Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

Nguyên nhân không ngờ khiến tình báo Liên Xô chao đảo

Uỷ ban An ninh quốc gia Liên Xô (KGB) nằm trong số những tổ chức tình báo hàng đầu thế giới. Tuy vậy, như nhiều cơ quan tình báo khác, KGB cũng có những kẻ đang tâm bán rẻ Tổ quốc.

Không làm đến nơi đến chốn
Tháng 5/1980, Viktor Shaimov, sỹ quan cơ yếu 33 tuổi của KGB đột nhiên biến mất cùng vợ và cô con gái 6 tuổi. Theo bố mẹ Shaimov kể lại, chiều thứ Sáu, anh ta sắm sửa đồ đạc để đi nghỉ cuối tuần, dự kiến sáng thứ Hai sẽ trở lại cơ quan. Tuy nhiên, tới sáng thứ Hai, anh ta cũng không xuất hiện.
Nguyên nhân không ngờ khiến tình báo Liên Xô chao đảo
Hé lộ nguyên nhân không ngờ khiến tình báo Liên Xô chao đảo
Việc một sỹ quan KGB bỗng nhiên mất tích là một chuyện động trời, do vậy các cơ quan chức năng bắt đầu vào cuộc. Các giả thiết lần lượt được đưa ra, như bắt cóc tống tiền, tai nạn, án mạng… và cuối cùng là chạy ra nước ngoài, tức phản bội Tổ quốc.
Không giả thiết nào có cơ sở thích đáng. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chú ý đến thái độ của bố mẹ Shaimov - thay vì hoảng hốt, lo lắng thì họ chỉ tỏ ra băn khoăn một cách giả tạo. Thứ hai, tủ lạnh đầy ắp thức ăn dự trữ và dường như cố tình làm thế để đánh lạc hướng điều tra. Thứ ba, trước khi biến mất, Shaimov đã đưa cho bố mẹ một đồ vật rất có giá trị.
Đúng vào thời gian ấy xảy ra một vụ cướp của, giết người. Trong quá trình điều tra sau khi bị bắt, ba tên cướp khai nạn nhân của chúng là một sỹ quan an ninh bị chúng bắt giữ tại một ga xe điện ngầm, đưa ra ngoại ô Moscow để trấn lột, đánh đập và thủ tiêu.
Nạn nhân cuối cùng của nhóm cướp này là một gia đình gồm 2 vợ chồng và đứa con gái. Những tình tiết ngẫu nhiên này đưa đến kết luận, gia đình Shaimov đã bị thủ tiêu.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy ba tên cướp đã bịa ra vụ giết người nói trên. Không thể kết tội chúng giết gia đình Shaimov, nhưng bọn cướp vẫn bị kết án tử hình vì những tội danh khác.
Thế nhưng, việc một sỹ quan tình báo bị mất tích đã không được làm sáng tỏ. Một số người khăng khăng gắn vụ việc với án mạng hình sự. Hình như họ không muốn tin vào một giả thiết nào khác.
Tháng 5/1982, Tổng cục I - KGB từ đầu vốn thiên về giả thiết Shaimov phản bội, nhận được nguồn tin là Cơ quan Tình báo Mỹ đã đưa được một cán bộ cơ quan an ninh ra khỏi lãnh thổ Liên Xô.
Ngoài ra, còn có tin là đúng vào thời gian Shaimov mất tích, một gia đình Liên Xô đã bay ra nước ngoài. Một nhân chứng đã nhận diện được Shaimov qua ảnh. Những cuộc điều tra tiếp theo về Shaimov cùng với các tình tiết trên đã có thể cho phép nghi ngờ giả thiết hình sự hoá vụ án. Nhưng một số cán bộ có trách nhiệm điều tra vẫn giữ lập trường của họ. Rõ ràng, họ không muốn phức tạp hoá vấn đề để tránh phiền toái.
Đến đầu năm 1985, từ nguồn tin tình báo của cả Liên Xô và nước bạn, Tổng cục I - KGB chính thức xác định: Shaimov cùng vợ con đã vượt biên trái phép. Ngay sau đó, các biện pháp nghiệp vụ được tiến hành để hạn chế hậu quả có thể có.
Thế nhưng không ai ngó đến mặt sau của đồng tiền: Làm thế nào mà Shaimov lại đi vào con đường phản bội và tại sao cơ quan phản gián lại bỏ qua một việc rất quan trọng là một cán bộ tình báo lại cùng vợ con bỏ ra nước ngoài.
 
Sự thật, dù cay đắng đã không được làm rõ ràng đến nơi, đến chốn. Và cái giá phải trả là năm 1985, Tình báo Anh lại đưa được viên sỹ quan KGB phản bội Gordievsky ra khỏi Liên Xô. Đến năm 1993, tại Mỹ ra đời cuốn sách “Đỉnh tháp của những bí mật”, trong đó cựu thiếu tá KGB Viktor Shaimov miêu tả tỷ mỉ việc y phản bội Tổ quốc và việc đào tẩu khỏi Liên Xô.
Đến sự phản ứng "quá tay"
Tháng 9/1991, Oleg Lyalin – sĩ quan KGB hoạt động tại London đào tẩu sang phía Anh. Nước Anh, vốn đã phàn nàn về biên chế sứ quán Liên Xô quá lớn so với sứ quán Anh tại Moscow và tình nghi nhiều cán bộ trong số đó hoạt động gián điệp, nhân cớ này liền trục xuất hơn 100 người của các cơ quan Liên Xô đóng ở London.
Nguyên nhân không ngờ khiến tình báo Liên Xô chao đảo
Oleg Adolfovich Lyalin. Ảnh: PeopleMaven
Việc thay thế những cán bộ bị trục xuất bằng những cán bộ mới là một quá trình phức tạp, gây nhiều thiệt hại về phương diện nghiệp vụ do nhiều mối quan hệ bị cắt, các chuyên án và hàng loạt điệp vụ phải thay đổi. Hậu quả là hoạt động tình báo ở địa bàn này bị giảm sút…
Nguy hiểm hơn, hành động này còn hướng tới ý đồ làm mất vị thế của Liên Xô trên thế giới, làm vẩn đục bầu không khí quốc tế.
Lyalin hoạt động dưới bình phong cán bộ Cơ quan đại diện Thương mại Liên Xô tại London, bị bắt giữ vì vi phạm luật giao thông. Thông thường, những cán bộ sứ quán vi phạm luật giao thông chỉ bị ghi tên và được thả ngay, nhưng trong trường hợp Lyalin có sự sắp đặt của Cơ quan Phản gián Anh.
Vốn biết rõ nhiều chi tiết trong đời tư Lyalin, biết một số sai phạm của Lyalin, kể cả việc anh này có quan hệ với một nữ nhân viên trong cơ quan mình, phản gián Anh hù doạ Lyalin và dụ dỗ anh ta cộng tác. Lyalin không chịu, sau đó nói là để suy nghĩ, chủ yếu là để “câu” thời gian.
Sáng hôm sau, cán bộ lãnh sự Liên Xô đến gặp và đón Lyalin về để anh này báo cáo tình hình với lãnh đạo ngành dọc của mình. Thật không may, tổ trưởng điệp báo – người mà Lyalin rất kính trọng lúc đó đi vắng. Thay thế ông tiếp Lyalin là người tổ phó.
Vốn có thành kiến với Lyalin từ trước, ông này bắt đầu la ó Lyalin, đại ý rằng anh này đã có nhiều khuyết điểm như thế, nay lại xảy ra chuyện như thế… thì chỉ có cách xách va li về nước. Quá hoảng hốt, Lyalin quyết định chạy sang phía đối phương.
Như vậy, khi một người rơi vào trường hợp không may bị “dính”- như ngôn từ của giới tình báo thường nói, nếu không tế nhị, không thông cảm mà đẩy người ta ra quá xa, có thế mất luôn cán bộ và gây tổn hại cho công việc chung.
Nguyên Phong

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trước hết, hãy thoát LÙN hỡi những người VN yêu dấu.


Nguyễn Quang Thiều
“PHÙ THỦY” PARK HANG SEO ĐÃ HẾT PHÉP
Đấy là ý của một bài báo đầy mỉa mai khi viết về HLV Park Hang Seo sau khi tuyển Việt Nam hòa đội tuyển Thái Lan đêm 19/11.
Tôi nghĩ thế này:
1/ Phép của thầy Park là đã làm cho bóng đá VN không còn sợ bóng đá Thái như sợ cọp hàng chục năm qua.
2/ Phép của thầy Park là đã làm cho VN chưa một lần thua người Thái ở mọi cấp độ kể từ khi ông cầm quân
3/ Phép của thầy Park là đã làm cho người hâm mộ VN tin rằng bóng đá VN không phải tồi tệ như trước đó.( không tin hãy hỏi NHM)
3/ Phép của thầy Park là đã làm cho các cầu thủ VN tin vào chính họ và đầy khát vọng trong sáng.
4/ Phép của thầy Park là làm cho VFF hiểu rằng nếu có một chiến lược đúng và thực sự vì sự phát triển của bóng đá VN thì bóng đá VN sẽ làm được điều gì đó.
5/ Phép của thầy Park đã cho nhiều người nhận ra rằng: khi có một người lãnh đạo giỏi và có lương tâm thìsẽ làm lên những thay đổi lớn. Thay đổi của bóng đá VN trong hai năm qua là một thay đổi lớn.
Vậy những ai đòi hỏi phép của thầy Park phải làm cho VN thắng tất cả hay cụ thể là thắng đội tuyển Thái trong ngày một ngày hai là một đòi hỏi ngớ ngẩn. Chẳng lẽ người UAE, Thái, Malaysia, Indonesia và cả Lào…cứ đứng im cho mình ông VN đá vào lưới họ sao ? Thật hài hước.
Theo tôi, những gì mà thầy Park làm cho bóng đá VN trong hai năm qua là quá đủ. Đừng đòi hỏi ông ấy một cách vô lý và ngớ ngẩn.
Hãy nhìn UAE và Thái Lan hay Trung Quốc đã làm những gì cho bóng đá của họ mà họ còn chưa khuất phục nổi bóng đá VN trong những trận gần đây thì mới thấy được phép của thầy Park.
Bóng đá các nước Đông Nam Á đang là những NGƯỜI LÙN đối với bóng đá châu Á và đặc biệt đối với bóng đá thế giới. Việc của tất cả các đội tuyển Đông Nam Á phải làm là thoát LÙN rồi mới tính đến việc hơn thua và đòi hỏi họ. Và nhiệm vụ của thầy Park, theo tôi, vô cùng quan trọng là làm cho bóng đá VN bớt LÙN đi. Mà để thoát LÙN người ta phải cần nhiều thế hệ với sự nhích lên từng cm.
Mà không chỉ bóng đá VN vẫn là một NGƯỜI LÙN mà trong mọi lĩnh vực chúng ta vẫn là NGƯỜI LÙN so với châu Á và thế giới. Trong đó có một lĩnh vực mà tôi theo đuổi gần 40 năm nay là văn học thì văn học VN là một NGƯỜI LÙN đối văn học châu Á và thế giới.
Trước hết, hãy thoát LÙN hỡi những người VN yêu dấu.
( ảnh dưới : HLV Park Hang Seo - nguồn internet )


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái chết tức tưởi và khó hiểu của Stalin

Suốt 2 ngày trời Stalin bị tai biến, không một bác sĩ nào được gọi đến.

  • Có một nhân vật mà lịch sử đã tốn không ít giấy mực khi viết về ông, ca ngợi có, lên án cũng có, đúng như lời tiên đoán của ông trước khi mất rằng: “Sau khi tôi mất đi, chắc chắn có nhiều kẻ đổ rác trên nấm mồ của tôi”. Nhân vật đó chính là nhà lãnh tụ Xô Viết Joseph Stalin. Ông mất năm 1953, nhưng trong suốt 60 năm qua, người ta vẫn không ngừng nghiên cứu về ông, về cả cái chết đầy bí ẩn của ông.


Đã có không ít những nghi vấn xoay quanh cái chết của nhà lãnh tụ Xô Viết này và trong suốt nhiều năm nay người ta vẫn cố công đi tìm sự thật. Mới đây, Cục lưu trữ Nga đã bất ngờ công bố những tài liệu quý về Stalin khiến không ít những cái đầu tò mò cảm thấy thỏa mãn vì có thể phần nào giải đáp được những hoài nghi, thắc mắc của họ về nhân vật này.

Người đàn ông trong khu biệt thự đồng quê          

Khi đó ở tuổi 73, Stalin vẫn là một người hăng say với công việc. Ông vẫn làm việc 15 đến 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Dường như ông vẫn muốn nắm mọi thứ, muốn biết tất cả, đọc và ghi chú một lượng báo cáo khổng lồ, dự vô số cuộc họp, thảo ra các thông cáo, chỉnh sửa các bài báo, viết lại các sách về lịch sử và tiếp tục soạn thảo các lý luận chính trị. Đôi khi ông cũng dành chút thì giờ cho những vấn đề nhỏ nhặt như viết thư trả lời cho một nhà giáo bất mãn với cấp trên, hay một công nhân đang cần một lời khuyên từ ông.

Stalin vẫn ăn mặc rất giản dị, với những bộ quần áo đơn sơ, chiếc nón kết cũ và đôi giày bốt đã sờn. Đôi khi ông mặc nguyên quần áo, ngủ quên suốt đêm trên chiếc ghế sofa. Về sức khỏe, ông yếu hẳn đi từ sau khi chiến tranh chấm dứt. Những người thân cho biết, đôi khi ông ngất xỉu vì lao lực. Ông bị thấp khớp trầm trọng và nghiêm trọng hơn là một chứng bệnh ở não đã gây ra những giây phút lú lẫn và hoang tưởng.

Ngay cả trong hành lang điện Kremli, Stalin chỉ di chuyển khi có cả một đội ngũ cận vệ đi phía trước và phía sau hộ vệ. Khi đi ra ngoài, ông sử dụng ba chiếc xe hơi, trong đó có hai chiếc nhằm đánh lạc hướng. Chỉ có những đầu bếp trung thành mới được nấu ăn cho ông, và các chai rượu đặt trên bàn phải còn nguyên nắp.

Văn phòng của ông trong dinh thự chính phủ được coi như nhà ở thực thụ, một nhà nghỉ rộng mênh mông và tiện nghi ở Kountsevo là những ngôi đền thánh được giám sát chặt chẽ, được bảo vệ bởi những cận vệ đã qua chọn lựa gắt gao, và chỉ nhận lệnh trực tiếp từ Stalin.

Nếu vào cuối ngày, Stalin muốn giải trí một chút ở nhà hát Bolchoi hay trong phòng chiếu phim của điện Kremli, thì luôn có những người tâm đầu ý hợp trong chính phủ đi kèm. Những buổi tối như thế nhất thiết phải kết thúc tại Kountsevo, cách điện Kremli nửa tiếng đồng hồ đi ô tô. Khi đó Stalin nghỉ ngơi ở một trong những căn phòng của mình, đôi khi trên chiếc ghế dài ở một trong những phòng khách.

Vào cuối buổi chiều ngày 28/2/1953, sau một ngày đọc báo cáo, nói chuyện với các cận vệ, đi dạo trong khu vườn tuyết phủ rồi thư giãn bằng cách tắm hơi, Stalin đến điện Kremli và gặp bốn đồng chí quen thuộc, trong đó có thêm Thống chế Vorochilov – một trong những lãnh đạo quân đội hiếm hoi còn được ông ưu ái. Sau cuộc họp khoảng hai mươi phút thì các lãnh đạo cao cấp kia xem phim, còn ông rời văn phòng làm việc và trở về nghỉ ngơi tại khu biệt thự đồng quê của mình ở Kountsevo. 
 Stalin. 

Vào khoảng 23h, những người đồng chí ghé khu biệt thự của Stalin, có vẻ như là họ muốn thăm ông. Như thường lệ, đó là một buổi tối nghiêm túc và vui nhộn. Họ nói chuyện với nhau về kinh tế, và nhiều hơn một tí về chiến tranh Triều Tiên... Vào khoảng 4 giờ sáng, Stalin tiễn chân các khách mời đến tận những chiếc Limousine của họ. Ông ta nhìn họ khuất dần, trở về căn phòng ấm cúng, cho các cận vệ đi nghỉ, rồi thả người trên chiếc ghế sofa trong phòng ăn. Người ta đóng cửa lại. Ánh sáng trong ngôi nhà nghỉ lần lượt được tắt đi.

Stalin thường đi ngủ rất muộn và không ai dám đánh thức ông dậy. Từ vệ sĩ, những người giúp việc cho tới quản gia, không ai có quyền bước vào phòng nếu không được gọi. Ông thường ngủ đến 10 hay tận 11 giờ trưa hôm sau. Có thể nói giấc ngủ của ông là bất khả xâm phạm. Do vậy vào sáng ngày 1/3, khi mặt trời đã lên cao, ánh nắng đã chiếu rọi cả vào phòng thì ông vẫn chưa dậy.

Người quản gia không dám đánh thức ông. Các cận vệ chờ đợi được gọi vào. Thời gian trôi qua, nhưng không ai lo lắng cả. Lãnh tụ có thể đã thức dậy làm việc trong đêm, hoặc đang tập trung vào mớ hồ sơ. Ông có đầy đủ đồ ăn thức uống trong phòng. Có thể là ông không muốn ai làm phiền.

12 giờ trưa, rồi 13 -14h vẫn chưa thấy lãnh tụ ra ngoài như thường lệ. Tâm trạng lo ngại mơ hồ có thể cảm thấy nơi những cận vệ và phía người quản gia. Bất chợt vào khoảng 18h30 mới có ánh sáng đèn trong phòng ông, đội cận vệ nhẹ lòng được một chút. Đến 22h, một chiếc xe hơi của điện Kremli mang đến các thư từ và hồ sơ. Trưởng đội cận vệ trực hôm ấy, Lozgatchev, vẫn còn do dự nhưng rốt cuộc quyết định bước vào gian phòng ăn nhỏ.

Khi cánh cửa được dè dặt mở ra, anh hiểu vì sao đã không được triệu đến trong ngày: Stalin nằm dài trên thảm trải sàn, mặc chiếc áo lót mình, còn chiếc quần pyjama thì ướt đẫm nước tiểu. Lozgatchev vội chạy đến và nhận ra Stalin vẫn còn sống, nhưng không nói được nữa, chỉ rên nhỏ. Chiếc đồng hồ và tờ báo Pravda rơi dưới đất. Đồng hồ ngưng ở vạch 6h30.

Đại tá Starotsine và quản gia Boutouzova được gọi đến. Người ta đưa ông lên chiếc ghế sofa, rồi chuyển sang một chiếc ghế dài khác trong phòng ăn lớn, thoáng khí hơn. Tuy nhiên, không một cận vệ nào cảm thấy sự cần thiết phải gọi một bác sĩ ngay lập tức bởi họ lo sợ việc này có thể gây hậu quả xấu trong thời điểm bị cho là có vụ âm mưu phản loạn “áo choàng trắng”. 

Và Khrustalev đã gọi điện khẩn cho bộ chính trị, nhưng đầu dây bên kia chậm trả lời và không nhanh chóng gọi cấp cứu. Chính sự chậm trễ gọi bác sĩ trong thời điểm cần thiết và duy nhất để cứu tính mạng Stalin đã gây nghi ngờ rằng ông bị đội trưởng đội bảo vệ tiêm thuốc ngủ theo lệnh của giám đốc KGB Beria.
 

Đến ba giờ sáng, tức hơn 20 tiếng đồng hồ sau khi Stalin bị tai biến, Beria và Malenkov mới đến nơi. Beria quát mắng các cận vệ đang nài nỉ gọi bác sĩ.  Ông ta và các quan chức chính phủ muốn tận mắt xem có phải đúng là ông bị trúng gió như lời bà phục vụ đã nói không. Beria cho rằng ông chỉ đang ngủ, những tiếng thở dốc của ông có thể bị lầm tưởng là tiếng ngáy.

Ông ta còn chặn họng viên cảnh vệ và bà phục vụ: "Các người còn hoảng loạn nỗi gì? Đi ngay khỏi đây, cấm không được phá rối giấc ngủ của lãnh tụ”. Ông ta còn đe dọa sẽ tính sổ với họ rồi cùng với các quan chức chính phủ đi ra xe. Nhưng chỉ sau đó vài giờ, họ lại trở lại vì bà phục vụ và các nhân viên cảnh vệ đã bực tức không thể kiên nhẫn được nữa.

Có thể Beria đã hiểu rằng Stalin sẽ không qua khỏi nếu không được chạy chữa. Nhưng nếu không cố gắng cứu chữa cho Stalin thì vẫn hơn. Quyền lực đang bỏ trống, và tốt nhất nên nắm lấy. Cuối cùng các quan chức chính phủ yêu cầu phải đưa người bệnh sang một phòng bên cạnh, cởi bỏ quần áo cho ông và đặt ông lên giường.

Lúc đó các bác sĩ vẫn chưa tới và nhìn từ góc độ y học, có thể nói việc đưa người bệnh rời khỏi chỗ ngã là không có lợi, khi người bệnh bị trúng gió thì không nên di chuyển. Và một điều cần phải nói là những bác sĩ ở ngay gần đó cũng không được gọi tới khám cho Stalin.

Trong khi ông nằm chờ được cứu chữa thì Beria và ba ủy viên “Bộ Chính trị cơ động”  tranh luận gay gắt để phân chia quyền hành, củng cố vị trí mình và giữ cho các đối thủ tiềm năng phải đứng ngoài cuộc. Các cận vệ và người hầu cận ở Kountsevo nhận lệnh không được tiết lộ những gì đã xảy ra. Thế nên thêm một ngày nữa trôi qua, mà không có bác sĩ nào được mời đến.

Cuối cùng, các nhân viên của MGB và Maria Boutouzova, càng lúc càng lo lắng, cố gắng liên lạc lần nữa với Malenkov. Ông này xiêu lòng, bèn gọi cho Beria và Khrouchtchev, hai người này đùn đẩy sang Bộ trưởng Y tế Tratiakov. Rốt cuộc ông bộ trưởng cho gửi đến một toán y bác sĩ do giáo sư Loukomski dẫn đầu. Họ đến nơi vào lúc 7 giờ sáng ngày 03/03, tức 48 giờ sau khi Stalin gặp nạn.

Một cái chết khó hiểu

Đến lúc này Stalin mới được các bác sĩ thăm khám. Họ run rẩy vì sợ hãi, bắt tay vào công việc. Họ cởi quần áo bệnh nhân, gỡ bộ răng giả ra và chẩn đoán. Nhịp tim và huyết áp thấp, nửa người bên phải bị liệt, nửa người trái bị những cơn co giật.  Kết quả tỏ ra bi quan: Stalin bị xuất huyết não trái, nặng đến nỗi có thể chắc chắn rằng ông ta không bao giờ còn làm việc được nữa.

Các bác sĩ kê toa thuốc để rửa và đặt những con đỉa sau tai trái. Rồi đáng sợ thay, đội ngũ hùng hậu ra đi, để lại một bác sĩ thần kinh, một bác sĩ đa khoa, một nữ y tá. Người bệnh được chỉ định là phải…nghỉ ngơi và ăn kiêng.

Vào cuối ngày, các thành viên Bộ Chính trị trở về điện Kremli. Việc điều hành tạm thời được giao cho Malenkov. Vị trí người đứng đầu an ninh nội chính của Beria càng vững chắc hơn. Cùng với Malenkov và Khrouchtchev, ông ta còn được giao trách nhiệm sắp xếp các giấy tờ của Stalin. Ba người này lập tức bắt tay vào công việc, mở các rương giấy tờ bí mật nhất và hủy đi tất cả những gì tố cáo họ có tham gia các vụ thanh trừng trong quá khứ và hiện tại.

Đến sáng 4/3 các đài phát thanh đã có thể công bố căn bệnh của Stalin. Sáng sớm 5/3, radio loan báo mạng sống của Stalin đang lâm nguy. Tại Kountsevo, Stalin dường như vẫn luôn ngủ trên chiếc ghế sofa, đôi khi có mở mắt, phát ra được đôi ba tiếng động nhưng không thể nào trả lời những câu nói được người ta thầm thì bên tai. 
Sau này, con gái ông cho biết:  “Có lúc ông bỗng mở mắt ra, nhìn bao quát những ai đang đứng xung quanh. Đó là một cái nhìn khủng khiếp, hoảng loạn và giận dữ, chứa đầy nỗi kinh hoàng trước tử thần và khuôn mặt của các thầy thuốc không quen biết bao quanh. Ánh mắt ấy bao trùm lấy chúng tôi trong một chớp mắt. Rồi ông giơ bàn tay trái lên – có thể là ông chỉ cho chúng tôi điều gì đó trên cao, hoặc là ông đe dọa tất cả mọi người. Hành động này khó thể hiểu được”.

Vào buổi sáng 5/3, Stalin yếu  dần: buồn nôn, khó thở, ói ra máu, trụy tim mạch liên tục, biến chứng ở tim và ngộp thở. Đến buổi chiều hôm đó, ông trút hơi thở cuối cùng. Thi hài ông được đưa đi để phẫu thuật. Mọi người ở biệt thự đều tuân lệnh của Beria là rời khởi đây. Bà phục vụ, viên cảnh vệ, những người từng đòi gọi bác sĩ ngay lập tức để khám cho Stalin đã bị buộc thôi việc. Và tất cả mọi người ở đây đều được lệnh là phải giữ mồm giữ miệng.

Ngôi biệt thự bị đóng cửa, cửa lớn bị niêm phong giống như chưa từng có sự tồn tại của tòa biệt thự. Ngày 9/3, xác của Stalin được trọng thể đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng tại lăng mộ ở Quảng trường đỏ.

Như vậy trong cái chết của Stalin rõ ràng là có bàn tay của Beria và những quan chức chính phủ. Một điều dễ nhận thấy là hành động của các quan chức chính phủ khi thấy Stalin lâm nạn khiến người ta khó hiểu. Vì sao sau khi nhận được điện báo của người cảnh vệ, Beria và những cộng sự của ông ta đã đến khu biệt thự mà họ không gọi ngay cho bác sĩ? 

Khi họ nghe Beria nói rằng Stalin đang ngủ, đừng làm cho ông ta mất ngủ, thế là tất cả họ lại trở về nhà và điều này làm cho người ta cảm thấy kỳ quặc. Sự việc càng làm tăng thêm nghi vấn là, sau khi viên cảnh vệ phát hiện Stalin đang mặc quần áo ngủ nằm dưới nền nhà, vì sao anh ta lại không gọi y tá đến giúp sức? Cần biết rằng, thời gian quý báu đó đã bị bỏ lỡ.

Vấn đề cuối cùng này đã được trả lời ngay sau khi Stalin mất không lâu. Lãnh tụ Stalin đã xây dựng cho mình một đội con tin có một chế độ quản lý riêng, theo quy tắc làm việc tỉ mỉ đã được Beria phê chuẩn, nếu không được ông ta phê chuẩn thì bác sĩ không được đến chỗ Stalin. Biện pháp phòng ngừa này được áp dụng sau khi Viện sĩ Venogratop bị bắt.

Nói thực ra, “vụ án y tế” từng sôi động một thời bắt đầu từ Venogratop. Bác sĩ riêng của Stalin phát hiện thấy tình hình sức khỏe của ông đã xấu đi rất nhiều, viện sĩ đề nghị cần giảm bớt nhiều công việc quá căng thẳng, Stalin tỏ ra tức giận với việc chẩn đoán này. Từ đó, ông không cho phép viện sĩ vào căn phòng của mình nữa, và ít lâu sau, bác sĩ bị tống vào tù.

Khi Stalin qua đời, người ta phát hiện có một lá thư ngay trong phòng của ông, nó được viết bởi cố Tổng thống Nam Tư Josip Broz Tito, người đã cầm quyền cai trị nhà nước Nam Tư trong suốt 27 năm. Stalin đã cố gắng bằng mọi giá phải tiêu diệt Josip Broz Tito trong nhiều dịp khác nhau. Ông cảm thấy bất ổn với Tito vì Tito có cơ hội thoát khỏi các quốc gia Serbia, Croatia và Slovenia và đưa Nam Tư trở thành một nhà nước độc lập, thoát khỏi sự ảnh hưởng của Liên Xô.

Stalin luôn sống trong trạng thái cảnh giác với Tito và từng ám sát Tito đến 22 lần vào những năm sau Thế chiến II. Trong lá thư bí mật mà Tito gửi cho Stalin có lời tuyên bố rằng trong khi Stalin phái đi nhiều “thích khách” thì Tito chỉ cần một là đủ.

Chính điều này đã khiến sử gia danh tiếng người Slovenia Joze Pirjrvec nghi ngờ rằng Tito có thể ra lệnh cho một thích khách Nam Tư tiến hành ám sát Stalin. Tuy nhiên, xoay quanh cái chết của vị lãnh tụ Liên Xô một thời này vẫn còn trùng trùng nghi vấn mà có lẽ chỉ có nhân vật chính mới thực sự biết nó là gì. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Putin không xin lỗi thêm về Stalin

Tổng thống Nga Putin  tuyên bố Nga sẽ không đưa ra bất kỳ lời xin lỗi nào nữa về thỏa thuận bí mật mà Stalin ký kết với Hitler trong Thế chiến II dẫn đến việc Liên Xô chiếm đóng các nước vùng Baltic.

Trong cuộc họp báo với Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jose Manuel Barroso hôm qua, Putin đã phản ứng một cách giận dữ khi một phóng viên Estonia hỏi Moscow có thể làm gì để bồi thường cho quãng thời gian dài chiếm đóng các nước vùng Baltic.

Putin nhấn mạnh rằng thỏa thuận giữa Stalin và Hitler mang tính cá nhân và đi ngược lại lợi ích của người dân Xô viết. "Còn phải nói cụ thể và chính xác đến thế nào nữa? Chúng tôi có thể nói thêm gì nữa?", Putin nói. "Chẳng lẽ chúng tôi phải nhắc lại điều đó mỗi ngày à? Chúng tôi coi vấn đề đó đã khép lại".

Putin khẳng định Moscow sẵn sàng thỏa thuận với Estonia và Latvia về vấn đề biên giới nếu hai nước này đồng ý đàm phán một cách "chín chắn" và không đưa ra "các điều kiện ngớ ngẩn".

Hồng quân Liên Xô chiếm đóng và sáp nhập Estonia, Latvia và Litva năm 1940 sau khi Stalin thỏa thuận với Hitler vào tháng 8/1939, sau đó phát xít Đức tấn công Ba Lan vào ngày 1/9/1939 và cuộc chiến bắt đầu.

Hilter sau đó đã lật mặt và tấn công Nga vào tháng 6/1941, kéo Nga vào cuộc chiến mà Stalin đã tìm cách tránh khi thương lượng với Hitler. Trong cuộc chiến đó, Nga tái chiếm Baltic và biến các nước này thành các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ.

Các nhà lãnh đạo của Estonia và Litva từ chối đến dự lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng phát xít ở Moscow và tuyên bố họ không thể tham dự vì Liên Xô đã chiếm đóng Baltic suốt 5 thập kỷ.

Theo Ngọc Sơn
Vnexpress/AP, Mosnews

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Bệnh dịch đáng sợ khiến một La Mã không có đối thủ phải suy tàn



Chỉ trong khoảng thời gian 50 năm ngắn ngủi từ năm 541 đến năm 591, Đế quốc La Mã hùng mạnh đã xảy ra bốn lần dịch bệnh đáng sợ, kết quả khiến cho một Đế quốc từng không có đối thủ nhanh chóng đi đến suy tàn và diệt vong.
Ngày nay, chúng ta vẫn có thể hình dung được sự tàn khốc của thời ấy thông qua những miêu tả trong cuốn “Thánh đồ truyện” của tác giả kiêm nhà sử học John và nhà sử học Ivar Greg Wells để hiểu được sự bi thảm lúc bấy giờ. Tác giả John Woolman đã chứng kiến lần bệnh dịch đầu tiên, còn nhà sử học Ivar Greg Wells thì đã tự mình trải qua bốn lần đại dịch.
Những ghi chép của tác giả John về cảnh tượng thời ấy
Khắp nơi đều là “thi thể đã thối rữa nằm ở trên đường do không được ai chôn cất”. Đâu đâu cũng có những con đường đầy người chết và những “hình người” khiến tất cả những ai chứng kiến đều vô cùng sợ hãi và kinh hoàng. Bụng của họ sưng lên, máu và mủ ào ạt chảy ra từ miệng, mắt họ đỏ ngầu, tay với lên cao. Thi thể nối tiếp thi thể thối rữa nằm trên đường, trong những con ngõ, trước cửa sân nhà và giáo đường.
“Trong làn sương mù trên biển, có những con tàu chỉ vì thuyền viên phải chịu sự trừng phạt đầy phẫn nộ của Thượng đế mà trở thành những phần mộ trôi nổi trên sóng.”
Trên đồng “phủ đầy những cây ngũ cốc đã bạc màu”, mà chẳng hề có ai thu hoạch. “Những đàn cừu, sơn dương, bò và lợn gần như trở thành động vật hoang dã, những loài động vật chăn nuôi này dường như đã quên đi cuộc sống cày bừa và giọng của loài người đã từng nuôi chúng.”
“Có khi người ta đang nói chuyện với nhau thì đột nhiên bắt đầu run lên rồi ngã xuống đường hoặc trong nhà. Khi một người đang làm đồ thủ công, có thể anh ta sẽ ngã lăn sang bên cạnh và chết.”
La Mã
“Có người ra chợ mua ít nhu yếu phẩm, khi đang đứng đó nói chuyện hoặc trả giá, cái chết sẽ đến với cả người mua và người bán một cách rất đột ngột, hàng hóa và tiền vẫn nằm đó nhưng không còn ai nhặt lên nữa.”
Số người chết ở Constantinople không thể đếm xuể, “Chỉ trong một ngày, có năm nghìn đến bảy nghìn người, thậm chí có thể lên đến mười hai nghìn đến mười sáu nghìn người rời khỏi thế gian. Do đây chỉ mới là bắt đầu, các nhân viên chính quyền thì đang đếm số người chết ở các bến cảng, các ngã tư đường và trước cổng thành.”
“Cứ như thế, người ở Constantinople dần dần đi đến bước đường hủy diệt, chỉ còn số ít người may mắn sống sót. Nếu như chỉ xét đến những người chết ở trên đường, giá như có người có thể nói ra số người chết cụ thể thực tế, chỉ ước đoán là hơn ba trăm nghìn người thiệt mạng ở trên đường. Những người chịu trách nhiệm thống kê số người chết hễ mà đếm không nổi nữa thì trực tiếp đẩy xác chết ra khỏi thành.” Hơn nữa chính quyền ở đó đã không còn tìm thấy đủ nơi để chôn cất nữa. “Do không có người kéo đi, cũng không có người đào mộ nên thi thể chỉ còn cách bị vứt trên đường, cả thành phố đầy mùi xác thối.”
Sau khi dùng hết mộ, người chết bị ném xuống biển. Số lượng lớn các thi thể bị đưa đến bờ biển. Hàng ngàn hàng vạn thi thể “chất đầy bờ biển, giống như những thứ trôi nổi trên sông trôi theo dòng ra biển lớn.” Tuy tất cả những con tàu chỉ qua lại như con thoi, không ngừng lại mà cứ thế hướng về biển, mang theo những thứ hàng đáng sợ, nhưng nếu muốn đếm được tất cả số tử thi thì vẫn là điều không thể.
Vì thế Hoàng Đế quyết định sử dụng cách xử lý thi thể khác: xây một ngôi mộ khổng lồ, mỗi phần mộ có thể chứa được bảy mươi nghìn thi thể. “Do thiếu không gian nên nam, nữ, người trẻ, trẻ em đều bị ép cùng nhau, giống như vữa bị vô số những đôi chân dẫm đạp lên. Tiếp đó, họ ném vô số thi thể xuống, nam nữ quý tộc, người nhà, thanh niên và cả trẻ em và trẻ sơ sinh đều bị ném xuống như thế, ở phía dưới đáy còn bị ném đến vỡ nát.”
“Mỗi vương quốc, vùng lãnh thổ, khu vực và những thành phố hùng mạnh, toàn bộ người dân đều bị bệnh dịch đùa giỡn trong lòng bàn tay.”
Thông qua miêu tả chi tiết của John, chúng ta phần nào như thể tự mình chứng kiến, lòng chúng ta cũng trở nên run rẩy. Bệnh dịch đáng sợ như thế đó: nó xảy ra chớp nhoáng mà không hình không tướng, con người ta bất cứ lúc nào cũng đối diện với cái chết. Cũng không phải là quá nếu nói “xác chết rải rác” để hình dung tình trạng thảm khốc lúc đó. Và lời miêu tả của nhà sử học Ivar Greg Wells sẽ giúp chúng ta hiểu rõ về tình trạng hoang tàn của con người sau dịch bệnh:
“Trên cơ thể của vài người, nó bắt đầu từ trên đầu, mắt họ chảy máu, mặt sung lên, tiếp đó là hô hấp khó khăn, sau đó thì những người này chết đi… nội tạng của vài người bị lộ ra ngoài; có người bị viêm hạch ở hang, mủ lan khắp người, và sốt cao, những người này sẽ chết trong vòng hai ba ngày. Có loại dịch bệnh mà người mắc có thể kéo dài vài ngày, nhưng có loại thì người bệnh sẽ chết trong chỉ vài phút sau khi phát bệnh. Có những người bị nhiễm bệnh một hai lần là lại khỏi, nhưng sau đó bị nhiễm lần thứ ba thì chết.”
Từ Pelusium đến cảng Alexandria ở Ai Cập, mọi nơi từ Constantinople đến đế quốc La Mã, lần đầu tiên dịch bệnh lan khắp cả La Mã. 1/3 số người chết bởi trận dịch bệnh này. Còn ở thủ đô Constantinople, có hơn nửa số dân chúng thiệt mạng.
Rốt cuộc La Mã đả xảy ra chuyện gì?
Rốt cuộc La Mã đả xảy ra chuyện gì? Tại sao lại bộc phát dịch bệnh đáng sợ quy mô lớn như thế? Tại sao có những người tiếp xúc gần gũi với người bệnh sau đó vẫn sống? Người may mắn sống sót khi đó là tác giả John đã nhận ra rằng: Đây là sự trừng phạt của Thượng Đế!
Để người sau này biết được sự tàn khốc của dịch bệnh và có được ví dụ thực tế, John đã viết ra những lời khuyên ngay trong khi ông trải qua đau đớn. “Khi một kẻ bất hạnh là tôi đây muốn ghi chép lại những sự kiện này vào tài liệu lịch sử, có rất nhiều lần dòng tư duy của tôi bị tê liệt. Hơn nữa, xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, tôi muốn quên đi tất cả: bởi vì đây xem như là tất cả những lời tôi muốn nói, cũng là những lời khó mà kể được; ngoài ra, còn bởi vì khi cả thế giới đều quay cuồng, đi đến bước đổ sập, khi mà thời gian sinh tồn của một thế hệ người đang bị rút dần đi, xem như là có thể ghi chép lại một phần nhỏ những sự kiện này, thì có tác dụng gì chứ? Còn người ghi tại tất cả mọi thứ thì là đang ghi chép lại cho ai đây?”
La Mã
“Thế nhưng, tôi lại nghĩ, dùng ngòi bút của tôi, để thế hệ sau của chúng tôi biết được một phần nhỏ trong vô số những sự kiện mà Thượng Đế trừng phạt chúng tôi, thì hẳn là không sai đâu. Có lẽ trong những năm tháng còn lại của thế giới sau chúng tôi, thế hệ sau sẽ cảm thấy kinh hoàng và hoảng sợ với tai họa đáng sợ mà chúng tôi phải chịu do tội của chính chúng tôi, đồng thời có thể trở nên sáng suốt hơn vì sự trừng phạt mà những kẻ bất hạnh như chúng tôi phải chịu, từ đó có thể cứu được chính họ khỏi sự phẫn nộ của Thượng Đế cũng như tương lai đau khổ của họ.”
Đúng thế, nếu như không phải là sự trừng phạt của Thượng Đế thì quả thật là có rất nhiều việc khó có thể giải thích rõ ràng được.
Vậy thì tại sao Thượng Đế lại phải trừng phạt Đế quốc La Mã? Hãy xem người La Mã lúc bấy giờ đã làm những gì khiến Thượng Đế phẫn nộ đến thế. Chắc hẳn đó là sự đàn áp đạo Cơ Đốc và các tín đồ Cơ Đốc đã khiến cả người và Thần cùng tức giận, mà sự đàn áp này xảy ra trong suốt 300 năm.
Tín đồ Cơ Đốc bị đem cho sư tử xé xác trong đấu trường như một trò mua vui trước sự chứng kiến của người dân La Mã.
Năm 64 sau CN, Nero đốt thành thành La Mã và đổ tội cho tín đồ Cơ Đốc, đây là lần đàn áp tín đồ Cơ Đốc đầu tiên trong lịch sử đế quốc La Mã. Sau Nero, còn có các hoàng đế như Diocletian cũng đã đàn áp tín đồ Cơ Đốc, từ năm 64 sau CN đến đầu thế kỷ thứ IV, tổng cộng đã xảy ra hơn mười lần đàn áp như thế.
Ngày 23 tháng 2 năm 303, hoàng đế Diocletian phát động lần đàn áp lớn nhất ở phía đông quốc gia: đánh đổ giáo hội, tịch thu kinh thánh, các tín đồ Cơ Đốc hoặc là lựa chọn hối lỗi, hoặc lựa chọn cái chết. Rất nhiều những tín đồ không từ bỏ đức tin bị giết. Chính từ sự đàn áp đối với tín đồ Cơ Đốc mà đế quốc La Mã bắt đầu liên tiếp phải chịu hậu quả từ thiên tai và dịch bệnh, tình hình kinh tế không ngừng xấu đi, đi đến bước đường suy vong.
Tín đồ Cơ Đốc bị treo lên làm “đuốc thịt” mua vui cho vua quan La Mã.
Lịch sử lặp lại, con người ngày nay cũng có bao nhiêu người hy vọng giống như John “có thể trở nên sáng suốt hơn vì sự trừng phạt mà những kẻ bất hạnh như chúng ta phải chịu”, từ đó có thể cứu được chính họ khỏi sự phẫn nộ của Thượng Đế cũng như tương lai đau khổ ? Và có bao nhiêu người biết rằng Thượng Đế đã luôn cảnh báo chúng ta?
Nhìn lại thế giới ngày nay, không ít người vì kiên định với tín ngưỡng của bản thân mà đang bị đàn áp mạnh mẽ, bị bắt nhốt vào trại giam và trại giáo dưỡng chịu tra tấn, có rất nhiều người bị giết, và có vô số người bị ép phải bỏ nhà đi… Cũng có không ít người kiên định niềm tin vào tự do và lẽ phải mà bị đàn áp. Nếu như thật sự có sự tồn tại của Thần linh, vậy thì các Thần trên trời kia liệu có thể khoan dung được hành vi trái lẽ trời này? Dịch bệnh là sự cảnh tỉnh đối người con người, nếu như con người còn không tỉnh ngộ thì cảnh tượng tàn khốc năm đó ở đế quốc La Mã rất có khả năng sẽ lại xảy ra.
Thế nhưng “Trời không tuyệt đường của con người”, Thượng đế vẫn rất thương xót con người, vẫn còn đang đợi con người tỉnh ngộ, nhưng thời gian còn bao lâu? Con người chúng ta tuyệt đối đừng đợi đến khi tai họa thật sự giáng xuống thì mới thức tỉnh, khi đó thì mọi thứ đều đã quá muộn màng.
An Hòa / Trithucvn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tình hình Biển Đông mới nhất: Hai tàu chiến Mỹ thách thức yêu sách của TQ


22/11/2019 11:29

Các tàu chiến Mỹ đã cơ động trong khu vực Trung Quốc đơn phương tuyên bố đòi chủ quyền trái phép trên Biển Đông.

Keyword đầu tiên có dấu
Tàu USS Gabrielle Giffords.
Theo hãng tin Reuters, những ngày qua, các tàu chiến hiện đại của Mỹ đã cơ động trong khu vực Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền trái phép trên Biển Đông.
Bà Reann Mommsen, người phát ngôn của Hạm đội 7, Hải quân Mỹ, tiết lộ rằng ngày 20/11, tàu tác chiến ven bờ USS Gabrielle Giffords đã đi vào khu vực bán kính 12 hải lý quanh đá Vành Khăn (thuộc quần đảo Trường Sa, chủ quyền của Việt Nam) hiện đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.
Tiếp đó, ngày 21/11, tàu khu trục USS Wayne E. Meyer đã cơ động, thách thức các quy định hạn chế của phía Trung Quốc với việc tự do đi lại ở khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
"Các sứ mệnh này căn cứ theo luật pháp và thể hiện cam kết của chúng tôi trong việc thượng tôn lẽ phải, các quyền tự do và việc sử dụng đúng luật vùng biển và không phận được đảm bảo cho mọi quốc gia" - phát ngôn viên Hạm đội 7 nói.
Trung Quốc tuyên bố đòi chủ quyền phi pháp với gần như toàn bộ diện tích trên Biển Đông, thiết lập các cơ sở quân sự trên các đảo nhân tạo do họ bồi đắp trái phép.
Chính quyền Mỹ cáo buộc Trung Quốc đã quân sự hóa Biển Đông và cố tình bắt nạt các nước láng giềng châu Á cũng muốn khai thác nguồn trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trong khu vực..
Các hoạt động đưa tàu chiến áp sát các đảo, quần đảo trên Biển Đông mới nhất của hải quân Mỹ là những động thái tiếp tục bày tỏ quan điểm tự do hàng hải của Hoa Kỳ nhằm phản đối những tuyên bố chủ quyền ngang ngược của Trung Quốc tại khu vực.


nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2019

Đe doạ sẽ đáp trả quyết liệt đối với những động thái của Mỹ, nhưng Trung Quốc đã cạn kiệt vũ khí và có thể sẽ lún sâu vào “vũng bùn” khủng hoảng của nền kinh tế mới nổi


Đe doạ sẽ đáp trả quyết liệt đối với những động thái của Mỹ, nhưng Trung Quốc đã cạn kiệt vũ khí và có thể sẽ lún sâu vào "vũng bùn" khủng hoảng của nền kinh tế mới nổi

Tuyên bố sẽ không “ngồi yên” nếu Mỹ can thiệp vào vấn đề Hồng Kông. Tuy nhiên, hiện tại, “kho đạn dược” của Bắc Kinh đang rất hạn chế, vì hầu hết đã được sử dụng trong chiến tranh thương mại.
*Bài viết thể hiện quan điểm của Noah Smith. Ông là tay viết quen thuộc của Bloomberg Opinion, hiện là trợ giảng cho giáo sư ngành tài chính tại Đại học Stony Brook.
Mới đây, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra những lời cảnh báo cứng rắn nhưng lại khá mơ hồ rằng họ sẽ đáp trả nếu Mỹ thông qua một dự luật – trong đó có yêu cầu Nhà Trắng bảo vệ nhân quyền và đảm bảo quyền tự trị của Hồng Kông. Tuy nhiên, “kho đạn dược” của Bắc Kinh hiện đang rất hạn chế. Và hầu hết tất cả những lựa chọn này đều đã được sử dụng trong cuộc chiến thương mại với Tổng thống Trump.
Cách thức trả đũa rõ ràng nhất của Trung Quốc sẽ làm ngừng mua hàng hoá của Mỹ. Thế nhưng, chính quyền ông Tập đã áp thuế với 135 tỷ USD giá trị hàng hoá từ nền kinh tế lớn nhất thế giới và doanh số bán sản phẩm từ Mỹ sang Trung Quốc đã sụt giảm mạnh.
Theo đó, ngành nông nghiệp Mỹ cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Số vụ trang trại phá sản đã tăng 24% trong năm nay và một báo cáo của Liên đoàn Cục Nông nghiệp Mỹ (AFBF) cho thấy gần 40% thu nhập của nông dân trong năm nay sẽ đến từ các khoản thanh toán bảo hiểm hoặc trợ cấp của chính phủ.
Đe doạ sẽ đáp trả quyết liệt đối với những động thái của Mỹ, nhưng Trung Quốc đã cạn kiệt vũ khí và có thể sẽ lún sâu vào vũng bùn khủng hoảng của nền kinh tế mới nổi - Ảnh 1.
Thay đổi về xuất khẩu từ Trung Quốc đến các tiểu bang của Mỹ (tháng 9/2018 đến tháng 9/2019).
Đây là một thảm hoạ kinh tế đối với rất nhiều nông dân Mỹ và là “nỗi đau đầu” của nhiều nhà xuất khẩu khác. Tuy nhiên, thiệt hại đã hiện rõ. Không có nhiều ý kiến kỳ vọng rằng xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ hồi phục kể cả khi chiến tranh thương mại kết thúc vào ngày mai, bởi Bắc Kinh đã tìm thấy những nhà cung ứng khác.
Thậm chí các nhà xuất khẩu Mỹ – những bên vẫn bán hàng tại Trung Quốc, cũng phải thừa nhận rằng những gì đang diễn ra là rất bất ổn. Nếu suy nghĩ thấu đáo, có thể họ đang tìm kiếm thị trường thay thế. Do đó, Trung Quốc không còn nhiều vũ khí để đe doạ trên “mặt trận” thương mại.
Một loại vũ khí lớn trong “kho” của Trung Quốc là đầu tư. Từ trước đến nay, chính phủ nước này là bên nắm giữ lượng trái phiếu Mỹ rất lớn và chỉ đứng thứ hai sau Nhật Bản. Trong những năm qua, nhiều ý kiến đã lo ngại rằng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ là yếu tố tác động khiến nước này bán tháo toàn bộ lượng trái phiếu đó, khiến hệ thống tài chính và kinh tế Mỹ bị tổn hại.
Tuy nhiên, nguy cơ xảy ra động thái này đã bị “thổi phồng” quá mức bởi 2 lý do. Đầu tiên, theo những gì đã diễn ra gần đây, chỉ đơn giản là Mỹ không cần đến tiền mặt của chính phủ Trung Quốc. Năm 2015 và 2016, Bắc Kinh đã chứng kiến tình trạng dòng vốn chảy ra mạnh nhất trong lịch sử, với khoảng 1 nghìn tỷ USD tháo chạy khỏi nước này. Do đó, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc sụt giảm mạnh, hầu hết trong đó là trái phiếu Mỹ.
Đe doạ sẽ đáp trả quyết liệt đối với những động thái của Mỹ, nhưng Trung Quốc đã cạn kiệt vũ khí và có thể sẽ lún sâu vào vũng bùn khủng hoảng của nền kinh tế mới nổi - Ảnh 2.
Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc.
Nếu Mỹ phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của Bắc Kinh, thì lợi suất trên trái phiếu Mỹ lẽ ra đã tăng lên. Thay vào đó, lợi suất trái phiếu Mỹ lại sụt giảm.
Nếu Trung Quốc cắt giảm 1/4 lượng trái phiếu Mỹ đang nắm giữ và không gây ra sự thay đổi đáng kể trong chi phí đi vay của Mỹ, thì mối đe doạ mà 3/4 còn lại gây ra có thể là không lớn. Cũng như những nền kinh tế phát triển khác, Mỹ chỉ đơn giản là đang ngập chìm trong vốn tài chính.
Đe doạ sẽ đáp trả quyết liệt đối với những động thái của Mỹ, nhưng Trung Quốc đã cạn kiệt vũ khí và có thể sẽ lún sâu vào vũng bùn khủng hoảng của nền kinh tế mới nổi - Ảnh 3.
Lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm của Mỹ.
Sử dụng “kho” dự trữ để trả đũa phản ứng của Mỹ đối với Hồng Kông có thể đặt Trung Quốc vào tình thế nguy hiểm hơn Mỹ. Không có hỗ trợ dự trữ, thì những gì xảy ra vào năm 2015 – 2016 sẽ tái diễn và dẫn đến một cuộc khủng hoảng cơ bản của thị trường mới nổi ở Trung Quốc, khi dòng vốn tháo chạy khiến đồng tiền tệ bị rớt giá đột ngột, hệ thống tài chính sụp đổ và nền kinh tế bất ngờ chững lại.
Vũ khí cuối cùng mà Trung Quốc có thể sử dụng là hạn chế xuất khẩu đất hiếm, một nguyên liệu đầu vào quan trọng đối với các sản phẩm công nghệ. Tuy nhiên, tay viết của Bloomberg – David Fickling, lưu ý rằng mối đe doạ này cũng chỉ là rất nhỏ. Khi Trung Quốc cắt giảm lượng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản hồi năm 2010 vì mâu thuẫn địa chính trị, Nhật Bản chỉ cần hợp tác với một công ty của Úc để tìm kiếm nguồn cung mới, nhanh chóng “phản đòn” với sự độc quyền của Trung Quốc. Do đó, Mỹ có thể làm thực hiện động thái tương tự.
Tham khảo Bloomberg / Theo Trithuctre


Phần nhận xét hiển thị trên trang