Tượng, thơ thì đều là nghệ thuật nên đương nhiên nó có chức năng, nhiệm vụ, rồi đặc thù gần nhau. Nó có đặc thù là xuất phát điểm và mục đích trực tiếp không vì chính trị nhưng rồi nó không thể thoát khỏi chính trị và bị những người làm chính trị lợi dụng nó. Sự lợi dụng ấy có 2 hệ quả có thể sảy ra : Một là nâng tầm tác phẩm phục vụ nhân sinh và làm cho tư tưởng tác phẩm vượt lên khỏi cả tư tưởng chủ quan của tác giả sáng tạo ra nó. Hai là, làm cho tác phẩm trở thành trò cười, rêu rao sự phản cảm, thậm chí là đề tài cho những câu chuyện phiếm, tiếu lâm ... Chuyện dựng tượng ở Vinh và việc khen bài thơ của cô giáo ở Gia Lai cũng vậy. Tôi thuộc loại " người cũ " nên vẫn kính trọng Lenin. Nếu theo thói văn nghệ tuyên truyền trực quan lối cũ thì tôi cho rằng, Lenin xứng đáng dựng tượng, kể cả ở Vinh. Chưa xem mẫu tượng nhưng cứ tạm tin là nghệ thuật điêu khắc này là ổn...Nhưng, tại sao dư luận lại ít ủng hộ việc này ? Bởi lẽ , tôi cũng cho rằng đó là quyết định không đúng của chính quyền Nghệ An. Vì, việc đánh giá Lênin hiện tại có nhiều luồng khác nhau ngay cả chính quê hương của ông, thậm chí người ta đã kéo đổ, đập bỏ tượng đã có ở các nước thuộc CCCP. Giữa lúc như này mà dựng tượng ông ở xứ Đông Lào này là thiếu tầm nhìn, nhãn quan về thời thế hơi yếu. Chưa kể sẽ tốn tiền, tốn quỹ đất cho việc này trong khi việc khác cần làm hơn. Dừng lại, không phải là vong ân, không phải là phủ nhận tư tưởng Lênin, nếu ta thừa nhận. Mong manh áo vải hồn muôn trượng / Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. (Cái này Tố Hữu đúng) Và trường hợp TTg khen thơ cô giáo ở Gia Lai cũng tương tự. Rõ ràng cộng đồng ít ai xúc phạm tình cảm, tấm lòng của cô giáo. Cô chỉ là người làm thơ không chuyên mà. Cái mà cộng đồng mạng buồn và buồn cười là Văn phòng CP, rồi TTg và chính quyền huyện có hình thức khen rất nhanh. Đó là những việc không đúng tầm dẫu tâm tốt . 1 bài thơ đạo ý, tứ của cô giáo Lam , cách thể hiện như bài báo tường thì không nên ồn ào như thế. Sai tầm rồi. Mai mốt còn khối các CLB cấp phường, xóm sản xuất ra các bài thơ như thế thì sao ? Còn khối người xứng đáng khen hơn tác giả bài thơ dịp Covid- 19 này. Vậy nên, cộng đồng mạng họ có lý của họ. Không phải là : thế lực thù địch " đâu , các bạn AK47 ơi.
VHSG- Bốn thập niên sau khi cuộc chiến tranh kết thúc, tháng 10/2019, tại TP.HCM, nhà báo Nayan Chanda, hiện là Giáo sư Đại học Ashoka (Ấn Độ) đã chia sẻ với VietTimes những quan sát và nhận định của ông về cuộc xung đột trong quá khứ, bài học lịch sử và những mắc mứu trong mối quan hệ tay ba Mỹ – Việt -Trung hiện nay.
Nhà báo Nayan Chanda hiện là Giáo sư Đại học Ashoka (Ấn Độ). Ảnh: Luân Nguyễn.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng dinh Độc Lập, nhà báo Nayan Chanda, phóng viên thường trú của tờ Kinh tế Viễn Đông (FEER) đang đứng ở ngay góc đường nay là Đại lộ Lê Duẩn để ghi lại những khoảnh khắc lịch sử đánh dấu cột mốc kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 đã kéo dài hàng chục năm.
Khi đó, ông Chanda không bao giờ hình dung được rằng chỉ chưa đầy ba năm sau, cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba lại nổ ra, lần này là giữa những người xã hội chủ nghĩa từng cùng chung chiến hào: Việt Nam, Trung Quốc.
Nhà báo Chanda trở thành người ghi chép lại một giai đoạn lịch sử đặc biệt, mà sau này được ông viết thành cuốn sách nổi tiếng “Brothers Enemy: The war after the war” (tạm dịch là: Những kẻ thù anh em: Cuộc chiến tiếp sau cuộc chiến) xuất bản năm 1986.
Được viết dựa trên những chuyến đi thực địa, những nghiên cứu chuyên sâu và hàng trăm cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo ở cả Hà Nội, Bắc Kinh, Phnompenh, Washington và Moscow, “Brother Enemy” được coi là một trong những cuốn sách chân thực và thuyết phục nhất, nguồn tài liệu không thể thiếu cho những ai muốn tìm hiểu nguồn gốc của xung đột Việt – Trung và nguồn cơn cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Khmer Đỏ.
Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Ảnh tư liệu
Khmer Đỏ là đối tác lý tưởng của Bắc Kinh
– Bốn mươi năm đã trôi qua kể từ khi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba kết thúc, mà người Việt chúng tôi gọi là chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. Đã có nhiều bài viết, bài phát biểu, phân tích từ nhiều phía liên quan đến cuộc chiến này và dường như đến giờ nó vẫn gây tranh cãi.
Là một trong những người được chứng kiến trực tiếp giai đoạn lịch sử này, theo ông thì vì sao chỉ ba năm sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, những người từng gọi nhau là đồng chí, anh em lại trở thành kẻ thù trong một cuộc chiến khốc liệt không kém?
Giáo sư Nayan Chanda: Cuộc xung đột Campuchia vô cùng phức tạp theo nghĩa rằng nó dính líu đến hầu hết các diễn viên quan trọng nhất trên sân khấu chính trị thế giới thời đó.
Nhưng trước tiên, nguyên nhân của cuộc chiến đã tiềm tàng từ lâu trong lịch sử. Đế chế Angkor từng trải dài trên bán đảo Đông Dương và từ thế kỷ 17 trở đi lãnh thổ của nó đã bị thu hẹp dần sau các cuộc xung đột quân sự với Việt Nam và Thái Lan. Ngay sau khi chiến tranh Đông Dương lần 2 kết thúc vào năm 1975, Khmer Đỏ cho rằng mình đã sẵn sàng để khôi phục đế chế Angkor hùng mạnh năm nào.
Trước sự phản đối của các thành viên truyền thống từng có quan hệ với Việt Nam, Pol Pot và tay chân đã tiến hành cuộc thanh trừng nội bộ, đồng thời triển khai hàng loạt các cuộc tấn công sát hại dân thường vào các làng mạc Việt Nam dọc biên giới từ sau năm 1975.
Vào ngày 31 tháng 12 năm 1977, chế độ Pol Pot đã công khai cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Lúc này, cuộc chiến đã trở thành khó tránh khỏi. Mặc dù vẫn là bí mật vào thời điểm đó, vào tháng 1 năm 1978, Việt Nam đã quyết định bắt đầu chuẩn bị cho việc loại bỏ chế độ Pol Pot.
Năm 1978, Việt Nam đã quyết định dỡ bỏ bức màn về cuộc chiến tranh biên giới với những người từng là đồng chí của mình, những người lúc bấy giờ đang cướp đi hàng trăm mạng sống của người Việt Nam.
Tôi vẫn còn nhớ mãi lần đầu tiên chứng kiến sự tàn ác của Khmer Đỏ. Trong một chuyến đi tới Sài Gòn tháng 3 năm 1978, tôi bị một cán bộ ngoại giao Việt Nam đi kèm đánh thức từ sớm. Tôi được đưa vội đến sân bay, nơi tôi cùng hai phóng viên nước ngoài khác được đưa lên một chiếc trực thăng Chinook đã rỉ sét với những ô cửa sổ trống hoác.
Theo lệnh của một nhà lãnh đạo hàng đầu Việt Nam, chúng tôi đã bay đến Hà Tiên, một tỉnh ở cực nam Việt Nam (nay là tỉnh Kiên Giang – PV). Khi chúng tôi đi bộ đến làng, một mùi hôi thối nồng nặc cho chúng tôi biết những gì sẽ được chứng kiến. Đó vẫn là một cảnh tượng hãi hùng. Mười lăm đàn ông, phụ nữ và trẻ em, bị Khmer Đỏ đánh đập đến chết, nằm rải rác xung quanh ba túp lều tranh của họ.
Lời giải thích cho cuộc thảm sát nằm trên những bức tường đất của một túp lều, nơi ai đó đã vẽ nguệch ngoạc bằng than củi dòng chữ Khmer: “Đây là đất của chúng tao!”.
Nói cách khác, cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia bắt nguồn từ những mâu thuẫn lãnh thổ từ xa xưa trong lịch sử, được thổi bùng lên bởi tham vọng ngạo mạn của chế độ Pol Pot.
– Trong cuốn sách “Brothers Enemy”, ông đã nêu rõ vai trò của Trung Quốc trong cuộc chiến này. Điều gì đã khiến Bắc Kinh, từ vai trò một đồng minh trụ cột của Hà Nội trong cuộc chiến tranh Việt Nam trước đó, chuyển sang vị thế đối địch?
Giáo sư Nayan Chanda: Chúng ta phải thấy rõ một thực tế là Bắc Kinh, ngay cả khi là một trong những đồng minh thân cận nhất của Việt Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng là vì xuất phát từ lợi ích của chính họ. Họ muốn giữ cho biên giới phía Nam của mình luôn an toàn và miền Bắc Việt Nam đối với Trung Quốc có tác dụng như một “vùng đệm an ninh”.
Bởi vậy, họ viện trợ cho Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ nhưng không bao giờ muốn Việt Nam trở nên mạnh hơn. Bắc Kinh từng khuyên Hà Nội kiên trì đường lối chiến tranh du kích, kéo dài cuộc chiến thay vì nỗ lực nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
Việc Việt Nam thống nhất đất nước tháng 4 năm 1975 đã đảo lộn những toan tính của Trung Quốc. Sau khi giải phóng miền Nam, Hà Nội đã có sức mạnh vượt trội, sẵn sàng nắm lấy vai trò tiên phong ở khu vực này. Trung Quốc luôn lo sợ về sự mất cân bằng trong cán cân quyền lực ở Đông Nam Á và khả năng Liên Xô thay thế khoảng trống quyền lực Mỹ để lại, thể hiện thông qua sự trỗi dậy của Việt Nam, một đồng minh thân cận của Liên Xô.
Vì vậy, để làm suy yếu Việt Nam, Campuchia của Khmer Đỏ trở thành một đối tác lý tưởng của Bắc Kinh. Kể từ năm 1975, Trung Quốc bắt đầu viện trợ ồ ạt, không giới hạn cho chính quyền Plo Pot tại Campuchia, bao gồm tiền bạc, vũ khí. Trong khi đó, họ cắt hoàn toàn viện trợ đối với Việt Nam, đúng thời điểm Hà Nội đang ở giữa thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ hai.
Việc Trung Quốc cắt viện trợ, cùng với sự thay đổi quyền lực tại Bắc Kinh (Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối), đã buộc Việt Nam phải xích lại gần hơn với Liên Xô, thể hiện qua Hiệp ước đồng minh Việt – Xô.
Và khi không ép được Hà Nội làm theo mong muốn của mình thì Bắc Kinh đã chính thức xem Việt Nam là kẻ thù. Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh đạo tuyệt đối tại Bắc Kinh thì một quyết định cứng rắn đã được đưa ra – tấn công Việt Nam.
Hà Nội đã chủ động chuẩn bị
– Việc Bắc Kinh hậu thuẫn cho chế độ diệt chủng Khmer Đỏ thì ai cũng đã thấy. Nhưng còn vai trò của Mỹ, người vừa rút lui khỏi Đông Dương thì sao?
Giáo sư Nayan Chanda: Ban đầu, Mỹ không hề muốn dính líu gì đến cuộc xung đột giữa Việt Nam và Campuchia bởi vì sau khi rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ chỉ muốn quên đi thất bại nhục nhã này. Năm 1977, khi Jimmy Carter lên làm Tổng thống, chính quyền Mỹ bắt đầu cân nhắc việc bình thường hóa quan hệ với Hà Nội, nhằm hàn gắn những vết thương chiến tranh.
Ban đầu, ông Carter muốn bình thường hóa quan hệ với cả Bắc Kinh và Hà Nội.
Tuy nhiên, khi cuộc xung đột giữa Việt Nam và Campuchia leo thang và người Trung Quốc bắt đầu can dự sâu hơn, họ đã thuyết phục được Washington rằng Việt Nam đang hành động đại diện cho lợi ích của Liên Xô, kẻ thù lớn nhất của Mỹ thời đó. Lập luận của Trung Quốc là nếu Mỹ và Trung Quốc không liên minh để ngăn chặn Việt Nam thì Liên Xô sẽ xác lập bá quyền của mình ở Đông Nam Á.
Luận điệu này đã giành được sự ủng hộ của giới tinh hoa chính trị ở Washington, mà nổi bật là Brzezinski, cố vấn an ninh của Tổng thống, một người Mỹ gốc Ba Lan. Với lập trường chống Liên Xô, Brzezinski, ngay từ đầu năm 1978, đã xem xung đột Việt Nam – Campuchia là một “cuộc chiến ủy nhiệm giữa Trung Quốc và Liên Xô.”
Mỹ và Trung Quốc chính thức phục hồi quan hệ ngoại giao vào ngày đầu tiên của năm 1979. Một tuần sau, quân đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh. Khả năng bình thường hóa quan hệ với Mỹ nay được đặt ra với điều kiện Hà Nội rút toàn bộ quân đội ra khỏi Campuchia.
Ngày 29/1/1979, trong cuộc gặp với Tổng thống Carter tại Nhà Trắng, ông Đặng Tiểu Bình đã tiết lộ quyết định đánh Việt Nam, “cho họ một bài học hạn chế phù hợp” để đáp trả sự “bành trướng” của Liên Xô. Đặng yêu cầu Mỹ “ủng hộ tinh thần” trên trường quốc tế.
Mặc dù yêu cầu Trung Quốc kiềm chế, nhưng sau khi chiến tranh nổ ra, Mỹ hầu như không có động thái nào phản đối Bắc Kinh. Ngược lại, Washington đã liên minh với Bắc Kinh và vận động các nước khác phong tỏa, cấm vận Việt Nam trong suốt hơn mười năm sau đó.
– Như vậy, Bắc Kinh không chỉ có vai trò hậu thuẫn cho chế độ Polpot chống Việt Nam những năm 1978-1979 mà họ còn dẫn đầu cuộc chiến ngoại giao trường kỳ cô lập Việt Nam suốt mười năm sau?
Giáo sư Nayan Chanda:Đúng vậy. Tất cả những gì diễn ra ở Đông Dương suốt hơn một thập niên sau đó và bây giờ ở Biển Đông cho thấy sự thành công của cái gọi là chiến lược “giành chiến thắng mà không cần phải thực sự chiến đấu”. Nó cũng cho thấy quyết tâm và sự kiên trì đến mức tàn nhẫn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Ngay từ tháng 11 năm 1978, Trung Quốc đã chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài chống Việt Nam khi Hà Nội tiến vào Campuchia. Tôi đã xuất bản một bài báo tóm tắt kế hoạch này trên tờ Kinh tế Viễn Đông tháng 12 năm 1978.
Như bài báo đưa tin, trong chuyến thăm Campuchia tháng 11 năm đó, Phó Thủ tướng Trung Quốc Vương Đông Hưng đã khuyên Pol Pot từ bỏ Phnom Penh, rút lui vào rừng để tiến hành chiến tranh du kích.
Vương lập luận rằng bằng cách từ bỏ thủ đô khi đối mặt với Việt Nam và lực lượng nổi dậy, người Campuchia sẽ không chỉ làm nổi bật “ý đồ xâm lược” của Hà Nội đối với các nước láng giềng Đông Nam Á đang hết sức lo lắng, mà cuối cùng còn giúp đánh bại người Việt Nam bằng cách làm cho Việt Nam sa lầy vào một cuộc chiến tranh du kích quá sức tốn kém.
Những gì xảy ra sau đó theo đúng kịch bản mà Trung Quốc đã dự liệu. Việc Việt Nam bị Khmer Đỏ cầm chân ở Campuchia lâu dài đã cho Bắc Kinh lý do để bêu xấu Hà Nội.
Cuộc chơi lâu dài của Trung Quốc là phớt lờ nạn diệt chủng vốn có lẽ đã cướp đi hơn 1 triệu sinh mạng; viện trợ tiền bạc và trang bị vũ khí cho đội quân du kích chống Việt Nam, giữ ghế tại Liên Hợp Quốc cho một chế độ Khmer Đỏ hỗn loạn trong vai trò một chính phủ hợp pháp; vận động dư luận quốc tế chống Việt Nam.
Trong hơn chục năm đối đầu với Việt Nam trên chiến trường thông qua những tay súng ủy nhiệm và trong các diễn đàn ngoại giao quốc tế, Trung Quốc đã kiên trì theo đuổi chính sách mà họ đã đặt ra trong các cuộc họp bí mật ở Bắc Kinh và Thái Lan.
Năm 1989, quân đội Việt Nam đã được rút khỏi Campuchia dưới áp lực ngoại giao mạnh mẽ, bao gồm cả từ Liên Xô, nước mà Trung Quốc vừa đạt được một sự hòa hoãn ngoại giao. Tháng 9 năm 1990, các nhà lãnh đạo Việt Nam bí mật bay tới Thành Đô, Trung Quốc để đạt được một thỏa thuận, mở đường cho việc hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1991.
Giờ đây, sau bốn mươi năm, Bắc Kinh đã xác lập ảnh hưởng gần rất lớn đối với Campuchia. Campuchia đã trở thành nước nhận các khoản vay và viện trợ lớn nhất (hơn 10 tỷ USD) của Trung Quốc ở Đông Nam Á và là một trong những điểm đến quan trọng nhất của đầu tư từ Trung Quốc.
Sự phụ thuộc của đất nước này vào Trung Quốc được nhấn mạnh bởi thực tế là 62% nợ của Campuchia hiện tại là nợ Trung Quốc. Thủ tướng Campuchia Hun Sen, người từng gọi Trung Quốc khi họ ủng hộ chế độ Khmer Đỏ, là “gốc rễ của mọi thứ xấu xa”, giờ đây lại trở thành đồng minh trung thành của Trung Quốc.
– Ông có nghĩ rằng người Việt Nam chúng tôi khi đó đã có phần ngây thơ về Trung Quốc, một đồng minh từng giúp đỡ Việt Nam trong chiến tranh không?
GS Nayan Chanda: Tôi không cho rằng Việt Nam ngây thơ trước ý đồ của Trung Quốc. Nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam khi đó đều tin vào các nguyên tắc, giá trị của chủ nghĩa xã hội và họ hy vọng rằng Trung Quốc, trong tư cách một nước xã hội chủ nghĩa anh em, sẽ hành xử một cách tử tế.
Và vì thế, Hà Nội cảm thấy khá là thất vọng khi Trung Quốc ứng xử giống một quốc gia bá quyền thay vì là một nước cùng theo chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc gặp ở Thành Đô năm 1990, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã đề nghị tái lập quan hệ xã hội chủ nghĩa anh em nhưng Trung Quốc đã từ chối.
Tôi cho rằng giờ đây thì có lẽ không mấy ai còn mơ hồ về Trung Quốc nữa. Những gì đã xảy ra là minh chứng rõ ràng cho sự thật mà Lord Palmerston từng nêu: “Một quốc gia không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”.
Nhà nghiên cứu chính sách di dân Trung Quốc Helen Raleigh trong bài viết trên Fox News hôm 17/3 đã nhận định, dịch bệnh ‘viêm phổi Vũ Hán’ xuất hiện từ cuối năm 2019 sẽ đưa đến ba tác động lâu dài cho Trung Quốc Đại Lục, một trong số đó là nhiều người Đại Lục có thể di cư ra nước ngoài sau khi dịch bệnh kết thúc.
Nhà nghiên cứu chính sách di dân Trung Quốc Helen Raleigh đã viết trên Fox News rằng ‘viêm phổi Vũ Hán’ sẽ kéo theo ba tác động lâu dài đối với Đại Lục, một trong số đó là nhiều người Đại Lục có thể di cư ra nước ngoài sau khi dịch bệnh kết thúc. (Ảnh: CNA)
Bà Helen Raleigh, một người phụ nữ gốc Hoa, hiện là nhà nghiên cứu chính sách nhập cư tại Viện Centennial Institute ở Colorado, Mỹ. Bà đã viết trên Fox News: “Một số chuyên gia về bệnh truyền nhiễm cao cấp ở Trung Quốc dự đoán rằng virus corona mới có thể lên đến đỉnh điểm trong tháng này. Tôi rất mong các nhà khoa học và chuyên gia y tế có thể tìm ra biện pháp chữa trị loại virus chết người này càng sớm càng tốt. Nhưng sau khi dịch bệnh được ngăn chặn, nó vẫn sẽ để lại nhiều ảnh hưởng lâu dài với Trung Quốc và khu vực khác trên thế giới.”
Sau đây là một vài điểm chính trong 3 tác động của dịch bệnh đối với Trung Quốc Đại Lục mà bà Helen Raleigh đã nêu ra trong bài viết của mình.
Tác động thứ nhất: Virus ‘viêm phổi Vũ Hán’ sẽ làm sâu sắc và khuếch đại hiệu ứng “tách rời”
Raleigh cho rằng, thương chiến Mỹ – Trung đã kích hoạt “sự tách rời” của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trong cuộc chiến thương mại, các công ty sản xuất của Mỹ đã bắt đầu dịch chuyển các nhà máy và chuỗi cung ứng ra khỏi Đại Lục để tránh phải chịu mức thuế quan cao hơn đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Hiện tại, do dịch bệnh bùng phát, nhiều nhà máy và doanh nghiệp ở Trung Quốc rơi vào tình trạng tạm ngừng hoạt động và chưa biết khi nào mới có thể phục hồi. Đồng thời, nhiều quốc gia, bao gồm cả Mỹ đều áp đặt lệnh hạn chế di chuyển đến Trung Quốc và ngược lại. Do đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đang cân nhắc xem có nên “tách rời” khỏi Trung Quốc hay không.
Ví dụ, Trung Quốc là một trong những thị trường cung cấp linh kiện phụ tùng ô tô lớn của thế giới. Gần đây, nhà sản xuất ô tô Hyundai đã phải đóng cửa nhà máy lắp ráp tại Hàn Quốc vì không thể nhập được phụ tùng ô tô cần thiết từ Trung Quốc. Một số nhà sản xuất ô tô khác cũng đang phải lên Kế hoạch B nhằm đảm bảo nguồn cung đầy đủ linh kiện phụ tùng cho lắp ráp.
Từ các hãng xe hơi đến các nhà sản xuất gậy khúc côn cầu, hầu hết công ty trên khắp thế giới đều đã nhận ra sự bất lợi khi họ phải dựa vào một quốc gia duy nhất cung cấp các mặt hàng cần thiết. Không chỉ có “sự tách rời” của kinh tế Mỹ-Trung là không thể đảo ngược, mà xu thế tách rời này đang có khả năng khuếch đại đến nhiều quốc gia khác. Raleigh nói rằng, trong thời gian tới chúng ta có thể chứng kiến nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển khỏi Trung Quốc.
Tác động hai: Trung Quốc sẽ không thể trở thành một nền kinh tế có thu nhập trung bình cao
Raleigh tin rằng việc “tách rời” sẽ thúc đẩy tác động dài hạn thứ hai: Trung Quốc có thể bị kẹt vĩnh viễn trong “Bẫy thu nhập trung bình” (Middle-income Trap). “Bẫy thu nhập trung bình” là một hiện tượng kinh tế phản ánh nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng bị đình trệ ở mức thu nhập trung bình thấp và không thể trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình cao. Ngân hàng Thế giới định nghĩa một nền kinh tế “thu nhập trung bình thấp” là một nền kinh tế có tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người trong khoảng từ 1.000 – 12.000 USD. Theo định nghĩa này, Trung Quốc đã dừng ở một nền kinh tế có mức thu nhập trung bình thấp trong suốt hơn 20 năm qua.
Raleigh còn nói, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh rất muốn kinh tế Trung Quốc không bị rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Tuy nhiên, do nợ gia tăng, sự già hóa dân số và tốc độ cải cách kinh tế chậm lại, kể từ năm 2012, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã giảm thấp từ hai con số xuống tăng trưởng một con số. Năm 2019, thương chiến Mỹ – Trung tiếp tục tác động xấu đến kinh tế quốc gia hơn 1 tỷ dân này.
Theo số liệu chính thức phía chính quyền Bắc Kinh công bố, tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2019 đạt mức 6,1%, mức tăng trưởng chậm nhất trong ba năm qua. Giới chức Bắc Kinh vốn hy vọng mức chi tiêu của người tiêu dùng trong nước có thể đảm bảo duy trì kinh tế phát triển bền vững. Tuy nhiên, giá thịt lợn tăng vọt do tác động của dịch tả lợn châu Phi đã ảnh hưởng lớn đến tiêu dùng của người Trung Quốc trong năm qua. Các chuyên gia cho rằng, hiện tại đã không còn thời gian cho Trung Quốc đi từ nền kinh tế có mức thu nhập trung bình thấp đến mức thu nhập trung bình cao nữa.
Dễ thấy, dịch ‘viêm phổi Vũ Hán’ đã giáng thêm một đòn mạnh nữa vào kinh tế Trung Quốc vốn đang ở trạng thái không mấy lạc quan. Do ảnh hưởng của dịch bệnh cũng như lệnh phong tỏa tại hơn 80 thành phố trên toàn quốc, hàng loạt ngành nghề tại Trung Quốc đã suy giảm nghiêm trọng như du lịch (cả trong nước và quốc tế), ngành bán lẻ, ngành dịch vụ (nhà hàng, khách sạn)… Nhiều nhà máy đóng cửa hoàn toàn hoặc một phần, nhân công nhiều nơi cũng không thể đi làm trở lại sau dịp Tết do bị phong tỏa ở địa phương… Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn là động lực tăng trưởng kinh tế Trung Quốc hiện đang vô cùng lao đao, ít nhất một phần ba trong số đó đã cạn tiền mặt.
Hàng trăm triệu cư dân Trung Quốc đang chịu lệnh phong tỏa vẫn chưa nhìn thấy ánh bình minh. Họ chưa biết khi nào mới có thể trở lại với cuộc sống bình thường và có thể đi làm. Nếu tình trạng này tiếp diễn, một số doanh nghiệp phải đối diện với tình trạng đóng cửa và số người thất nghiệp cũng sẽ gia tăng.
Chính quyền Bắc Kinh có thể lại sử dụng các biện pháp tương tự như trước đây để kích thích nền kinh tế, như hạ lãi suất, bắt buộc các ngân hàng quốc doanh cho các doanh nghiệp nhỏ vay, giảm thuế cá nhân và giảm tiền thuê nhà… Mặc dù các biện pháp này có thể ngăn kinh tế Trung Quốc bước vào suy thoái, nhưng chắc chắn không đủ để tránh rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Tác động thứ ba: Trung Quốc có thể xuất hiện làn sóng di dân quy mô lớn
Raleigh nói rằng, trong suốt vài chục năm trở lại đây, hầu hết người Trung Quốc đều phải chấp nhận chịu sự hạn chế về quyền lợi và tự do để đánh đổi lấy thịnh vượng và ổn định mà Bắc Kinh cam kết sẽ mang đến. Không giống như phong trào biểu tình dân chủ ở Hồng Kông và chiến dịch giam giữ người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, dịch bệnh do virus corona mới ảnh hưởng đến toàn bộ người dân Trung Quốc theo các cách khác nhau, rất nhiều người đã bị nhiễm bệnh, thậm chí tử vong.
Đối mặt với nỗi sợ hãi dịch bệnh và lo lắng cuộc sống thường nhật của mình bị phá vỡ, người dân Trung Quốc ngày càng ý thức được rằng, nếu chính quyền sớm đưa ra thông báo về dịch bệnh, giống như “người thổi còi” đã lên tiếng hồi tháng 12 năm ngoái, thì tất cả những khổ nạn mà họ đang phải đối mặt hiện nay có thể đã không diễn ra.
Cái chết của bác sĩ Lý Văn Lượng do nhiễm ‘viêm phổi Vũ Hán’ cuối cùng đã kích phát sự phẫn nộ và tức giận của công chúng đối với chính quyền Bắc Kinh trong việc che giấu tình hình dịch bệnh, đối với những quan chức bất tài và dối trá. Họ ngày càng thất vọng vào chính quyền, khi mà các nhà lãnh đạo đặt sự ổn định chính trị và ổn định xã hội cao hơn sinh mệnh của người dân. Làn sóng yêu cầu tự do ngôn luận được dấy lên như thác lũ, nhưng nhanh chóng bị chính quyền tìm cách dẹp yên, thậm chí còn đe dọa những ai dám lên tiếng sẽ phải “trả giá đắt”.
Raleigh cho biết, gần đây có hai phóng viên Trung Quốc đã “biến mất” sau khi đăng một số video thương tâm từ Vũ Hán lên mạng. Mặc dù viễn cảnh hàng triệu người xuống đường phản đối chính quyền sẽ không diễn ra như ở Hồng Kông, nhưng nhiều người do tức giận và thất vọng, sẽ tìm nơi di trú an toàn cho bản thân và gia đình sau khi đại dịch kết thúc. Do đó trong tương lai gần, làn sóng người Trung Quốc di dân quy mô lớn dẫn đến dòng vốn lưu động theo là điều khó tránh khỏi.
Cuối cùng Raleigh kết luận, chỉ trong vài ngày tới, chúng ta có thể sẽ hiểu thêm hoặc thấy rõ ràng hơn sự tác động của dịch bệnh đối với Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung.
Một phần không nhỏ thị trường condotel Việt Nam đang nằm trong tay các ông lớn bất động sản như Vingroup, FLC, Công ty CP Đầu tư Xây dựng Vịnh Nha Trang...
Tập thơ “Vợ ơi” không chỉ là lời trìu mến nhà thơ Nguyễn Duy tặng vợ mà còn nói hộ tình cảm của biết bao ông chồng với người bạn đời.
Nguyễn Duy được biết đến với những vần thơ đầy tình cảm về quê hương, đất nước hay những trăn trở, suy tư với thế sự. Bên cạnh đó, ông cũng khiến bạn đọc xúc động với những bài thơ viết về người phụ nữ, những người bà, người mẹ, người em, người vợ.
Kể từ khi kết duyên năm 1971, bà Bùi Thị Hào - vợ nhà thơ Nguyễn Duy - là niềm cảm hứng, nhân vật trong nhiều bài thơ của ông. Trong gần 40 năm gắn bó (bà Bùi Thị Hào mất tháng 3/2019), ông đã sáng tác nhiều bài thơ với đủ cung bậc cảm xúc về vợ.
Tập thơ Vợ ơi. Ảnh: NXB Phụ nữ
Từ năm 1995, ông đã xuất bản tập thơ Vợ ơi với 20 bài dành tặng vợ. Mới đây, NXB Phụ nữ in lại tập thơ với phần minh họa đẹp từ bộ Lịch thơ Nguyễn Duy.
Ở đó, bạn đọc bắt gặp những nỗi nhớ nhung: “Đêm nay em anh ở đâu / cứ nhìn trăng ấy nhìn lâu thấy người” (Võng trăng). Đó có thể là sự tự trào của một người chồng: “Lúc xơ xác bờm xơm từ sợi tóc / đói lả mò về / cơm đâu / vợ ơi” (Vợ ơi).
Nguyễn Duy dùng thơ để tâm tình với vợ về nỗi niềm của những ông chồng chọn nghề cầm bút: “Ta rất gần biển rộng với trời cao / để xa cách những gì thân thuộc nhất / nồi gạo hết lúc nào ta chả biết / thăm thẳm nỗi lo mắt vợ u sầu” (Bán vàng).
Những năm tháng “tuổi xanh đã đi vào dĩ vãng”, Nguyễn Duy vẫn viết những vần thơ yêu thương: “Ứa nước mắt mà yêu nhau trọn vẹn / khấp khểnh đường dài thập thễnh bon chen / lắm lúc chữ nghĩa vô nghĩa tuốt / bàn tay bé con phủi bụi ưu phiền” (Yêu).
Nhà thơ Nguyễn Duy.
Tình cảm mà nhà thơ dành cho vợ gắn bó, trọn vẹn tới khi đầu bạc. Vợ ốm, Nguyễn Duy viết: “Nghìn tay nghìn việc không tên / Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng / Thình lình em ngã bệnh ngang / Phang anh xất bất xang bang sao đành” (Vợ ốm).
Trong những bài thơ của mình, Nguyễn Duy nói thay những ông chồng lòng biết ơn với các bà vợ tần tảo, mang nặng gánh cơm áo, con cái trên vai. Ở đó còn là tình cảm yêu thương, thủy chung, son sắt; trong tình vợ chồng luôn có ân nặng nghĩa sâu.
Người ký thư khen cô giáo Chu Ngọc Thanh là Nguyễn Sỹ Hiệp - con trai nguyên chủ tịch QH Nguyễn Văn An, sinh năm 1974, Thạc sĩ khoa học chuyên về Thương mại quốc tế và Kinh tế hội nhập. Ông Hiệp được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ từ tháng 9.2014. Trước đó, ông Hiệp là Trợ lý Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Còn người ngay sau khi có thư khen của TT đã nhanh nhảu đón gió ký giấy khen cô giáo Thanh là chủ tịch huyện Iagrai tỉnh Gia Lai - Lê Ngọc Quý, quê Thanh Hoá cũng sinh 1974.
Việc ông Quý nhanh nhảu ký giấy khen cho cô Thanh ngay khi ngửi thấy "mùi thơm" từ thủ tướng mà không biết thơ của cô giáo huyện nhà thật hay xạo, hay hay dở chả lẽ không đáng trách? Nhưng thôi, cấp... huyện, bỏ qua.
Xin chuyện với ông Hiệp.
Không biết ông Hiệp có đọc thơ của cô Thanh không?
Nếu đọc mà không phản ứng quyết định thủ tướng can ngăn thủ tướng: anh Bảy ơi, thơ xạo và dở, thì làm gì có chuyện thủ tướng bị thiên hạ cười ruồi thế này?
Hay, chính ông Hiệp có tài về kinh tế mà dốt văn hoá đọc văn học?
Hay ông Hiệp biết ráo nhưng từng là đệ ruột của đồng chí X nên chơi khăm anh Bảy?
Hay, tất cả là do chính cái bọn ở Yên Bái tết vừa rồi đã nồng nhiệt ca ngợi thơ của anh Bảy: thơ thế mới là thơ... thần, để anh Bảy thấy thơ ai giống thơ mình là vội khen?
Thái Sinh, nhà văn ở Yên Bái vừa gửi gã bài thơ anh Bảy đọc ở Yên Bái mà được hầu hết quan chức trung ương và tỉnh nồng nhiệt vỗ tay, không biết trong đó có ông Hiệp tháp tùng không?
Thơ rằng:
Sông Hồng sóng cuộn phù sa Chảy xuôi Yên Bái chia ra hai bờ Mường Lò đẹp đến sững sờ Khiến hồn lữ khách thẫn thờ miên man Chập chùng dãy ruộng bậc thang Lúa xanh óng ả bạc ngàn nhấp nhô.
Gã kiến nghị nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội nhà văn VN họp khẩn kết nạp cô giáo Thanh và anh Bảy vào Hội NV ngay. Đồng thời lễ thả thơ về giời nguyên tiêu sang năm phải có câu thơ này của anh Bảy:
“Chảy xuôi Yên Bái chia ra hai bờ”.
Một phát hiện tinh hoa của anh Bảy về con sông Hồng. Thơ thả đến đâu bảo đảm lũ virus Vũ Hán phải lịm tim mà...nghẻo đến đó.