Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

Phản biện lại lãnh đạo TP Hà Nội.


Trong một bài viết đăng tải sáng nay, 6-12, báo Nhà Đầu tư dẫn lời ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND TP Hà Nội, nói rằng thông tin trong giá nước Sông Đuống có 2.003 đồng/mét khối tiền lãi vay ngân hàng và người dân phải gánh khoản lãi vay này là không chính xác do phát biểu sai của ông Nguyễn Việt Hà, giám đốc Sở Tài chính Hà Nội.
“Tôi mong muốn mọi người thông cảm vì là tân Giám đốc Sở. Nhưng một phát biểu rất sai lầm, cuối cùng để cả dư luận hiểu lầm, đó là tiền người dân phải chịu phí lãi vay của chủ đầu tư trong giá nước là 2.003 đồng", ông Nguyễn Đức Chung nói như vậy trong phiên giải trình làm rõ ý kiến đại biểu tại phiên chất vấn của kỳ họp thứ 11 HĐND TP. Hà Nội vào chiều qua, 5-12.
Vậy là, lãnh đạo TP Hà Nội đem anh Hà, giám đốc Sở Tài chính ra chịu trách nhiệm về làn sóng phẫn nộ của dư luận khi phải gánh tiền lãi vay ngân hàng thay cho doanh nghiệp với số tiền cụ thể là 2.003 đồng/m3 nước. Và lý do vẫn rất quen thuộc: Phát biểu nhầm.
Anh Hà phụ trách tài chính nói trong giá nước có 2.003 đồng chi phí lãi vay.
Anh Chung chủ tịch TP lại nói không có chuyện đó.
Vậy thực tế là gì?
Tôi post lên đây một bản chụp phần phụ lục số 1 của tờ trình cấp bù ngân sách cho nhà máy nước Sông Đuống, ký ngày 27-12-2018. Phần phụ lục này kê chi tiết các khoản cấu thành giá nước 10.246 đồng/mét khối nước mà UBND TP Hà Nội đã phê duyệt cho nhà máy nước Sông Đuống từ năm 2017.
Trong đó đã kê rất rõ, phần chi phí lãi vay (nằm trong mục chi phí quản lý) là 2.003 đồng/mét khối nước.
Vậy là số tiền lãi vay người dân phải gánh 2.003 đồng/mét khối nước là con số có trong hồ sơ, tài liệu đàng hoàng.
Tôi tin vào giấy trắng mực đen. Các anh chị tin ai?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Triều Tiên đang "làm bộ làm tịch"

'Bom hẹn giờ' chực phát nổ trên bán đảo Triều Tiên

Triều Tiên đặt cược lớn vào hạn chót 31/12 để Mỹ tháo gỡ tình thế bế tắc, làm dấy lên lo ngại về khủng hoảng bùng phát sau thời điểm này.
Thứ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Thae-song hôm 3/12 cảnh báo cách Mỹ hành xử sẽ quyết định "món quà Giáng sinh" mà họ nhận được vào hạn chót cuối năm. Thời hạn này được lãnh đạo Kim Jong-un đưa ra hồi tháng 4 nhằm yêu cầu Mỹ dỡ bỏ các lệnh trừng phạt cản trở kinh tế Triều Tiên, mở đường cho tái đàm phán phi hạt nhân hóa.
Tháng trước, Triều Tiên cũng cảnh báo chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump không nên "mơ tưởng" về việc thảo luận phi hạt nhân hóa chừng nào chưa chấm dứt những "chính sách thù địch", bao gồm các lệnh cấm vận kinh tế. Họ thề sẽ trả đũa "gây sốc" nếu Washington phớt lờ hạn chót cuối năm.
Lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un tới thăm một điểm đóng quân ở phía tây đất nước tháng trước. Ảnh: KCNA.
Lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un tới thăm một điểm đóng quân ở phía tây đất nước tháng trước. Ảnh: KCNA.
Thông điệp này dường như không khiến các nhà ngoại giao cấp cao Mỹ bận tâm, khi họ cho rằng Triều Tiên đang "làm bộ làm tịch". "Tôi không nhớ thời hạn nào hết. Có chắc là Triều Tiên đặt ra nó không?", David Stilwell, trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, trả lời báo chí hồi tháng 10.
Stilwell thừa nhận không nắm được về hạn chót cuối năm của Bình Nhưỡng, nhưng nói thêm rằng "có một thứ người Triều Tiên làm rất nhiều, đó là không thành thật". Cách nhìn nhận này của Mỹ khiến các nhà phân tích lo ngại quả bom hẹn giờ sẽ bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên.
Giới chuyên gia nhận định hạn chót mà Bình Nhưỡng liên tục cảnh báo ẩn chứa mối đe dọa ngầm rằng nước này có thể tái thực hiện những hành vi đáng báo động trong quá khứ. Hôm 28/11, Triều Tiên phóng hai quả đạnpháo phản lực siêu lớn, vụ phóng thử vũ khí lần thứ 13 kể từ tháng 5.
"Chúng ta đang ngồi trên đỉnh một ngọn núi lửa đang hoạt động", Robert Carlin, cựu quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ từng tham gia đàm phán hạt nhân, đề cập tới tình hình xấu đi nhanh chóng trên bán đảo Triều Tiên. "Chúng ta không có nhiều thời gian để lùi lại nữa".
Một số nhà phân tích đánh giá việc đặt ra hạn chót cho thấy Kim Jong-un muốn đạt được thỏa thuận với Mỹ đến mức nào, để ông có thể thực hiện lời hứa trước người dân về việc xóa bỏ lệnh cấm vận và tái thiết nền kinh tế. Những tuyên bố ngày càng khẩn trương của Bình Nhưỡng gần đây cũng được cho là nhằm gây áp lực buộc Washington trở lại bàn đàm phán với đề xuất linh hoạt hơn.
"Triều Tiên đang cố nói với Mỹ rằng họ sẽ làm chuyện gì đó rất tệ, trừ khi Washington giúp họ tự ngăn chặn chính mình bằng động thái nào đó vào cuối năm", cựu thứ trưởng Bộ Thống nhất Hàn Quốc Kim Hyung-ki phát biểu tại một diễn đàn ở Seoul hồi tháng 10.
Bình Nhưỡng không nêu cụ thể về viễn cảnh có thể xảy ra sau ngày 31/12, ngoại trừ việc Kim Jong-un cảnh báo sẽ tìm "con đường mới" nếu Washington vẫn giữ các lệnh trừng phạt và cố gắng ép buộc một thỏa thuận phi hạt nhân hóa không thể chấp nhận.
Theo giới chuyên gia, "con đường mới" của ông Kim có thể đồng nghĩa với việc nối lại các vụ thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM). Việc Triều Tiên không tiến hành các vụ thử như vậy trong gần hai năm qua là điều mà Trump thường xuyên coi là thành tựu lớn nhất của ông trong quan hệ ngoại giao với Kim.
Tuy nhiên, nếu phóng thử tên lửa tầm xa, Triều Tiên có nguy cơ chịu thêm lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc, cũng như phản ứng gay gắt từ phía Mỹ, thậm chí có thể đưa hai nước trở lại thời kỳ Trump đe dọa trút "lửa và thịnh nộ" lên Bình Nhưỡng.
Với những cảnh báo ngày càng gay gắt trong những tuần gần đây, Bình Nhưỡng được cho là đang mạo hiểm khi tự buộc mình vào hạn chót cuối năm của ông Kim, trong khi Washington đang bị phủ bóng bởi các phiên điều trần luận tội, khiến chính quyền Trump gặp hạn chế trong việc xử lý quan hệ ngoại giao với Bình Nhưỡng. Những yếu tố trên làm gia tăng nguy cơ một trong hai nước có thể tính toán sai, các nhà phân tích đánh giá.
"Chúng tôi có thể thấy khả năng bị lùi về giai đoạn khiêu khích trước khi tiến trình ngoại giao bắt đầu", đặc phái viên Mỹ về Triều Tiên Stephen Biegun tháng trước cho biết trong phiên điều trần xác nhận việc đề cử ông làm thứ trưởng ngoại giao. "Tôi nghĩ đó sẽ là một sai lầm lớn và sự bỏ lỡ cơ hội của Triều Tiên".
Triều Tiên có thể thực hiện nhiều động thái nhằm truyền thông điệp mạnh mẽ tới Mỹ trong trường hợp quan hệ hai bên đổ vỡ, như tái khởi động lò phản ứng hạt nhân sản xuất plutonium tại khu phức hợp Yongbyon, hay phóng các tên lửa tầm ngắn hoặc tầm trung. Tuy nhiên, ông Kim khả năng cao sẽ trì hoãn việc thử hạt nhân hay ICBM.
Ngoài sự phản đối của Liên Hợp Quốc và Mỹ, hành động này cũng sẽ làm phật ý Trung Quốc, trong khi ông Kim đang cần nước này trợ giúp hơn bao giờ hết để giảm bớt hậu quả của các lệnh trừng phạt quốc tế. Theo dữ liệu của hải quan Trung Quốc, 1,2 triệu du khách nước này đã tới Triều Tiên vào năm ngoái, tăng 50% so với năm 2017, mang lại khoản lợi nhuận mà Bình Nhưỡng vô cùng khao khát.
Lee Jung-chul, chuyên gia về Triều Tiên tại Đại học Soongsil ở Seoul, cho biết nếu Kim chấm dứt quan hệ ngoại giao với Trump, ít nhất ông vẫn có thể xoay xở trong thời gian ngắn với sự hỗ trợ từ Bắc Kinh. "Vì vậy, Triều Tiên khó có thể thực hiện hành vi khiêu khích quá mức do tầm quan trọng của quan hệ với Trung Quốc", ông nói.
Bên cạnh đó, Triều Tiên còn không nêu rõ họ mong muốn điều gì khi yêu cầu Mỹ từ bỏ "chính sách thù địch", trong khi khẳng định rằng Bình Nhưỡng đã thực hiện đủ các bước xây dựng lòng tin, khiến triển vọng đàm phán thêm xa vời.
Giới phân tích lo ngại rằng với tình hình đàm phán đình trệ, Triều Tiên sẽ tiếp tục sản xuất nhiên liệu và đầu đạn hạt nhân. Khi kho vũ khí hạt nhân thêm chồng chất, chi phí phi hạt nhân hóa cũng sẽ tăng.
"Các lệnh trừng phạt và áp lực không bao giờ đủ để gây tác động tới Triều Tiên, mà bạn còn phải có những động thái khích lệ họ", Jun Bong-geun, chuyên gia tại Viện Ngoại giao và An ninh Quốc gia Hàn Quốc, đánh giá.
Ánh Ngọc (Theo NY Times)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư tưởng độc đáo của triết gia Hy Lạp Socrates


Socrates là hiện tượng đặc biệt trong lịch sử triết học, đặc biệt ở thành phần xuất thân, trong lối sống, phương thức sinh hoạt, phong cách tư duy. Ngay cả đến cái chết của ông cũng tạo nguồn cảm hứng cho thi ca và hội họa. Cái chết đó không phải chấm dứt cuộc sống mà là hóa thân vào kiếp khác để tiếp tục cảm hóa lòng người bằng sự dũng cảm và lòng cao thượng của một người không bị khuất phục trước bất cứ một cám dỗ vật chất và thế lực cường quyền nào. Khi người ta dâng chén thuốc độc cho Socrates, ông đã hài hước hỏi có cần phải chia phần dâng thần linh không ? Câu trả lời không kém phần trào lộng là thuốc độc chỉ pha đủ cho mình ông thôi. Ông trầm tĩnh trước cái chết đến nỗi có người cho rằng, không phải thuốc độc được dâng lên cho Socrates mà chính Socrates đã tự dâng mình cho thuốc độc.
1. Socrates – chiến sĩ tranh đấu cho công lý, tự do và lòng cao thượng
Socrates sinh tại Athens trong một gia đình thợ thủ công, thân phụ là Sophronicus làm nghề đẽo đá, khắc tượng – một công việc giáp ranh giữa lao động chân tay và lao động nghệ thuật. Tương truyền, cha ông là một nghệ nhân có tài đã làm ra các tượng nữ thần Graces. Thân mẫu là Phaenarete, làm công việc đỡ đẻ, giúp phụ nữ trong những giây phút vượt cạn hết sức gian nguy để cho ra đời những sinh linh mới. Nếu nghề của cha rèn luyện cho Socrates một sức khỏe dẻo dai, bàn tay khéo léo thì nghề của mẹ đã truyền cảm hứng cho chàng trai để tạo nên một phương pháp tranh luận triết học – phương pháp biện chứng dựa trên sự mỉa mai và đỡ đẻ. Về vấn đề này, A. Cresson viết: “Rất có thể sự kiện này đã ảnh hưởng quan trọng đến sự tiến triển trong các quan niệm của Socrates. Bà Phenarete đã kích thích Socrates phụng sự không phải như một thầy giáo dạy học, mà như một người đỡ đẻ, giúp cho các tinh thần khám phá ra những gì mà nó vẫn mang nặng”(12, tr.87).
Socrates sinh vào khoảng năm 470 và mất vào khoảng năm 399 Tr.CN – đây là giai đoạn hưng thịnh của thành phố Athens, do vậy ông có cơ hội tiếp thu một nền học vấn Hy Lạp cổ đại và sống trong một bầu không khí tranh luận học thuật sôi nổi. Khi đã đủ 18 tuổi, chàng thanh niên Socrates phải đi nghĩa vụ quân sự, tuyên thệ trước quân kỳ những lời lẽ hướng tới việc bảo vệ tổ quốc.Trong quân ngũ, ông là người lính nổi tiếng nhờ sự gan dạ và giành được sự ngưỡng mộ của những quân nhân khác. Sau khi mãn hạn nghĩa vụ quân sự, ông tiếp tục làm công việc thủ công của người cha, lấy vợ, sinh hạ được ba người con.Lịch sửkhông ghi rõ Socrates kiếm sống bằng cách nào. Các văn bản cổ dường nhưchỉ ra rằng Socrates không làm việc gì ổn định hay không có nghề nghiệp. Trong Symposium của Xenophon, Socrates đã nói rằng ông nguyện hiến thân cho những gì coi lànghệthuật hay công việc quantrọng nhất: những cuộc tranh luận về triết học, giúp người khác “đẻ” ra chân lý, chứ không có tham vọng giáo huấn, tức làm nghề thầy giáo, dạy bảo người khác.
Thời trẻ, Socrates giao du rộng, gặp gỡ và tranh luận với đủ các loại người. Giống như những người có học khác ở Athens, Socrates say mê nghiên cứu quan điểm các trường phái triết học thịnh hành lúc bầy giờ. Vốn có một tư duy độc lập, không muốn suy nghĩ theo lối mòn truyền thống, ông đã nhanh chóng nhận thấy hai sai lầm cơ bản mà các triết gia đương thời mắc phải, đó là: 1) Họ chỉ phê bình, tranh luận lẫn nhau mà không hề chú ý tới phương pháp biện luận, cho nên không thể phân định đúng sai, phải trái.Trong lúc đó, việc phân định này là vô cùng quan trọng, quyết định tính mục đích và xác định tính chân lý của mọi cuộc tranh luận. 2) Họ chỉ chú trọng nghiên cứu những vấn đề vũ trụ luận, bản thể luận, nghĩa là đặt ra những vấn đề lý luận chung chung mà không để ý đến những vấn đề thực tiễn của cuộc sống đang đặt ra như thế nào là điều thiện, là công lý.
Theo cách nghĩ của Socrates, trong một xã hội tràn đầy những bất công đương thời, các câu hỏi cần phải giải đáp phải là: Lẽ phải là gì? Điều thiện là gì? Thế nào là công lý? Những câu hỏi này làm cho ông suy tư, trăn trở.
Socrates không chỉ đặc biệt trong lối sống, phương thức tư duy mà còn đặc biệt trong sự nghiệp triết học, ông chỉ đi thuyết pháp, tranh biện mà hầu như không đặt bút viết bất cứ điều gì. Những gì ngày nay chúng ta biết về con người và tư tưởng của ông đều thông qua các tác phẩm của ba triết gia sống cùng thời là Aristophanes, Plato và Xenophon, trong đó các tác phẩm của người học trò Plato đóng vai trò quan trọng.Từ những nguồn tài liệu quý giá này, chân dung triết gia Socrates xuất hiện như một bậc hiền tài với những nét chấm phá lột tả ông như một người giản dị, xuề xòa về ăn mặc, bình dân trong phong cách giao tiếp, dẻo dai về sức khỏe, nhanh nhạy và sắc sảo trong đối đáp, sống có tình và đặc biệt tôn trọng tính trung thực, chân thật. Aristophanes đã phác thảo chân dung Socrates với bước đi khệnh khạng, thích trêu chọc người khác. Còn Xenophon thì miêu tả ông như một chiến sĩ trung kiên say mê tranh luận về đạo đức và có biệt tài lôi cuốn giới trẻ. Với tư cách là một chiến sĩ tranh đấu cho tự do, và sự công lý, Socrates tin rằng, việc chăm lo cho linh hồn con người phải là mối quan tâm lớn nhất của một con người, do vậy ông dành nhiều thời gian để xem xét đời sống cá nhân mình và đời sống những người dân Athens.
Sự nghiệp triết học của Socrates bắt đầu từ một sự kiện dường như đã có sự an bài của định mệnh – đó là khi ông trạc tuổi trung niên, bạn ông là Chaerephon đã mạnh bạo đến ngôi đền Delphi ở Athens xin lời sấm để biết xem trong thiên hạ liệu có ai khôn hơn Socrates? Lập tức lời nữ thần tiên tri Phithia trả lời rằng không có ai khôn hơn Socrates. Khi nghe chuyện này Socrates thật tình bối rối vì ông biết mình không phải là người khôn ngoan nhất. Socrates suy nghĩ và đặt câu hỏi: Vậy tại sao thần lại nói ông là người khôn ngoan hơn tất cả mọi người. Mà ngài lại là một vị thần, ngài không thể nói sai sự thật. Sau một hồi suy nghĩ, ông tìm ra phương pháp thử câu hỏi. Ông cho rằng, chỉ cần tìm ra một người khôn ngoan hơn ông là có thể chạy đến trước vị thần để bác bỏ lời sấm. Từ đó ông bắt đầu cuộc hành trình khắp Athens đi tìm một người khôn ngoan hơn mình như một lời tạ lỗi thánh thần.
Ông đã cất công tìm đến đủ mọi loại người, từ chính trị gia, triết gia, thi sĩ cho đến thương gia, thợ thủ công. Đi đến đâu, gặp ai, ông cũng đặt câu hỏi và tranh luận dựa trên thủ thuật chất vấn bằng cách liên tục đặt câu hỏi xem thử có phải người đó là người khôn ngoan nhất không.Việc làm này của ông vô tình đã xúc phạm đến lòng tự trọng của những người khác, làm cho số lượng người ghen ghét ông ngày càng tăng. Mọi việc cứ diễn ra như vậy trong suốt mấy chục năm trời, mãi đến khi Socrates gần 70 tuổi, người dân thành Athens quá ngán ngẩm với những triết lý của ông. Một công dân thành Athens có tên là Meletus đã viết đơn lên tòa án, buộc tội ông phải chịu trách nhiệm về tình trạng gieo rắc tư tưởng vô thần (bài xích thần linh, thay thượng đế của thành phố bằng thượng đế của mình), truyền bá tư tưởng tự do, lối sống phóng túng nên đã làm băng hoại và suy đồi đạo đức thanh niên.
2. Socrates tự biện trước tòa và cái chết bi thảm của ông
Socrates đã bị đưa ra trước một tòa án với đoàn bồi thẩm gồm 501 công dân thành Athens.Về lời tố cáo mang tính vu oan này đã được Plato miêu tả qua lời đối thoại của Socrates với Euthyphro ở tiền sảnh công đường trước khi khai mạc phiên tòa. Socrates nói: “Hắn (Meletus) bảo là hắn biết được lý do tại sao thế hệ trẻ ngày nay đang bị hư hỏng, và ai đã gây ra cho tuổi trẻ hư hỏng như thế…Lời tố cáo của hắn rất lạ, mới nghe đã làm tôi phải ngạc nhiên. Hắn bảo rằng tôi là một nhà thơ, hay là kẻ tạo ra các thần thánh, thế mà tôi lại phát minh ra thần thánh mới, và từ chối sự hiện hữu của các thần thánh cũ, đây là cơ sở nền tảng của cáo trạng mà hắn dã đưa ra” (10, tr.10-11). Bằng những lời lẽ đanh thép, logic chặt chẽ, lý lẽ sắc sảo của một nhà ngụy biện, Socrates đã tranh luận tay đôi với đoàn bồi thẩm. Tuy nhiên, một mình ông không thể thắng họ, bởi theo lẽ đời, xưa nay chân lý luôn thuộc về số đông và kẻ mạnh. Ông bị tòa án kết tội chết bằng hình thức bức tử, một cách chết nhẹ nhàng và cao thượng dành cho những người quý phái lúc bấy giờ: Dâng chén rượu trong đó có pha độc dược. Bản án không thi hành ngay mà cần đợi một thời gian.
Khi bị giam trong khám tử tù, bạn bè đã khuyên Socrates nên trốn và tạo hết mọi cơ hội cho ông vượt ngục. Họ lý giải rằng, ông đang có vợ dại, con thơ, ông là người cần thiết cho giới trẻ. Nhưng ông quyết không nghe theo lời khuyên đó mà ở lại để đối mặt với cái chết, bởi:
1) Ông tin rằng sự trốn chạy là biểu hiện của sự sợ hãi cái chết, mà theo ông, không triết gia nào lại làm như thế.
2) Nếu ông trốn khỏi Athens thì sự dạy dỗ của ông không thể ổn thỏa hơn ở bất cứ nơi nào khác như ông đã từng truy vấn mọi người ông gặp và không phải chịu trách nhiệm về sự không vừa ý họ.
3) Bằng sự chấp thuận sống trong khuôn khổ luật thành bang, ông hoàn toàn khuất phục chính bản thân để có thể bị tố cáo bởi các công dân khác và bị tòa án của nó phán là có tội – điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc Socrates là sống thật thà, trung thực, tôn trọng pháp luật và chân lý cho đến phút chót cuộc đời.
Để hiểu thêm tính pháp lý của phiên tòa, chúng ta hãy tham khảo những lời biện hộ cuối cùng của Socrates được ghi nhận trong Apology của Plato – nhân chứng sống hay người có mặt tại phiên tòa: “Thưa các công dân Athens, tôi không biết quý vị đã bị ảnh hưởng thế nào bởi các người tố cáo tôi; nhưng tôi biết rằng họ hầu như muốn làm cho tôi quên đi mình là ai – họ nói một cách quá thuyết phục, nhưng họ chẳng nói được một lời sự thật.Thế nhưng trong số rất nhiều lời dối trá họ nói ra, có một lời làm tôi sững sốt; – đó là khi họ nói quí vị phải đề cao cảnh giác và đừng để mình bị lừa dối bởi sức mạnh sự hùng biện của tôi…chính là sức mạnh của sự thật… Khi họ nói rằng Socrates, một con người khôn ngoan, là người truy tìm trời cao và đất sâu, và có tài thay trắng đổi đen. Những con người gieo rắc các câu chuyện như thế là những kẻ vu khống mà tôi rất sợ. Tôi xin tóm tắt lời họ như sau: Socrates là một kẻ làm điều ác, một con người kỳ lạ, truy tìm những sự vật dưới đất và trên trời, và giỏi thay trắng đổi đen; và hắn đã dạy những điều đó cho người khác” (8, tr.22, 23, 24). Socrates buộc tội những kẻ vu cáo ông như Meletus, Anytus, Lycon, cho bọn họ là những người vô liêm sỉ. Ông cho rằng, bản thân ông sứ giả hòa bình, là món quà mà thượng đề tặng cho đất nước Hy lạp, người có sứ mạng lịch sử kích thích, thuyết phục, sữa lỗi cho mọi người. Ông không có tội tình gì ngoài việc suốt đời bỏ qua lợi ích riêng tư để truy tìm một người khôn ngoan hơn nhằm bác bỏ lời sấm.
Cái chết của Socrates được Plato diễn tả một cách xúc động trong phần cuối tác phẩm Phaedo. Theo đó, khi nhận chén thuốc từ tay người hầu, Socrates nói “tôi có thể và phải cầu xin các thần ban phước cho cho cuộc hành trình sang thế giới bên kia, ước gì được như lời nguyện. Rồi ông nâng chén thuốc độc lên môi, hoàn toàn mau mắn và vui vẻ uống cạn chén thuốc độc”. Tất cả mọi người có mặt trong căn phòng “đã gào lên khóc rất to” vì mất một người bạn tuyệt vời nhất, duy “chỉ một mình Socrates giữ được bình thản. Ông nói, tiếng kêu khóc kỳ lạ này là gì vậy?” (8, tr.42).
Sau khi uống độc dược, ông vẫn được người hầu dẫn đi dạo cho đến khi bước chân trở nên nặng nềvà gục xuống. Thấy vậy,người quản lý độc dược véo thử vào chân,Socrates không còn cảm giác gì ở chân nữa. Sự tê liệt dần dần lan khắp cơ thể cho đến khi độc dược chạy vào tim. Trước khi tắt thở, Socrates vẫn không quên trăng trối với người bạn bằng những lời hài hước: “Crito, tôi còn mắc nợ Asclepius (1) một con gà trống, anh làm ơn trả giùm tôi được không?”ä. Rồi ông lịm dần đi, hóa thân vào bóng tối, tiếp tục cuộc hành trình sang thế giới bên kia. Plato xúc động viết những dòng cuối: “Đó là kết cục của người bạn chúng ta, một con người tốt nhất, khôn ngoan nhất và chính trực nhất giữa những con người thời đại ông mà tôi được biết”(8, tr.43) – đây có lẽ là lời bình phẩm ngắn gọn nhưng đầy đủ và khách quan nhất về nhân vật huyền thoại triết học này.
3. Biện chứng pháp hay nghệ thuật tranh luận Socrates
Để thực hiện lời nguyền với thần linh là tìm ra một người khôn ngoan hơn mình, Socrates thực hiện cuộc hành trình gặp gỡ đủ mọi loại người để chất vấn. Việc chất vấn đối với ông không nhằm mục đích giáo huấn, khoe khoang tri thức mà chủ yếu là để khơi dậy nơi họ những tri thức tiềm ẩn. Do vậy, ông xây dựng một phương pháp đối thoại tích cực, hay phương pháp truy vấn, vặn hỏi, qua đó giúp mọi người tránh sự ngộ nhận (cho mình là người khôn ngoan nhất), vượt qua mọi sai lầm, định kiến cá nhân để xác định đúng bản chất của sự vật, rồi sau đó đi đến những việc làm đúng đắn hay điều thiện – một phương pháp đối thoại như vậy người đời sau gọi là biện chứng pháp Socrates (Socrates dialectics), phương pháp đó được tiến hành bằng một thứ văn phong hài hước thông qua bốn bước cơ bản:
Bước thứ nhất mang tính “mỉa mai” (Ironie), trào lộng hay phản chứng. Theo Socrates, trong đối thoại (dialogues), trước hết, người đối thoại phải biết hay cần phải tạo nên “tình huống có vấn đề”, tức là cần đặt lại đối với những vấn đề tưởng chừng như đã rõ ràng từ trước.Tiếp đến là cần lập luận để dồn đối phương vào thế tự mâu thuẫn với chính mình, từ đó bản thân người bị chất vấn tự nhận ra sai lầm của mình và công nhận ý kiến của người chất vấn là đúng. Để thực hiện được mục đích này thì chủ thể thực hiện đối thoại phải biết “mỉa mai” hay châm biếm, chọc tức đối phương.
Bước thứ hai cần thực hiện là chủ thể đối thoại phải biết “đỡ đẻ” cho đối phương, nghĩa là giúp họ “đẻ” ra chân lý. Thuật ngữ “đỡ đẻ” (majeutique) lấy nguyên nghĩa đen của ngành y, tức hành động giúp cho người phụ nữ thai nghén sinh nở được dễ dàng. Socrates dùng thuật ngữ này với nghĩa bóng, theo đó trách nhiệm của người chất vấn là giúp người bị chất vấn tìm ra lối thoát để đưa họ đến chân lý hay “đẻ” ra suy tư mà họ đã thai nghén trong lòng nhằm tạo lập tri thức mới. Nếu không như vậy thì chắc hẳn mọi tri thức chỉ là tri thức tiềm ẩn trong đầu mà không thoát ra được bên ngoài để trở thành chân lý hay tri thức phổ quát.
Bước thứ ba có tính “quy nạp” (induction), tức chủ thể đối thoại cần phải đi từ việc phân tích các sự vật, hiện tượng đơn lẻ đến việc khái quát thành tri thức chung và nắm bắt bản chất vấn đề tranh luận. Socrates tìm kiếm ý niệm công bằng qua các hành vi gọi là công bằng, ý niệm đẹp qua các sự vật được gọi là đẹp, ý niệm thiện qua những việc làm mà con người cho là tốt lành. Theo Socrates, những cái riêng như bông hoa có thể héo tàn, nhưng cái đẹp mà những bông hoa đó đại diện thì còn mãi với thời gian trong tâm thức loài người.
Bước thứ tư, khi đã có tri thức chung, chủ thể cần đi đến sự “định nghĩa” (definition), tức kết luận vấn đề một cách xác thực, nắm bắt bản chất các sự vật như chúng vốn có trong thực tế, xác định đúng bản chất của đối tượng nghiên cứu, đến đây vấn đề có thể kết luận, cuộc tranh luận kết thúc. Theo Socrates, định nghĩa là quá trình theo đó trí óc có thể phân biệt hoặc xếp hạng hai đối tượng tư duy: cái cụ thể cảm tính (bông hoa đẹp đang đặt trên bàn) và cái chung phổ quát (ý niệm đẹp mà trong đó bao hàm cả cái đẹp của bông hoa đang đặt trên bàn). Do vậy, không thể đồng nhất cái đẹp cụ thể với ý niệm đẹp nói chung. Qua khả năng định nghĩa, Socrates cho thấy, tri thức đích thực không phải là sự tra xét các sự vật, hiện tượng đơn lẻ mà là sự khám phá cái chung ẩn dấu trong chúng, cái chung đó mang tính vĩnh hằng, nó vẫn tồn tại mặc dầu các sự vật hiện tượng đơn lẻ có thể mất đi, ví như cái đẹp vẫn còn sau khi bông hoa héo.
Chúng ta thử lấy một ví dụ điển hình về biện chứng pháp Socrates trong đoạn đối thoại với Euthyphrotại đại sảnh nhà vua Archon, nơi Socrates đang ngồi chờ xem ai đã tố cáo ông vì tội vô đạo. Một cách mỉa mai, Socrates diễn tả sự vui mừng vì gặp Euthyphro đến tố cáo tội giết người của cha mình, một tội giống như tội mà Socrates bị tố cáo. Socrates biết chắc rằng, Euthyphro thực hiện hành vi vô đạo vì anh đang tố cáo cha mình (2). Song Socrates giả vờ như không biết gì về tội vô đạo, và châm biếm hỏi Euthyphro thế nào là tội vô đạo, vì chính Euthyphro tố cáo cha mình về tội danh này. Euthyphro trả lời rằng “có đạo là trừng phạt kẻ làm điều xấu, còn vô đạo là không trừng phạt hắn”. Socrates tấn công: “Tôi không hỏi anh về hành vi có đạo, mà muốn biết ý niệm có đạo là gì khiến cho mọi hành vi có đạo là có đạo”. Euthyphro tiếp tục trả lời rằng, “có đạo là làm những gì vừa lòng các thần”. Socrates cho rằng, cùng một việc làm có thể thần này hài lòng, còn thần kia không”. Thấy lỡ lời, Euthyphro sửa lại: “có đạo là làm điều mà tất cả các vị thần đều ưa thích”. Chưa hài lòng, Socrates hỏi tiếp: “Các thần thích hành động vì nó có đạo hay hành động đó có đạo nên các thần thích”. Euthyphro buộc phải trả lời tiếp, anh nói rằng, “có đạo là phương diện của công lý được chú ý tới các thần”. Socrates hỏi rõ hơn: “vậy loại chú ý nào nhờ vào các thần”, đến đây Euthyphro thấy đã đuối lý, Socrates bèn giải thích “bạn không bao giờ được tố cáo cha già của mình vì tội giết hại một gia nhân, trừ khi bạn biết chính xác thế nào là có đạo và thế nào là vô đạo” (8, tr.12-22).
Biện chứng pháp hay phương pháp truy vấn Socrates đúng như lời nhận định của Bryan Magee “đã làm cho ông trong chứng mực nào đó, trở thành người nổi tiếng nhất trong tất cả các triết gia, ông đã tiến hành truy hỏi không ngừng về những khái niệm nền tảng của chúng ta” (7, tr.26). Biện chứng pháp đó đòi hỏi chúng ta muốn hành động đúng trước hết phải nhận thức đúng. Mà muốn nhận thức đúng phải biết thiết định nội hàm hay định nghĩa khái niệm. Muốn có một định nghĩa khái niệm đúng thì không còn cách nào ngoài sự tranh luận.Và khi con người đã được trang bị một hệ thống các khái niệm chuẩn xác, tức tri thức đúng về đối tượng thì chắc chắn nó sẽ có những việc làm thiện – đó là cơ sở để thiết lập một khoa học về hành vi con người – Đạo đức học (Ethics).
4. Nhân học hay triết lý về con người của Socrates
Trước Socrates, các triết gia Hy Lạp cổ đại chủ yếu quan tâm đến những vấn đề về vũ trụ luận, giải thích sự hình thành và phát triển của thế giới dựa trên những kiến thức khoa học tự nhiên như vật lý, toán học, sinh học, v.v.. Không đi theo lối mòn bản thể luận triết học của các bậc tiền bối. Với luận đề nổi tiếng: “Con người, hãy tự nhận thức chính mình”, Socrates quyết định lựa chọn một con đường riêng, ông chú ý tới vấn đề con người, mà trọng tâm trong bản tính con người là đạo đức. Theo Socrates, triết học không phải là hiện tượng tư biện, chỉ luận bàn những vấn đề chung không liên quan gì đến cuộc sống thường nhật, trái lại, nó là phương tiện dạy con người cách sống hay cần phải sống như thế nào. Theo nghĩa đó, triết học trước hết phải là tri thức hay sự hiểu biết của con người về con người, tri thức ấy nhất thiết phải là tri thức về cái thiện. Nếu đạo đức là hành vi đối nhân xử thế đẹp thì đạo đức đó không là gì khác ngoài tri thức, do vậy, “tri thức là đức hạnh”.
Thước đo của đạo đức là thước đo hành vi giao tiếp giữa con người với sự thông thái của thần linh. Sự thông thái chính là sự hiểu biết, là tri thức. Tri thức có tính chất thần linh và chỉ có tri thức mới có khả năng nâng con người ngang tầm thần thánh. Đạo đức với những biểu hiện của nó như lương tri, lòng dũng cảm, sự ngoan đạo, công bằng đều là những sự biểu hiện khác nhau của tri thức, giúp con người lựa chọn điều lành, tránh điều dữ. Cái ác phản ánh sự thiếu vắng tri thức, nó nảy sinh là do sự dốt nát, thiếu hiểu biết, vì không một ai khi biết thế nào là tốt mà lại cố tình làm điều xấu. Do vậy, làm điều xấu là một hành vi vô tình chứ không phải cố ý. Tuy nhiên, trong thực tế, nhận thức thông thường mách bảo rằng, chúng ta thường chiều theo những hành vi biết là sai, do vậy làm sai lại là một hành vi dường như có vẻ cố tình.
Với phương châm: “Điều thật sự quan trọng không phải là sống mà là sống tốt” (9, tr.149), Socrates cho rằng, dưới sự dẫn dắt của lý trí thì sức khỏe, sắc đẹp, của cải, lòng dũng cảm, sự hào phóng, tính quyết đoán, v.v. được sử dụng vì mục đích tốt đẹp. Trong trường hợp ngược lại, tai họa sẽ thế chỗ cho lợi ích. Chẳng hạn, dũng cảm mà thiếu trí khôn sẽ trở nên liều mạng, sắc đẹp đặt không đúng chỗ sẽ trở nên lố lăng, kệch cỡm, hào phóng thiếu sự cân nhắc sẽ trở nên hoang phí. Điều thiện và điều lợi phải được thống nhất với lý trí, tức mọi hành vi đạo đức phải hợp thời, hợp thề, hợp lý, hợp tình.Trên cơ sở quan niệm này, Socrates đã lên án hành vi tố cáo cha mình của Euthyphro, cho rằng đó là việc làm vô đạo.
Theo Socrates, tri thức và đức hạnh là những điều cần thiết cho những kẻ làm chính trị. Người làm chính trị phải đặt trách nhiệm xã hội lên lên vị trí hàng đầu chứ không trông cậy vào ô dù, nương nhờ quyền lực và thời vận. “Nghĩ rằng, mình quá thật thà không thể làm nhà chính trị đầy nguy hiểm” (8, tr.31), do vậy ông lựa chọn con đường thuyết pháp giống như Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng tử ở phương Đông, mong mỏi phần nào giáo hóa thiên hạ, giúp họ thoát khỏi bể khổ trầm luân của thế giới vật dục. Theo Socrates, để có tri thức, con người cần phải có học, học ở trường và học ngoài đời. Hãy bắt đầu từ không biết, trải qua nhiều bước, tiến tới tri thức và cái thiện phổ quát. Mệnh đề: “Tôi biết rằng, tôi không biết gì cả” của ông không phải là một mệnh đề mang tính tương đối hay hư vô chủ nghĩa mà nhằm chỉ ra sự khởi đầu của một phương pháp tiếp cận chân lý. Bởi vì, theo lẽ thường tình, mọi sự hiểu biết đều khởi đầu từ không biết, nhận thức là quá trình tiếp cận chân lý giống như đường thẳng (thực tại khách quan) và đường tiệm cận (nhận thức).
Lối sống giản dị, khiêm tốn và cách đối nhân xử thế hợp tình hợp lý của Socrates là một tấm gương lớn về đạo đức. Suốt đời ông không lo việc kiếm tiền, mua sắm của cải, mà chỉ đi thuyết pháp về điều thiện, mong ước cảm hóa được mọi người, giúp họ có một cuộc sống nhẹ nhàng thanh thản, không mưu toan, tính toán thiệt hơn – điều này chúng ta có thể cảm nhận trong lời ông tự bạch:“Hỡi loài người, kẻ khôn ngoan nhất là kẻ, giống như Socrates, biết rằng sự khôn ngoan của mình thực sự chẳng có giá trị gì. Và vì thế tôi đi khắp thế giới, vâng lời thần, và tìm kiếm và truy tìm sự khôn ngoan của bất cứ ai, dù là đồng bào hay người nước ngoài, mà có vẻ khôn ngoan, và nếu người ấy không khôn ngoan, thì tôi dùng lời sấm để nói rằng người ấy không khôn ngoan; và tôi lại thu hút vào công việc của mình, nên không có thời giờ quan tâm đến các vấn đề công cộng hay vấn đề riêng tư của mình, tôi hoàn toàn nghèo khó vì phụng sự thượng đế” (8, tr.26).
Socrates không chỉ lấy mình làm gương, ông còn lo lắng cho số phận con cái, sợ rằng chúng sẽ hư hỏng vì chạy theo dục vọng nhất thời mà không quan tâm đến việc tu dưỡng đạo đức, làm điều thiện. Do vậy, ông đã không quên nhắn nhủ những người có mặt trong phiên tòa, mong họ quan tâm đến con cái sau khi ông tạ thế: “Xin các bạn một ân huệ là khi các con tôi lớn lên, các bạn hãy trừng phạt chúng; và tôi muốn các bạn hãy trách mắng chúng như tôi đã trách mắng các bạn, nếu chúng tỏ ra chăm lo cho của cải, hay bất cứ điều gì, hơn là chăm lo cho nhân đức; hay nếu chúng tự phụ là một cái gì mà trong thực tế chúng chẳng là gì cả, – các bạn hãy trách mắng chúng như tôi từng trách mắng quí vị, vì không chăm lo điều mà chúng phải chăm lo, và nghĩ rằng mình là cái gì trong khi thực ra mình không là gì cả. Và nếu các bạn làm điều này, cả tôi và các con tôi sẽ nhận được sự công bằng từ tay các bạn” (8, tr.33).
5. Kết luận
Triết học Socrates không có một mục đích nào khác ngoài việc hướng tới con người với những suy tư, trăn trở đời thường của nó. Ông thực sự “là một trong số những khuôn mặt nổi bật nhất nhưng cũng bí ẩn nhất trong lịch sử triết học” (11, tr.1062) vì“đã vạch ra hướng đi cho triết học đạo đức trong lịch sử văn minh phương tây. Tư tưởng của ông đã được Plato, Aristotle và các nhà thần học Kitô giáo sửa đổi, nhưng nó luôn là truyền thống trí tuệ và đạo đức trội vượt mà các biến thể khác được khai triển xoay quanh” (8, tr.42).
Lịch sử Hy Lạp đã trải qua gần ba thiên niên kỷ kể từ ngày Socrates tạ thế, người Hy Lạp chứng kiến những bước thăng trầm, nhiều triết gia xuất hiện sau Socrates, họ đã đạt được những thành tựu thật to lớn. Nhưng xét về phương diện vai trò lịch sử, không một ai trong số họ có thể ngang tầm Socrates. Điều này không phải ngẫu nhiên mà hợp với lời nguyền Socrates khi ông tự biện trước tòa: “Nếu quý vị giết tôi, quý vị sẽ không dễ dàng tìm được một người thay thế tôi, một con người được thượng đế ban cho đất nước”. Là món quà thượng đế ban tặng cho đất nước Hy Lạp, Socrates xứng đáng là bà đỡ cho sự ra đời của các triết gia hậu thế, ông “đã tạo ra một truyền thống đạo dức và trí tuệ nuôi dưỡng châu Âu cho đến tận ngày nay” (5, tr.95).
Không hẹn mà gặp, luận đề: “Con người hãy tự nhận thức chính mình” của ông có nghĩa gần với luận đề: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” trong triết lý phương Đông.Triết lý Socrates không mang tính hàn lâm, tư biện mà thật gần gũi với cuộc sống đời thường. Phương pháp Socrates không mang tính cao siêu, học thuật mà hiện diện trong các cuộc tranh luận trên đường phố, trong nghị trường và giảng đường đại học..
@ RedVN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chắc chắn không đến phiên mình

 Xưa kia Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trần Quang Cơ đã từng nhận định chính xác rằng: " Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ mà không có bạn thì anh sẽ bị ép ". Chính vì vậy, ông đã nỗ lực kêu gọi bình thường hoá quan hệ với Mỹ bởi vì giữa Việt Nam và Trung Quốc khi cán cân quân sự càng chênh lệch sẽ là cơ hội ngàn vàng cho tham vọng bành trướng Trung Quốc trỗi dậy. Do đó, khi mình yếu mà muốn giữ hoà bình thì việc đầu tiên, quan trọng là làm sao tái tạo cân bằng quân sự với đối phương trong đó việc tìm kiếm và đồng minh với một lực lượng mạnh đủ sức răn đe để làm đối trọng.. 
Chính sách ba - bốn không như hiện nay nhiều người cho rằng là tự sát.

Trong tình hình hiện nay, ai ngoài Mỹ là một lực lượng hùng mạnh, là một đối tác chiến lược đáng tin cậy, đóng vai trò hết sức cần thiết trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước Việt Nam? Bởi Mỹ không tham vọng lãnh thổ, không mưu cầu đồng hoá, tiêu diệt người Việt. Mỹ chỉ muốn Việt Nam thoát khỏi Trung Quốc, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, là bờ đê vững chắc ngăn chặn cơn sóng lũ bành trướng xuống biển Đông.. 
Như vậy là việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam cũng tương đồng với lợi ích của Mỹ và đồng minh là duy trì, bảo vệ tự do hàng hải quốc tế, đôi bên cùng có lợi nên họ rất ủng hộ và hậu thuẫn..
Việc càng nhân nhượng, đánh đu thì không thể tạo ra niềm tin, càng mất đồng minh vì chẳng ai ngu cho mình đánh đu để trục lợi cả. Trung Quốc đã lợi dụng việc đánh đu này để tranh thủ thời gian giành lợi thế, để ngày càng lấn tới, để từ không có một chút gì từ thế kỷ trước mà bây giờ chúng đã cho xây sân bay, kéo hỏa tiễn.. Giống như xưa kia chúng đã lợi dụng Việt Nam để làm vùng đệm phía Nam cho chúng được an toàn trong cuộc chiến tranh lạnh của thế giới vừa qua.

Không ai có thể đứng được trên hai dòng nước, càng không thể một nước nhỏ mà bắt cá được hai tay nên chỉ duy nhất là khôn ngoan chọn đối tác và tạo nên những " niềm tin chiến lược " như Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore.. biết tạo nên những giá trị đặc biệt đáp ứng và tương đồng với các lợi ích của Mỹ và tạo điều kiện dễ dàng, quyến rũ Mỹ đến với mình vừa giữ an ninh cho mình, vừa buôn bán làm giàu cho mình mà không thể bỏ rơi mình.. Còn tư tưởng ngồi không hưởng lợi thì chắc chắn không đến phiên mình nhất là một nước nhỏ đang là nạn nhân trực tiếp.
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, văn bản
2

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

Những lý do ông Trump 'khó có thể bị phế truất'


Điều gì xảy ra tiếp theo và tại sao ông Trump gần như không thể bị phế truất được hãng tin Reuters lý giải:
Những lý do ông Trump 'khó có thể bị phế truất'
Ảnh: Reuters
Vì sao luận tội?
Những người sáng lập nước Mỹ lo các tổng thống lạm dụng quyền lực, nên họ đưa vào Hiến pháp một tiến trình phế truất một tổng thống. Theo Hiến pháp, tổng thống có thể phải rời khỏi vị trí vì "mưu phản, hối lộ hoặc các tội nặng nhẹ khác".
Cựu Tổng thống Gerald Ford từng có câu nói nổi tiếng: "Vi phạm có thể bị luận tội là những gì mà đa số tại Hạ viện coi là như vậy tại một thời điểm nhất định trong lịch sử".
Chưa từng có tổng thống Mỹ nào bị phế truất do bị luận tội trực tiếp. Richard Nixon đã từ chức trước khi có thể bị phế truất, còn Andrew Johnson và Bill Clinton bị Hạ viện luận tội nhưng không bị Thượng viện kết tội.
Cách thức luận tội
Luận tội bắt đầu ở Hạ viện bằng các buổi điều trần và bỏ phiếu về việc liệu có đưa ra các tội danh chống lại tổng thống hay không, bằng cách thông qua một nghị quyết luận tội hoặc "các điều khoản luận tội".
Hiến pháp cho phép các lãnh đạo Hạ viện có quyền rộng rãi trong việc quyết định cách thức tiến hành các thủ tục luận tội.
Ủy ban Tình báo đã tiến hành một cuộc điều tra xem ông Trump có lạm dụng quyền lực khi thúc ép Ukraina mở các cuộc điều tra mang lại lợi ích chính trị cho ông hay không. Cơ quan này tổ chức nhiều cuộc điều trần và chứng thực cả trong phòng kín và công khai qua sóng truyền hình, sau đó đưa ra một báo cáo bằng chứng chính thức.
Ủy ban Tư pháp sẽ sử dụng báo cáo đó để cân nhắc các cáo buộc chính thức, tạo cơ sở cho một cuộc bỏ phiếu luận tội trước toàn thể Hạ viện vào cuối tháng 12.
Nếu Hạ viện thông qua các điều khoản luận tội, một phiên xử sẽ được mở ở Thượng viện. Các thành viên Hạ viện đóng vai trò là công tố viên; các thượng nghị sĩ (Thượng viện) là hội thẩm; Chánh án Tòa tối cao Mỹ là chủ tọa. Về lịch sử, Tổng thống được phép cho các luật sư bảo vệ triệu tập nhân chứng và yêu cầu tài liệu.
Thượng viện được từ chối mở phiên xử?
 
Hiện đang có tranh luận về việc liệu Hiến pháp có bắt buộc Thượng viện phải mở phiên xử hay không. Tuy nhiên, các quy định của cơ quan này đòi hỏi một phiên tòa, và lãnh đạo đa số Mitch McConnell đã tuyên bố ông sẽ cho phép một phiên xử diễn ra.
Phe Cộng hòa có thể tìm cách sửa chữa các quy định đó, nhưng một động thái như vậy mang tính rủi ro chính trị rất cao, nên được xem là không thể.
Vẫn mở phiên xử nhưng kết thúc sớm?
Trước khi kết thúc phiên tòa, quy định của Thượng viện cho phép các thành viên nộp đơn kiến nghị bác bỏ các cáo buộc chống lại Tổng thống. Nếu một đơn kiến nghị như vậy được đa số chấp thuận, các thủ tục luận tội tổng thống chấm dứt.
Đa số tại Quốc hội
Phe Dân chủ kiểm soát Hạ viện Mỹ, cơ quan gồm 431 thành viên với 233 là người của đảng này. Do vậy, đảng Dân chủ có thể luận tội Tổng thống Trump của phe Cộng hòa mà không cần một nghị sĩ Cộng hòa nào ủng hộ.
Năm 1998, khi các thành viên Cộng hòa nắm đa số tại Hạ viện, cơ quan này đã bỏ phiếu nhất trí luận tội Bill Clinton, tổng thống thuộc đảng Dân chủ.
Thượng viện hiện có 53 thành viên Cộng hòa, 45 thành viên Dân chủ và 2 thành viên độc lập nhưng thường đứng về phía Dân chủ.
Kết án và phế truất Tổng thống cần phải có đa số 2/3 nhất trí và điều này gần như là không thể. Nếu tất cả 100 thành viên Thượng viện bỏ phiếu, cần ít nhất 20 thượng nghị sĩ Cộng hòa cùng toàn bộ các thượng nghị sĩ Dân chủ cùng 2 thượng nghị sĩ độc lập (tổng cộng 67 người) sẽ phải bỏ phiếu chống lại ông.
Ai lên làm Tổng thống nếu ông Trump bị phế truất?
Trong trường hợp Thượng viện kết tội Trump, Phó Tổng thống Mike Pence sẽ lên thay ông cho đến hết nhiệm kỳ, kết thúc vào ngày 20/1/2021.
Thanh Hảo
 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổng thống Trump: "Muốn luận tội tôi à, làm ngay đi!"


Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi đã chỉ đạo Ủy ban Tư pháp Hạ viện (HJC) soạn thảo các điều khoản luận tội Tổng thống Donald Trump.


Tổng thống Trump: "Muốn luận tội tôi à, làm ngay đi!" - 1
Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi hôm 5-12 cho biết đã chỉ đạo Ủy ban Tư pháp Hạ viện (HJC) soạn thảo các điều khoản luận tội Tổng thống Donald Trump. Ảnh: Reuters
Bà Pelosi thông báo quyết định trên vào ngày 5-12, hai ngày sau khi Ủy ban Tình báo Hạ viện (HIC) bỏ phiếu nhất trí chuyển báo cáo điều tra luận tội cho HJC. Báo cáo kết luận bằng chứng về hành vi sai phạm của Tổng thống Trump là "rất nhiều".
"Hành động của Tổng thống Trump đã vi phạm hiến pháp nghiêm trọng… Nền dân chủ của chúng ta đang bị đe dọa. Tổng thống Trump khiến chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài hành động bởi ông ấy, một lần nữa, đang tìm cách thao túng bầu cử để đạt được lợi ích cá nhân. Ông ấy lạm quyền, đe dọa an ninh quốc gia và sự toàn vẹn của các cuộc bầu cử" – bà Pelosi khẳng định trong lúc thông báo quyết định.
Reuters dẫn 2 nguồn tin mật cho biết HJC có thể soạn thảo và đệ trình các điều khoản luận tội Tổng thống Trump vào ngày 12-12. Các cáo buộc nhằm vào Tổng thống Trump có thể bao gồm lạm quyền, hối lộ, cản trở Quốc hội và cản trở công lý.
Nếu các điều khoản luận tội được thông qua như dự kiến, Thượng viện Mỹ sẽ bắt đầu quá trình xét xử để quyết định liệu có kết tội và phế truất Tổng thống Trump hay không. Đảng Cộng hòa kiểm soát Thượng viện và cho đến giờ vẫn ủng hộ ông chủ Nhà Trắng.
Ngay khi bà Pelosi thông báo quyết định trên, Tổng thống Trump thông qua mạng xã hội Twitter khẳng định ông không làm gì sai trái.
"Phe Dân chủ cánh tả cực đoan, thụ động vừa thông báo rằng họ sẽ tìm cách luận tội tôi dù tôi chẳng làm gì sai trái. Điều tuyệt vời là phe Cộng hòa đang đoàn kết hơn bao giờ hết. Chúng ta sẽ giành chiến thắng" – ông Trump nói.
Tổng thống Trump: "Muốn luận tội tôi à, làm ngay đi!" - 2
Tổng thống Donald Trump khẳng định ông không làm gì sai trái và sẽ giành chiến thắng. Ảnh: Fox News
"Nếu các người muốn luận tội tôi, hãy làm điều đó ngay bây giờ, thật nhanh chóng để chúng ta có một phiên xét xử công bằng tại Thượng viện" – ông chủ Nhà Trắng khẳng định, đồng thời đe dọa sẽ yêu cầu bà Pelosi, Chủ tịch HIC Adam Schiff, cha con cựu phó Tổng thống Joe Biden cùng nhiều nhân vật khác ra làm chứng tại phiên xét xử của Thượng viện để cho thấy "hệ thống của chúng ta đã bị thao túng đến mức nào".
Cuộc điều tra luận tội Tổng thống Trump xoay quanh cuộc điện đàm hôm 25-7 giữa ông với người đồng cấp Ukraine Volodymyr Zelenskiy. Cụ thể, Tổng thống Trump đã yêu cầu Tổng thống Zelenskiy điều tra đối thủ chính trị Biden.
Trong khi phe Dân chủ cáo buộc Tổng thống Trump lạm quyền để đạt được lợi ích chính trị cá nhân trước thềm bầu cử 2020, phe Cộng hòa khẳng định đây chỉ là nỗ lực của ông chủ Nhà Trắng trong việc bài trừ tham nhũng.
Nguồn: https://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/tong-thong-trump-neu-muon-luan-toi-toi-hay-lam-ngay-di-201912...
Ông Trump bí mật lên máy bay, 16 giờ sau ở vùng chiến sự nguy hiểm cách 12.000km
Tổng thống Mỹ Donald Trump bí mật rời khu nghỉ dưỡng “Nhà trắng mùa đông” Mar-a-Lago  ở Florida trong dịp Lễ Tạ ơn,...
Cao Lực - Reuters (Người lao động)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con đập vỡ…


Bởi AdminTD -05/12/2019
Lưu Trọng Văn
5-12-2019
Arthur Waldon – Giáo sư Quan hệ Quốc tế và Lịch sử Trung Quốc tại Đại học Pennsylvania nhận định: “Trung Quốc đang bước vào thời kỳ tương tự như sự tan rã của Liên Xô trước đây.”
Gs Arthr Waldol tiết lộ thông tin một trợ tá cấp cao thân cận của Tập Cận Bình đã thẳng thắn chia sẻ với ông: “Arthur Waldron, chúng tôi đã đi đến đường cùng. Mọi người đều biết rằng thể chế này đã kết thúc. Những bước đi tiếp theo chúng tôi không biết phải đi như thế nào, vì giống như có mìn ở khắp nơi, bước sai một bước là có thể tan xương nát thịt.”
Chuyện ĐCSTQ sẽ sụp đổ nhiều người có hiểu biết sống trong chế độ CS bất cứ ở quốc gia nào như TQ đều nhận ra tiến trình mà họ gọi là tất yếu ấy. Giản đơn do ĐCS TQ cai trị TQ bằng tuyên truyền dối trá và bàn tay sắt chế độ cảnh sát trị đến từng ngõ ngách, gác bếp, chân giường.
Tại Hà Nội, Ts. Trần Đình Thiên, thành viên tổ Tư vấn nhiều đời thủ tướng, nguyên viện trưởng Viện Kinh tế và chuyên gia đối ngoại Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt có cuộc trao đổi về chuyện sụp đổ của TQ này. Gã ngồi đó hóng hớt.
Nguyễn Trung nói: Sự sụp đổ không tránh khỏi, thác lũ con đập bị vỡ, VN đang ở dưới chân con đập ấy. Gã hiểu ý sâu sắc của Nguyễn Trung, TQ sụp đổ trước hết là kinh tế sụp đổ. Bao lâu nay kinh tế VN phụ thuộc TQ, bao lâu nay chấp nhận thân phận nằm bẹp dưới chân con đập liếm những giọt nước rỉ, thừa hoặc nhắm mắt hứng chịu con đập xả lũ chết chóc.
Cảnh báo của Nguyễn Trung là: Kinh tế TQ đổ sụp thì kinh tế VN sẽ hứng chịu nặng nề nhất có thể đổ sụp theo.
Cảnh báo của Nguyễn Trung là: Phải mau chóng thoát Trung ngay về kinh tế nếu không sụp đổ không tránh khỏi một khi kinh tế TQ sụp đổ.
Gã nghĩ câu nói trên của Nguyễn Trung một người rất am hiểu thể chế CS ở TQ cũng như ở VN còn có ý nghĩa rằng: TQ sẽ không muốn sự đổ sụp kinh tế, chính trị, phân rã nội bộ, khủng hoảng sắc tộc dẫn đến sụp đổ ĐCSTQ nên sẽ tìm lối thoát đó là hướng các mâu thuẫn ra bên ngoài: Chiến tranh Biển Đông.
VN hứng sự vỡ đập là như vậy. Gã cũng nghĩ vậy. Nhưng các nhà lãnh đạo có ai nghĩ vậy không? Những gì đang diễn ra thì thế này.
Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể sau nỗ lực của cả hệ thống chính trị về Luật Ba đặc khu thất bại phút chót, đã vận động cho TQ đầu tư, thiết kế, thi công đường cao tốc Bắc Nam. Kế hoạch chui bẫy nợ kinh tế TQ ấy bị toàn Dân phản đối như phản đối Luật Ba đặc khu, Thể theo lệnh thế lực nào đó không chịu dừng, lại tiếp tục vận động cho TQ làm đường sắt cao tốc nối TQ với Hà Nội, Hải Phòng.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh vừa giới thiệu Sách trắng của Bộ QP vẫn chiến lược “Ba Không.”
Có nghĩa là về kinh tế có thế lực nào đó trong cầm quyền vẫn muốn tiếp tục lệ thuộc nhân dân tệ có hình Mao.
Có nghĩa là về quân sự vẫn tiếp tục “ba không” – không liên kết.
Khi không có nguy cơ chiến sự thì đường lối “ba không” là đúng. Nhưng sẽ là ngờ nghệch nhẹ dạ và phiêu lưu tự chói mình nếu bám chắc “ba không” khi bên vách là kẻ thù đã, đang từng giờ gây chiến cưỡng đoạt đất nước mình.
Nguyễn Trung hỏi Trần Đình Thiên: Lối thoát nào?
Trần Đình Thiên bảo chính TQ cũng có người đang tìm cách thoát Trung để tránh sụp đổ thì vì lẽ gì VN lại cứ “em… chã”?
Trước những nguy cơ này gã càng đánh giá cao ý kiến của Vũ Ngọc Hoàng nguyên phó ban Tuyên giáo của đảng CS VN: Phải lấy việc thoát Trung làm tiêu chuẩn hàng đầu để xét chọn người lãnh đạo.
Liệu ý kiến của Vũ Ngọc Hoàng có như gió thoảng qua không?
Đại hội đảng CSVN đang tới gần…

Phần nhận xét hiển thị trên trang