Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2019

Vì sao hơn 1 triệu người Liên Xô chiến đấu cho Đức trong Thế chiến II?


VOV.VN - Không phải là chi tiết đáng tự hào của lịch sử Nga, nhưng sự thật là ở Liên Xô có một số người hợp tác với Đức Quốc xã.
Ngày 12/7/1942, Thế chiến II đang diễn ra ác liệt ở Liên Xô; các vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Tây nằm dưới sự kiểm soát của Đức và nỗ lực của Liên Xô nhằm giải phóng các khu vực này khỏi quân Đức chưa thành công. Quân đoàn xung kích số 2 của Mặt trận Volkhov - một phần lực lượng chi viện thành phố Leningrad đang bị phong tỏa, bị quân phát xít bao vây và bị đánh bại thảm khốc.
vi sao hon 1 trieu nguoi lien xo chien dau cho duc trong the chien ii? hinh 1
Andrei Vlasov đứng giữa, tháng 11/1944. Nguồn: rbth.com
Hai tuần sau, một thôn trưởng địa phương báo với người Đức anh ta đã bắt được một người đàn ông đáng ngờ, có thể là một du kích, và đang giữ anh ta trong một nhà kho. Khi lính Đức với súng máy tiến đến gần chuồng ngựa, một người đàn ông cao lớn đeo kính bước ra và nói bằng tiếng Đức gượng gạo: “Đừng bắn. Tôi là tướng Vlasov”. Đây là một con cá khá lớn - Andrei Vlasov - Tư lệnh Quân đoàn xung kích số 2, trước đó đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ Kiev và Moscow.
Tuy nhiên, tất cả vinh quang trên bị lu mờ và ô nhục là Vlasov đồng ý phục vụ Đức và lãnh đạo cái gọi là Quân đội Giải phóng Nga (RLA), bao gồm tù binh Liên Xô, chống lại Tổ Quốc của mình. Thậm chí ngày nay, tên Vlasov ám chỉ sự phản bội. Y trở thành một biểu tượng của tráo trở, và những người phạm tội phản quốc trong Thế chiến II, làm việc cho Đức thường được gọi là Vlasovtsy (người phe Vlasov trong tiếng Nga). Trên thực tế, có nhiều công dân Liên Xô và người dân tộc thiểu số Nga, không chỉ các thành viên của RLA, đã hợp tác với Đức Quốc xã.
Vấn đề hợp tác
Sự hợp tác của công dân Liên Xô với quân phát xít không phải là một chủ đề để thảo luận ở Nga. Có lẽ đây là một phần của di sản Xô Viết của Nga: Từ gần 50 năm nay, sự thật về vấn đề hợp tác đó đã không được nhắc đến ở Nga, theo nhà sử học Sergei Drobyazko - người đã có phân tích kỹ lưỡng về chủ đề này trong tác phẩm “Dưới ngọn cờ của kẻ thù: Chống Liên Xô trong quân đội Đức 1941-1945” của mình.
vi sao hon 1 trieu nguoi lien xo chien dau cho duc trong the chien ii? hinh 2
Người Nga phục vụ trong quân đội Đức, Mặt trận phía Đông, 1941-1945. Nguồn: rbth.com
Thực tế một số công dân Liên Xô muốn đứng về phía Hitler chống Liên Xô là quá nhạy cảm để thảo luận trong thời kỳ Xô Viết. Và đây cũng không phải là một nhóm nhỏ của những kẻ lập dị. Tổng cộng, số lượng công dân Liên Xô và người di cư Nga phục vụ trong hàng ngũ quân đội Đức, SS, cảnh sát và dân quân thân Đức là gần 1,2 triệu người (trong đó có tới 700.000 người Slavơ, 300.000 người Baltic và 200.000 người Thổ Nhĩ Kỳ, người Kavkaz và từ các dân tộc thiểu số), Drobyazko cho biết.
Có hai điều quan trọng cần nhớ ở đây. Đầu tiên, điều này không có nghĩa là tất cả 1,2 triệu người này thực sự đã chiến đấu trực tiếp chống lại Liên Xô. Phần lớn trong số họ được sử dụng làm cảnh sát, tài xế,... và/hoặc không ở Mặt trận phía Đông. Thứ hai, con số này khá thấp, do theo điều tra dân số năm 1939, có 170 triệu người sống ở Liên Xô trước chiến tranh. Nói cách khác, đại đa số người dân Liên Xô đã chiến đấu anh dũng chống lại Đức quốc xã và vẫn trung thành với đất nước của mình. Tuy vậy, vẫn đáng để đặt câu hỏi: tại sao nhiều người lại sát cánh với Đức?
Lý do phản quốc
Trước chiến tranh, Liên Xô giống một khối đá đỏ khổng lồ rắn chắc, đặc biệt là nhìn từ bên ngoài, nhưng thực tế, nó ẩn chứa nhiều vấn đề lớn. Không phải tất cả mọi người hài lòng với sự lãnh đạo của những người Bolshevik. Hơn nữa, cuộc chiến bắt đầu thảm khốc, mùa hè và mùa thu năm 1941, Đức Quốc xã đã chiếm đóng các vùng lãnh thổ rộng lớn và ngấp nghé tiến về Moscow, nhiều người đặt câu hỏi liệu việc chống trả có khả thi không.
vi sao hon 1 trieu nguoi lien xo chien dau cho duc trong the chien ii? hinh 3
Những tình nguyện của Quân đội Giải phóng Nga, 1944. Nguồn: rbth.com
Thất bại thảm khốc Hồng quân phải chịu trong mùa hè-thu năm 1941 khiến người dân hoài nghi về khả năng lãnh đạo, sự bất lực của chính quyền Xô Viết trong việc kiểm soát tình hình và thậm chí là phản quốc. Hơn nữa, cuộc chiến đã gợi mở những mâu thuẫn mà xã hội Liên Xô đang phải chịu đựng, Drobyazko cho biết.
Bị dồn vào chân tường
Oleg Budnitsky - giám đốc Trung tâm quốc tế về lịch sử và xã hội học của Thế chiến II - nhấn mạnh những lựa chọn khó khăn mà nhiều cộng tác viên phải đối mặt: phần lớn người Xô Viết hợp tác với Đức là vì hoàn cảnh..., trong tình thế nguy kịch, một lựa chọn mà họ cho là ít xấu xa hơn hoặc đơn giản là có thể cứu mạng họ.
vi sao hon 1 trieu nguoi lien xo chien dau cho duc trong the chien ii? hinh 4
Một đơn vị Quân đội Giải phóng Nga. Nguồn: rbth.com
Đồng thời, Budnitsky lưu ý, có một phần trăm những người đã chống đối sâu sắc với những người Bolshevik và chiến đấu chống lại Liên Xô vì lý do ý thức hệ. Quân Bạch vệ phải rời khỏi Nga sau khi Hồng quân giành chiến thắng (mặc dù chỉ một phần nhỏ trong số này đứng về phía Đức quốc xã) và người dân từ các vùng lãnh thổ mà Liên Xô đã sáp nhập trước Thế chiến II - các quốc gia Baltic độc lập trước đây và các khu vực của Tây Ukraine và Tây Belarus từng là một phần của Ba Lan.
Các đồng minh không mong muốn
Nếu giới chức Đức tận dụng tối đa những người hăng hái chiến đấu chống Liên Xô, cơ hội chiến thắng của họ sẽ gia tăng đáng kể. Một quan chức Đức thuộc Bộ phụ trách các vùng lãnh thổ chiếm đóng, cho biết vào năm 1942, cuộc kháng chiến của các binh sĩ Hồng quân sẽ bị phá vỡ khi họ nhận ra Đức sẽ mang lại cho họ một cuộc sống tốt hơn so với Liên Xô.
Điều ngu ngốc nhất làm tại các lãnh thổ phương Đông bị chiếm đóng là cung cấp vũ khí cho các quốc gia bị chiếm đóng, Hitler nhấn mạnh. Đó là lý do tại sao, cho đến khi Đức quốc xã trở nên tuyệt vọng vào năm 1944, người Đức chỉ sử dụng những người Liên Xô thân Đức, bao gồm Vlasov và RLA, như một công cụ tuyên truyền. Họ ném bom Hồng quân với tờ rơi kêu gọi nổi dậy nhưng từ chối trao cho Vlasov bất kỳ lực lượng thực sự nào để chỉ huy. Một đội hình khác của Nga trong Đức Quốc xã, Quân đoàn bảo vệ Nga, đã được sử dụng ở Nam Tư để chiến đấu chống lại du kích địa phương vào năm 1942-1944, nhưng Hitler đã không đủ tin tưởng người Nga để dùng họ chiến đấu chống lại chính Liên Xô.
Kết thúc tuyệt vời
Tất cả những điều này chỉ thay đổi vào tháng 9/1944, khi Hồng quân đang áp sát nước Đức. Vào thời điểm đó, Đức Quốc xã đã đủ tuyệt vọng để sử dụng bất cứ thứ gì có thể giữ cho đế chế sắp sụp đổ của họ còn nguyên vẹn. Chính Heinrich Himmler đã gặp Andrei Vlasov và xử phạt việc thành lập Ủy ban Giải phóng Nhân dân Nga và Lực lượng Quân sự nằm dưới sự chỉ huy của Vlasov, bao gồm khoảng 50.000 người.
Những người này đã chiến đấu chống lại Hồng quân chỉ trong ba tháng, từ tháng 2 đến tháng 4/1945, nhưng đã không thành công. Đức Quốc xã đã bị suy yếu vào thời điểm này. Sau thất bại của Đức, Vlasov và tất cả các sỹ quan chỉ huy của y đã bị Liên Xô bắt giữ, nhanh chóng bị xử tử và đi vào lãng quên. Không thể bào chữa cho những người giúp đỡ Đức Quốc xã, bất kể động cơ của họ là gì, Oleg Budnitsky nói./.
Theo RBTH


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHẤT QUYẾT PHẢI CÓ GIẢI PHÁP KHÁC ĐỂ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO





Biết rõ âm mưu của Trung Quốc là một nhẽ, chọn giải pháp đối phó với Trung Quốc mới là điều quan trọng.
TRUNG QUỐC NÓI THÌ MỸ MIỀU NHƯNG HÀNH ĐỘNG LẠI NGANG NGƯỢC
Diễn đàn Hương Sơn là diễn đàn của Trung Quốc sinh ra để đối trọng với Diễn đàn Shangri- La. Nếu các nước đến diễn đàn Shangri –La có phần nào thoải mái hơn khi nói về Trung Quốc, thì Diễn đàn Hương Sơn lại là cái băng bịt miệng vì Trung Quốc là nước chủ nhà. Muốn nói đúng cái xấu của Trung Quốc rất khó. Chỉ số ít kẻ quân tử thì trung lập, còn phần nhiều là phải ngợi ca. Cho đến nay Trung Quốc đã 9 lần tổ chức Diễn đàn Hương Sơn.
Là bậc thầy trộm cướp lật lọng, nhưng Trung Quốc lại đặt tên thật “cao đẹp” cho Diến đàn Hương Sơn, mà trên thực tế thì hành động ngông cuồng tùy ý. Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 9 khai mạc ngày 21/10/2019 được Trung Quốc khoác cho cái áo mỹ miều:
“Duy trì trật tự quốc tế và thúc đẩy hòa bình tại châu Á-Thái Bình Dương”.
Trong khi đó thì trên thực tế suốt hơn 3 tháng qua Trung Quốc ngang ngược đưa tàu Địa chất 8 cùng hàng chục tàu hải cảnh đến thăm dò trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
TRẮNG TRƠN KHÔNG ÚP MỞ
Phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh hôm 21/10/2019, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa thẳng thừng:
“Các đảo ở Biển Đông và quần đảo Điếu Ngư (ở biển Hoa Đông) là những phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc. Chúng tôi sẽ không cho phép dù chỉ một tấc lãnh thổ mà tổ tiên của chúng tôi đã để lại bị lấy đi”.
Điều đó nghĩa là Việt Nam đừng nói đến Hoàng Sa và Trường Sa, đừng đi vào vùng lưỡi bò mà Trung Quốc vẽ ra. Thế thì còn gì “ duy trì trật tự quốc tế” và làm sao có thể “ thúc đẩy hòa bình” - ngoại trừ đầu hàng nhường biển đảo cho Trung Quốc.
MỀM DẺO NHƯNG PHẢI RÕ RÀNG
Khi Trung Quốc đã thẳng thừng không úp mở thì không việc gì phải né tránh nói ra sự thật.
Phát biểu tại diễn đàn, Bộ trưởng Ngô Xuân Lịch nói:
"Lập trường của Việt Nam là ủng hộ và bảo vệ quyền tự do đi lại, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế. Việt Nam kiên trì giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, trong đó có công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển 1982. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt giữa các bên là khó tránh khỏi nhưng vấn đề Biển Đông phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình”.
Trung Quốc xâm chiếm biển đảo và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, sao lại “Chúng tôi cho rằng sự khác biệt giữa các bên là khó tránh khỏi”?
KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI CA NGỢI TRUNG QUỐC
Khi Trung Quốc là kẻ xâm lược trắng trợn, không nói thẳng ra tim đen của họ thì thôi, không việc gì phải ca ngợi rồi khoác cho Trung Quốc vai trò người bảo vệ hòa bình ổn định trong khu vực. Trung Quốc càng mạnh càng hung hăng, càng mang nhiều tai họa cho các nước láng giềng, nên hãy im lặng trung lập, không việc gì mà ca ngợi thành tựu của chính quyền Trung Quốc.
NHẤT QUYẾT PHẢI CÓ GIẢI PHÁP KHÁC
Phát biểu của tướng Ngụy Phương Hòa cho thấy Trung Quốc nhất quyết chiếm trọn Biển Đông Nam Á. Bởi thế Việt Nam không thể dựa vào quan hệ song phương với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Việt Nam nhất thiết phải tìm đối sách khác ngoài đàm phán với Trung Quốc!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MẸ ƠI CON XIN LỖI MẸ MẸ ƠI! CON ĐƯỜNG ĐI NƯỚC NGOÀI KHÔNG THÀNH!



1. Nghĩ đến những lời tuyệt vọng gửi bố mẹ của cháu Phạm Thị Trà My mà ứa tràn nước mắt. Chẳng ai có thể sống lại mà giả thiết. Nhưng nếu Cụ Hồ sống lại thì Cụ buồn lắm.
108 năm sau chuyến xuất ngoại tìm đường cứu nước của Cụ Hồ thì cháu, chắt, chít của Cụ vẫn phải tìm cách vượt biên để cứu mình và cứu gia đình đến nỗi bao người phải bỏ mạng thê thảm. Tại sao lại như vậy?
2. Năm 1911 Cụ Hồ lên tàu làm phụ bếp để ra hải ngoại. Cụ Hồ mong muốn mở rộng tầm mắt, học hỏi kiến thức, tìm cách giúp đỡ quốc dân đồng bào. Trên thực tế Cụ Hồ đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 rồi thành lập ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).
Cho đến năm 1950, VNDCCH chưa được nước nào trên thế giới công nhận. Mỹ thì thấy chính phủ của Cụ Hồ tuy đa đảng, nhưng hạt nhân lãnh đạo lại là Đảng Cộng sản Đông dương nên không quan hệ dù Cụ Hồ đã viết cho TT Truman đến 8 bức thư, và dù Tuyên ngôn độc lập của VNDCCH được Cụ Hồ mở đầu bằng một câu trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ.
Còn Stalin thì biết Cụ Hồ là một người dân tộc chủ nghĩa áp đảo chứ không phải là người theo CNXH kiểu Stalin. Điều này thì Stalin đã nắm rõ từ lâu, nên trong thời gian Cụ Hồ ở Liên Xô không được phân công nhiệm vụ nào quan trọng. Chỉ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa ra đời, trơ trọi một mình Cụ Hồ mới dựa vào để kháng Pháp, được Mao Trạch Đông giới thiệu với Stalin rồi mới được phe XHCN công nhận. Từ đó Cụ Hồ ngả hẳn về phe XHCN. Chịu sự giúp đỡ của Mao Trạch Đông về vũ khí, Cụ Hồ bị Mao thúc ép cảỉ cải cách ruộng đất đến nỗi sau này phải ân hận mà thổ lộ ra cho ông Hoàng Tùng được biết. Đến cuối đời thì trong Di chúc không thấy Cụ hồ nhắc phải xây đựng CNXH.
Cụ Hồ là nhân vật chính trị đa chiều mà những điều trên chỉ là hạt muối bỏ biển khi phác họa chân dung của Cụ Hồ. Viết điều trên không phải bàn về Cụ Hồ mà để nói chuyện Cụ Hồ ra đi trên một con tàu bằng chân phụ bếp để tìm đường cứu nước mong cho đồng bào của Cụ được ấm no hạnh phúc. Cụ Hồ đã thành lập nên nhà nước VNDCCH. Nhưng tại sao nhà nước do Cụ Hồ lập nên vẫn chưa mang được niềm hạnh phúc như Cụ Hồ mong muốn? Để đến nỗi sau 74 năm nước VNDCCH ra đời các thế hệ cháu chắt, chít của Cụ Hồ vẫn phải ra đi bằng nhiều đường khác nhau? Đau xót nhất là con đường bất hợp pháp dẫn đến nhiều chục ngàn người phải bỏ xác thê thảm.
May mắn thay cho 9 người vượt biên bằng chuyên cơ của Quốc Hội. Thương lắm thay cho các cháu trẻ tuổi phải vượt biên bằng contener đông lạnh chuyên dụng, rồi ngạt thở chết thể thảm trong băng giá – 25 độ.
3. Mẹ ơi con xin lỗi mẹ mẹ ơi! Con đường đi nước ngoài không thành!
Trước lúc chết cháu Trà Mi đã nghĩ đến nhiều thứ. Không thể không tiếc cho cuộc đời còn tươi trẻ của mình. Không thể không thấy lỗi để cho bố mẹ mất con. Không thể không thấy lỗi khi để lại gánh nợ cho gia đình. Tất cả mãi còn là một nỗi ám ảnh làm cho cháu ra đi không thanh thản.
4. Các vị ĐBQH đang thảo luận những điều vô nghĩa về “thế nào là người tài” có nghe được tiếng kêu xé ruột xé gan “Mẹ ơi con xin lỗi mẹ mẹ ơi! Con đường đi nước ngoài không thành!”?
Đừng đổ lỗi cho các cháu ham giàu. Đất nước chúng ta không bằng các nước khác nên các cháu mới tìm đường vượt biên – đến nỗi chấp nhận liều cả gia tài lẫn mạng sống.
5. Tiếng kêu xé lòng của cháu Phạm Thị Trà Mi “Mẹ ơi con xin lỗi mẹ mẹ ơi! Con đường đi nước ngoài không thành!” là nhát dao đâm vào trái tim mỗi chúng ta. Chức vụ càng cao thì nhát đâm càng sâu.
Không biết Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội có nghe được tiếng kêu xé lòng của cháu Phạm Thị Trà Mi không?
Nếu nghe thấy được thì dứt khoát phải đổi thay chính sách để dân giàu nước mạnh, để không bao giờ còn những chuyến vượt biên với tiếng kêu thê thảm vọng mãi vào lịch sử như thế này!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÀM GÌ CÓ CHÙA Ở BÁI ĐÍNH VÀ TAM CHÚC!



Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, núi, ngoài trời, thiên nhiên và nước
Bài của nguyễn thế khoa
24 tháng 10 - 2019
Ngày 21/8/2019, Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà có văn bản trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng) về việc cấp đất xây các chùa như Bái Đinh, Tam Chúc.
Trong văn bản này, các nội dung trả lời của Bộ trưởng Trần Hồng Hà đã cho phép chúng ta khẳng định: không hề có quyết định nào cấp đất cho Giáo hội Phật giáo VN xây chùa ở hai địa điểm trên. Chỉ có việc các địa phương cấp đất cho Doanh nghiệp tư doanh Xuân Trường xây các khu du lịch tâm linh ở đó.
Bởi vậy, việc Phó Chủ tịch Giáo hội Phật giáo VN trả lời trước Quốc hội kỳ họp trước rằng các chùa Bái Đính, Tam Chúc thuộc sở hữu của Giáo hội Phật giáo VN là hoàn toàn không có cơ sở. Việc xây dựng các khu du lịch tâm linh của Doanh nghiệp Xuân Trường tại hai khu vục kể trên thuộc Ninh Bình và Hà Nam đều là các dự án kinh doanh du lịch. Việc các khu du lịch tâm linh đặt tên là chùa nhằm núp bóng Giáo hội Phật giáo để trốn đóng tiền sử dụng đất cũng như các loại thuế kinh doanh du lịch là hành động bất hợp pháp không được pháp luật Việt Nam công nhận.
Trong văn bản trả lời đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy cùng thời gian trên, Bộ trưởng Tài chính cũng khẳng định việc cấp đất cho các dự án du lịch tâm linh như Bái Đính, Tam Chúc nếu chưa đóng tiền sử dụng đất và các loại thuế theo quy định của pháp luật sẽ bị truy thu.
Vậy đề nghị Quốc hội trong kỳ họp này cần cho công bố các trả lời chất vấn của hai Bộ trưởng trên, chính thức không cho phép gọi hai khu du lịch tâm linh trên là chùa và yêu cầu các địa phương cho thu đủ thuế sử dụng đất và các loại thuế kinh doanh du lịch khác mà Doanh nghiệp Xuân Trường từng dựa vào Giáo hội Phật giáo trốn thuế, yêu cầu Giáo hội Phật giáo VN kỷ luật thật nặng vị Phó Chủ tịch đã đứng trên diễn đàn Quốc hội nhận xằng Tam Chúc, Bái Đính thuộc sở hữu của Giáo hội.
Có như thế mới ngăn chặn kịp thời được việc xây khu du lịch rồi đặt tên chùa để trốn thuế kinh doanh đang diễn ra nhiều nơi trên đất nước ta hiện nay, vừa coi thường luật pháp vừa làm ô uế Phật giáo...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2019

Nguy hiểm ngay sau lưng: Trả giá đắt vì quá chủ quan, Mỹ mạnh tay triệt phá “vũ khí nguy hiểm nhất” của TQ


Nguy hiểm ngay sau lưng: Trả giá đắt vì quá chủ quan, Mỹ mạnh tay triệt phá "vũ khí nguy hiểm nhất" của TQ
Sau nhiều thập kỷ làm ngơ trước các chiến dịch tình báo quy mô lớn của Trung Quốc, chính phủ Mỹ cuối cùng cũng phát động chiến dịch triệt phá hành động đánh cắp công nghệ của Mỹ.
Gần như định kỳ hàng tháng, Bộ Tư pháp Mỹ lại đưa ra thông báo bắt giữ nhiều người đối mặt với các cáo buộc khác nhau liên quan đến việc đánh cắp các bí mật công nghệ của Mỹ hoặc các hành động gián điệp tương tự.
Tháng trước, Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã tiến hành bắt giữ quan chức chính phủ Trung Quốc Zhongsan Liu với cáo buộc gian lận visa nhằm che đậy vai trò của ông này trong việc điều hành một chiến dịch lớn của chính phủ Trung Quốc với mục đích thu thập công nghệ của Mỹ thông qua việc tuyển mộ các chuyên gia từ các trường đại học chuyên về công nghệ cao.
Ông Liu là người đứng đầu một tổ chức do Bắc Kinh lập ra làm bình phong tại thành phố New Jersey với tên gọi Hiệp hội Trung Quốc về Trao đổi Nhân sự Quốc tế (CAIEP).
Theo cáo trạng của tòa, từ năm 2017, ông Liu đã tiến hành việc gian lận để xin visa Mỹ cho các quan chức Trung Quốc với sự giúp sức của ít nhất 6 trường đại học ở Massachusetts, Georgia, New Jersey và những thành phố khác hiện vẫn chưa xác định được danh tính.
Chương trình Ngàn Nhân tài
Mục đích thực sự của tổ chức bình phong CAIEP nói trên là tuyển mộ những người Mỹ làm việc trong các dự án công nghệ cao nhằm hỗ trợ cho các chương trình tương tự của chính phủ Trung Quốc.
Kế hoạch này là một phần trong Chương trình Ngàn Nhân tài của Trung Quốc nhằm tuyển mộ những người Mỹ gốc Hoa và những cá nhân khác để hỗ trợ cho các nghiên cứu công nghệ cao của Bắc Kinh. Chương trình này được cho là có liên kết với Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc.
Báo cáo thường niên mới nhất của Lầu Năm Góc về sức mạnh quân sự Trung Quốc cho rằng Chương trình Ngàn Tài năng không chỉ nhằm mục đích thương mại mà còn nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng tiềm lực quân sự ở quy mô lớn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).
Nguy hiểm ngay sau lưng: Trả giá đắt vì quá chủ quan, Mỹ mạnh tay triệt phá vũ khí nguy hiểm nhất của TQ - Ảnh 1.
Ảnh minh họa: CNN
Báo cáo cho biết, những gì thu được từ Chương trình Ngàn Tài năng được sử dụng vào các nghiên cứu chiến lược và nhằm bù đắp những thiếu hụt về hiểu biết công nghệ.
Chương trình này "ưu tiên việc tuyển dụng những người có gốc gác Trung Quốc hoặc những người Trung Quốc mới di cư đến Mỹ mà chính phủ Trung Quốc thấy cần phải tuyển mộ để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa khoa học và công nghệ của nước này, đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng", báo cáo nói thêm.
Trợ lý Tổng chưởng lý John C. Demers, Trưởng Bộ phận An ninh Quốc gia, đã nói về trường hợp bắt giữ ông Liu "Chúng ta sẽ tiếp tục phải đối mặt với những nỗ lực của chính phủ Trung Quốc trong việc vi phạm luật pháp Mỹ nhằm thu được lợi ích từ việc chuyển các nghiên cứu và tiến bộ kỹ thuật từ Mỹ về Trung Quốc."
Trong cùng ngày việc bắt giữ ông Liu được thông báo, cựu sỹ quan Cục Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) Ron R. Hansen bị tuyên án 10 năm tù vì làm gián điệp cho Trung Quốc.
Hansen là một trong ba cựu sỹ quan tình báo Mỹ bị bắt vì tội làm gián điệp cho Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc (MSS) trong vòng ba năm qua và là vụ án lớn đầu tiên về hoạt động tình báo được đưa ra xét xử tại Mỹ trong hơn một thập kỷ qua.
Hai trường hợp còn lại là cựu sỹ quan CIA Kevin Mallory, người bị kết án 20 năm vì chuyển giao nhiều bí mật cho Trung Quốc và Jerry Chung Shin Lee, người đã được phía Trung Quốc trả hàng ngàn USD cho việc tiết lộ danh tính của rất nhiều nguồn tin đã được CIA tuyển mộ.
Các đặc vụ CIA: Bị bắt giam hoặc bị giết
Đã có khoảng 30 đặc vụ mà CIA tuyển mộ tại Trung Quốc bị bắt giam hoặc tử hình kể từ năm 2010, đây được coi là một trong những tổn thất nặng nề nhất cho cơ quan này kể từ sau khi CIA mất toàn bộ các điệp viên tại Nga trong những năm 1980 và 1990.
Sỹ quan phản gián của CIA Mark Kelton gọi hành động lật tẩy những người Mỹ làm gián điệp cho Trung Quốc là sự kiện chưa từng có tiền lệ.
"Mưu kế của Tôn Tử cho rằng ‘hiểu biết về lực lượng của kẻ địch chỉ có thể thu được với sự tiếp tay của gián điệp’ đang được áp dụng trong thời đại kỹ thuật số ngày nay," viên sỹ quan này nói. "Trung Quốc đã phát động một đợt tấn công ngầm nhắm vào toàn bộ các hoạt động tình báo của Mỹ."
Nguy hiểm ngay sau lưng: Trả giá đắt vì quá chủ quan, Mỹ mạnh tay triệt phá vũ khí nguy hiểm nhất của TQ - Ảnh 2.
Ảnh minh họa: Londonist
Những thiệt hại mà Mỹ phải gánh chịu bao gồm việc mất cắp các bí mật nhạy cảm liên quan đến thông tin về chính phủ, giao dịch thương mại và các ngành công nghiệp của nước này trước hàng chục ngàn cuộc tấn công qua không gian mạng từ phía Trung Quốc, chủ yếu được tiến hành bởi Cục 3 Quân Giải phóng Nhân dân (3PLA) nhắm vào các mục tiêu cả nhà nước lẫn tư nhân tại Mỹ.
Trong khi đó, các hoạt động thu thập thông tin tình báo truyền thống vẫn được tiến hành một cách nhanh chóng thông qua các sỹ quan tình báo Trung Quốc và cả đội ngũ gián điệp nằm trong những du khách và khách tham quan Trung Quốc. Đồng thời, phía Trung Quốc cũng cố gắng tìm cách tuyển mộ những người Mỹ có thể tiếp cận với các loại bí mật khác nhau.
"Mối đe dọa từ tình báo Trung Quốc mới chỉ bắt đầu được chú ý đúng mức," Kelton nói.
Trung Quốc cố gắng tránh để lực lượng phản gián Mỹ chú tâm tới họ bằng cách sử dụng các phương pháp có vỏ bọc ít gây nguy hiểm và cố gắng tránh các vụ việc có thể dẫn tới mức độ cảnh giác cao hơn từ phía Mỹ, họ đặc biệt chú trọng vào việc sử dụng các điệp viên không chuyên, Kelton cho biết thêm.
Các chiến dịch thầm lặng
Trong giai đoạn ngay sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc cũng cố gắng tiến hành các chiến dịch thận trọng và kín đáo nhằm vào các đối thủ của chính quyền Bắc Kinh. Chúng phản ánh những giới hạn về năng lực của tình báo Trung Quốc trong việc triển khai các chiến dịch ở nước ngoài.
"Ngược lại, tình báo Trung Quốc ngày nay đã có thể với tay đến hầu khắp các quốc gia nhằm đáp ứng cho giấc mơ toàn cầu của nước này," Kelton nói.
Một lí do khác cho việc Mỹ thiếu sự tập trung cần thiết vào các chiến dịch tình báo của Trung Quốc là do ngành phản gián nước này quá tập trung vào các chiến dịch tương tự của người Nga.
Trong khi đó, Trung Quốc lại được coi là một địch thủ ít nguy hiểm hơn so với nước Nga của Tổng thống Putin.
Nguy hiểm ngay sau lưng: Trả giá đắt vì quá chủ quan, Mỹ mạnh tay triệt phá vũ khí nguy hiểm nhất của TQ - Ảnh 3.
Đặc vụ FBI tuyên bố cáo trạng nhằm vào một tội phạm tình báo với tội danh đem thông tin mật của Mỹ cho Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Ảnh AFP/Justin Sullivan/Getty Images
Có nhiều dấu hiệu khác cho thấy Trung Quốc đang gia tăng các hoạt động tình báo ở nước ngoài, bao gồm việc nước này sử dụng cả một quan chức Bộ Công an, người này bị bắt hồi tháng 2/2019 khi đang do thám một căn cứ Hải quân Mỹ ở Key West, Florida.
Zhao Qianli đã bị bắt khi đang chụp ảnh các ăng-ten tại căn cứ nói trên và sau đó, FBI đã xác định được người này làm việc Bộ Công an Trung Quốc, cơ quan này vốn chưa từng được biết đến với các hoạt động tình báo ở hải ngoại.
Cuối tháng trước, cảnh sát California đã tiến hành một cuộc điều tra sau khi một người đàn ông châu Á bị bắt vì mạo danh một sỹ quan cảnh sát Trung Quốc. Người đàn ông này bị bắt khi đang lái một chiếc Audi có dán dòng chữ "Cảnh sát Vũ trang Trung Quốc" (PAP) bằng tiếng Trung.
Một nghi phạm mạo danh PAP khác cũng đang bị truy lùng. Các chuyên gia phản gián cho rằng viên cảnh sát này có thể là một phần trong các chiến dịch hải ngoại của Trung Quốc nhằm đe dọa hoặc ép buộc các thành phần chống đối người Hoa đang sống ở nước ngoài bị coi là đối thủ của chế độ Bắc Kinh.
Cuộc chiến dài hơi
Chiến dịch của Mỹ nhằm vào các hoạt động do thám của Trung Quốc chưa hề có dấu hiệu chững lại và được cho là sẽ còn tiếp tục với các chính sách ngày càng cứng rắn của Tổng thống D. Trump nhằm vào Trung Quốc.
Mới đây nhất, ngày 16/10, đến lượt Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố áp dụng các quy định mới lên hoạt động của các nhà ngoại giao Trung Quốc đang có mặt tại nước này. Theo đó, các nhà ngoại giao Trung Quốc cần thông báo cho phía Mỹ trước khi tiến hành bất cứ cuộc gặp chính thức nào với các quan chức ngoại giao Mỹ, hoặc các quan chức chính quyền địa phương và trước khi đến thăm bất cứ trường đại học hay viện nghiên cứu nào.
Một quan chức ngoại giao Mỹ giấu tên cho biết đây được coi là "sự đáp trả" của phía Mỹ trước những hạn chế mà phía Trung Quốc áp đặt lên các nhà ngoại giao Mỹ đang hoạt động tại nước này, đồng thời nhấn mạnh các nhà ngoại giao Mỹ phải "xin phép" phía Trung Quốc cho các hành động tương tự và họ thường bị từ chối, trong khi các đồng nghiệp Trung Quốc của họ tại Mỹ chỉ phải "thông báo trước" cho giới chức Mỹ.
Trên khía cạnh kinh tế, năm ngoái, Nhà Trắng đã đưa ra một bản báo cáo về "Tham vọng kinh tế của Trung Quốc" trong đó ước tính việc đánh cắp công nghệ của Trung Quốc tại Mỹ đã làm nước này thiệt hại khoảng 600 tỷ USD hàng năm chỉ tính riêng về sở hữu trí tuệ.
Tổng thống Trump đang đi theo một chiến lược đã được sử dụng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, đó là ngăn cản Liên Xô tiếp cận được với khoa học công nghệ của Mỹ và các nước phương Tây, điều này được cho là góp phần vào sự sụp đổ của Liên Xô và khối Soviet năm 1991.
Ông Trump đang thử thách Trung Quốc để xem liệu phép màu kinh tế kéo dài 30 năm qua của nước này có thể tiếp tục mà không cần sự tiếp sức của công nghệ Mỹ hay không.
theo Trí Thức Trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển



Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển - Trí Thức VN
M.TRITHUCVN.NET
Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu…


" Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.(Trích: Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển) "
...................................
Tâm Mai.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn học Việt Nam vẫn đang minh họa như lời cảnh tỉnh của NGUYỄN MINH CHÂU?

Nhận định văn học Việt Nam đương đại là nền văn học minh họa là một nhận định hết sức sai lầm. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nền văn học đương đại của chúng ta không còn tính minh họa. Tính minh họa này hiện nay “nguy hiểm” ở chỗ, nhiều nhà văn không ý thức được rằng mình đang “minh họa” cho một lối viết, một suy nghĩ, một cách tiếp cận vấn đề đã quá quen thuộc mà vẫn nghĩ rằng đang “sáng tác”



Văn học Việt Nam sau 1986 - ngẫm từ bài báo của Nguyễn Minh Châu

ĐOÀN MINH TÂM

Tuổi trẻ thường hướng đến tương lai, còn khi đã “có tuổi”, chớm “toan về già”, con người ta hay ngẫm ngợi về quá khứ. Gần đây, tôi bỗng có hứng thú đặc biệt với một vài vấn đề văn học được đặt ra trong các giai đoạn trước, những thứ mà trước cũng biết, cũng tìm hiểu nhưng thật sự không thấy hào hứng lắm. Và một trong những vấn đề đó gợi ra từ bài viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của nhà văn Nguyễn Minh Châu (Báo Văn nghệ số 49 & 50, ngày 5/12/1987).
Ngày nay, sau ba mươi năm tác giả bài viết gây chấn động văn đàn ở thời điểm đó về với “trời xanh mây trắng”, trong tôi tự nhiên nảy lên một câu hỏi: Vấn đề Nguyễn Minh Châu đặt ra ở bài viết đó liệu có còn “tương thích” với văn đàn Việt ngày nay, với thực trạng lao động sáng tác của những người cầm bút thời “4.0” hôm nay? Tôi đoan chắc sẽ có một số lượng tương đối người phản bác lại cách đặt vấn đề của mình, bằng những lập luận đại loại như yếu tố “minh họa” Nguyễn Minh Châu chỉ ra - nếu có - thì cũng chỉ xảy ra trong giai đoạn trước, cụ thể là giai đoạn kháng chiến 1945-1975 khi văn học nghệ thuật cũng là một vũ khí sắc bén của Đảng trên con đường giải phóng dân tộc. Còn sau cải cách, mở cửa 1986, văn học đã được khai phóng, cởi trói. Đề tài, bút pháp, nhân vật, tư tưởng… tất cả những yếu tố cấu thành tác phẩm văn học đều có những thay đổi đáng kể so với giai đoạn trước: đa dạng hơn, phong phú hơn, nhiều chiều kích hơn. Vậy làm gì còn có tính minh họa trong nền văn học Việt đang phát triển sôi động từng ngày, hội nhập mạnh mẽ với thế giới như hiện tại?
Những lập luận như trên là hoàn toàn chính xác. Bản thân tôi cũng không bao giờ có suy nghĩ nền văn học Việt Nam đương đại là nền văn học minh họa. Nhận định như vậy là một sự xúc phạm danh dự nghiêm trọng đến những nhà văn chân chính (và quan trọng hơn cả là có tài). Nhưng nếu cho rằng văn học Việt Nam đương đại đã đoạn tuyệt hẳn với tính “minh họa” thì tôi e là “lạc quan tếu”. Những yếu tố minh họa vẫn xuất hiện khá nhiều, và đáng buồn là đều nằm ở các vấn đề thuộc “đại tự sự” của văn học nước nhà. (Ở đây tôi không bàn về thơ. Nói vui và hình ảnh một chút, với tôi, thơ giống như… phái đẹp vậy. Nên yêu, chiều, thưởng thức và chỉ tìm hiểu khi có ý định… chia tay).

1. 
Tính minh họa xuất hiện nhiều ở những tác phẩm văn xuôi viết về lịch sử, nhất là truyện ngắn. Trong khoảng mươi năm trở lại đây, số lượng truyện ngắn lịch sử in trên các báo, tạp chí văn nghệ tương đối nhiều. Nhiều truyện trong số đó, phải nói thật được viết bằng một thái độ… dễ dãi với lịch sử và công việc sáng tác. Gọi là dễ dãi vì cái cách họ viết một tác phẩm đơn giản quá: Cứ giở Đại Việt sử kí toàn thư hay một cuốn sử nào đó, chọn lấy một nhân vật lịch sử có đời tư éo le một chút rồi “tán” thêm ra một chút tâm trạng, một chút không gian, một chút thời gian với thứ ngôn ngữ “giả cổ” “chàng chàng, thiếp thiếp” là thành một truyện ngắn, thứ truyện ngắn chỉ có tác dụng “mạ sử” như nhận xét của nhà phê bình văn học Nguyễn Thanh Tâm.
Ở lĩnh vực tiểu thuyết, tình hình có khả quan hơn. Mỗi nhà văn khi viết tiểu thuyết lịch sử đều gửi gắm trong đó ít nhiều tư tưởng, ít nhiều tham vọng làm “một cú gì đó ra trò”. Nhưng dù có ẩn chứa tư tưởng, giá trị nào, các tiểu thuyết vẫn dựa trên nền chính sử. Viết về Trần Khánh Dư là phải nhắc đến mối tình với công chúa Thiên Thụy, thời gian trấn ải Vân Đồn, lúc sa cơ lỡ vận phải đi bán than, và tất nhiên là chiến công “oanh liệt thiên thu” đánh chìm thuyền lương quân Nguyên.
Viết về Quang Trung là phải nhắc đến ba lần ra Bắc, về Nguyễn Trãi là phải nói về quãng đời ở Đông Quan “nhà một gian, no nước uống, thiếu cơm ăn”, về việc phò Lê Lợi đánh giặc Minh… Chính việc nệ vào chính sử này khiến bạn đọc khi đọc các tiểu thuyết lịch sử cũng giống như xem một bộ phim mà mình biết trước… nội dung, kết cục. Như vậy, tính hấp dẫn, háo hức, thú vị cũng giảm đi nhiều.
Sẽ có những lập luận phản đối rằng viết về lịch sử đương nhiên phải dựa vào những bộ sử đáng tin cậy. “Bịa” thì “chết” à. Bao nhiêu “tấm gương” tày liếp kia kìa. Và rằng mặc dù viết về cùng một nhân vật, cùng xoay quanh những sự kiện lịch sử then chốt nhưng mỗi nhà văn lại có cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau; có bút pháp thể hiện, cách xây dựng hình tượng nhân vật khác nhau, các nhân vật lịch sử mang ý nghĩa tư tưởng khác nhau thì không thể nói là “họa sử” được, không thể nói là giống nhau được mà đó là “viết lại, viết tiếp lịch sử trên nền chính sử”, là lấy lịch sử để bàn chuyện hiện tại, trong đó vẫn có cá tính, tri thức, sự sáng tạo của nhà văn. Những phản biện thuyết phục, chính xác!
Ở đây, tôi chỉ muốn nêu lên suy nghĩ cá nhân bằng việc so sánh hai tiểu thuyết lịch sử mình đã đọc cùng viết về Trần Khánh Dư: Sương mù tháng giêng của Uông Triều và Trần Khánh Dư của Lưu Sơn Minh. Hai tác phẩm này viết khác nhau hoàn toàn trên mọi phương diện nghệ thuật (kết cấu, phương thức xây dựng nhân vật…). Mỗi cuốn tiểu thuyết xây dựng một hình tượng Trần Khánh Dư theo những nét riêng, khá thú vị.
Trần Khánh Dư của Uông Triều đa tình, lụy tình. Trần Khánh Dư của Lưu Sơn Minh thông minh, quyền biến, dũng mãnh. Có thể nói, Trần Khánh Dư của Uông Triều và Trần Khánh Dư của Lưu Sơn Minh là những phiên bản khác nhau của Trần Khánh Dư trong chính sử. Dù khác nhau nhưng hai phiên bản này vẫn có những nét tương đồng, vẫn không vượt thoát khỏi sự ràng buộc về mặt sự kiện với nhân vật Trần Khánh Dư trong chính sử. Nguyên nhân là do Uông Triều và Lưu Sơn Minh đã “vay mượn” của nhân vật Trần Khánh Dư trong chính sử khá nhiều: tên tuổi, những mốc chính trong cuộc đời và những nét tính cách nổi bật. Với việc vay mượn nhiều như vậy nên tôi vẫn coi đó là những “minh họa” cho nhân vật Trần Khánh Dư trong lịch sử.
Những bộ chính sử do tính chất biên niên sẽ chỉ nêu lên những mốc chính trong cuộc đời các nhân vật lịch sử. Trong khi đó, còn có rất nhiều những khoảng trống, điểm mờ trong cuộc đời các nhân vật lịch sử mà chính sử không đề cập đến. Khai thác những điểm mờ, khoảng trống này sẽ mở ra những “chân trời mới” cho nhà văn. Có lẽ do kiến văn còn hạn hẹp, nên tôi không thấy, chưa thấy một nhà văn nào khai thác
Trần Khánh Dư ở những khoảng trống, điểm mờ lịch sử ấy như thời niên thiếu, khi về già, lúc học võ, khi lấy vợ cả, nàng hầu, hay táo bạo hơn cho nhân vật lịch sử này “xuyên không” du ngoạn thế giới hiện đại rồi trở về... Tôi cũng chưa thấy nhà văn nào khai thác ở Trần Khánh Dư những nét tính cách khác như tính hài hước, hóm hỉnh, sự tinh tế trong ẩm thực hay tài năng cầm, kì, thi, họa… Những hư cấu như vậy đâu phải là “giải thiêng”, “hạ bệ”, làm sai lệch lịch sử (vì lịch sử có ghi đâu mà biết) - những điều ám ảnh nhà văn khi viết về lịch sử - mà chỉ tạo ra một hình ảnh đẹp khác (Đ.M.T nhấn mạnh) về người anh hùng dân tộc.
Nếu làm được điều này, nhân vật lịch sử lúc đó chỉ còn phần xác là cái tên, còn toàn bộ phần hồn sẽ thuộc về nhà văn. Điều đó đồng nghĩa với việc các nhà văn sẽ “vay mượn” lịch sử ít hơn, sẽ đánh dấu chấm hết cho sự trùng lặp những sự kiện lớn. Và quan trọng hơn cả, lối viết này vẫn cho phép nhà văn tha hồ “cài cắm” trong đó những điều mình muốn giãi bày. Như vậy, các nhà văn sẽ không chỉ viết lại, viết tiếp mà là viết mới lịch sử.
Những điều vừa nêu ở trên, tôi nghĩ nó cũng đã nằm trong suy nghĩ của nhiều nhà văn. Nhưng từ lí thuyết đến thực tế sáng tác là những câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Viết trên nền chính sử, với khung sự kiện có sẵn, theo tôi, dễ dàng hơn rất nhiều với việc phải tưởng tượng, hình dung lại lịch sử, nhân vật lịch sử theo một cách hoàn toàn mới. Chúng ta cũng nên thành thật với nhau rằng, khả năng tưởng tượng vẫn luôn là điểm yếu kinh niên, “thâm căn cố đế” của các nhà văn Việt từ trước đến giờ. Và nếu có ý kiến cho rằng lối viết tôi vừa nêu là viết kiểu dã sử, phi sử, không “sang trọng”, không “lịch lãm”, không chứa đựng, phản ánh được những điều vĩ đại, lớn lao thì tôi xin lấy bút ngậm miệng không tranh luận gì nữa.

2.
Chiến tranh cách mạng và người lính là đề tài lớn (nếu không muốn nói là lớn nhất) của văn học Việt Nam hiện đại. Trong giai đoạn 1945-1975, do yêu cầu của thời đại, hầu hết tiểu thuyết được viết theo lối “nhị nguyên luận”: ta thắng - địch thua; ta tốt - địch xấu… với những trường đoạn miêu tả chiến trận khói lửa ác liệt. Sau cải cách, đổi mới, với độ lùi thời gian và bầu không khí mới, các nhà văn đã được cởi trói, bung sức viết theo đúng những gì mình hình dung về cuộc chiến.
Các nhà văn viết về chiến tranh sau 1986 với tất cả sự hồ hởi vì tâm thức sáng tác đã có sự chuyển đổi từ việc phải viết đúng (về chính trị, tư tưởng) sang viết đủ (phản ánh cuộc chiến một cách toàn diện trên nhiều mặt, viết về những điều mà trước đây không được phép viết, không dám viết, không thể viết). Ở thời điểm đó (cụ thể từ 1986 đến 1991 với sự xuất hiện của Nỗi buồn chiến tranh, Bến không chồng) việc chuyển từ cái đúng sang cái đủ đồng nghĩa với sự xuất hiện của cái độc đáo - yếu tố quyết định chất lượng, sự thành công của tác phẩm. Tuy nhiên, theo thời gian và quy luật sáng tạo, cái đủ sẽ mất đi tính độc đáo và trở thành cái bình thường.
Điều đáng tiếc là nhiều nhà văn của chúng ta không ý thức được điều đó. Với họ, cái đủ vẫn đồng nghĩa với cái độc đáo và họ vẫn viết với tâm thức là phản ánh cho bằng hết những gì mà chiến tranh gây ra cho con người, cho đất nước. Chúng ta sẽ thấy đa số các cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh sau này đều có chung một “kịch bản” như sau: những cảnh miêu tả chiến trận ít dần, thay vào đó là những miêu tả chấn thương tinh thần. Người lính của hai đầu chiến tuyến đều có kẻ tốt - người xấu, người dũng cảm - kẻ hèn nhát, người có lí tưởng - kẻ sống vật vờ chỉ mong no cơm ấm cật; người mất hết bởi chiến tranh - kẻ nhờ chiến tranh mà có tất cả. Cuộc đời người lính trước - trong - sau cuộc chiến “lên bổng xuống trầm” với bao cung đoạn, có người giữ vững phẩm chất người lính, có người sa ngã…
Rõ ràng các nhà văn đang cùng nhau minh họa cho một tâm thức viết, một lối viết theo kiểu “trung dung” thay cho lối viết “nhị nguyên luận” ở giai đoạn trước. Sự độc đáo đã chưa thể lặp lại một lần nữa (bằn chứng là từ đó đến nay chưa có cuốn tiểu thuyết nào viết về chiến tranh cách mạng và người lính có được tầm ảnh hưởng như Nỗi buồn chiến tranh) vì, theo tôi, đang thiếu hai nhân tố cơ bản:

- Thứ nhất, một quan niệm hay một triết thuyết thật sự sâu sắc về chiến tranh. Xin đừng nhầm lẫn về thái độ chính trị và quan niệm về chiến tranh. La Quán Trung yêu nhà Thục, ghét nhà Ngụy nên đã gắn cho Tào Tháo cái mác “gian hùng” khác khá xa nguyên mẫu ngoài đời thực. Và với nhà tiểu thuyết vĩ đại này, chiến tranh chỉ là một giấc mộng dài qua những lời thơ đề từ ở đầu:
Trường Giang cuồn cuộn chảy
về đông
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
Thị phi thành bại như dòng nước
Sừng sững cơ đồ chốc tay không
và cuối kiệt tác này:
Ngẫm thế sự bời bời ngán nỗi
Cuộc tang thương biến đổi
khôn lường
Tam phân một giấc mơ màng
Viếng đời gọi có mấy hàng nôm na
Tolstoy vĩ đại đứng về phía nhân dân, về nước Nga trong cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược. Chiến tranh với ông là những nơi tình cảm không tồn tại, sự vô cảm lên ngôi qua câu cảm thán bất hủ của hoàng đế Napoléon trước cái sự ngỡ như đã chết của công tước Andrei Bolkonsky. G#nter Grass yêu nước Đức, đồng cảm với nỗi khổ của người dân Đức phải chịu trong thế chiến II và qua hình tượng chú bé Oskar mãi không chịu lớn, người ta hiểu quan niệm chiến tranh là cái nghịch dị của ông.
Dẫn ra vài ví dụ ở trên, tôi muốn nhấn mạnh, sự chính nghĩa, vĩ đại, cao cả trong các cuộc kháng chiến của quân đội và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cần được tái hiện trong một quan niệm về chiến tranh “xứng tầm” dưới dạng một mệnh đề triết học nhân sinh mới lạ chứ không phải ở kiểu quan niệm chiến tranh là mất mát, đau thương, là bi kịch khủng khiếp nhất của loài người đã quen thuộc đến nhàm chán.

- Thứ hai, những góc nhìn đa dạng về cuộc chiến. Các tác gia lớn của văn học Trung Quốc có những góc nhìn khác nhau khi viết về đại cách mạng văn hóa. Mạc Ngôn miêu tả đại cách mạng văn hóa qua thân phận người nông dân (Báu vật của đời), Lý Nhuệ nhìn từ cuộc đời người trí thức (Ngàn dặm không mây) còn Diêm Liên Khoa lại miêu tả qua cảm nhận của những kẻ gieo rắc nỗi kinh hoàng cho hàng triệu triệu người dân Trung Quốc vô tội: hồng vệ binh (Kiên ngạnh như thủy).
Qua những góc nhìn khác nhau của các nhà văn, cuộc đại cách mạng văn hóa hiện lên như một khối rubic đa diện giúp bạn đọc tỏ tường các mặt. Trong khi đó, dường như trong nhận thức, suy nghĩ của nhiều nhà văn chúng ta luôn “mặc định” rằng viết về chiến tranh là phải viết về người lính, phải được diễn giải qua lăng kính của người lính. Mặc dù lăng kính này đã liên tục mở rộng về các hướng khác nhau như tình dục, chấn thương, tâm linh… nhưng dù khẩu độ có mở đến tối đa, đó vẫn chỉ là một mặt của vấn đề. Tiểu thuyết viết về chiến tranh cần có được tham chiếu từ nhiều góc nhìn mới để tạo nên những khác biệt thật sự.
Để khép lại bài viết này, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, nhận định văn học Việt Nam đương đại là nền văn học minh họa là một nhận định hết sức sai lầm. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nền văn học đương đại của chúng ta không còn tính minh họa. Tính minh họa này hiện nay “nguy hiểm” ở chỗ, nhiều nhà văn không ý thức được rằng mình đang “minh họa” cho một lối viết, một suy nghĩ, một cách tiếp cận vấn đề đã quá quen thuộc mà vẫn nghĩ rằng đang “sáng tác”. Và như thế, sau hơn ba thập kỉ, những điều Nguyễn Minh Châu tâm sự trong bài phê bình xuất sắc của mình vẫn còn là câu chuyện của thời sự hôm nay chứ không phải là câu chuyện của lịch sử, của quá khứ


Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Phần nhận xét hiển thị trên trang