Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2019

Trung Quốc luôn lấn lướt trong vấn đề Biển Đông, có rất ít khả năng sẽ nhượng bộ bất cứ yêu sách chủ quyền nào của mình, SCMP bình luận

VN muốn TQ 'chơi đẹp' ở Biển Đông năm 2020


Một tàu thăm dò địa chất của Trung Quốc trên Biển Đông ngày 25/2/2019Bản quyền hình ảnhVCG/GETTY IMAGES
Image captionMột tàu thăm dò địa chất của Trung Quốc trên Biển Đông ngày 25/2/2019
Lãnh đạo ngoại giao Việt Nam hi vọng Trung Quốc sẽ 'kiềm chế' khi Việt Nam ngồi ghế Chủ tịch ASEAN năm 2020.
"Tôi hi vọng rằng, trong thời gian chúng tôi giữ cương vị chủ tịch [ASEAN], Trung Quốc sẽ thể hiện sự kiềm chế và ngưng các hoạt động [trên Biển Đông]," Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Dũng phát biểu tại một hội thảo tạị Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore mới đây.
Các hoạt động của Trung Quốc mà ông Dũng nhắc tới bao gồm việc Trung Quốc cho tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 cùng hàng loạt tàu hải giám hoạt động tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Bãi Tư Chính trong nhiều tháng.
"Những gì Trung Quốc đã làm là rất đáng báo động và đe dọa không chỉ Việt Nam mà còn các quốc gia khác...," ông Dũng nói tiếp.
Việt Nam, quốc gia thách thức mạnh mẽ nhất đối với các yêu sách hàng hải của Trung Quốc trên Biển Đông, theo bình luận của SCMP, sẽ đảm nhận chức chủ tịch luân phiên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2020.
Ông Dũng cũng nói, không phải các quốc gia ASEAN khác ủng hộ hành động của Trung Quốc, mà là họ phản đối theo một cách khác, SCMP tường thuật.
Vùng biển tranh chấp giữa các nước Trung Quốc, Việt Nam, Brunei, Malysia và Phippines là tuyến đường thủy tấp nập, nơi lưu thông lượng hàng hóa trị giá khoảng hơn ba ngàn tỷ đô la Mỹ mỗi năm.
Trong vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN 2020, Việt Nam có kiềm chế được Trung Quốc trên Biển Đông?Bản quyền hình ảnhSTR/GETTY IMAGES
Image captionTrong vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN 2020, Việt Nam có kiềm chế được Trung Quốc trên Biển Đông?

VN có thể đạt được kỳ vọng hay không?

Việt Nam công bố Sách Trắng quốc phòng năm 2019 hồi cuối tháng 11, phản đối mạnh mẽ "các bước phát triển mới" trên Biển Đông, bao gồm các hành động đơn phương, cưỡng ép, vi phạm luật pháp quốc tế, quân sự hóa, thay đổi hiện trạng và xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo quy định của luật pháp quốc tế, theo SCMP.
"Các hành động này làm suy yếu lợi ích của các quốc gia liên quan và đe dọa đến hòa bình, an ninh, ổn định và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực," tài liệu này viết.
Cũng giống Trung Quốc, Việt Nam cũng cho xây các đảo nhân tạo trên vùng lãnh hải để khẳng định chủ quyền.
Các quốc gia ASEAN, cũng như các quốc gia khác, đang tìm cách xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông để tránh bất cứ cuộc leo thang xung đột ngoài dự kiến nào.
Ý tưởng về bộ quy tắc ứng xử này được đưa ra lần đầu những năm 1990 nhưng mãi tới 2013 Trung Quốc mới đồng ý bắt đầu tham vấn chính thức. Phải mất tới bốn năm để Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đạt thỏa thuận khung đầu tiên.
Đối với các quốc gia ASEAN, đạt được đồng thuận giữa 10 quốc gia thành viên luôn là thách thức,đặc biệt là khi Trung Quốc luôn lấn lướt trong vấn đề Biển Đông, có rất ít khả năng sẽ nhượng bộ bất cứ yêu sách chủ quyền nào của mình, SCMP bình luận.
Trước đó, Việt Nam đã có một loạt các động thái phản đối "Đường chín đoạn" do Trung Quốc tự vẽ ra trên Biển Đông, khẳng định quyền chủ quyền đối với hầu hết khu vực này.
Trong suốt nhiều tháng qua, Bộ Công Thương Việt Nam đã yêu cầu các nhà nhập khẩu cần thận trọng và loại bỏ bất cứ hàng hóa nào có in bản đồ đường chín đoạn, sau khi một số sản phẩm nhập khẩu vào Việt Nam như ô tô, điện thoại, bản đồ, cẩm nang du lịch, thậm chí cả phim ảnh, có 'cài cắm' bản đồ này.
Trong khi tình hình giữa Việt Nam-Trung Quốc đang nóng ở Bãi Tư Chính, Chủ tịch nước Việt Nam đã phát biểu rằng, Việt Nam sẽ "không nhượng bộ" về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên Biển Đông.
Tuy nhiên, người ta ngờ rằng những nỗ lực của Việt Nam sẽ có nhiều tác động tới Trung Quốc," ông Murray Hiebert, chuyên gia về quan hệ Mỹ-Việt tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington, được Al Jazeera trích lời.
Sự thiếu vắng ý chí chính trị toàn cầu trong việc trừng phạt và cách ly Trung Quốc khiến Hà Nội khó khăn hơn trong việc tập trung các áp lực ngoại giao để gây sức ép lên Trung Quốc, Al Jazeera bình luận.
"Việt Nam đã tìm kiếm sự ủng hộ trong ASEAN và các quốc gia thân thiện khác như Nhật Bản, Úc và Liên minh châu Âu, nhưng chỉ có Mỹ công khai chỉ trích Trung Quốc. Các nước khác đều sợ bị Trung Quốc trừng phạt," ông Murray Hiebert nói với Al Jazeera.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài học từ cuộc hải chiến Hoàng Sa


Cảnh sát có vũ trang TQ tuần tra ngang qua một điểm tưởng niệm trên đảo Phú Lâm thuộc Quần đảo Hoàng Sa hôm 11/2/2015Bản quyền hình ảnhVCG/VCG VIA GETTY IMAGES
Image captionHiện Trung Quốc đang nắm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa
Ngày 19/1/1974 Trung Quốc tấn công quân đội Việt Nam Cộng Hòa đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa và chiếm trọn quần đảo này từ ngày đó đến nay.
Hành động tấn công này là đỉnh điểm của nhiều bước đi và toan tính từ trước, cũng như mang lại những hệ quả về sau.
Có một số điều có thể điểm lại để tham khảo ngày hôm nay:
Thứ nhất, điểm đặc biệt của hành động này là tính dễ nhận thấy, rất lộ liễu so với các hành động thù địch của Bắc Kinh đối với Việt Nam nói chung và Bắc Việt nói riêng trước đây.
Những hành động thôn tính hay gây ảnh hưởng thực chất đã diễn ra từ trước 1949 kéo dài đến Hiệp định Geneva 1954, Cải cách Ruộng đất 1956, song tất cả đều không phải dễ nhận thấy với mọi người - ít nhất trong điều kiện thông tin thời trước.
Riêng việc xâm chiếm Hoàng Sa đã là một điển hình xâm lăng rõ ràng và không thể chối cãi.
Sự kiện Hoàng Sa thực sự đã phơi bày hành vi xâm lăng ở mức hiển nhiên và nghiêm trọng.
Đây cũng là một điều đáng quan tâm đối với giới khoa học và quân sự của Việt Nam.
Thứ hai, hành động chiếm đóng Hoàng Sa đã mang một nhận thức mới đến người Việt Nam ở các quan điểm chính trị khác biệt rằng không có tình đồng chí ý thức hệ, không có tình chiến hữu thế giới tự do, chỉ có sự ưu tiên vì lợi ích dân tộc vượt lên trên và lắng đọng tại cột mốc lịch sử này.
Vietnamese demonstrators have taken to the streets in Hanoi every Sunday for about 10 weeks to protest against Chinese actions in the South China Sea.Bản quyền hình ảnhCHAU DOAN/LIGHTROCKET VIA GETTY IMAGES
Image captionNhiều làn sóng biểu tình đã nổ ra tại Việt Nam để phản đối các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông
Từ đó, những nhà hoạch định chính sách có đánh giá mới về Trung Quốc, Hoa Kỳ và tương quan lực lượng của Việt Nam giai đoạn hậu Thông cáo Thượng Hải 1972, khi Henry Kissinger và Richard Nixon cùng Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai nâng cốc thỏa thuận trên đầu hai nước Việt Nam.
Ưu tiên cho lợi ích dân tộc từ sự kiện Hoàng Sa 1974 cũng chính là khuynh hướng mới trong vận hành những cỗ máy chính trị dù dưới màu áo nào đi nữa.
Lợi ích dân tộc một mặt sẽ quyết định tính chính danh của nhà cầm quyền và mặt khác là ngọn lửa dễ bùng dậy dẫn đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Thứ ba, xâm chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc có một tiền đồn có vị trí địa lý quan trọng có thể tận dụng dòng chảy-khí hậu biển Đông: dòng hải lưu Luzon-Đài Loan mang cá, tôm, ấu trùng cá con, san hô vào đến khu vực Hoàng Sa. Một phần tụ bám lại đây, phần còn lại trôi về Nam Trung Bộ Việt Nam tạo nên sự đa dạng sinh học biển, ngư trường và cảnh quan.
Vị thế tàu bè Bắc Nam của Việt Nam khi đi qua khu vực này hầu như sẽ dễ bị kiểm soát.
Thứ tư, bài học thất thủ Hoàng Sa đã được tiếp nhận nhiều chiều và nhưng không hẳn là thấu suốt. Bài học này gợi ý cho Bắc Việt tiếp quản Trường Sa thật nhanh ngày 4/4/1975 song nước Việt Nam thống nhất vẫn sảy chân tại Gạc Ma 18/3/1988, mất cảnh giác tại Bauxite Tây Nguyên, rừng đầu nguồn, bãi biển Đà Nẵng và những vị trí địa chiến lược khác, vốn không dễ thấy và dễ biết như việc Hoàng Sa thất thủ.
Trung Quốc luôn tấn công Việt Nam với yếu tố bất ngờ vào các thời điểm lễ Tết 19/1/1974, 17/2/1979 và 18/3/1988 và khi nội bộ Việt Nam suy yếu, mất cảnh giác nhất.
Quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây SaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa
Việc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc một lợi thế chiến lược quan trọng nhưng đồng thời cũng làm lộ rõ ý đồ của Bắc Kinh và cảnh tỉnh thế giới.
Nó là mắt xích quan trọng trong chiến lược của Trung Quốc: xác lập đường chữ U và các hành động bành trướng tại Trường Sa sau này.
Vấn đề Hoàng Sa và Biển Đông cho thấy mưu đồ tranh thủ thời gian, truyền thông, tiến hành cuộc chiến tiêu hao sinh lực và tinh thần của nước khác mà Trung Quốc đang tiến hành.
Cũng vì hành động đó, Trung Quốc sẽ phải giải quyết câu chuyện Hoàng Sa với người Việt Nam sau này và mãi mãi.
Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả, từ Quỹ Nghiên cứu Biển ĐôngCảm ơn hai ông Dự Văn Toán và Lê Trung Tĩnh đã đóng góp.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tài liệu mới nói ông Lê Duẩn từ 1973 đã lo 'bị Mao tấn công'


Lê DuẩnBản quyền hình ảnhKEYSTONE/GETTY IMAGES
Image captionTBT Lê Duẩn có chuyến thăm quan trọng sang Moscow mùa hè năm 1973
Một nhà nghiên cứu từ Đại học Cardiff cho rằng Leonid Brezhnev đồng ý giúp Hà Nội 'chống lại Trung Quốc' từ chuyến thăm của TBT Lê Duẩn sang Moscow năm 1973.
Trong bài 'Why Were the Russians in Vietnam?' (Vì sao người Nga có mặt ở Việt Nam?) trên New York Times ̣(27/03/2018), Giáo sư Sergey Radchenko đã đánh giá lại quyết định của Liên Xô trong Chiến tranh Việt Nam, dựa trên các tài liệu tiếng Nga thời Xô Viết.
Nikita Khrushchev, TBT Đảng Cộng sản Liên Xô, ban đầu chỉ coi vấn đề Việt Nam hoàn toàn có tính ngoại vi, là thứ yếu so với quan hệ Xô - Trung.
Thậm chí, Khrushchev còn không tin tưởng ban lãnh đạo Bắc Việt và nói trong số họ có những kẻ 'lai Tàu' (nguyên văn là một từ miệt thị Chinese half-breeds).
Nhưng sang thời Leonid Brezhnev, vị thế của Hà Nội được coi trọng hơn.
Lý do, theo GS Radchenko, không phải vì tân TBT Đảng CS Liên Xô và người cộng sự số một, Thủ tướng Andrei Kosygin, đột nhiên yêu quý người Việt Nam, mà vì cuộc chiến Việt Nam giúp cho họ giành vị thế 'ngang với Mỹ'.

'Đôi bên cùng có lợi'

Brezhnev khi đó cùng ban lãnh đạo mới đối mặt với cuộc khủng hoảng về tính chính danh.
"Trợ giúp cho Bắc Việt Nam chống lại 'chủ nghĩa đế quốc Mỹ' sẽ giúp ban lãnh đạo Liên Xô được công nhận, trong con mắt nhân dân chính họ, và trong cái nhìn của đồng minh quốc tế, như những người thừa kế chính đáng của lá cờ lãnh đạo trong phe xã hội chủ nghĩa."
"Cũng vì chính lý do đó, Moscow cố gắng cải thiện quan hệ với Trung Quốc."
Tuy nhiên, nỗ lực của Liên Xô làm lành với Trung Quốc - Kosygin có chuyến thăm Bắc Kinh năm 1965 - đã không được Mao đón nhận mặn mà, theo GS Radchaneko.
Cùng lúc đó, theo nhà nghiên cứu chính trị từ ĐH Cardiff, Hà Nội cũng có tham vọng và tính toán để ngả về phía Moscow.
Nhu cầu thực tiễn là Hà Nội cần vũ khí và viện trợ từ Moscow.
Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc giúp cho Bắc Việt Nam quyết định rõ rệt hơn trong việc chọn Moscow dù trước đó, ông Lê Duẩn đã tỏ ra ngả về phía Bắc Kinh một cách chiến thuật.
Ban lãnh đạo Hà Nội lo ngại phong trào cực đoan (của CM Văn Hóa) khuấy lên biến động trong giới người Hoa đông đảo tại Bắc Việt Nam.
Về vị thế, Hà Nội cũng muốn vươn lên đóng vai trò lãnh đạo cách mạng XHCN ít ra là ở vùng Đông Nam Á, và không muốn chấp nhận vai trò đàn em (underling) của Bắc Kinh.
Brezhnev và lãnh đạo khối Hiệp ước WarsawBản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionLãnh đạo khối Hiệp ước Warsaw ở Biển Đen năm 1973: từ trái sang Nicolae Ceausescu (Romania), Edward Gierek (Ba Lan), Janos Kadar (Hungary), Gustav Husak (Tiệp Khắc), Leonid Brezhnev (Liên Xô), Erich Honecker (Đông Đức) và Yumsjhagiin Tsedenbal (Mông Cổ). Nước Việt Nam CS gia nhập khối này vài năm sau Cuộc chiến kết thúc năm 1975.
Chuyến thăm của Henry Kissinger sang Trung Quốc năm 1971 khiến Hà Nội cảm thấy 'họ đã không được tham vấn và bị phản bội".
Ông Radchenko nay cho rằng từ năm đó, Bắc Việt Nam đã muốn hoàn toàn ngả về phía Liên Xô.
"Trong chuyến thăm đến Moscow tháng 12/1971, Tướng Võ Nguyên Giáp đã đem đến thông điệp đó khi Bắc Việt Nam chuẩn bị cho cuộc chiến dịch Đông Xuân nhằm đánh cú cuối cùng vào Nam Việt Nam.
Ông Giáp hứa rằng một chiến thắng chung của Liên Xô và Bắc Việt Nam sẽ báo hiệu Hà Nội thăng tiến trong đẳng cấp lên làm lãnh đạo, và là đầu tàu của phe XHCH ở Thế giới thứ ba", Radchenko viết.
"Lãnh đạo Liên Xô đã đồng ý với sứ mệnh đó của Bắc Việt Nam sau khi ông Giáp hứa để hải quân Liên Xô có quyền dùng Vịnh Cam Ranh, khi đó vẫn do Hoa Kỳ kiểm soát."
Nhưng quan trọng hơn, trong chuyến thăm mùa hè 1973 sang Liên Xô, ông Lê Duẩn đã bày tỏ rõ rệt lo ngại về Trung Quốc.
"Ông Duẩn nói với Brezhnev ông nghĩ Mao đã chuẩn bị để xâm lăng toàn bộ Đông Dương và Đông Nam Á nếu có điều kiện chín muồi,"
"Brezhnev đã hứa sẽ giúp bảo vệ Việt Nam - lần này là chống lại nước láng giềng phía Bắc của họ."

Đầu tư danh tiếng quá đắt?

Vẫn bài báo của Sergei Radchenko cho rằng ngay từ năm đó Brezhnev đã hứa với Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng rằng Liên Xô sẽ viện trợ cho nước Việt Nam hậu chiến để công nghiệp hóa nền kinh tế.
Mục đích của Brezhnev là để cho toàn vùng Đông Nam Á thấy lợi ích của việc đi theo con đường XHCN.
Nhà lãnh đạo Liên Xô không chỉ đồng ý xóa nợ cho Việt Nam và còn cho vay và viện trợ nhiều.
Sergei Radchenko cho rằng đến năm 1990, Việt Nam nhận hơn 11 tỷ USD viện trợ và đa số khoản này họ không bao giờ trả.
Trong thập niên 1980, viện trợ cho Việt Nam "thành gánh nặng cho kinh tế Liên Xô, góp phần khiến nước này vỡ nợ", theo ông Radchenko.
ALEXANDER NEMENOV/AFP/Getty ImagesBản quyền hình ảnhALEXANDER NEMENOV/AFP/GETTY IMAGES
Image captionLiên Xô thời Brezhnev muốn giành vị thế đại cường với Hoa Kỳ nên đã đề cao lá cờ CHXH ở Đông Nam Á
Kết luận bài viết, tác giả này cho rằng thắng lợi trong Cuộc chiến Việt Nam chỉ là chiến thắng vô ích (Pyrrhic victory), ít ra là cho Moscow.
Dù cuộc chiến đem lại tính chính danh và uy tín của một đại cường, nó đã không đem lại gì tốt đẹp cho ngân sách nhà nước.
Ông Sergei Radchenko cảnh báo sự can dự của Moscow ngày nay tại Syria, giống như chiến tranh ở Việt Nam, dễ gây ra hậu quả lâu dài tai hại cho nước Nga.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2: Thêm chiến tranh thương mại, Powell bị sa thải và tiếp tục giảm thuế?


Điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2: Thêm chiến tranh thương mại, Powell bị sa thải và tiếp tục giảm thuế?
Phố Wall đang chuẩn bị cho nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng thống Mỹ Donald Trump với hàng loạt những biến động tiềm năng to lớn.
Nhiều nhà phân tích phố Wall cho rằng, nhiệm kỳ 2 của Chính quyền Trump sẽ tiếp tục mang lại cho thương mại toàn cầu những sóng gió. Ông Trump chắc chắn cũng sẽ gây áp lực hơn nữa cho Chủ tịch cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell và sẽ thay thế ông vào năm 2022, cuối nhiệm kỳ của ông Powell. Người kế nhiệm của ông Powell chắc chắn sẽ là một người theo đuổi những chính sách tiền tệ dễ chịu hơn.
Nhà phân tích chính sách Chris Krueger cho rằng một chiến thắng trong chiến dịch tái tranh cử sẽ thúc đẩy ông Trump theo đuổi các khoản chi tiêu lớn. Ông Trump cũng sẵn sàng "cho nổ tung" bất cứ ai mà ông tin là đang cản trở tăng trưởng kinh tế của Mỹ.
"Tôi nghĩ rằng nếu ông ấy thắng cuộc bầu cử Tổng thống vào nhiệm kỳ tới, chúng ta sẽ thấy một ông Trump hoàn toàn không bị kiềm chế. Ông ấy sẽ làm với ông Powell những gì mà ông ấy từng làm với cựu Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions", Krueger nhận định.
Điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2: Thêm chiến tranh thương mại, Powell bị sa thải và tiếp tục giảm thuế? - Ảnh 1.
Nhiều nhà phân tích cũng đồng quan điểm nếu ông Trump đắc cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2, đảng Cộng hòa sẽ không kiểm soát cả 2 viện Quốc hội Mỹ như lần đắc cử đầu tiên. Cụ thể, đảng Cộng hòa dự kiến sẽ tiếp tục kiểm soát Thượng viện trong khi người Dân chủ kiểm soát Hạ viện. Kết quả nghiên cứu của PredictIt, một trang chuyên nhận cược chính trị, cho rằng đảng Cộng hòa có 66% cơ hội kiểm soát Thượng viện trong khi người Dân chủ có 74% cơ hội kiểm soát Hạ viện.
Chính điều này sẽ làm dịu ngay cả những chính sách mạnh mẽ nhất cũng như kiểm tra những nỗ lực của ông Trump trong việc viết lại các thỏa thuận thương mại lâu đời của Mỹ với các đối tác kinh tế, bao gồm cả những đồng minh thân cận nhất.
Tương lai nào cho WTO?
Trong một cuộc vận động tranh cử tháng 6/2016 ở Monessen, Pennsylvania, ông Trump, khi đó còn là ứng viên Tổng thống Mỹ, cho rằng thảm họa về việc làm cũng như sản xuất sụt giảm ở Mỹ là do lỗi của các hiệp định thương mại tự do, trong đó dẫn đầu là NAFTA. Lý do thứ 2 ông Trump nêu ra chính là việc cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Đến bây giờ, quan điểm của Tổng thống Trump về vấn đề này chẳng thay đổi là mấy.
Một trong những chiến thắng ngoại giao quan trọng nhất của Chính quyền Trump xảy ra vào tuần trước, khi Nhà Trắng đạt thỏa thuận với Hạ viện do người Dân chủ kiểm soát để thúc đẩy thỏa thuận thay thế Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA).
Điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2: Thêm chiến tranh thương mại, Powell bị sa thải và tiếp tục giảm thuế? - Ảnh 2.
"Thứ sáu (ngày 13/12) là ngày trọng đại nhất trong lịch sử thương mại. Đó là ngày mà chúng ta đã đệ trình USMCA, hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ - Mexico và Canada, với sự ủng hộ của cả hai đảng cũng như giới kinh doanh, người lao động và nông dân", Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer chia sẻ với CBS hôm cuối tuần trước.
Cũng trong ngày thứ sáu đó, Mỹ và Trung Quốc tuyên bố đã đạt được thỏa thuận thương mại giai đoạn 1. Hiệp ước có các điều khoản nhằm giảm thuế nhập khẩu của Mỹ lên hàng hóa Trung Quốc đổi lại cam kết mua thêm nông sản Mỹ của Bắc Kinh. Tuy nhiên, hiệp định này vẫn chưa chính thức được đôi bên đặt bút ký.
Tuần qua, Chính quyền Trump đã giành 2 chiến thắng to lớn. Tuy nhiên, họ vẫn còn nhiều việc để làm. Giờ đây, ông Lighthizer, Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin và cố vấn kinh tế hàng đầu Larry Kudlow sẽ được tự do giải quyết những mối quan tâm to lớn với thương mại, vốn bị các cuộc thảo luận về USMCA và thỏa thuận thương mại với Trung Quốc, đẩy lùi trong 2 năm qua.
Mục tiêu tiếp theo có thể là WTO.
Sự không hài lòng của người Mỹ với WTO đang ngày càng tăng. Việc áp thuế của Mỹ đang bị nhiều quốc gia đe dọa kiện lên WTO nhưng các quan chức thương mại hàng đầu của Mỹ đang ngăn chặn việc bổ nhiệm các thẩm phán WTO và làm tê liệt tổ chức thương mại này tới khi những khác biệt được giải quyết. Nỗ lực cải tổ WTO, được nhắc tới từ lâu, lại đang diễn ra rất ì ạch. Những nước tự nhận là đang phát triển, trong đó có cả nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là Trung Quốc, đang gây ra những sự bất bình đẳng giữa các thành viên WTO.
Ông Trump thì luôn muốn việc làm, sản xuất trở lại nước Mỹ để nước Mỹ có thể Vĩ đại trở lại. Các quy tắc của WTO lại không ủng hộ mong muốn này của ông chủ Nhà Trắng. Việc ưu đãi với Trung Quốc đang cản trở mục tiêu của ông Trump. Chính vì vậy, việc Mỹ rút khỏi WTO, như lời ông Trump đe dọa, có thể là kết cục bi thảm với tổ chức này.
Không chỉ ở WTO, tại Ngân hàng Thế giới (WB), Mỹ cũng đang lên tiếng cáo buộc những điều khoản không công bằng với Trung Quốc. Cụ thể, WB cho Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, vay các khoản vay được thiết kế cho các nước có thu nhập trung bình hoặc thấp. Cả người Dân chủ và Cộng hòa ở Mỹ đều chia sẻ nhận định: Trung Quốc đã quá trưởng thành để hưởng những lợi ích này.
Áp lực với Powell
Khi Cục dự trữ Liên bang không điều chỉnh lãi suất theo hướng, hoặc tốc độ, mà ông Trump mong muốn, ông chủ Nhà Trắng có xu hướng trút giận lên đầu Chủ tịch FED Powell.
Ed Mills, chuyên gia phân tích chính sách tại Raymond James, cho rằng ngài Tổng thống thất vọng với việc lựa chọn Chủ tịch FED của chính mình. Điều này xảy ra hàng ngày và cá nhân đến nỗi gần như chắc chắn rằng ông Trump sẽ thay thế ông Powell khi nhiệm kỳ của vị Chủ tịch FED này kết thúc vào năm 2022.
Điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2: Thêm chiến tranh thương mại, Powell bị sa thải và tiếp tục giảm thuế? - Ảnh 3.
"Đối với ông Powell, nếu ông Trump tái đắc cử, sẽ rất, rất khó để ông Powell chạy đua nhiệm kỳ Chủ tịch FED thứ 2. Nếu người Dân chủ được bầu, tôi cho rằng họ sẽ muốn có một Chủ tịch FED là người của họ. Dù trong hoàn cảnh nào, việc ông Powell ra đi là rõ ràng dù kết quả cuộc bầu cử này có ra sao đi nữa", Mills nhận định.
Trong nhiều năm, ông Trump yêu cầu FED giữ lãi suất thấp với lập luận lãi suất cao làm tổn hại nền kinh tế Mỹ, suy yếu nỗ lực của ông trong việc xóa bỏ thâm hụt thương mại giữa Mỹ với các nước khác. Quốc hội Mỹ sẽ giám sát chương trình lãi suất của FED để làm sao có thể giữ ổn định giá, tạo công ăn việc làm và ngăn tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, ông Trump muốn chính sách lãi suất của FED có thể thúc đẩy nền kinh tế Mỹ.
Giảm thuế phiên bản 2.0
Về chính sách đối nội, nhiệm kỳ 2, Tổng thống Trump sẽ tập trung vào một số ưu tiên chính có thể thu hút sự ủng hộ của Hạ viện do người Dân chủ kiểm soát. Đầu tiên có thể là đợt cắt giảm thuế thứ 2, được gọi là "Tax Cuts 2.0". Tháng trước, cố vấn kinh tế trưởng Kudlow nói với CNBC rằng ông Trump đã yêu cầu ông xây dựng một kế hoạch như vậy nhưng cảnh báo nó vẫn còn quá sớm để đi sâu vào chi tiết.
Trước đó, tờ Washington Post cho biết các cố vấn hàng đầu của ông Trump đang nghiên cứu các chính sách cắt giảm thuế lên tới 15% dành cho tầng lớp trung lưu.
Điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2: Thêm chiến tranh thương mại, Powell bị sa thải và tiếp tục giảm thuế? - Ảnh 4.
Trong lần giảm thuế đầu tiên, Đạo luật Việc làm và Cắt giảm thuế năm 2017 chủ yếu mang lại lợi ích cho người giàu trong năm đầu tiên có hiệu lực. Cụ thể, những gia đình có thu nhập ít hơn 25.000 USD/năm chỉ được giảm trung bình 40 USD tiền thues trong khi những hộ có thu nhập 733.000 USD/năm trở lên lại tiết kiệm được tới 33.000 USD tiền thuế.
Tiếp tục giảm thuế là chính sách nhiều khả năng sẽ trở thành hiện thực trong nhiệm kỳ mới của ông Trump nhưng nhiều khả năng nó sẽ có tác động chính trị nhiều hơn là kinh tế, CNBC dẫn lời chuyên gia nhận định.
Linh Anh / Theo Trí thức trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang