệ xã hội của anh ta sẽ phát triển và gia đình cùng tổ quốc của anh ta sẽ lần lượt độc lập (ikka-dokuritsu, ikkoku-dokuritsu). Như thế, ý tưởng của Fukuzawa về lịch sử văn minh có cấu trúc giống như tư tưởng Tân Khổng Giáo về con người và thế giới. Có lẽ Fukuzawa đã đọc và hiểu các cuốn sách phương Tây về lịch sử văn minh qua khung tư tưởng Tân Khổng Giáo để cảm nhận về thế giới, và sau đó hiện đại hóa khung tư tưởng này để bao hàm cả tri thức về khoa học tự nhiên hiện đại.
Fukuzawa lập luận rằng khi lịch sử văn minh phát triển đến mức nào đó, nó sẽ đạt tới mức cảnh giới cao nhất của nền văn minh, nghĩa là 'một thế giới hòa bình và văn minh'. Ý tưởng rằng lịch sử có một điểm tận chắc chắn vay mượn từ sách vở phương Tây. nhưng khi ta đọc giải thích của ông về 'thế giới hòa bình', chúng ta có thể thấy nó giống như mô tả về 'thế giới đại đồng' (daido-no-yo)’ trong các sách vở cổ điển Trung Hoa. Trong tư tưởng Khổng Giáo, thế giới lý tưởng này là điểm bắt đầu của lịch sử. Nhưng Fukuzawa đã đặt nó ở cuối chặng đường lịch sử, theo như quan điểm của phương Tây, nhưng duy trì mô tả 'cổ điển' về thế giới lý tưởng này.
(

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

CÔNG BÁO (trên blog Yahoo plust )

KÍNH CÁO
02:52 29 thg 12 2012Công khai0 Lượt xem0

Thường Dân núi Tản


Thường Dân núi Tản(Cảm ơn em Núi tập hợp những người bạn chung.)
Đến 10g sáng nay, Blog Hồng Giang 180' đã có trên 10.000 người 

vào thăm. HG chân thành cảm ơn nhiệt tình của quý bạn. Vì điều kiện 

eo hẹp về thời gian, kể từ nay  HG sẽ không đăng tiếp bài trang này 

nữa (Yahoo Plust blog ). Đây là một quyết định ngoài ý muốn. HG lấy 

làm tiếc vì việc này, xin được phân ưu cùng quý bạn. Tuy nhiên Hồng 

Giang 180' sẽ tiếp tục duy trì bên blogspot. Bạn chỉ cần theo địa chỉ 

sau: Hồng Giang 180'- blogspot  hoặc anlacminh@gmail.com.

Thân chào quý bạn. Chúc các anh chị dồi dào sức khỏe đón một năm 

mới an khang thịnh vượng, cuộc sống tràn tình thương và hạnh phúc
Kính cáo!

Võ Thị Hảo : Huyền ảo.. và tội ác


Bìa quyển "Ngồi hong váy ướt" của Võ Thị Hảo.
Bìa quyển "Ngồi hong váy ướt" của Võ Thị Hảo.
Dưới tựa đề khá xếch-xy Ngồi hong váy ướt là một tập 17 truyện ngắn, với những bức tranh siêu thực hoang vu, ngập mùi tử khí, viết từ ngòi bút của một người đàn ông đã chết "chấm bút lông vào mạch máu đang chảy ở khuỷu tay mình viết lên những trang giấy trắng", về cái thế giới mà ông ta đã sống. 
Sau hơn ba mươi năm kết thúc chiến tranh, những đề tài về chiến tranh dường như cũng biến mất trên văn đàn chính thống Việt Nam. Chúng đã đầu thai kiếp khác hoặc tìm cách trốn ra nước ngoài. Ngồi hong váy ướt, tập truyện mới nhất của Võ Thị Hảo hội đủ hai yếu tố: đầu thai kiếp khác mà vẫn phải chạy ra nước ngoài, tháng 7 năm 2012, tủ sách Thi Văn Hồng Lĩnh của Bùi Xuân Quang ở Paris, xuất bản. 
Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại Diễn Châu, Nghệ An, nổi tiếng trên văn đàn với các tập truyện ngắn Biển cứu rỗi, 1992, Chuông vọng cuối chiều, 1994, Người sót lại của rừng cười, truyện dàiGiàn thiêu, 2003, vv...
 
Trong tác phẩm mới nhất, Võ Thị Hảo nhìn hội chứng chiến tranh, độc tài và tội ác như tác dụng nhân quả thể hiện qua những truyện ngắn huyền ảo. Cảm giác bị tấn công mãnh liệt bởi những mạnh vụn trái phá và những chân rết ung thư tội ác tàn phá nội tạng người đọc.
 
Người ta đã và sẽ còn bỏ nhiều thời giờ, ngân quỹ để nghiên cứu, viết sách, làm phim, phân tâm những lính Mỹ bị điên sau khi tham dự chiến tranh Việt Nam. Nhưng chưa ai nghĩ đến việc phân tâm lính Việt, người Việt, bởi dân tộc ta thuộc dạng "hơn người", hùng tính hơn người, chịu đựng hơn người, cần gì đến thứ khoa học phô trương, tốn tiền, phù phiếm, vô bổ.
 
Võ Thị Hảo chẳng phân tâm ai cả mà dùng phép phù thủy, cho chiến tranh, độc tài, hủ lậu và tham nhũng vào chung một rọ, xóc cho ngầu, phơi cho bốc hơi, toả khói, biến các chứng liệu hoá thân thành cây cỏ, đất trời, rắn rít, con ong, con nhện, đám mây, ngọn gió... Toàn bộ thiên nhiên trong không gian Võ Thị Hảo, sau nửa thế kỷ chiến tranh và độc tài, trở thành hậu thân của một thế giới, trước kia đã từng có người, đã từng là người. Những giá trị "vĩnh cửu" như tình yêu, tình người, nhân tính... đều đã bốc khói, bay đi, chỉ còn trơ lại đống sắt vỡ vụn của trái phá, sắc nhọn, đâm chém, vô luân và tàn ác.
 
Dưới tựa đề khá xếch-xy Ngồi hong váy ướt là một tập 17 truyện ngắn, với những bức tranh siêu thực hoang vu, ngập mùi tử khí, viết từ ngòi bút của một người đàn ông đã chết "chấm bút lông vào mạch máu đang chảy ở khuỷu tay mình viết lên những trang giấy trắng", về cái thế giới mà ông ta đã sống.
 
Trang đầu tiên là Bùa, một truyện xẩy ra ở Thành Cổ Sơn Tây, là miền đất tổ lâu đời nhất. Sơn Tây, chính là nước Văn Lang, kinh đô Hùng Vương, Trưng Vương, Phùng Hưng và Ngô Quyền. Người ta nghi người chết đã lầm Sơn Tây với Quảng Trị, hoặc Sơn Tây bị biến thành Quảng Trị. Hoặc đoán chừng người Sơn Tây bị lệnh "câm" trở thành người Quảng Trị. Hoặc Sơn Tây sau khi "cháy chợ", bọn yêu quái bỗng "lớn phỗng lên", nhân dân Sơn Tây vỡ nợ, phá sản, trốn vào ma túy hoặc tự tử, biến thành nhân dân Quảng Trị, một thành cổ đang "thiu thiu ngủ" với những "oan hồn nửa thức nửa ngủ trên những đám mây trĩu sương tù đọng. Nước không chẩy và mây không bay". Một quán phở đêm, quy tụ đủ mọi hạng người đến gặm xương đáy nồi, thứ"xương bốc mả". Hàng phở bốc mả là trạm cuối của sông mê. Tại đây, người ta kể những chuyện rùng rợn, trong một thế giới người ma lẫn lộn. Một xã hội ăn xương bốc mả, ăn táo lê Trung Quốc ướp thuốc không thối, có người chết của quý chĩa thẳng lên trời, có con ma thiếu máu, chân quắp vào cột cây số 12, có người bán máu lấy tiền tiếp máu cho ma...
 
Bùa chỉ là khúc dạo đầu để đi vào những mạch sống, mà Mỵ Châu thả bước xuống trần mở vào lịch sử ngàn năm của những mạch sống khốc liệt ấy:
 
Pho tượng đá cụt đầu trong am Mỵ Châu một đêm chợt tỉnh sau bao nhiêu thế kỷ. Chiếc thân đi tìm lại đầu mình. Mỵ Châu nhớ lại những giây phút chót của cuộc đời, nhớ những mảnh lông ngỗng trắng tinh nàng rứt từ chiếc áo Trọng Thuỷ tặng, để dẫn đường cho chồng tìm mình trong cơn nguy biến, nhớ tiếng quân Triệu reo hò, nhớ tiếng vó ngựa Trọng Thuỷ "dựng ngược trên đầu hai cha con", nhớ tiếng thét rách gió của chàng, nhớ nhát kiếm cha già loáng trên gáy, đầu nàng rơi xuống, máu hoà với nước biển mặn chát. Đầu Mỵ Châu lưu lạc không ngừng, không bao giờ lắp lại được với thân. Mỵ Nương đi xuyên nhiều thế kỷ, lầm lũi, không đầu, lần từng trang sử, dừng chân trên am thờ nàng, nay đã trùng tu, nàng đã được xây nhà mới. Người ta dúi vào tay nàng cơ man của đút, lót tiền giả để mua tiền thật, mua sự bất tử. Cái giếng Trọng Thủy trầm mình, nay đã trùng tu thành lỗ huyệt láng xi măng cho tiện vét tiền du khách ném xuống. Thân nàng được phủ những chuỗi hạt nhựa, phủ lụa là gấm vóc "bóng lộn và hăng hắc độc" dệt từ quê hương Trọng Thủy. Mỵ Châu choáng váng, tìm chốn nương thân nhưng vô ích. Nàng không còn chỗ trên quê hương mình. Trong đền An Dương Vương đã trùng tu quê kệch, một đám mặt mũi đẹp đẽ béo tốt đang yến tiệc, "miệng ngo ngoe những cái đầu rắn". Mỵ Nương thấy mạch sống thế kỷ XXI tàn tệ hơn thế kỷ của nàng, trên đất nước Văn Lang.
 
Hội ngộ là những bức tranh siêu thực chồng nhau theo một trật tự hắc ám: Một người đàn bà chồn đu đưa thân thể trong khu rừng độc, "nàng chun mũi nghiêng sang hướng bắc. Hướng bắc đến từ ngọn gió mang mùi của những đám cháy và của xương người. Nàng nghiêng hông về đằng nam. Hướng nam lờ lợ mùi bột ngọt và gươm đao." Một người đàn ông chỉ còn bả vai, không cổ, không tay, "một cánh tay đã chia cho phương nam, một cánh tay đã chia cho phương bắc. Chúng bị đạn tiện đứt lìa, trong hai lần khác nhau, một ở rừng, một ở biển". Một con ong lạc tổ loạng choạng trong đêm... Trên cánh và tấm lưng eo thắt, nồng nặc mùi ong Chúa, mùi ngục tù và tử khí. Con ong lạc đàn quờ quạng đâm sầm vào đầu vú người đàn ông không cổ không tay. Một con ong Chúa đang nằm thoi thóp, bỗng trở mình, nhận ra mùi phản trắc, nó hoàn toàn lai tỉnh, gửi "mật" lệnh "ngòn ngọt từ tử cung" -thứ mật ong Chúa dùng để mê hoặc và cầm tù đồng loại- huy động toàn bộ đàn ong thám tử đi truy lùng, xé xác con ong lạc tổ, bay trật đường rầy...
 
Hội ngộ giữ trọn vẹn sự bí mật của một văn bản thuần túy huyền ảo, là một bản thi họa giao duyên giữa đầu Ngô và mình Sở, tạo ra một thứ phi lý bức tử của một thế giới mà cõi sống phi nhân là phiên bản, là hậu thân của chiến tranh và đàn áp.
 
Người chăn bò thần thánh, là thứ hiện thực huyền ảo trắng trợn, vẽ hẳn một bức tranh khôi hài, hãi hùng: Tổ chức nhân đạo quốc tế gửi tặng đàn bò sữa cho một vùng mà nhà nghiên cứu của tổ chức này đã mục kích tận mắt cảnh cả trăm người cầm dao quắn xông vào tranh nhau xẻo thịt một con trâu chết, loáng cái hết nhẵn. Lễ "khánh thành bò" được tổ chức vô cùng trọng thể, vú bò được thắt nơ, cổ bò được đeo các khẩu hiệu kinh điển: "cần kiệm liêm chính", "cán bộ là đầy tớ của nhân dân", v.v... Mọi việc được phân công rành rẽ, đàn bò trở thành bò tập thể dưới sự quản lý của nông trường.
 
Rủi thay, ông chủ tịch nông trường lại có đứa con cậu trời. Một hôm ông đi họp vắng, nó và lũ bạn thèm rượu thịt bèn lấy dao xẻo phắt miếng vai con bò ngoại, xơi tái. Người cha về la rầy, thằng con Khổng Minh rỉ tai hiến kế... xẻo thịt bò mà vô can. Mỗi miếng thịt xẻo được thay thế bằng một chiếc bong bóng thổi phồng dán vào thân bò. Kết cục đàn bò ngoại trở thành trong suốt như bong bóng, một đàn bò thuần xương, không thịt. Thịt bò mừa mứa, ăn, bán không hết, đem đấm mõm cấp trên. Các nông trường viên chăn bò sợ bị đuổi không dám ho he. Các đoàn kiểm tra đã được nếm mùi bò ngoại đều chứng nhận những cỗ xương bò di động là bò đích thực. Thậm chí cả bọn rận, bọ chét, ve, mòng... cũng thoả mãn, chúng thả cửa no nê xơi tiệc sẵn trên thân bò lở lói, máu tràn vào miệng như lũ không cần vòi hút. Khi đã quán triệt nguồn lợi bò, ông chủ tịch nông trường bèn nhường chức lại cho người khác, xin cất nhắc lên chức to hơn, lần này có thể là nông trường chăn voi ngoại.
 
Bỗng đâu nhà nước nhận được một đơn kiện, bọn đầu đơn không ai xa lạ mà lại là bọn rận, bọ chét, ve, mòng, dĩn... thấy quyền lợi của chúng ngày càng có nguy cơ tận diệt, viết đơn tố cáo như vầy: "Đau xót vì tình trạng thịt rơi máu chảy của đàn bò, của tài sản tập thể bị xâm hại... Đàn bò hiện nay con nào cũng chỉ sót lại một mẩu thịt ở mông, còn tất cả da thịt và gân của chúng đều bị các chủ bò lần lượt xẻo đi và thay thế bằng những quả bóng trong suốt. Xin cấp trên trừng trị để làm gương..." Bọn ve mòng hý hửng đợi phép nước nghiêm minh, nào ngờ kết quả ngược lại: Trên đem toà án di động về "xét xử các tội phạm Ve, Mòng, Rận, Dĩn, bởi tiền sử chúng đen tối, hiện tại chúng mờ ám và tương lai của chúng không cải tạo được". Toà tuyên án tử hình cả bọn, hả hê coi như "đã triệt được nguyên nhân của mọi nguyên nhân". Nào ngờ vẫn chưa hết, một tin sét đánh, ban kiểm tra đoàn bò quốc tế phôn về, đích thân đến tham quan. Thế là hoảng loạn, các phòng, các ban, các chủ bò xôn xao bàn cãi, quy trách nhiệm. Cuối cùng họ nhất trí ra chỉ thị :"Bởi các nông trường viên chăn bò vô trách nhiệm, trình độ khoa học kém cỏi, nên đã để cho đàn bò mất hết thịt, nay phải xẻo thịt mình đền vào". Bọn chăn bò thấp cổ bé miệng không dám kêu ca, đành xẻo thịt mình đắp vào những chỗ trống. Đàn bò có da thịt trở lại. Một thế hệ Người chăn bò thần thánh mới lại xuất hiện, lần này họ không xẻo thịt bò nguyên chất, mà xẻo đàn bò đã được đắp thịt người.
 
Người đọc giật mình, quái đản, không hiểu từ đâu ra lối huyền ảo này ?
 
Truyện Huyền ảo, huyền hoặc hay hoang đường, tiếng Pháp fantastique, tiếng Việt có  nghiã: truyện ma quái, truyện hoang đường, truyện không có thật. Liêu trai chí dị là một loại huyền ảo kinh điển phương Đông, hoàn toàn khác với lối huyền ảo phương Tây hoặc châu Mỹ la tinh. Huyền ảo gắn bó sâu sắc với tôn giáo, triết lý và môi trường sống khác nhau của mỗi dân tộc.
 
Dòng huyền ảo lâu đời nhất có lẽ là huyền ảo Châu Mỹ la tinh, gắn bó với thánh kinh Maya, trong đó, con người được thần ngô nặn lên từ bắp ngô. Ngô đối với người Maya như gạo đối với người Việt. Những truyện cổ tích của người Maya xưa xây dựng trên một vũ trụ mà thiên nhiên là chủ thể. Mây, núi, sông nước, cỏ, cây... điều hoà sự quân bình thế giới và sinh ra con người. Trái ngược với các hình thức cổ tích Đông Tây: con người là chủ thể của muôn loài, thần thánh cũng là người.
 
Từ sự kiện thiên nhiên cây cỏ, muông thú đều có tiếng nói, đều có thể họa nên những hình thái nên thơ và dưỡng nuôi sự sống, người Maya đã tạo nên một khái niệm huyền ảo tự nhiên như ta ăn và thở. Sau này, các tác giả nổi tiếng Châu Mỹ la tinh đều dựa vào nguồn gốc văn hoá Maya của họ để tự tạo cho mình những hình thức huyền ảo cá biệt.
 
Ở Asturias, nhà văn Guatemala, là một thứ huyền ảo thuần khiết Maya, khái niệm "người ngô" (l'homme de maïs) vừa hiền lành, vừa bao quát thực tế: nếu không có ngũ cốc, làm sao con người sống sót, làm sao còn người. Asturias tranh đấu cho quê hương ông, chống lại chế độ thực dân, chống lại các thể chế độc tài, chống lại quyền lực của tư bản Mỹ áp đảo sự sống còn của nông dân trên nền đất Châu Mỹ la tinh.
 
Ở Marquez, nhà văn Colombia, là sự huyền ảo khốc liệt của những người dân da đỏ hận thù những kẻ chinh phục (conquistadors) đã cưỡng hiếp tổ tiên mình để sinh ra mình. Một mối căm thù tổ tiên, căm thù tác giả đẻ ra mình. Những quái thai, những bạo tàn, những tha hoá, loạn luân, những điềm, những mộng, những đầu người mình thú... trong truyện của Marquez, phản ảnh niềm uất ức truyền kiếp, khôn nguôi của những con người là sản phẩm, không phải của tình yêu mà của cuộc hãm hiếp tập thể một giống nòi, một dân tộc.
 
Về huyền ảo, Jean Paul Sartre phân tích: "Mô tả sự kỳ dị phi thường chưa phải là điều kiện cần và đủ để đạt tới huyền ảo. Một biến cố lạ kỳ, xẩy ra trong một xã hội có trật tự, có pháp lý, sẽ bị rơi vào vòng trật tự chung: Nếu bạn cho một con ngựa đột nhiên nói, thì tôi bảo nó bị ma làm trong chốc lát. Nhưng nếu bạn cho nó diễn thuyết dông dài suốt dọc hành trình qua rừng cây im lìm, trên nền đất bất động, tôi chấp nhận cho nó cái quyền nói, nhưng tôi không coi nó là ngựa nữa mà cho nó là người trá hình ngựa. Ngược lại, nếu bạn muốn làm cho tôi tin rằng con ngựa này là huyền ảo, thì bạn phải làm sao cho những hàng cây, đất đai và đồng ruộng cũng là huyền ảo nữa, mà bạn không cần nói ra".
 
Sartre viết tiếp: "Huyền ảo là một thế giới toàn diện mà sự vật biểu hiện một tư tưởng quyến rũ đòi đoạn, vừa bất thường vừa lôi cuốn, gặm nhấm trong cơ thể nhưng không thể diễn tả thành lời".
 
Và ông đưa ra một định nghiã huyền ảo: "Huyền ảo trình bầy hình ảnh lật ngược của sự hội tụ linh hồn và thể xác. Linh hồn chiếm chỗ của thể xác và thể xác chiếm chỗ của linh hồn. Để nhận diện hình ảnh này, chúng ta không thể dùng những ý tưởng sáng tỏ khúc triết, mà phải dùng những ý tưởng rắm rối, "huyền ảo", nói cách khác, chúng ta phải đi vào chỗ mờ ảo, với đầu óc trưởng thành, có văn hoá, với cá tính nhiệm mầu của một kẻ mơ mộng, của con người nguyên thuỷ, con người trẻ thơ." (Sartre, Aminadab, Situations I, Folio essais, trg 115).
 
Lối huyền ảo trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo, phát sinh từ sự tùng xẻo, một "nghệ thuật" hành quyết mang đặc tính đông phương, có trong sử sách Tầu, Việt. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo mang chất nồi da xáo thịt, đặc tính Việt Nam. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo mang tính áp đảo phụ quyền, cha truyền con nối trong gia đình, trong dòng họ, trong xã hội, trong chính quyền, từ Khổng Mạnh truyền qua không trung gian, không đứt đoạn. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo giao thoa độc tài và tham nhũng trong nền kinh tế  tạo nên những quái thai người ăn thịt người kiểu Lỗ Tấn. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo có cái dã man trong xã hội Mạc Ngôn.
 
Những nhà văn phụ nữ miền Bắc như Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, có đặc tính khốc liệt mà những nhà văn nữ trong Nam không có. So cái khốc liệt trong văn chương Võ Thị Hảo thì cái sắc sảo trong văn chương Túy Hồng hiền như bụt. Tại sao? Bởi miền Nam đàn bà chưa phải đi lính, chưa nhìn thấy cái khốc liệt của chiến tranh. Bởi Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo... sinh ra và lớn lên trong một môi trường không nhân nhượng. Dương Thu Hương đã chứng kiến cảnh đấu tố, đã đi đánh nhau. Võ Thị Hảo sinh sau, nhưng đã thu thập vốn liếng bạo lực của những người đã nhận nhưng phải gói ghém, giấu diếm trong lòng: những người mẹ, người chị, xung phong đi lính, đi hộ lý, trở về điên dại trong Rừng cười. Như nam châm, Hảo thu hút những khối u mà người xấu số để lại hôm qua, và hôm nay con em họ vẫn còn tiếp tục cúi đầu nhận độc tố của một gia đình, một xã hội, một thể chế, gọi là mới, nhưng tất cả đều cũ, đều cổ, đều mục nát, như đầu óc, như sự phục tòng của họ.
 
Là nhà văn dấn thân trong chiều dầy của hai chữ dấn thân, là phụ nữ tranh đấu, Võ biết nếu con người không thay đổi suy nghĩ, không biết suy nghĩ, thì đất nước không thể đứng dậy. Điều kiện tiên quyết làm thay đổi xã hội, thay đổi chính trị là người phụ nữ phải thay đổi trước. Sự bất phục tòng của họ sẽ là nền tảng của tất cả mọi thay đổi.
 
Chất huyền ảo trong truyện của Võ Thị Hảo, là sự huyền ảo của những bức tranh siêu thực trong đó con người đã bị cắt chân tay, mỗi tứ chi ném đi một nơi, nam bỏ ra bắc, bắc bỏ vào nam, chúng gọi nhau, đầu tìm cổ, cổ tìm vai, trong một định mệnh điên cuồng của xã hội âm ty trần thế. Cái thác loạn ấy sống lại trong những thông tin hàng ngày, trong những vụ án mạng như cơm bữa, trong những hàng tin xe cán chó: con giết cha, chồng giết vợ, dẫy đầy trên mặt báo. Võ Thị Hảo lượm lặt những tin tức chó cán, viết ra, đặt nó trong cái huyền hoặc hàng ngày của cuộc sống. Ngòi bút của chị lột trần mặt trái bi kịch, tìm đến chiều sâu lịch sử của bi kịch, từ đấy Hảo chỉ đích danh tội ác, chỉ cái thủ phạm nấp đằng sau tội ác, chỉ cái cha đẻ của tội ác để vạch ra sự ngu muội của con người. Mục đích của Võ Thị Hảo là vén màn phát giác sự ngu muội của con người. Con người mụ mị chấp nhận độc tài, con người gật đầu tất cả để được yên thân, con người bị đàn áp tư tưởng, cúi mọp chịu phận. Võ Thị Hảo muốn giải phẫu, móc cái mê, cái sợ, ra khỏi trái tim con người.
 
Một mình một ngựa, vén màn đối lập bằng cách xây dựng thành lũy huyền ảo trên những con người đã bị xé xác, hồn phanh trăm mảnh, để chống lại thành trì kiên cố xây bằng vi khuẩn tham nhũng, lừa đảo, trộm cắp, điêu ngoa của những con ong Chúa mê hoặc đồng loại bằng thứ mật ngọt giết người. Hiện thực huyền ảo của Võ Thị Hảo là cuộc trực chiến giữa hai thành trì. Võ một mình một trận chiến. Một mình một nghiã địa.
 
T. K.

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Chuyện vặt đời ta!

Sổ hưu
Tiền Phong - Mọi người cứ tưởng cái sổ hưu là sáng chế đặc biệt của chính quyền cơ. Ngày xưa sổ gạo, bây giờ sổ hưu hay mang ra dọa nhau. Vậy ngoài giới công chức vài triệu sống bằng sổ hưu, còn chán vạn dân ta không sổ hưu sao vẫn sống. 
 Minh họa: Đỗ Đức
Minh họa: Đỗ Đức.
Với viên chức nhà nước ăn lương thì cái sổ hưu là chỗ bám víu cuối cùng trong việc duy trì cuộc sống. Nghe cũng thương thật, vì để mất sổ hưu thì lấy gì mà ăn? Mang sổ hưu ra dọa mà khối anh sợ. “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”- Truyện Kiều (Nguyễn Du).
Sợ, nên có thằng em tìm việc cho vợ cứ cạy cục tìm nơi có “biên chế” cho chắc ăn!
Thế đấy, biên chế với sổ hưu có lúc đã xích chặt cổ, khóa tiệt mồm người đi làm. Có nghề đấy mà không dám hó hé cãi lại cấp trên khi cấp trên sai, vì trước là cái biên chế và sau là cái sổ hưu! Sếp không ưa là tèo!
Sổ hưu thì có gì ghê gớm đâu! Thực ra sổ hưu là cái của để dành ăn dần khi về già. Hiểu thế mới thấy có rất nhiều loại sổ hưu.
Chị tôi có cái sổ hưu tự chế rất hay. Chị là người buôn bán, xưa nay làm ra được tí nào chị đều biến sang vàng cất đi. Sáu đứa con, chồng công chức. Nhưng sổ hưu của chồng sao đọ với cái “sổ hưu” của chị là trữ vàng. Các việc hiếu hỉ chỉ nhìn vào sổ hưu vàng của chị. Còn sổ hưu của anh thì chỉ đủ sống thường nhật cho chính anh.
Nhắc đến sổ hưu công chức, chị cười he he, có mà chả bằng cái mép túi chị! Nào ngờ một người chạy chợ như chị tôi mà coi thường cái sổ hưu của anh công chức thế!
Còn một loại sổ hưu nữa là mua nhà mặt tiền cho thuê, cứ nằm đó hàng tháng thu ngân, chả thiếu xu nào, ăn chơi rểnh rảng!
Sổ hưu của người nông thôn là con cái. Nuôi chúng trưởng thành nên người, khi về già thì con cái là chỗ dựa còn chắc hơn là sổ hưu nhà nước cấp. Tôi đang là sổ hưu cho mẹ tôi ở quê đây này!
Thì ra sổ hưu của dân ta có từ đời nảo đời nào chứ đâu phải đến khi có nhà nước và bộ máy công chức mới có sổ hưu!
Các cụ ta xưa vẫn bảo: “Con cái là của để dành”, hoặc “Mỗi con mỗi của ai từ”. Sổ hưu của người xưa đấy, mỗi con là một cái sổ hưu chứ chẳng phải chỉ có một cái như nhà nước cấp. Nên khi xưa, con cháu được coi là “của” chứ không phải chỉ “kim ngân” mới là của đâu nhá.
Hiểu sổ hưu đúng mức thì bớt sợ chuyện ai mang sổ hưu ra dọa!
Đỗ Đức

NGƯỜI CŨ NĂM XƯA..



Truyện ngắn của Hồng Giang

Tôi đang tìm cách theo người ta hướng dẫn, hãm cho cây đào nở chậm hoa lại ít ngày. Năm nay nhuận, tết về muộn hơn mọi năm. Còn hơn một tháng nữa mà nụ đào đã có bông he hé. Kiểu này tết đến, hoa đã nở xong.
Lại mưa phùn lay phay suốt tuần nay, gió bấc lạnh tê tê người.. Thời tiết đã lâu mới có lại nét quen xưa cũ, nhiều năm rồi mới thấy.
Bỗng chợt con “Bon” xủa nhắng lên. Con chó này nhỏ, lúc bé nó hay làm trò đến buồn cười. Nó cuộn mình tròn lại y như quả bóng, đầu ghé vào giữa háng hai chân sau, lăn từ từ trên ta luy xuống, rồi lại trèo lên, lại bon xuống. Bọn trẻ thích chí reo hò, nó thấy thế có vẻ thích, cứ lặp đi lặp lại đến khi thở dốc mới thôi. Bọn trẻ gọi nó là con “Bon”, thế là thành tên.
Bây giờ tôi quát thế nào nó cũng không chịu nghe. Chắc có sự lạ, tôi buông mớ lạt hãm cây, quay ra.
Tôi không tin ở mắt mình. Trước mặt tôi là một người vừa mới tới. Ông ta đang xoay về phía con chó nên chưa nhìn rõ mặt. Người này mặc bộ dạ tá, hàng cúc bằng đồng sáng chóe, ve áo còn in dấu quân hàm quân hiệu mờ mờ. Chân đi giày Kốt sơ gin, loại dùng cho sĩ quan, cảnh sát trước đây. Loại này giờ người ta ít đi, trên thị trường cũng không có bán. Đôi giày còn mới, giây cũng mới, buộc khá cẩn thận, chắc hẳn được cất rất kỹ lưỡng, mới được đem ra dùng.
Tưởng ai, hoá ra lão Nên. Vẫn cái mặt đỏ gay như gà chọi, cần cổ cao, hai búi thịt bạnh ra ở hai bên như hổ mang bành. Vẫn giọng nói khan khan, âm cao xứ Nghệ, không quen rất khó nghe. Tóc tai gọn gàng, chải rẽ ngôi hẳn hoi chứ không bờm xờm, bù xù như mọi bữa. Mà sao răng lão lúc này trắng và đều thế nhỉ? Tôi nhớ hàm răng lão năm ngoái. Lúc đó cùng ngồi mâm với nhau, đã chín sáu ba không rồi kia mà? Vội chào:
- Ô bác! Sao hôm nay rồng lại đến nhà tôm thế này? Tưởng bác quên rồi chứ?
Lão cười. Cái cười không mim mím như mọi khi, cười hở hết cả lợi, phô hàm răng đến món thanh niên có hàm răng đẹp cũng phải ghen tỵ:
- Chú mày thật! Anh em kết ngãi với nhau, sao lại là rồng đến nhà tôm? Chẳng qua công việc bận bù đầu, anh em không mấy lúc thảnh thơi đến chơi nhà nhau, chứ anh với chú làm sao quên nhau được?
Tôi vội xoa dịu:
- Em nói vui thế thôi. Nhưng hôm nay trông bác lạ quá. Cứ như trai tơ ấy!
- Chuyện. Mỗi lúc nó phải mỗi khác. Chú không nghe câu “Y sức xứng kỳ đức” hay sao? Lúc nghèo nàn khó khăn, ăn mặc sao cũng được. Nhưng khi khá giả rồi hà tiện, bủn xỉn là không nên. Chả gì anh hồi này cũng đỡ hơn một tý. Ăn mặc nó cũng phải lịch sự một chút chứ?
- Đúng là bác nom mới toàn phần..
Lão chưa hiểu ý tôi, khoe luôn:
- Thằng con dể nó vừa đưa anh đi “nâng cấp” hàm răng đấy. Hết hai mươi lăm chai đấy chú mày ạ!
Lão vẫn còn giữ thói quen nói “lái” như ngày nào. Hai lăm triệu thì nói luôn hai lăm triệu, chai với lọ làm gì? Tôi nghĩ, nhưng không nói. Thói quen, nhất là thói quen cửa miệng, đâu muốn sửa là sửa được? Vả lại nó cũng không hại gì, thôi kệ. Nhưng chả nhẽ hôm nay lão lên chơi chỉ để khoe bộ dạ tá, hàm răng và đôi giày?
Tôi không cần thắc mắc lâu, lão nhíu đôi lông mày rậm, vào chuyện:
- Hôm nay anh lên, có việc nói với chú đây..
Tôi hoảng hồn, mỗi lần thấy lão vào đề kiểu này, lại một phen chột dạ. Lần nào cũng ái oăm, thậm chí còn nguy hiểm nữa..
**
Nếu không có ông giáo ở gần nhà, thực tình tôi không biết lão là ai?
Tôi ở mãi xứ Đoài, cái tỉnh có tên như chuyện cây tre trăm đốt, nay tách ra mai nhập vào cứ liên xoành xoạch. Chúng tôi gọi vui với nhau bây giờ là tỉnh “Hà Nhì”, không còn là Hà Tây hay Hà Sơn Bình nữa!
Lão ở nơi có câu ca : “Ai biết nước sống Lam là trong hay là đục..”. Nghĩa là xa cách ngàn trùng, chả có dây mơ rễ má nào. Một lời của ông giáo, chúng tôi trở thành chỗ thân tình, suýt nữa tôi còn là “con dê” của lão, nếu con gái lão không chê tôi sức vóc học trò, trói gà không chặt. Mà nhà lão là nhà làm ăn, toàn những việc người ta ngại vất vả không muốn dính tay vào. Nói rời non lấp biển thì là nói ngoa, nhưng đốt đất, hun trời là việc có thật..
Hôm giới thiệu ông giáo không nói thẳng ra, chỉ bảo: “ Chỗ nầy rất đặc biệt, cậu tới rồi sẽ biết. Có khi còn được một công đôi ba việc cũng nên”.
Cái đặc biệt thứ nhất là nơi lão Nên cư ngụ. Chỗ ấy một bên vách đá thẳng đứng, một bên là dòng sông sâu, trên bờ được ngăn cách nhau bởi một con ngòi. Phải qua một cái dốc cao gọi là dốc Bò đái chênh vênh. Chả cứ bò, bất cứ con vật nào bắt buộc phải qua đây cũng đều kinh hãi, hoảng sợ. Chỗ này mấy trăm năm trước có một xóm người Dao, bị dịch bệnh thế nào đó bỏ đi, từ đó đến nay hầu như thiếu dấu chân người. Năm bốn bảy Tây ghé tàu gần chỗ này, nửa đêm tự nhiên tàu bốc lửa phải bỏ chạy ra giữa sông rồi chìm, kêu la inh ỏi. Người ta đồn chỗ ấy có “ma chài”, không ai dám ở. Thỉnh thoảng vẫn đào được những chiếc bình gốm đựng tro hài cốt rải rác quanh vùng.  Lão là người đầu tiên đến lập cư, bỏ ngoài tai mọi đồn đại. Đất chỗ ấy tốt cực kỳ, cây nào cũng hợp, xanh miên xanh man.
Ngày chưa có đường nhựa QLC2 như bây giờ. Cứ phải vạch lau lách mà đi.
Đặc biệt thứ hai là nhà lão có hai cô con gái, như Thúy Vân, Thúy kiều. Nói theo kiểu thi ca gọi là “trên cả tuyệt vời”. Làm ăn tháo vát, giỏi giang hơn người, lại xinh xắn không thể chê vào đâu được.
Đặc biệt thứ ba nữa là cách làm ăn của gia đình lão không giống ai. Vùng tôi chưa từng có. Nào đốt gạch, nung vôi, trồng mía, nấu rượu.. đều có bí quyết riêng, người ngoài cố mấy cũng không thể tìm hiểu hay học mót được.
Còn mấy thứ vặt vặt khác cũng vào loại đặc biệt, lão bảo không đáng kể.. Vì thế, đến là tôi mê ngay.
Số tôi vất vả, chả nên cơm cháo gì. Cô gái lớn tên Yêu nghe tôi ngỏ lời, lặng lẽ không nói gì. Tôi cứ ngỡ cô như người ta “im lặng là đồng ý”, thực ra không phải. Hồi lâu cô bảo: “Anh đi theo em”. Tôi bối rối theo cô, không biết chuyện gì? Cô đưa tôi đến chân vách núi dựng đứng. Ở đó có khối đá tròn và nhẵn. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu vì sao nó có hình thù như thế? Lúc đó tôi tự nhủ có lẽ cô đưa mình vào đây tâm sự. Không thể có chỗ nào thích hợp hơn nếu trai gái muốn nói những điều thầm kín, hệ trọng với nhau hơn chỗ này! Cô chỉ phiến đá:
- Anh nói em nghe rất thông cảm. Bản thân em cũng không kén chọn gì nhiều. Nhưng có điều anh phải giúp em một việc..
- Việc gì em cứ nói? – Tỏ ngỏ ý sẵn sàng!
- Ba mẹ em đã bàn về chuyện hôn phối, nếu ai mang được hòn đá này về để kê cầu nước, sẽ gả em cho người đó!
Tưởng gì? Tôi hăm hở bước lên, chả thèm vận khí công, lên xuống tấn làm gì cho mất thì giờ, cúi xuống định bê luôn! Hòn đá nặng hơn tôi tưởng tượng. Nó phải nặng đến ngót một tạ. Thử lại lần nữa cũng không kết quả. Lần cuối cùng tôi vận hết công lực tập tẹ bấy lâu nay.. Kết quả hòn đá vẫn không rời mặt đất.
Đến lúc ấy cô mới bảo tôi lui ra. Cô nhấc hòn đá đưa lên vai, mặt chỉ hơi đỏ do dồn sức, bình tĩnh đi về nhà.
Tôi xấu hổ không biết để đâu cho hết. Cuối năm ấy cô lấy chồng, một anh làm “thợ đấu” ở xã khác.
Lão Nên có vẻ áy náy. Lão bảo tôi:
- Đừng vội thối chí! Con chị nó đi con dì nó lớn.. Không sao đâu mà!

Lần nữa, tôi hy vọng. Làm trai “nam nhi sống ở đời” hễ khó là bỏ, thì hỏng!
Cô em tên là Mến, yểu điệu hơn cô chị. Mông tròn, ngực nở, tóc dày và đen rưng rức, môi mọng màu quả nhót, nhưng tính rụt rè, ít nói. Thực ra là kiêu ngầm. Tôi theo cô hàng tháng trời lên nương sau nhà làm cỏ, hái chè. Xuống bến sông vác mía lên thuyền, đánh đường ra bến để bố cô chuẩn bị cho việc mua thuyền Kole. Việc nào ra việc ấy, riêng tôi chả được việc gì. Hễ tôi mở miệng đến chuyện ngỏ lời là y như rằng má cô đỏ bừng, kiếm cớ chạy vội đi chỗ khác.
Cô học lái thuyền rất nhanh. Chỉ mấy buổi thuê người dạy, cô về tỉnh lấy ngay được bằng. Tôi đi theo học lỏm, định bụng hôm nào ra tay thử xem tay nghề thế nào.
Tối hôm ấy trăng sáng có thể xâu kim được. Chỉ có tôi và em trên thuyền. Chắc mẩm phen này có không muốn hay e thẹn, em cũng không chạy đi đâu được. Bờ sông nước vừa rút, lầy lội thế kia, em chả dại gì mà chạy lên chỗ bùn ngập quá gối.
Nhưng tôi lại nhầm! Em không đợi tôi mào đầu, xuất chiêu ngay:
- Ba mẹ em bảo nếu anh cầm lái được con thuyền này, sẽ cho chúng mình gá nghĩa trăm năm!
Một lần nữa tôi lại không hiểu mình. Cứ ngỡ học mót được ngón nghề rồi, chủ quan cho là chuyện ấy đâu có khó?
Ngay cả học theo chính quy, không qua thực hành đã khó rồi. Nói chi đến chuyện học lỏm, lõm bõm không đầu không cuối? Sai lầm chết người ấy làm hại tôi!
Thuyền mở máy, xuôi dòng ngon trớn. Lúc ấy tôi nhủ thầm thì ra lái thuyền đâu có gì ghê gớm cơ chứ? Chỉ cần cầm càng máy cho chắc. Muốn thuyền sang bên phải, đánh bánh lái sang bên trái và ngược lại. Tôi hỉ hả nhìn em. Lúc này nét mặt em có vẻ như đang lưỡng lự, lo lắng lắm. Như người vừa bị lỡ hứa mà trong bụng chưa thực lòng muốn giữ lời! Người ta đâu có thể nói chơi chuyện này?
Nhưng tôi mừng vội, quá sớm. Lúc quay lên, thuyền phải qua một cái gềnh, hai bên là những tảng đá đầu ông sư nhô lấp lim mặt sóng. Chỗ này hẹp, nên nước chảy rất xiết. Muốn vượt qua nó phải khéo léo lấy đà từ xa, rê chân vịt thật chính xác. Nếu không chân vịt quạt vào một tảng đá nào đấy là lật thuyền!
Tôi một phần chủ quan, một phần chưa có kinh nghiệm, mắc ngay cái lỗi này. Lúc đó chỉ kịp nghe loảng xoảng phía đuôi thuyền, có ánh lửa lóe sáng và mùi đá khét lẹt. Tôi cuống không biết xử lý ra sao, không kịp nhận biết xảy ra chuyện gì, ùm ào một tiếng, thuyền đã lật. Nó trôi về hạ lưu một quãng mới chìm hẳn. Hai đứa tôi mỗi đứa dạt một bên bờ, may nhờ biết bơi, không bị sao.
Ông Nên thuê người trục con thuyền lên, cho sửa lại. Tôi lo phát ốm khi nghĩ đến tiền bồi thường.
Thật may chuyện đó không xảy ra. Khi đó tôi tay trắng, mình trần, nếu ông bắt thường lấy gì mà trả?
Nhưng cái may đó cũng chả có ý nghĩa gì ngoài ý nghĩa vĩnh viễn không đạt được giấc mơ làm con dể ông! Sau chuyện đó, phần xấu hổ về sự lóng ngóng chủ quan của mình, phần e ngại thiệt hại đến ông mình chưa có cách đền trả, tôi lánh luôn không đến nữa.
Không ngờ năm năm sau, một buổi sáng như hôm nay ông đến nhà. Ống quần chân thấp chân cao, nét mặt bơ phờ, ông bảo ông vừa mới lên xã tôi mở lò gạch. Ủy ban và địa phương đã cấp đất và đồng ý cho ông làm. Hồi bấy giờ đường cấp phối mới mở, nhưng đi lại còn khó khăn. Nhu cầu xây dựng trường học, bệnh xá, trụ sở xã đang cần gạch. Không những người ta không gây trở ngại gì mà còn có phần tạo điều kiện giúp. Một tương lai sáng lạn đang mở ra trước mắt ông. Mẹ tôi mời ông ở lại dùng cơm. Cao hứng thế nào Người nhận ông làm con kết nghĩa! Tôi còn đang lúng túng về sự tế nhị này thì ông bảo:
- Mấy đứa con gái anh chúng thành gia thất cả rồi. Có muốn kết thân gia như dự tính trước đây cũng không được. Thôi không làm bố con thì thành anh em, chú chả việc gì phải nghĩ ngợi lăn tăn.. Với lại anh cũng chỉ hơn chú con giáp, anh em kết nghĩa phải hơn là cứ “chú chú cháu cháu”!
Tôi chả biết nói sao, chỉ biết ngượng ngịu cười. Mẹ tôi thì mừng lắm. Có được người anh lớn như lão dẫn dắt cho thằng con lông bông của bà, hỏi còn có gì tốt hơn?
Nhưng mẹ tôi mừng hơi sớm. Chỉ một tuần sau lão Nên lại đến. Lão bàn với mẹ tôi góp cổ phần cho tôi có chân “công ty vật liệu xây dựng” của lão. Mẹ chả nghĩ ngợi nhiều, bảo: “ Ừ thì anh em làm ăn với nhau, mình cũng phải có góp ít nhiều. “Đi câu sắm giỏ, làm mõ sắm dùi.. Con ạ. Của người ta hàng đống hàng vác, mình góp đôi chục triệu bõ bèn gì?”
Lão nói phen này quyết làm ăn lớn, phải phá bằng được vòng vây đói nghèo. Lúc đấy tôi chẳng nghĩ gì và có phần tin tưởng. Lão giao cho tôi trông coi công việc, lão về quê đón người, vì nhân công chỗ tôi khó mướn. Hơn chục ngày sau lão mới về, mang theo gần hai chục con người cả nam lẫn nữ. Sự kiện này như một điềm xấu báo trước công việc làm ăn đổ bể sau này. Trời bắt đầu đến thời kỳ mưa dầm kéo dài. Hàng chục con người ăn xong lại nằm. Hết đánh bài, lại đánh tầm quất lẫn cho nhau mà mưa vẫn chưa dứt. Thợ làm thổ mộc ăn như thuồng luồng kéo nước. Nồi bảy bưng vào, nồi ba bưng ra đều sạch bóng. Gạo bao to bao nhỏ vẫn không đủ. Trong đám thợ nữ có một cô dong dỏng cao, mắt hơi hiếng một bên. Cô này không đẹp, được cái giọng trong veo. Nghe cô nói cứ như hát hay, lời như chạy vào gan vào ruột. Tôi không ngờ người bề ngoài cũ cũ như lão nên lại đa tình.
 ( Sau này mới biết thêm, lão từng bơi qua sông Gâm mùa lũ mang lòng lợn tiết canh nóng sốt đem cho người tình ở bờ sông đối diện. Phàm những anh có tài năng đặc biệt hoặc sức khỏe xuất chúng thường trội hoóc môn sinh sản. )
Mặc đám thợ đánh bài, chơi cờ với nhau, cô ả với lão nên sáng nào cũng lên rừng lấy măng. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ lão thân làm tội đời. Mang tiếng là ông chủ, tội gì phải lên rừng hái măng như thế?
Đợt mưa dứt, lò gạch chúng tôi đi vào “Đại sản xuất”. Máy chạy ba ca, ngày đêm không nghỉ. Gạch cáng từng dãy dài. Ai đi qua cũng cũng trầm trồ “Lò gạch lão Nên phen này trúng quả”. Lão mặt lại thêm hồng hào, cười nói hào sảng suốt ngày, không cau có văng tục như mọi khi. Thuê người xây bầu lò, đổ than chất cao như quả đồi, chuẩn bị vào lò mẻ gạch đầu tiên.
Không ai ngờ sang tháng chín âm rồi còn có đợt lũ muộn. Mấy trăm vạn gạch và quả đồi than cùng đám phên nứa lềnh bềnh trôi cả xuống sông! Bao nhiêu tiền khách đặt cọc cũng theo đó tan biến. Nguy cơ vỡ nợ là rất lớn. Đám thợ gạch cũng rủ nhau bỏ đi hết. Chỉ còn lại mỗi cô hiếng mắt còn ở lại. Cô gắn bó thật tình với cơ sở gạch của chúng tôi hay vì đã phải lòng ông chủ, chưa ai biết. Đến khi bà vợ lão ở dưới nhà  lên đánh ghen mọi người mới vỡ lẽ.
Lão Nên mang cô ả về gửi dưới nhà quen bán hàng cơm ở thị xã. Lâu lâu lão mới đạp xe  xuống thăm cô.
Lão hốc hác đi trông thấy. Mặt tái nhợt, không còn đỏ đắn như trước, nhưng vẫn nói cứng: “Thua keo này bày keo khác!” Chưa biết lão bày bằng cách nào? Cô hiếng lại nhắn lên liên tục. Hình như cô có bầu và đang thiếu rất nhiều thứ. Lão Nên như đứng trên đống lửa, ngồi trên đống than, hay làu bàu câu gì đó rất tục. Nhưng trước mắt người khác vẫn làm ra vẻ thản nhiên, không có chuyện gì!
Lão hỏi vay  nốt con trâu cái đang có chửa của mẹ tôi. Lúc đầu bà không đồng ý, sau nghĩ lại. Đằng nào thì “Đâm lao phải theo lao. Với lại phúc ai phận nấy, không ai có thể lấy không của ai, hoặc mất phận của mình”, mẹ nói như thế. Tôi không dám nói sao vì thấy mẹ có lý. Lão lập tức đem số tiền này mua một xe than về đốt số gạch mộc còn sót lại, vừa vặn được một lò.
Tôi lúc này đã xoay ra nghề khác, coi như số vốn hùn hạp ban đầu không tính đến nữa. Có đi qua lò gạch của lão cũng không muốn vào. Phần lão không uống trà, không thuốc lào thuốc lá, ngồi uống nước lã, nói chuyện suông chả thú vị gì. Phần không muốn nhớ đến chuyện cũ. Của đau con xót, gom góp mấy năm trời, nay bị hà bá cướp mất, ai còn muốn nhớ đến làm gì?
Bỗng một hôm, mới tang tảng sáng lão đã đến gọi cửa. Lại chuyện gì nữa đây? Lão nợ mình chứ mình đâu có nợ gì lão mà sao cứ thấy thắc thỏm lo lắng trong lòng! Lão đến kỳ này không phải vay tiền, vay gạo thậm thụt với bà mẹ tính hay thương người của tôi những lúc tôi đi làm vắng. Lão đến nhờ tôi một việc:
- Anh đang bận trông lò, không thể giao cho ai được. Nếu chú không giúp anh việc này, anh e rằng anh buồn mà chết mất!
Việc gì mà ghê gớm vậy? Thì ra cô hiếng ở dưới tỉnh nhắn lên. Hàng cơm phát hiện cô có bầu, không muốn thuê nữa. Lão mà không xuống đón, cô chẳng biết đi đâu. “chỉ còn cách nhảy xuống sông Gâm chứ đâu còn đường nào?” Đấy là cô nói thế. “Nó mà làm vậy anh ân hận suốt đời. Không chỉ ân hận suông, có khi còn phải ngồi tù chứ chẳng chơi”, lão bảo thế. Tôi không sợ sự việc diễn ra theo lời lão nói. Người ta sống chết có số. Có phải ai muốn từ bỏ cuộc sống cũng có gan làm cả đâu? Vì thế có nhiều cô cứ chờ lúc bến sông đông người mới làm ra vẻ chuẩn bị nhảy xuống. Thường khi đã nói ra miệng, rất ít thực hiện được. Nhưng tôi sợ lão bỏ lò gạch đấy, liều đi đón cô hiếng, hỏng cái lò gạch. Tuy không phải người trong nghề, nhưng tôi biết. Lửa mới lên bén gi lò mà bỏ không đút củi nuôi lửa, lò sẽ tắt. Muốn nhóm lại rất khó. Số vốn cuối cùng này mất cũng có nghĩa con trâu của mẹ tôi cũng đi đứt luôn!
Bụng không muốn mà chân đi vẫn phải đi. Tôi đạp xe về thị xã. Đường cấp phối, đi một mình có khó vẫn đi được, nhưng đèo hai người đành chịu. Lúc lên chúng tôi phải đi thuyền Kole.
Đàn bà chửa hình như thích gần đàn ông. Cô Hiếng làm tôi xấu hổ không biết để đâu cho hết. Cô cứ sán vào như thể đang rét quá, người xung quanh cứ nhìn tôi chằm chằm. Bực mình tôi đứng vụt dậy đi ra phía sau mũi thuyền. Đúng lúc con thuyền nghiêng qua một trớn nước. Trong lúc đầu óc bấn bí như thế, tôi không để ý, ngã nhào xuống sông. Chỉ nghe tiếng chân vịt quạt ào ào ngay trên đầu, tiếng người kêu la inh ỏi. Tôi thoát nạn trong gang tấc! Bơi một lúc mới lên được thuyền. Đây là lần thứ hai tôi bị nạn sông nước. Lần trước là chạy thuyền với cô Mến và lần này với cô bồ của lão. Sao cái thân tôi cứ vướng mắc nạn sông nước mãi thế nhỉ?
Về gần tới nơi, tôi mừng như người đi xa sắp về đến nhà. Lại nhầm. Từ xa đã nghe tiếng nổ như pháo ran. Lúc đó không biết đang xảy ra chuyện gì? Nhìn về phía lò gạch đang khói đen một vùng trời. Người trên thuyền nhao nhao “ Nổ ở chỗ lò gạch lão Nên”! Tôi giật mình. Quên cả mang chiếc xe đạp lên bờ. Tôi chạy vội đến chỗ lão. Không biết cô hiếng làm cách nào với những túi, những bao lủng lẳng của cô?
Cảnh tượng trước mắt không thể tin được. Tường lò há ra như miệng một con quái vật, lửa phụt ra xanh lè. Liên tục những tiếng nổ như đạn pháo thăng thiên. Lão Nên mặt cắt không còn tí máu, nhưng vẫn cố tỏ ra bình tĩnh, gan lắm. Lão hô người vác cây chống lò, nhưng không ai dám đến gần. Một mình lão chống chỗ nọ đổ chỗ kia. Từng tảng như nửa chiếc chiếu cháy đỏ lựng như thế đổ xuống từ trên cao. Ngoài lão ra ai dám lăn xả vào nơi như thế?
Sau này mới biết, gạch nổ là do chỗ đất nhiễm phèn, độ PH cao, lại chưa khô hẳn bên trong. Đây là sai lầm chết người do tính chủ quan, vội vã, bốc đồng của lão. Cuối cùng bất khả kháng, lão ngồi ôm gối, đôi mắt như người mất hồn, không nói câu nào.

Ngày hôm sau không ai thấy bóng dáng lão Nên đâu nữa. Chỉ còn đống gạch vụn, nửa sống nửa chín, cao như quả đồi. Lão mất tích một thời gian..
Mẹ tôi lại an ủi tôi theo lối các bà già ở quê an ủi con cái mình: “ Thôi của đi thay người, đừng tiếc con ạ. Trời cho khá sẽ lại có ngày làm nên”!

Không ai biết lão mang thêm hai thằng con trai đi đâu, làm gì chừng hơn một năm thì về. Lão khoe nhà lão có mả cứu bần. Mấy bố con mót lại xỉ ở bãi vàng, vớ ngay được cái ục. Như thể có người đem của giấu ở đấy. Từng hạt vàng to như hạt ngô vàng xòng xõng, đều như qua cùng một mắt sàng! Nếu lão không mang tiền lên nhà trả không thiếu một đồng, có lẽ tôi không tin. Lão gốc gác đất Trạng Quỳnh, nói con kiến trong lỗ còn phải bò ra, biết thế tôi đến giờ vẫn còn ghê răng!
Lão xoay ra khai thác đá, đóng gạch bi, mua xe ô tô cho hai con chạy.. Đương nhiên không vướng nợ nần với bất cứ ai. Thôi thì cũng mừng cho lão!
Đường qua dốc Bò đái bây giờ máy ủi hạ dốc, tráng nhựa đi lại tênh tênh. Tôi bận việc tôi, lão bận việc lão, dễ đường vậy mà đâu có mấy lúc gặp nhau?

***
“Sao hôm nay có việc gì mà đại ca lại quá bộ lên thăm?” Vào nhà rồi tôi vẫn nhắc lại câu hỏi cũ. Lão cười khoe hàm răng mới trắng bóc, không tinh không biết là răng giả, xong lại tủm tỉm không nói câu nào. Mãi sau mới bảo:
- Lúc gian khổ có nhau, bây giờ anh em mình đỡ cả thì mẹ không còn! Chắc mẹ ở trên trời thấy con cái làm ăn được mẹ cũng vui - Lão nói y hệt câu trong phim cổ trang, kiếm hiệp Tàu.
Tôi cảm động quá. Lão thật là con người ăn ở có trước có sau, có tình có nghĩa. Cái chuyện không phải với cô hiếng ngày nào giờ cũng nên thông cảm. Con người chứ đâu phải thần thánh gì? Ai chả có lúc sai? Với lại anh có tài thường hay có tật. Ai nói gì mặc ai, với lão tôi vẫn phục. Lên bờ xuống ruộng, sống đi chết lại như thế mà vẫn dựng được cơ đồ. Người khác chỉ một phen thất bát, có khi sạt nghiệp, mất hết tinh thần.
Tôi đoán hình như còn có chuyện gì nữa, lão đâu có rảnh đi chơi không? Đúng như vậy thật. Lão lấy trong bọc ra gói trà phải đến hơn một cân đưa cho tôi:
- Có đứa cháu bên Đại Từ sang cho mấy cân chè ngon uống tết, anh chia chú một nửa. Nhân tiện bàn với chú một việc, anh em cùng làm cùng ăn!
Tuy rằng con người lão khác trước, nhưng tôi vẫn còn e ngại, không nói gì. Nét mặt lão có vẻ trầm xuống:
- Ngày trước anh làm chú mất lòng tin, chú e ngại là phải. Nhưng con người ta mỗi lúc mỗi khác. Có phải khi nào cũng thế cả đâu? Anh bàn với chú việc này cũng có ý trả cái nghĩa ngày xưa bà cụ và chú đối với anh. Người khác có mời anh cũng không nói. Anh lúc này có vốn, chú có vườn rộng, có thời gian hơn anh, anh mới bàn với chú..
- Bác nói sao, em chưa hiểu?
- Từ từ rồi khoai cũng dừ, đi đâu vội? Anh ghét nhất trò “thấy người ta ăn cá, vác rá đi đơm”, chả chịu tìm tòi, nghĩ ngợi gì. Đấy chú xem, năm ngoái một vài anh dựng máy làm đót, thấy được ăn, năm nay không biết bao nhiêu anh lăn vào làm. Chen vào chỗ chật, chắc gì kiếm được trong khi phải đầu tư vốn tương đối lớn? Vì thế..
Lão lại lấp lửng như cố ý để tôi sốt ruột. Mãi sau mới nói:
- Việc này đảm bảo với chú ở đất mình, kể cả tỉnh mình chưa ai làm. Nếu mình đi trước một bước, đảm bảo thắng lợi! Khả năng lại ở trong tầm tay mình, anh sẽ đầu tư cho chú làm, lãi lời cùng hưởng.
Tưởng lão nói chuyện gì, việc này tôi có biết. Ấy là việc nuôi chim quý như công,  trĩ, vịt uyên ương.. Thực ra trước đây cũng có người làm rồi không thành công. Ông này không biết đặc tính của giống loài chim quý, nên không nuôi sinh sản được. Bỏ tiền mua mấy chục con giống đẻ trứng đem ăn rồi thịt dần, mất cả chì lẫn chài. Đặc tính của các loài chim hiếm là chỉ biết đẻ rất sai, nhưng không biết ấp. Chúng thường đẻ giấu vào tổ của các loài chim khác, đến khi chim con biết chuyền cành mới bay đến dụ theo mình. Với lò ấp trứng giản tiện ngày nay, khiếm khuyết ấy không còn là vấn đề. Các nơi khác người ta đã nuôi nhiều, có anh trở thành tỷ phú nhờ công việc này.
Biết thì biết như vậy, nhưng không phải cứ muốn là làm được. Nuôi chúng không khó. Cái khó ở đây là đầu tư chuồng trại, giống vốn.. Có nhà tài trợ đã từng là anh em kết ngãi với mình còn gì bằng?
Cuối năm lại thêm cái may này, khiến tôi cay cay khóe mắt. Chưa kịp nói lời nào với lão thì con lão đã đánh xe quay lại. Lão kéo vạt áo dạ tá có hàng cúc bằng đồng vàng  cho phẳng, trước lúc lên xe bảo:
- Cứ thế đã, tết nhất xong bảo cháu lấy xe đưa hai anh mình xuống Hà Nội. Địa chỉ con giống anh liên hệ rồi. Để đến ra giêng ấm áp, ta khởi sự cho chắc ăn. Tháng này còn rét, chim chậm lớn, với lại công việc gấp gáp cuối năm. Ăn cái tết cho ngon lành cành đào cái đã!
- Vầng, được như bác nói còn gì bằng?
- Anh đã nói sai với chú câu nào chưa?
Tôi nín bụng, không dám cười. Chả nhẽ lại cãi lão vào lúc như thế này? Con Bon lúc này đã quen, có vẻ lưu luyến lão, nó cứ cựa cựa mõm vào bên giày da của lão như trẻ con làm nũng. Lão phải cúi xuống vuốt vuốt mấy cái lên bộ lông mượt của nó, Bon mới chịu quay lại chỗ tôi, vẻ buồn rầu.

Khi ấy, xe của bố con lão đã khuất dần trong đám sương mờ, ngày cuối năm..
================