Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2019

HIỆN THỰC LỊCH SỬ TRONG CÁI NHÌN VÀ SỰ DIỄN GIẢI CỦA PHÙNG VĂN KHAI


Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng


Kết quả hình ảnh cho Sách Phùng vương
Phùng Văn Khai không còn là cái tên xa lạ trên văn đàn Việt Nam đương đại. Độc giả biết đến anh như một cây bút sung súc, tài năng trên nhiều thể loại. Ở bất cứ thể loại nào, bằng tinh thần làm việc nghiêm túc, cẩn trọng, sự tìm tòi, thể nghiệm không ngừng, anh dần tạo cho mình dấu ấn và phong cách riêng. Có thể nói, một trong những mảnh ghép quan trọng tạo nên “căn cước” Phùng Văn Khai, đó là những sáng tác về đề tài lịch sử. Sau khi cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tay Phùng Vương ra đời (Nxb. Hội Nhà văn, 2015), tác phẩm đã nhận được những phản hồi tích cực từ các nhà văn, nhà phê bình, đông đảo công chúng độc giả yêu lịch sử và văn chương. Xuất phát từ tình yêu và ý thức trách nhiệm với lịch sử nước nhà, bằng một quan niệm nghệ thuật nhất quán,Phùng Văn Khai tiếp tục trình làng tiểu thuyết lịch sử thứ hai của mình - Ngô Vương (Nxb. Văn học, 2019).Tác phẩm đã thể hiện nỗ lực lớn của tác giả trong việc phục hiện lại một giai đoạn lịch sử vốn vô cùng khan hiếm về tư liệu. Đó được coi như là bản anh hùng ca về tinh thần dân tộc, ý thức tự chủ và sức mạnh lòng dân của cha ông từ những buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Lịch sử - hiện thực và tưởng tượng
Ngô Vương lấy bối cảnh lịch sử đầy biến động nửa đầu thế kỉ thứ X, “một trong những thời kì vận mạng dân tộc trải qua một thử thách cực kì hiểm nghèo”[1]. Đây được coi là dấu mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử khi lần đầu tiên dân tộc Việt Nam chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở đầu cho thời kì tự chủ. Sự nghiệp lừng lẫy của Ngô Quyền gắn với chiến tích Bạch Đằng vang dội trở thành dấu son chói lọi, biểu tượng cho tinh thần yêu nước, tài trí thông minh, sáng tạo và ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của cha ông. Sử gia Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử kí toàn thư đã khẳng định: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa… Tuy chỉ xưng vương mà chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu, mà chính thống của nước Việt ta Ngô hầu đã nối lại được”. Sau này, khi biên soạn lại bộ Sử kí này, Sử thần Ngô Sĩ Liên khẳng định thêm: “Nhà Tiền Ngô nổi lên được, không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục; có thể thấy được quy mô của đế vương”[2]. Có thể nói các sự kiện, nhân vật lịch sử được tác giả lựa chọn, khám phá và diễn giải là tiêu biểu, vừa thể hiện được truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, đồng thời có khả năng nối kết với các vấn đề của thời đại trong bối cảnh hôm nay.
Cũng như tác phẩm đầu tay Phùng Hưng, khi viết Ngô Vương, Phùng Văn Khai đối diện với những thử thách không hề nhỏ. Những sự kiện, nhân vật lịch sử có một “khoảng cách” rất xa, vì vậy những tư liệu vô cùng ít ỏi, tản mạn, mà không phải cái nào cũng khả tín, khả kiểm. Những bộ chính sử còn lưu lại như Đại Việt sử ký toàn thư đời Lê, Đại Việt sử ký tiền biên đời Tây Sơn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đời Nguyễn; hay những bộ sử do cá nhân biên soạn như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú… chỉ dành khoảng vài trăm đến trên dưới một nghìn chữ để ghi chép về thời Ngô Quyền và chiến tích Bạch Đằng giang. Những công trình địa lí học lịch sử, địa phương chí, hay thần tích, gia phả, truyền thuyết, giai thoại… có bổ sung thêm ít nhiều chi tiết, song cũng không thể khỏa lấp hết điểm trống, điểm trắng, điểm mờ của một giai đoạn lịch sử tuy ngắn nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ở một khía cạnh khác, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền và những chiến tích chống quân Nam Hán, đặc biệt là huyền thoại vô tiền khoáng hậu Bạch Đằng giang vốn đã ăn sâu vào tâm thức người Việt, khiến sự hư cấu, sáng tạo vốn là địa hạt của tiểu thuyết trở nên hạn hẹp hơn bao giờ hết. Từ những khó khăn này mới thấy hết sự dũng cảm, bản lĩnh và tài năng của ngòi bút Phùng Văn Khai. Anh đã biến những bất lợi, khó khăn thành lợi thế, động lực, khi tận dụng tối đa những cứ liệu được ghi trong chính sử; dung hòa hợp lí những câu chuyện lưu truyền trong dã sử, truyền thuyết, giai thoại dân gian, thần tích, gia phả; tham bác những nhà văn, nhà nghiên cứu uy tín, chuyên sâu; và trên hết phát huy năng lực tưởng tượng, sáng tạo của mình, nhằm tìm kiếm một nẻo đường riêng để khám phá, phân tích, luận giải lịch sử một cách chân thực, khách quan trong một sinh thể nghệ thuật sinh động, giàu sức sống.
Ngô Vương được kết cấu theo kiểu tiểu thuyết chương hồi, gồm 18 hồi hấp dẫn, với dung lượng gần 500 trang bề thế. Phùng Văn Khai đã khai thác triệt để đặc trưng thể loại với lối kể chuyện lớp lang, các sự kiện được tổ chức bài bản, tiết tấu tự sự nhanh, nhiều điểm nhấn, ngôn từ hài hòa cổ kính và hiện đại, giọng điệu hào sảng, ngợi ca, giúp người đọc dễ dàng theo dõi diễn tiến, đồng thời trình hiện đầy đủ chân dung các nhân vật lịch sử từ diện mạo, tiểu sử, hành động, lời nói, tính cách. Từ những cứ liệu sẵn có được ghi trong chính sử và dã sử, anh đã dày công sắp xếp, tổ chức, hư cấu, tưởng tượng để bồi đắp nên da thịt liền mạch cho các sự kiện và đời sống nhân vật. Nhà văn đã khéo léo, tinh tế lựa chọn các sự kiện lịch sử tiêu biểu nhất làm nền cho những trầm tư, chiêm nghiệm về lịch sử của mình. Điều này không phải nhà văn sáng tạo về đề tài lịch sử nào cũng ý thức và làm tốt được. Nhờ vậy bức tranh lịch sử được tái dựng một cách chi tiết, chân thực, sống động như hai lần đánh tan quân thủy bộ của Hán triều, đuổi Lý Khắc Chính, Lý Tiến, giết Trần Bảo nơi bến Giang Biên, đặc biệt là dìm mười vạn binh tướng Giao vương Lưu Hoằng Tháo tại cửa Bạch Đằng giang. Xoay quanh các sự kiện chính này, tác giả còn tạo dựng bối cảnh lịch sử thời đại với những địa danh, vùng đất đã lưu danh vào sử sách như bến Giang Biên, Bạch Đằng giang, sông Cái, thành Đại La, Cổ Loa, Đường Lâm, Màn Trù, Cổ Pháp, Ái Châu, Hoan Châu, Đằng Châu, Hồng Châu, Phong Châu... Người đọc không khỏi phải bất ngờ pha lẫn sự thán phục bởi khả năng tái hiện các sự kiện lịch sử một cách rộng lớn, chân thực, chi tiết và sinh động, nhất là trận chiến Bạch Đằng. Ý nghĩa, giá trị lịch sử của sự kiện này đã được khẳng định trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt; song diễn biến cụ thể của nó vẫn là một khoảng trống lớn[3]. Như đã nói, hầu hết những bộ chính sử của chúng ta và những bộ sử của Trung Quốc như Ngũ đại sử kýTư trị thông giám… ghi chép không đầy đủvà thiếu thống nhất. Với lượng thông tin ít ỏi của nó hoàn toàn không cho phép dựng lại một cách chi tiết chiến thắng Bạch Đằng năm 938. Điều này lí giải tại sao còn quá thiếu vắng những công trình lịch sử hoành tráng, quy mô; cũng như các sáng tạo văn học nghệ thuật về giai đoạn này. Riêng trong lĩnh vực sáng tạo về đề tài lịch sử, theo sự khảo sát của chúng tôi, trước Phùng Văn Khai mới chỉ có tác phẩm Ngô Vương Quyền của Trần Thanh Mại[4]. Trong nỗ lực tiểu thuyết/ lãng mạn hóa lịch sử, Trần Thanh Mại đã tái hiện chân dung Ngô Quyền trong cuộc chiến với Kiều Công Tiễn, và sau này trong chiến tích Bạch Đằng. Trong cách hình dung của ông, đó là cuộc “đại thắng của Thiện trên Ác, của Ánh sáng trên Bóng tối, của Quyền trên Tiện, và là cuộc gieo mầm độc lập đầu tiên cho Tổ quốc Việt Nam”[5]. Đây là nỗ lực lớn của Trần Thanh Mại, song điều đó vẫn chưa đáp ứng được kì vọng của cộng đồng, bởi điểm nhấn của tác phẩm - chiến tích Bạch Đằng mới chỉ đề cập một cách sơ lược trong vài trang ít ỏi. Phải đến Ngô Vươngcủa Phùng Văn Khai, hình hài của sự kiện vô tiền khoáng hậu trong sử Việt mới thật sự được phục dựng đầy đủ, bề thế như chính ý nghĩa và giá trị của nó. Nhà văn họ Phùng đã huy động toàn bộ những kiến thức về lịch sử, quân sự, địa lí, chính trị, đặc biệt là khả năng tưởng tượng, sáng tạo cùng sự mẫn cảm, nhạy bén của người nghệ sĩ để tái hiện bức tranh không chỉ hoành tráng, chi tiết, nhiều điểm nhấn về chiến tích Bạch Đằng, mà còn qua đó khắc họa chân dung chân thực, sinh động, sắc nét về những con người làm nên chiến thắng ấy. Có thể nói, người đọc như được xem những thước phim với đầy đủ cung bậc cảm xúc, khi lo lắng, hồi hộp cho vận mệnh dân tộc trước sức mạnh khủng khiếp của kẻ địch; lúc tự hào, ngưỡng vọng về tài trí, bản lĩnh của cha ông nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, sự bình yên nhân dân. Từ chân dung các tướng lĩnh đến hình ảnh binh lính, nhân dân, từ phe ta đến phe địch, từ suy nghĩ, tính toán đến diện mạo, hành động, tất cả đều được miêu tả chân thực đến từng chi tiết.
Không dừng lại ở các trận chiến hào hùng, khốc liệt, các chiến công vang dội, hùng tráng của tiền nhân, nhà văn còn khắc họa sinh động, sắc nét những sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán, lao động sản xuất của người dân, như là nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa, bản sắc, tâm hồn Việt: tinh thần tự tôn, ý chí tự cường, khát khao hòa bình, lòng nhân nghĩa, bao dung của muôn dân Đại Việt. Phải là người đọc nhiều, hiểu rộng, am tường, cùng sự đĩnh đạc, bản lĩnh, tài tưởng tượng, hư cấu mới có thể có những trang viết chính xác, sinh động đến nhường vậy. Không những vậy, tác phẩm đã chạm vào trái tim và khối óc của độc giả hôm nay, kết nối thông điệp cổ nhân, khơi gợi trong họ những bài học quý báu về tinh thần yêu nước thương nòi, lòng tự hào, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi của muôn dân Việt.
Lịch sử: luận giải và nối kết
Quay về quá khứ hào hùng của dân tộc, bằng cảm hứng dân tộc và thời đại sâu sắc, trên tinh thần chiêm bái, ngưỡng vọng, Phùng Văn Khai đã ngợi ca nhiệt tình cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trước họa xâm lăng phương Bắc, chiêm bái ngưỡng vọng tài năng, đức độ của các anh hùng. Từ chân dung lịch sử đến hình tượng nghệ thuật, các anh hùng dân tộc, các tướng lĩnh tài ba, các vị hào trưởng như Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Ngô công, Phạm công, Kiều công, Đinh Công Trứ, Ngô Tôn Tư, Đoàn Thành, Phạm Bạch Hổ, Dương Tam Kha, Đỗ Cảnh Thạc…, đến các cụ hương thôn phụ lão, sĩ tốt, dân thườngnhư được sống lại. Trong số đó, Phùng Văn Khai tập trung tô đậm hai hình tượng tiêu biểu là Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền.
Với Dương Đình Nghệ, ngòi bút của anh đã khắc họa chân dung một vị hào trưởng khí phách, bản lĩnh, tài năng, đứng ra tập hợp những anh hùng hào kiệt, tướng lĩnh tài ba, những vị châu mục nghĩa khí, những hào trưởng tài danh khắp nơi vì nghiệp lớn. Họ Dương chính là linh hồn của hai trận chiến oanh liệt đánh tan quân thủy bộ Hán triều dưới sự chỉ huy của Lý Khắc Chính, Lý Tiến, Trần Bảo. Xuất thân là một nha tướng tin cậy của Khúc Hạo, ông cai quản vùng đất Ái Châu, một vùng trọng yếu của bờ cõi. Nhờ tài chăn dân mở cõi và tầm nhìn xa trông rộng, ông đã thu phục được nhân tâm, ổn định đời sống nhân dân. Đến khi đất nước lâm nguy, chính ông đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa, cùng các tướng lĩnh tâm phúc và sự trợ giúp đắc lực của các hào trưởng, đập tan mưu đồ bá chủ của Hán triều, mở ra thời kì độc lập tự chủ của dân tộc Việt. Không chỉ làm nên nghiệp lớn, Dương Đình Nghệ có công lớn trong việc bồi dưỡng, đào tạo Ngô Quyền, con nuôi, nha tướng, con rể và sau này trở thành “vị vua đứng đầu các vua”. Ông không chỉ trao truyền cho Ngô Quyền những bài học về võ công, cách điều binh khiển tướng, sự mưu lược, dũng cảm trên trận tiền; mà còn là những bài học về Đạo làm chủ thiên hạ: “mong con tự nghĩ làm sao vừa giữ được mình vừa giúp được dân mới là đức của kẻ anh hùng” [tr.89][6], “bậc làm chủ tướng phải lấy khoan hòa nhân nghĩa làm đầu, phải hiểu được đạo lý đuổi giặc sâu sắc hơn thế trận đánh giết một mất một còn chỉ chuốc lấy chinh chiến liên miên” [tr.89]. Sự nghiệp, ý chí và tâm nguyện của Dương Đình Nghệ sau khi ông qua đời được chính Ngô Quyền tiếp nối hoàn thành một cách rực rỡ nhất.
Sát cánh cùng Dương Đình Nghệ ngay từ những ngày đầu, Ngô Quyền đã tỏ lộ những phẩm chất thiên bẩm của người lãnh đạo đại trí, đại dũng, đại nghĩa. Cùng với nhiều tướng lĩnh ưu tú, từ chỗ là cánh tay đắc lực, tin cẩn của Dương Đình Nghệ, ông trở thành thống soái chỉ huy cuộc chiến chống lại mười vạn quân của Giao vương Lưu Hoằng Báo tại bến Bạch Đằng. Nhà sử học Lê Văn Hưu đời Trần đã ca ngợi Ngô Quyền là người “mưu giỏi mà đánh cũng giỏi”[7]; quân thù khiếp sợ uy danh của ông và thừa nhận ông là “người kiệt hiệt, chớ nên khinh suất”[8]. Dưới sự miêu tả của Phùng Văn Khai, Ngô Quyền hiện lên là một “vị tướng nhà trời”, có tầm nhìn xa trông rộng, tài phán đoán, khả năng quan sát tuyệt vời, dũng mãnh, mưu trí, tiên phong trong các trận chiến một sống một còn với quân địch. Sau khi Dương Đình Nghệ mất, ông đã thống lĩnh tướng sĩ, muôn dân giết Kiều Công Tiễn, trả thù cho họ Dương, và cũng là bước quan trọng chuẩn bị nghênh chiến với đại quân Nam Hán đang lăm le ngoài biên ải. Chính tài năng, nghị lực bản thân, thực tiễn phong phú, sôi động do nhiều năm theo Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán đã rèn luyện Ngô Quyền thành một nhà quân sự dày dặn kinh nghiệm, một thủ lĩnh thực thụ, có uy tín và tầm ảnh hưởng rộng lớn. Không những vậy, nhà văn còn tập trung khai thác lòng nhân từ, đức khiến tốn, sự bao dung ở vị anh hùng dân tộc này. Ngô Quyền yêu tướng lĩnh, sĩ tốt như ruột thịt, thương xót, quý trọng mọi sinh linh: “Trong quân, họ Ngô thường yêu sĩ tốt như ruột thịt. Ngô Quyền bất kể đánh thành, đuổi giặc, ban đêm, ban ngày đều xông lên trước hàng quân rất dũng mãnh khiến ba quân đều cảm phục” [tr.119]. Trong mỗi trận đánh và đặc biệt sau chiến thắng, ông đều lấy lòng nhân, chính nghĩa, sự vị tha, đức độ để đối xử với những kẻ bên kia chiến tuyến. Ông lập đàn hỏa thiêu, làm chủ tế lễ siêu thoát cho kẻ bại trận; cấp lương thực, nước uống, dẫn đường cho binh lính còn sống về nước, nhằm giữ tinh thần hòa hiếu lâu dài về sau. Với muôn dân, ngay sau chiến thắng, ông nghĩ ngay đến việc tri ân, cảm tạ, trợ giúp cho họ trở lại với cuộc sống yên bình, ấm no. Ông cũng không quên cho người ghi chép, khôi phục, tổ chức các lễ hội, phong tục, tập quán. Đằng sau những việc làm tưởng chừng như bình dị của Ngô Quyền, Phùng Văn Khai đã cho thấyý thức của một bậc đế vương trong việc khôi phục truyền thống lịch sử, tạo dựng các thiết chế văn hóa, phong tục, tập quán cho sự tồn tại của một quốc gia dân tộc riêng biệt trong sự đối trọng với văn hóa Hán triều. Bởi một khi ý thức ấy được lưu giữ, phát huy sẽ trở thành nguồn sức mạnh vô biên, giúp chúng ta có thể đánh đuổi bất kì kẻ thù nào đang có dã tâm đồng hóa dân tộc Việt.
Chiến thắng vĩ đại của Dương Đình Nghệ và sau này là Ngô Quyền được Phùng Văn Khai luận giải sâu sắc, thấu đáo, thuyết phục từ nhiều góc nhìn: người lãnh đạo tài trí, mưu lược, đức độ; tướng lĩnh can trường, trung thành; binh sĩ dũng mãnh, hết mình; đặc biệt là sự chung sức đồng lòng của muôn dân, từ hương thôn, làng mạc, đến nơi cửa biển, cửa sông. Anh đã xác quyết một chân lý bất di bất diệt, bằng hàng loạt cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến giữ nước, từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Bố cái Đại vương Phùng Hưng, các đời Khúc chúa, Dương công đến chiến thắng Bạch Đằng dưới thời Ngô Quyền, nhân dân ta đã giành được trọn vẹn độc lập chủ quyền, bảo vệ bờ cõi non sông đất nước và giữ được cội rễ bền vững bản sắc văn hóa riêng. Kết nối từ quá khứ đến vấn đề hôm nay, Phùng Văn Khai đã truyền đi những bài học lịch sử đắt giá: “Khi lòng dân không theo về, dẫu thành cao hào sâu, binh tướng đầy đủ cũng chỉ là cô độc mà thôi. Mới thấy rằng đạo lí của người giữ ngôi cao không nằm nơi gươm giáo mưu kế mà phải là nhân tâm đức độ bao dung” [tr.234], “mạch nguồn mọi chiến thắng bao giờ cũng bắt rễ từ tấm lòng bình dị của muôn dân” [tr.320], “chúng tướng đồng lòng muôn dân hòa mục yên ổn làm ăn mới là tường đồng vách sắt của một nước” [tr.443]. Qua Ngô Vương, Phùng Văn Khai cũng gửi đi thông điệp sâu sắc, dân tộc Việt Nam đều yêu nòi giống, quý sinh mạng, chuộng hòa bình, ý thức tự chủ, tinh thần dân tộc; hiền lành chất phác mong được yên ổn cày bừa nông tang, mưu sinh buôn bán, thờ cúng tổ tiên, hiếu kinh cha mẹ, vạn bất đắc dĩ mới buông cày bừa cầm gươm giáo giữ đất đai của tổ tiên. Tất cả điều này càng có giá trị hơn bao giờ hết trong thực tiễn của đất nước hôm nay, khi dân tộc Việt Nam đang phải đối diện với muôn vàn thử thách bên trong và bên ngoài nhằm bảo vệ chủ quyền trọn vẹn vững bền của lãnh thổ, cũng như sự bình yên, phát triển lâu dài của nhân dân.
Ngô Vương đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tinh thần tự chủ, sức mạnh đoàn kết trong mỗi người Việt Nam. Phùng Văn Khai không chạy theo hình thức với lối viết cầu kì, hiện đại, không a dua, gây sốc bằng “giải thiêng”, “giải minh”, mà tập trung phục dựng chân thực, sinh động các sự kiện, nhân vật, từ đó gửi gắm những suy tư, chiêm nghiệm cá nhân của mình trong mỗi câu chuyện lịch sử. Với anh, lịch sử vốn là như vậy, con người hôm nay không thể thay đổi được chân lí và kết cục, mà quan trọng là hiểu đúng lịch sử, rút ra những bài học từ quá khứ, hình thành cho mình một ý thức, một thái độ, từ đó gắn bó với nơi mình sinh ra, trân trọng những di sản của cha ông. Với tư duy lịch sử sâu sắc, Phùng Văn Khai và tiểu thuyết Ngô Vương xứng đáng có một vị trí trong lĩnh vực văn học nghệ thuật sáng tạo về đề tài lịch sử, và nói không quá rằng, cách làm của anh có thể là một tham khảo quý cho những ai đang có ý định sáng tạo về đề tài lịch sử.


[1]Phan Huy Lê, “Chiến thắng Bạch Đằng năm 938: vị trí, ý nghĩa lịch sử và những vấn đề cần nghiên cứu” in trong sách Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.802.
[2]Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên bàn trong Đại Việt sử kí toàn thư - Kỷ nhà Ngô - Tiền Ngô vương, Nxb. Thời đại, Hà Nội, 2011, tr.120.
[3]Xem thêm trong Tìm về cội nguồn, sđd, từ tr.794-821.
[4]Tiểu thuyết Ngô Vương Quyền được Trần Thanh Mại cho in vào năm 1957. Trong Lời tựa, tác giả đã chia sẻ quan điểm về lịch sử, tiểu thuyết lịch sử và công việc sáng tạo của mình. Về “lịch sử”, Trần Thanh Mại cho rằng: “lịch sử chỉ là một đoạn ảo ảnh liên tiếp”; theo đó, tác phẩm của ông là “một dãy ảo ảnh dài, đi suốt từ đầu đến cuối truyện, liên tiếp không bao giờ gián đoạn”, lịch sử lúc này “bị tiểu thuyết hóa ít nhiều”, và người sáng tạo về lịch sử được hình dung như “một thợ với những mảnh vỡ của một chiếc thống cổ…, cặm cụi ngồi lắp lại cho thành hình” (Ngô Vương Quyền, Trần Thanh Mại, tái bản 2015, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.12-15).
[5]Ngô Vương Quyền, Trần Thanh Mại, sđd, tr.15.
[6]Kể từ đây, những trích dẫn chỉ ghi số trang được lấy từ tác phẩm Ngô Vương của Phùng Văn Khai, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2019.
[7]ĐạiViệt sử ký toàn thư, sđd, tr.120.
[8]Lời Sùng Văn hầu Tiêu Ích khuyên vua Nam Hán, Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.118.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lối đi ngay dưới chân mình

Kết quả hình ảnh cho Con đường gian nan

Ở nước ta cũng như các nước khác, cần tôn trọng mọi chính kiến, tư tưởng, đường lối, suy nghĩ khác nhau.

Xứ này, có người thích "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" nhưng cũng có người muốn cuộc sống phát triển theo hướng tư bản, triệt để tuân theo kinh tế thị trường, không đuôi điếc gì cả.

Hơn nửa thế kỷ trở lại đây, nước ta chịu sự cầm quyền của đảng cộng sản nên hướng đi tất nhiên là tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, cho tới bây giờ, họ vẫn xác định đang nằm trong thời kỳ quá độ, tức là chân chưa đặt vào đường đi, còn đang bước thấp bước cao dò dẫm bên ngoài "xa lộ tới thiên đường".

Hôm qua 12.10, họ họp hội nghị của họ, họ lấy tư cách đảng cầm quyền, đã tuyên bố rất cụ thể rằng cứ tiếp tục quá độ. Liều. Họ làm như nước này nhiều thời gian lắm, tỉ phú thời gian, vài trăm năm nữa lên đỉnh được cũng chả sao. Có khác gì bảo hãy chấp nhận nghèo đói khổ nhục thiếu thốn mươi thế hệ nữa đi, rồi thế nào mà chả sướng...

Ông hàng xóm nhà tôi coi tivi xong phán một câu "xì xằng, đợi sướng được thì trái đất nổ tung mẹ nó rồi". Chả là hôm qua lão đọc báo thấy nói có tiểu hành tinh đang lao vào trái đất.

Có nhẽ cần phải khuyên các vị ấy rằng, thơ cũ có câu "Anh đi đường anh, tôi đường tôi/Tình nghĩa đôi ta có thế thôi/Đã quyết không mong sum họp mãi/Bận lòng chi nữa lúc chia phôi" (Thế Lữ). Các vị kiên định ư, chúng tôi tôn trọng các vị, nhưng chúng tôi không muốn đi cùng các vị để chia sẻ nghèo đói nữa.

Hay là thế này: Những vị nào muốn tiếp tục tiến lên CNXH, cứ dồn hết về một vài tỉnh, cho tự chọn những tỉnh thành hiện giàu có khá giả nhất mà làm hộ khẩu, rồi ở đó tha hồ tiến lên tiến xuống. Phần đất nước còn lại, để dân chúng tự quản chọn hướng khác, cũng không cần lý luận mày mò hội họp gì nhiều, nhìn ra ngoài là thấy đầy bài học sinh động ngay, cứ bê về mà áp dụng.

Sau 5 năm, "phe" nào đi lên hay đi xuống, no đủ hạnh phúc hay nghèo đói bất hạnh, rõ ngay. Nhập lại làm một lúc ấy có khó gì.

Loay hoay mãi, mệt các bố quá.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2019

Động thái của Tập Cận Bình cho thấy sẽ có biến tại Hội nghị Trung ương 4?


Dù đến nay Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chưa công bố ngày cụ thể của Hội nghị toàn thể Trung ương 4 ĐCSTQ Khóa 19. Nhưng gần đây ông Tập Cận Bình thường xuyên dùng những từ ngữ mạnh mẽ, đặc biệt khác thường. Phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy sẽ có “chuyện lớn” tại Hội nghị Trung ương 4 lần này?
Đấu đá nội bộ ĐCSTQ, Lý Thiên Tiếu, Hội nghị Trung ương 4
Ông Lý Thiên Tiếu bình luận về tình hình đấu đá nội bộ ĐCSTQ. (Ảnh cắt từ video)
Ngày 3/9, trong bài phát biểu tại Trường Đảng Trung ương, ông Tập Cận Bình đã có đến trên 60 lần nhắc đến hai chữ “đấu tranh”, ẩn ức tâm lý này khiến giới quan sát không khỏi băn khoăn không biết Tập Cận Bình muốn đấu tranh với ai? Tại sao phải đấu tranh? Điều này phản ánh nội tình không đơn giản.
Ngày 2/10 là ngày thứ hai của Đại lễ duyệt binh quy mô lớn nhất trong lịch sử ĐCSTQ, ông Tập đã công bố lại bài phát biểu từ năm ngoái, đề cập đến sự suy tàn của các vương triều trong lịch sử Trung Quốc và sự tan rã của Liên Xô, ông Tập nhấn mạnh “dám hướng mũi dao vào trong”, “ngăn chặn thảm họa từ bên trong”… những biểu hiện như chỉ ra đối tượng hàng đầu của vấn đề “đấu tranh” mà ông Tập đề cập nằm ngay trong Đảng.
Ngày 13/10, khi ông Tập Cận Bình thăm Nepal lại có phát ngôn khá bất thường: “Bất cứ kẻ nào có ý đồ muốn chia tách bất kỳ khu vực nào của Trung Quốc, phải chịu hậu quả thịt nát xương tan.” Ngôn từ của Tập Cận Bình rất nghiêm khắc, rất rõ ràng, cảnh cáo kẻ thù chính trị nội bộ đang sử dụng Hồng Kông và Đài Loan để gây rối loạn: chớ manh động, hậu quả rất thê thảm.
Vậy kẻ thù chính trị là ai? Đó là phe phái cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân (phái Giang).
Rõ ràng, ông Tập Cận Bình đã ý thức mối đe dọa lớn nhất đối với bản thân vẫn là thế lực phái Giang trong Đảng. Phái Giang đang muốn tận dụng cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ, sự cố Hồng Kông và suy thoái kinh tế, để gây sức ép cho ông Tập Cận Bình tại Hội nghị toàn thể lần thứ 4 sắp tới, ép truy cứu trách nhiệm, và thậm chí phải từ chức.
Trên thực tế, nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến thương mại là TT Trump muốn điều chỉnh cơ cấu và các chính sách thương mại bất bình đẳng đã hình thành qua thời gian dài ĐCSTQ nằm trong tay phái Giang. Hồi tháng 5 năm nay, thỏa thuận Trung-Mỹ gần như sắp thành công thì lại bị phái Giang (đại diện quyền lực Hàn Chính trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị) gây rối. Ông Hàn Chính là bàn tay đen đứng sau hậu trường làm Hồng Kông rối loạn.
Nhưng chuyện phái Giang gây khó cho ông Tập Cận Bình không đơn giản để ép ông Tập Cận Bình hối lỗi và từ chức, quan trọng hơn là tính món nợ trong cuộc chiến chống tham nhũng từ vài năm qua mà ông Tập Cận Bình triển khai, là muốn “lấy đầu” của ông Tập Cận Bình. Như vậy đây là ván cờ một mất một còn. Việc ông Tập dùng những ngôn từ đặc biệt khắc nghiệt cho thấy ý định đáp trả bằng nắm đấm sắt, sẽ không nhượng bộ. Động thái cũng nhằm tạo thanh thế dư luận.
Lợi thế của ông Tập Cận Bình là ông ta vẫn kiểm soát quyền lực tối cao, đặc biệt là nắm quyền chỉ huy và điều động quân đội, có đại quyền sinh sát phái Giang. Vì vậy có thể khẳng định việc bắt giữ ông Giang Trạch Dân, Tăng Khánh Hồng, Hàn Chính cùng các nhân vật khác phái Giang hoàn toàn nằm trong khả năng của ông Tập. Nhưng tình hình đang thay đổi nhanh chóng, bất lợi của ông Tập Cận Bình là cánh tay phải Vương Kỳ Sơn không còn uy thế như trước để răn đe phái Giang. Trong khi vì vụ án vi phạm xây dựng tại Tần Lĩnh tỉnh Thiểm Tây khiến Bí thư đương nhiệm của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Triệu Lạc Tế bị mất tín nhiệm, thậm chí có những nguồn tin cho biết ông Tập Cận Bình đã nhiều lần cảnh báo ông Triệu Lạc Tế chưa tạo ra được bước đột phá trong các vụ án lớn của phái Giang. Còn hai nhật vật cấp cao phái Giang đầy quyền lực hiện nay là ông Hàn Chính và ông Vương Hộ Ninh thì như hai gọng kìm kẹp hai bên, hướng mà ông Tập Cận Bình đi theo những chính sách sai lầm trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc chiến thương mại với Mỹ và tình hình Hồng Kông.
Ông Tập Cận Bình có nắm được thời cơ Hội nghị toàn thể Trung ương 4 lần này để chủ động tấn công hay không là chìa khóa quan trọng. Bất chấp những thỏa thuận giữa hai phe Tập – Giang tại Đại hội 19, âm mưu giành lại quyền lực của phái Giang chưa bao giờ nguôi ngoai. Gần đây, nhân lúc Phó Thủ tướng Singapore đến Trùng Khánh, ông Hàn Chính đã ám chỉ nhân vật kế nhiệm ông Tập Cận Bình là Trần Mẫn Nhĩ. Thực ra, đây là một âm mưu của phái Giang với một số mục đích chính:
(1) Lo lắng ông Tập Cận Bình hạ thủ nặng tay đối với một số “hổ to” phái Giang trong dịp Hội nghị toàn thể Trung ương 4, vì vậy mà ông Hàn Chính giả vờ đầu hàng. Điều này nhất quán phát biểu ôn hòa của ông Hàn Chính tại Thanh Đảo về vấn đề cởi mở đối với các tập đoàn đa quốc gia; cũng cho thấy có thể trong hiệp định thương mại Trung-Mỹ, ông Tập Cận Bình đã áp đảo được phái Giang.
(2) Gây bất hòa mối quan hệ giữa ông Trần Mẫn Nhĩ và ông Tập Cận Bình.
(3) Dùng vấn đề người tiếp quản ám chỉ bóng gió lại vấn đề ông Tập Cận Bình kéo dài nhiệm kỳ Chủ tịch nước, một lần nữa chơi đòn tâm lý khó nắm bắt.
Chiêu này của phái Giang là vô cùng nham hiểm. Vì xu thế thực tế hiện đã rõ ràng, ngày tàn của ĐCSTQ đã điểm, dân chúng đã từ lâu tẩy chay ĐCSTQ, các tội ác ngút trời do ĐCSTQ gây ra đang chờ ngày phán quyết, vai trò kiến thiết tương lai không có chỗ cho ĐCSTQ nên về cơ bản không còn cái gọi là người tiếp quản quyền lực. Như vậy rõ ràng ông Hàn Chính chế tác ra cái gọi là người tiếp quản là có dụng ý dùng ĐCSTQ để trói buộc ông Tập Cận Bình, để ông gánh chịu tội lỗi, để bị đào thải cùng ĐCSTQ, giúp phái Giang thoái thác tội lỗi.
Dù hiện nay chúng ta không biết chi tiết về ván cờ giữa phái Tập và phái Giang, nhưng qua các thông tin công khai cho thấy có những vấn đề phần nào giải quyết được phản ánh ông Tập Cận Bình đã áp chế được phái Giang. Thứ nhất là chuyện ngày 19/10 ông Lưu Hạc xuất hiện tại Giang Tây và tuyên bố đàm phán Trung-Mỹ đã đạt được tiến bộ đáng kể về nhiều mặt, đã đặt được nền móng cho thỏa thuận giai đoạn đầu, điều này phù hợp với thái độ của Mỹ, cho thấy ông Tập Cận Bình đã áp đảo được ông Hàn Chính thuộc phái Giang. Thứ hai, cùng ngày, trước Hội nghị các tập đoàn đa quốc gia tại Thanh Đảo, ông Hàn Chính phát biểu tuyên bố ủng hộ hiệp định thương mại với việc giảm thuế cũng như loại bỏ các hàng rào thuế quan, ít nhất cho thấy bề mặt ông Hàn Chính đã phải mềm mỏng. Thứ ba, sự kiện ở Trùng Khánh, việc ông Hàn Chính ám chí người kế nhiệm Trần Mẫn Nhĩ, nhìn bề ngoài có vẻ là ý tốt với ông Tập Cận Bình, nhưng thực tế là giá họa cho người khác.
Tóm lại, như đã phân tích, việc đàm phán thương mại Mỹ-Trung đạt được hay không, thành công của ông Lưu Hạc tại bàn đàm phán chỉ là một phần, còn mấu chốt là ông Tập Cận Bình loại bỏ được sự can thiệp của phái Giang và có khả năng tự bảo vệ Đảng ra sao. Sau khi ông Lưu Hạc từ Mỹ trở về, một số dấu hiệu kể trên cho thấy ông Tập Cận Bình đang hành động như vậy. Nếu ông Tập Cận Bình có thể tiếp tục con đường loại bỏ sự can thiệp của phái Giang và có khả năng tự bảo vệ Đảng thì phái Giang sẽ tê liệt tại Hội nghị toàn thể Trung ương 4, nhưng có lẽ cơ hội không quá lớn.
Lý Thiên Tiếu / trithucvn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG ÔNG VUA Ở TRUỒNG THỜI HIỆN ĐẠI





Mạng xã hội là một mạng được lập nên để tạo sự tương tác và kết nối mọi người trong xã hội. Chính nó xoá bỏ không gian cách biệt nhằm kéo mọi người lại gần nhau hơn. Vì thế người ta gọi không gian mạng là thế giới phẳng.
Facebook, Twitter là 2 mạng xã hội mạnh hiện nay. Hình như giới chính trị gia trên thế giới lại thích dùng Twitter hơn. Tại Mỹ, chính trị gia mà không dùng mạng xã hội thì xem như sự nghiệp chính trị đóng sập lại. Vì sao? Vì ở đất nước tự do, công tác chính trị là công tác lấy lòng dân. Mà để truyền đạt ý tưởng, không gì nhanh và mạnh bằng mạng xã hội. Như vậy, giới chính trị gia mà không có tài khoản trên Facebook hay Twitter thì xem như không thể phát triển sự nghiệp chính trị.
Lại nói về giới chính trị gia Việt Nam, không một người nào dám công khai danh tính trên mạng xã hội. Hoặc có thể những chính trị gia già cỗi ngồi cao mù hoàn toàn mạng xã hội. Cách làm việc quan liêu theo lề lối cũ vẫn còn duy trì. Những lãnh đạo cấp cao vẫn cứ thích nghe báo cáo tình hình từ cấp dưới hơn là tương tác trực tiếp với dân qua mạng xã hội. Chính điều này đã tạo nên những chuyện buồn cười ở giới lãnh đạọ cứ lặp đi lặp lại hoài mà họ không hề hay biết.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi đâu cũng làm trò cười thiên hạ bằng những phát ngôn ba xàm. Chính vì không dùng mạng xã hội tương tác nên ông ta không nghe sự cười chê từ phía xã hội. Mở điện thoại đọc báo Đảng, ngồi vào bàn đọc Báo Nhân Dân, kêu trợ lý báo cáo thì nó giấu tiếng chửi, tiếng cười của dân mà phịa ra lời khen dối trá để báo cáo. Chính vì thế, thủ tướng và các quan chức nhà ta như ông vua ở truồng trong chuyện Andersen là chỉ nghe toàn là lời giả dối quanh mình mà không biết rằng, mình đang làm trò cười cho thiên hạ.
Giờ lại thêm ông chủ tịch hội nhà báo VN nói rằng: mạng xh giờ chửi không chừa một ai? Tại sao thế- hỏi cũng là trả lời!
Bởi vì quan chức ăn tạp, ăn không chừa thứ gì nên dân chửi không chừa một ai...chửi là còn Phước đấy, chứ tội các ông đáng bị dân lôi ra mà đập đầu cơ.
Thật tội nghiệp! Từ bỏ mạng xã hội, các lãnh đạo Việt Nam đang sống trong những giá trị ảo mà họ tự thoả mãn rằng, đó là giá trị cao cả của họ. Đúng là những ông vua ở truồng thời hiện đại.
Thao Ngoc( đăng lại bài cũ)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng biến nghị trường thành sân khấu kịch bi và hài nữa, các ông bà nghị ạ!

Oanh Bùi Fb Trần Quốc Quân :

Nhân vụ có đại biểu quốc hội đề xuất đưa vào luật việc cắt lương hưu những cán bộ bị xóa tư cách chức vụ (như nguyên bộ trưởng, nguyên thứ trưởng...), AQ thông não cho các vị trong chốn nghị trường các kiến thức sơ đẳng như sau:


- Thứ nhất, lương hưu là do bảo hiểm xã hội trả chứ không phải do ngân sách nhà nước, mà bảo hiểm xã hội (quĩ lương hưu) là do người lao động (bao gồm cả các ông nguyên quan chức) trích một phần tiền lương, thu nhập từ khi còn đương chức để đóng cho bảo hiểm xã hội coi như khoản để dành để dưỡng già. Thế nên các ông nghị không được tùy tiện định ra luật để cướp tiền của người ta. 
- Thứ hai, cái việc cắt "nguyên" chức vụ mà cán bộ đã từng đảm nhiệm nhẽ chỉ xứ ta độc quyền sáng tạo ra. Theo AQ, cắt "ku" đương chức (tức là quyền trưởng gì đó) thì được, chứ cắt "nguyên" thì rất chi là buồn cười.
- Thứ ba, muốn trừng phạt cán bộ đã về hưu phạm tội nào đấy (tham nhũng chẳng hạn) thì cứ xử lí theo qui định pháp luật, ai lại dùng biện pháp hành chính để xử phạt "đồng chí mình" nặng tay thế. :p
- Thứ tư, muốn đánh vào túi của mấy ông bị cắt "nguyên" cán bộ, thay vì cắt lương hưu thì tịch thu tài sản không chứng minh được nguồn gốc của mấy ổng. Khoản thu này đáng giá gấp trăm, gấp nghìn lần cho ngân sách chứ lương hưu của mấy ổng thì bõ bèn gì.

Nên biết, ở các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ, các "nguyên" cán bộ, viên chức chính quyền dù bị tù vì tội ác chống lại loài người thì vẫn được hưởng lương hưu và đương nhiên là không có chuyện cắt "nguyên" nực cười như ở xứ ta.

Đừng biến nghị trường thành sân khấu kịch bi và hài nữa, các ông bà nghị ạ!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sổ hưu không còn là “tấm kim bài miễn tội”

*Dân trí) - Gắn hình thức xử lý kỷ luật cán bộ nghỉ hưu với hệ quả pháp lý tương ứng như cắt một số quyền lợi về vật chất mà người đó hưởng - đây là một nội dung rất đáng chú ý tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức vừa được đưa Quốc hội thảo luận sáng ngày 24/10.

Sổ hưu không còn là “tấm kim bài miễn tội” - 1
Sau khi tiếp thu ý kiến đóng góp của đại biểu Quốc hội thì dự thảo Luật đã bổ sung nguyên tắc gắn hình thức xử lý kỷ luật với hệ quả pháp lý tương ứng để làm cơ sở cho Chính phủ quy định chi tiết.
“Đối với từng hình thức xử lý kỷ luật “cảnh cáo”, “khiển trách”, “xóa tư cách” thì cán bộ, công chức còn phải chịu hệ quả kèm theo, ví dụ như cắt một số quyền lợi về vật chất mà người đó được hưởng”, báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho hay.
Và như vậy, sau khi dự án luật này được thông qua thì một cán bộ nghỉ hưu nếu bị kỷ luật do liên quan đến vi phạm, sai phạm thời kỳ còn đương nhiệm, ngoài các hình thức kỷ luật về Đảng, cắt bỏ tư cách “nguyên” - tức “đánh” vào danh dự thì còn bị “đánh” thẳng vào lợi ích vật chất.
Người viết cho rằng, nguyên tắc này sẽ được nhiều người ủng hộ, đồng tình. Chưa rõ, những lợi ích vật chất cụ thể sẽ bao gồm những yếu tố gì (nội dung này sẽ được Chính phủ ban hành sau đó), song, việc kỷ luật gắn với lợi ích vật chất của người bị kỷ luật chắc chắn sẽ tăng tính răn đe đối với cán bộ Nhà nước ngay trong thời kỳ đương nhiệm.
Được biết, một số ý kiến cho rằng, cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu không còn là cán bộ, công chức nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết, thực tiễn một số luật hiện hành cũng có quy định điều chỉnh như Luật Cơ yếu, Luật Phòng chống tham nhũng…
“Tuy là xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu nhưng hành vi vi phạm bị xử lý là hành vi xảy ra trong thời gian người đó đang còn công tác (đang là cán bộ, công chức) và vẫn còn trong thời hiệu xử lý theo quy định”, báo cáo giải trình của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nêu rõ.
Điều này thể hiện rõ quan điểm: Không có chuyện về hưu là “hạ cánh an toàn” và sổ hưu cũng không phải là tấm “kim bài miễn tội” cho bất cứ ai. Lâu nay chúng ta vẫn thấy tồn tại một bộ phận cán bộ, quan chức trong thời kỳ trước hưu thường vội vàng cho những “chuyến tàu vét”, tranh thủ củng cố phe cánh, thu vén lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, đưa con cháu, người thân vào các vị trí thuận lợi.
Cũng không phải không có những vị cán bộ ngay sau khi nghỉ hưu đã tỏ ra thoải mái hơn trong vấn đề chi tiêu, đầu tư. Bởi xưa nay, quan niệm chung vẫn “nghỉ rồi là thôi”: thôi trách nhiệm nhưng cũng thôi “không còn phải chịu trách nhiệm”.
Trong một số năm gần đây, không ít cán bộ “nguyên” sau khi thôi chức vụ vị trí đã bị truy cứu lại trách nhiệm và phải trả giá cho những sai lầm trong quá khứ. Họ bị kỷ luật về mặt Đảng (khiển trách, cảnh cáo, cách chức) và cũng có người bị xem xét khai trừ khỏi Đảng, bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Song, vẫn có dư luận, rằng đó mới chỉ là “hiện tượng” còn phần lớn quan chức đã về hưu vẫn ung dung với những sai phạm “đã rồi”, để lại hệ luỵ lớn.
Việc gắn trách nhiệm “xuyên suốt” của cán bộ, công chức với chức vụ theo người viết là điều cần thiết. Tất nhiên, cách làm cần nhân văn, mục đích cuối cùng phải nhằm nâng tinh thần chịu trách nhiệm của người cán bộ lên, chứ không phải để cán bộ tìm đủ mọi cách luồn lách, né tránh.
Chính bởi vậy, điều quan trọng nhất vẫn là sáng suốt ngay từ khâu sàng lọc, bổ nhiệm; tạo môi trường trong sạch, lành mạnh cho cán bộ hoạt động, “uốn nắn” cán bộ ngay trong thời kỳ cống hiến. Khi xảy ra vi phạm, sai phạm, cán bộ công chức cần sẵn sàng đứng ra chịu trách nhiệm chứ không phải là “rút kinh nghiệm” chung chung, để đến lúc “hạ cánh” rồi họa hoằn mới bị truy cứu.
Bích Diệp

Phần nhận xét hiển thị trên trang

30 năm trấn giữ thềm lục địa của lính nhà giàn DK1


Những thế hệ lính nhà giàn tiếp bước ra thềm lục địa phía Nam, vượt qua mọi khó khăn để gìn giữ chủ quyền đất nước.
Từ cuối thập niên 80, những người lính đầu tiên đã xung phong làm lính hải quân trực gác ở khu vực DK1. Là chỉ huy đầu tiên của nhà giàn 1A Tư Chính ở bãi cạn Tư Chính, trung tá Tạ Ngô Quyền (61 tuổi) bồi hồi nhớ lại thời trai trẻ.
"Lúc ấy tôi đang là trưởng ngành pháo, tên lửa của tàu săn ngầm HQ09 thuộc Lữ đoàn 171 thì bất ngờ nhận được điều động của cấp trên sang khung quản lý DK1 - tiền thân của tiểu đoàn DK1 ngày nay", ông mở đầu dòng hồi ức, tháng 5/1989.
Trung tá Tạ Ngô Quyền, Chỉ huy trưởng đầu tiên của nhà giàn 1A Tư Chính. Ảnh: Phước Tuấn.
Trung tá Tạ Ngô Quyền, Chỉ huy trưởng đầu tiên của nhà giàn 1A Tư Chính. Ảnh:Phước Tuấn.
Đánh giá đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng và khó khăn, lãnh đạo Lữ đoàn 171 gọi ông Quyền lên giao nhiệm vụ, đồng thời động viên tinh thần. "Biết đi nhà giàn sẽ hết sức gian khổ nhưng tôi vẫn chấp hành mệnh lệnh. Đã là người lính thì bất kể khó khăn gì cũng phải chịu, nếu khi đấy ai cũng thoái thác thì Tổ quốc đâu có ai bảo vệ", ông Quyền nói.
Lực lượng ra nhà giàn 1A Tư Chính được lãnh đạo "chiêu mộ" đa phần là những người lính trẻ mới chuyển từ bộ binh sang. Họ lên tàu rẽ sóng ra khơi làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước với tinh thần: "Còn người là còn nhà giàn, còn nhà giàn là còn người".
Trong đoàn binh sĩ ra tiếp nhận nhà giàn 1A Tư Chính xuất thân từ những người thợ xây dựng thuộc Bộ Tư lệnh công binh, có y sĩ trẻ Nguyễn Hữu Tôn, nay là trung tá quân y, đã nghỉ hưu.
Khi ấy, ông Tôn tròn đôi mươi, vừa ra trường đã nhận nhiệm vụ với sóng gió trùng khơi. Đôi mắt bình thản, ông Tôn kể: "Ngoài nhà giàn trưởng Tạ Ngô Quyền thì hầu hết anh em đều lần đầu tiên ra biển, trong đó có nhiều người lính chưa tròn 20 tuổi. Ngày ấy chúng tôi ra đi với tinh thần hừng hực, biết là khó khăn vất vả song ai cũng vững niềm tin vì cứ nghĩ rằng ở đó cũng là quê hương".
Cuối tháng 7/1989, khi Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương ra thăm nhà giàn, những người lính nhìn lên lá quốc kỳ tung bay trên nóc nhà giàn tuyên thệ với đầy kiêu hãnh: "Sẵn sàng hy sinh để bảo vệ từng tấc đất, vùng biển của Tổ quốc".
Những ngày đầu họ làm nhiệm vụ ở thềm lục địa phía Nam, cũng là thời gian những cơn bão ập đến. Những chiến sĩ 1A Tư Chính bắt đầu cảm nhận những hiểm nguy xung quanh. "Nhà giàn đóng đời đầu không vững chắc như giờ, mỗi đợt sóng to gió lớn là rung lắc dữ lắm, anh em cảm nhận có thể nằm lại nơi này bất cứ lúc nào", trung tá Tôn nói.
Nhiều khi sóng lớn, tàu trực cũng không thể đưa xuồng vào tiếp tế lên nhà giàn. Hết ngày này qua tháng khác, tất cả hoạt động của cán bộ chiến sĩ đều diễn ra trong phạm vi gần 150 mét vuông của nhà giàn, lại luôn phải đối phó với những diễn biến phức tạp của tình hình mặt biển.
Xa người thân, thiếu thông tin, phương tiện cho giải trí, thưởng thức văn hóa cũng làm đời sống tinh thần của chiến sĩ bị ảnh hưởng, dễ gây nên tâm lý tù túng. Vì thế, mỗi người lính phải đấu tranh vượt lên chính mình.
Trung tá Quyền trầm ngâm, khó khăn nhất của người lính DK1 lúc ấy chính là nước ngọt và rau xanh. Nhà giàn được trang bị bể chứa nước mưa khoảng 60 m3, mùa mưa bộ đội được sử dụng nước khá thoải mái, nhưng mùa khô phải tiết kiệm chặt chẽ để đảm bảo cho sinh hoạt và dự trữ. Còn thức ăn chủ yếu vẫn là đồ hộp, lương khô.
Thời gian sau, họ chú trọng tăng gia sản xuất, mỗi nhà giàn được cấp khay trồng rau, đất màu, hạt giống. Họ tận dụng nước thải sinh hoạt tưới rau. Có nhà giàn còn điện về đất liền nhờ gửi thêm giống cây, phân bón.
Hàng năm mỗi nhà giàn thu hoạch được 300 - 400 kg rau xanh, chủ yếu là cải, mồng tơi, rau dền... Có nhà giàn còn dành phần rau trồng được chi viện cho anh em đơn vị tàu làm nhiệm vụ trực dài ngày.
Ngoài ra, họ câu cá để cải thiện bữa ăn. "Mới ra chưa có kinh nghiệm nên câu không có hiệu quả, chỉ được vài con cá nhỏ. Sau này có anh lính trẻ sáng kiến được bọc chì nặng thì mới câu được cá to. Ai cũng vui vì sáng kiến quá thiết thực", ông Quyền kể.
Những nhà giàn mới tiếp tục được xây dựng, và những người lính lại tiếp bước ra trấn giữ. Năm 1995, anh lính bộ binh Lê Xuân Nam (quê Hoằng Hóa, Thanh Hóa) đặt chân lên tàu hải quân bồng bềnh trên biển hai ngày đêm để đến với nhà giàn DK1/10 ở bãi cạn Cà Mau.
Lính nhà giàn DK1 trực gác dưới Quốc kỳ. Ảnh: Phước Tuấn.
Lính nhà giàn DK1 trực gác dưới quốc kỳ. Ảnh: Phước Tuấn.
Cũng như bao chàng trai trẻ lần đầu biết biển cả, anh Nam phải vượt qua thử thách đầu tiên của người lính biển. "Lần ấy bị say sóng, nôn ói, không ăn được gì. Nằm trên giàn cảm giác rất khó tả", anh Nam hồi tưởng. Sau chuyến công tác kéo dài 10 tháng, cơn say sóng trong anh biến mất.
Dần quen với nhà giàn, nhưng chàng lính trẻ vẫn còn những nỗi thèm rất bình dị. "Hồi đó tôi chỉ thèm ly nước chanh giải cái nóng. Đường có, chanh có nhưng đá lại là mặt hàng hết sức xa xỉ", anh nói.
Năm 1997, anh Nam cưới cô giáo cùng quê Lương Thị Thu rồi chuyển vợ vào Vũng Tàu lập nghiệp. Con gái đầu chào đời 10 tháng anh mới được ôm vào lòng trong những ngày ít ỏi được ở nhà. Rồi anh lại lên tàu ra biển.
Sau 25 năm gắn bó, đi qua hầu hết nhà giàn trên thềm lục địa phía Nam, trung tá Lê Xuân Nam giờ là Chỉ huy trưởng nhà giàn DK1/16 ở bãi Phúc Tần. Anh nói: "Đúng là nghiệp chọn mình. Tình yêu biển đảo của mình quá lớn, bởi khoảng thời gian ít ỏi được về đất liền vẫn cảm thấy nhớ biển. Ra ngoài đó lại nhớ nhà. Hai trạng thái cứ lẫn lộn nên dù khó khăn mấy biển vẫn níu chân mình ở lại".
Trung tá Nghiêm Xuân Thái, Chính trị viên Tiểu đoàn DK1 nói, trước đây vào mùa sóng to gió lớn, những cơn bão quét qua gây rung lắc khiến chiến sĩ lo lắng, cấp trên lo lắng. "Bây giờ, độ bền vững của nhà giàn cao hơn, tạo cho anh em tư tưởng chắc chắn", trung tá Thái nói.
Bắt đầu từ năm 2012, các nhà giàn được nâng cấp, sửa chữa với kết cấu liên hoàn theo mẫu giàn khoan nước sâu. Chân đế cắm sâu xuống đáy san hô, vững chãi, chịu được sóng từ đáy đại dương; thượng tầng rộng gấp ba và cao hơn so với nhà giàn cũ.
Chiến sỹ nhà giàn DK1 xem tivi sau giờ trực gác. Ảnh: Phước Tuấn.
Chiến sĩ nhà giàn DK1 xem tivi sau giờ trực gác. Ảnh: Phước Tuấn.
Các phòng trên nhà giàn thoáng mát. Hệ thống pin năng lượng mặt trời đủ điện để huấn luyện, nấu cơm, xem tivi nhiều ngày trong điều kiện mưa bão, không thấy mặt trời. Mỗi nhà giàn đều được trang bị thiết bị trữ lương thực, thực phẩm, chuồng trại chăn nuôi, buồng trồng rau... Các thiết bị nghe, nhìn, thể dục thể thao và lượng nước ngọt trữ được nhiều hơn trước.
Trung tá Thái chia sẻ, từ khi được phủ sóng điện thoại, Internet, những câu chuyện vui, buồn của các chiến sĩ được chuyển tải nhanh hơn giữa các nhà giàn và người thân. Nhờ đó mà áp lực tinh thần của những người đi làm nhiệm vụ giữ biển giảm đi rất nhiều.
30 năm qua, chiến sĩ ở các nhà giàn DK1 đã cứu hàng nghìn ngư dân lúc hoạn nạn, cấp phát thuốc, chia sẻ nước ngọt. "Nhà giàn trở thành chỗ dựa cho ngư dân từ chỉ đường lúc sóng to gió lớn, cấp cứu và đó mặc định là một phần trong nhiệm vụ thường nhật của chiến sĩ nhà giàn", Chính trị viên Tiểu đoàn DK1 nói.
Theo trung tá Thái, Tiểu đoàn DK1 đang có những thuận lợi nhất định, tạo cơ hội cho các chiến sĩ nâng cao kỹ năng mềm, năng lực và yên tâm nhận nhiệm vụ bởi nhà giàn không chỉ vững chãi mà còn "gần" hơn với đất liền. "Nhưng một điều không thay đổi trong mỗi chiến sĩ hải quân khi làm nhiệm vụ tại DK1 là bản lĩnh và quyết tâm bảo vệ chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc", ông Thái khẳng định.
Phước Tuấn - Đăng Khoa - Phạm Linh

Phần nhận xét hiển thị trên trang