Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CẢN PHÁ "MỤC TIÊU ĐIÊN CUỒNG" CỦA TRUNG QUỐC Ở BÃI TƯ CHÍNH? NGUYỄN NGỌC CHU - CHU THỊ XUYẾN


Văn hóa Nghệ An, thứ ba, 15 Tháng 10/ 2019 15:09
(LTS - Trích)....Trung Quốc dường như đang muốn bắt cả dân tộc Việt Nam làm “con tin” cho chính sách bành trướng của họ. Trong chuyên mục Khách mời Tạp chí số 396 ngày 10/9, VHNA đã có cuộc trao đổi với Tiến sỹ Đinh Hoàng Thắng - Phó Viện trưởng Viện Các vấn đề phát triển (VIDS), Thư ký “Chương trình Minh triết làm chủ Biển Đông” về ý đồ của Trung Quốc trong việc kéo dài khủng hoảng quanh khu vực Tư Chính, khả năng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam và một số kiến nghị liên quan đến cuộc đấu tranh ngoại giao và pháp lý với Trung Quốc. Tiếp theo câu chuyện này, khách mời của VHNA kỳ này là Tiến sỹ Toán học Nguyễn Ngọc Chu.
-------------------------
Chu Thị Xuyến: Chào Tiến sỹ, dù không muốn bàn chuyện chính sự nhưng đã là con dân đất Việt, không ai có thể thờ ơ trước việc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc đang bị xâm phạm. Theo Tiến sỹ, Việt Nam cần có sách lược gì để giải quyết khủng hoảng ở Bãi Tư Chính?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu: Muốn có sách lược đúng về Bãi Tư Chính cần phải nhìn xuyên thấu tâm can của Trung Quốc không chỉ ở Bãi Tư Chính, không chỉ ở Biển Đông Nam Á, mà còn là ở mộng bá chủ toàn cầu. Càng nhìn xa được về chủ đích của Trung Quốc càng có đối sách thích hợp. Trong đó quan trọng hàng đầu là thiết lập các quan hệ chiến lược.
Chu Thị Xuyến: Ý ông muốn nói, mục tiêu của Trung Quốc không chỉ ở Bãi Tư Chính?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu: Đúng vậy!Mục tiêu xuyên suốt và không khoan nhượng của Trung Quốc là chiếm trọn Biển Đông Nam Á. Để làm việc này thì phải biến đường lưỡi bò từ nét bút viển vông của kẻ điên thành biên giới lãnh hải thực tế của Trung Quốc. Từ đó, Trung Quốc sẽ trở thành chủ nhân toàn bộ vùng biển và vùng trời ở Biển Đông Nam Á. Trung Quốc sẽ khai thác tài nguyên, thủy sản, và kiểm soát lưu thông trên biển và trên trời toàn bộ khu vực Biển Đông Nam Á.
Bãi Tư Chính là điểm xa nhất của đường lưỡi bò so với điểm cực nam của đảo Hải Nam. Trung Quốc xem Bãi Tư Chính là tiền đồn của đường lưỡi bò, là nơi mở rộng xa nhất lãnh thổ của Trung Quốc. Cho nên Trung Quốc không khoan nhượng ở Bãi Tư Chính. Có thể nói đó là “Trận chiến (Battle) Bãi Tư Chính”.
Trong trường hợp Trung Quốc không thành công ở Bãi Tư Chính, thì Trung Quốc buộc phải giành giật ở điểm lân cận kế tiếp Bãi Tư Chính.
Chu Thị Xuyến: Cả 3 nước Đông Nam ÁlàPhillipines, Malaysia và Việt Nam đều nằm trong mưu đồ xâm chiếm của Trung Quốc. Theo ông, nước nào là mục tiêu số 1 của Trung Quốc? Vì Sao?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu: Tuy Philippines và Malaysia cùng là nạn nhân bị mất biển như Việt Nam khi Trung Quốc độc chiếm Biển Đông Nam Á, nhưng cái gai phải nhổ số 1 của Trung Quốc là Việt Nam chứ không phải là Philippines hay Malaysia. Đây là nhận thức xuyên suốt của Trung Quốc. Vì sao vậy? Theo tôi, có 3 lý do chính:
Thứ nhất là bởi vì, khi Trung Quốc chiếm trọn đường lưỡi bò, thì Việt Nam là nước chịu mất mát lớn nhất trong ba nước đã nêu: Về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, tài nguyên, thủy sản, không gian sinh tồn, lối ra với thế giới, và tương lai phát triển.
Thứ hai, là hơn thế nữa, Việt Nam là lô cốt cản trở đầu tiên và khó vượt qua nhất trên con đường bành trướng xuống Đông Nam Á của Trung Quốc.
Thứ ba là thêm vào đó, Việt Nam là nước có tiềm lực nhất trong các nước Đông Nam Á để các đối thủ của Trung Quốc có thể liên minh chống lại sự mở rộng thống trị toàn cầu của Trung Quốc.
Tóm lại, Việt Nam là mục tiêu số 1 mà Trung Quốc phải khuất phục trên con đường độc chiếm Biển Đông Nam Á.
Chu Thị Xuyến: Sách lượcgiải quyết khủng hoảng ở Bãi Tư Chính, như trên ông đã nói - quan trọng hàng đầu là thiết lập các quan hệ chiến lược. Vậy, theo ông, ai là liên minh số 1 của Việt Nam trong cuộc chiến chống lại Trung Quốc độc chiếm Biển Đông Nam Á?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu: Sau Việt Nam thì Philippines và Malaysia là hai nước có thiệt hại trực tiếp lớn nhất khi Trung Quốc chiếm trọn đường lưỡi bò. Vì cả hai nước Philippines và Malaysia đều có vùng biển lớn bị Trung Quốc khoanh vào đường lưỡi bò mà Trung Quốc nhất quyết thôn tính.
Tuy vậy, đồng minh số 1 của Việt Nam trong thành lũy cản ngăn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông Nam Á là Hoa Kỳ chứ không phải là Philippines hay Malaysia. Tất nhiên, sau Hoa Kỳ còn có các đồng minh khác, tôi sẽ đề cập sau.
Chu Thị Xuyến: Tiến sỹ có thể cho biết những mục đích chính của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu:Chưa nói đến các mục tiêu về lãnh thổ, thủy sản, hàng hải, hàng không, quan hệ quốc tế, thì Trung Quốc có 4 mục đích rất rõ ràng ở Bãi Tư Chính về tài nguyên lòng biển.
Một là, cản trở triệt để hoàn toàn không cho Việt Nam tự khai thác dầu khí.
Hai là, cản trở tối đa công cuộc khai thác dầu khí của Việt Nam với liên doanh nước ngoài. Cản trở tối đa có thể dẫn đến cản trở triệt để hoàn toàn - khi đối tác liên doanh của Việt Nam là đối tác yếu.
Ba là, buộc Việt Nam chỉ có thể khai thác chung với Trung Quốc trong sự áp đặt của Trung Quốc.
Bốn là, Trung Quốc tự khai thác, bất chấp Việt Nam và phản ứng quốc tế.
Từ những mục đích đó có thể kết luận rằng “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc là
là tìm mọi cách đặt cho bằng được dàn khoan tại Bãi Tư Chính.
Chu Thị Xuyến: Theo như ông nói thìBãi Tư Chính được xem là cứ điểm không thể lùi?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu: Đúng vậy! Đây là vấn đề tối quan trọng đối với Việt Nam. Việt Nam phải cản trở bằng được “Mục tiêu điên cuồng” đặt dàn khoan của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính. Thất bại trong việc ngăn cản “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc là Việt Nam mất thêm biển đảo cho Trung Quốc.
Chu Thị Xuyến: Vậy, làm thế nào để cản phá “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu:Xác định được mục tiêu của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính, Biển Đông Nam Á, và trên toàn cầu - sẽ cho phép Việt Nam lựa chọn được giải pháp ứng phó thích hợp.
Trong các “Bảo bối” để ngăn cản “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính, có thể kể đến 10 “Bảo bối” sau đây:
1. “Bảo bối” pháp lý: Phải kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế về Bãi Tư Chính.
Đây là điều cực kỳ quan trọng và phải gấp rút tiến hành. Chọn vấn đề gì và kiện ở đâu là chuyện của các nhà chuyên môn sẽ bàn sau. Nhưng nhất thiết phải kiện Trung quốc ra Tòa án quốc tế. Bởi vì: Một là, không bao giờ giải quyết song phương được với Trung Quốc về Bãi Tư Chính; Hai là, sự phán xét của tòa án quốc tế sẽ chứng minh cho toàn thế giới - trong đó nhất là nhân dân Trung Quốc - thấy rõ hành động phi nghĩa của Trung Quốc. Lý lẽ rằng Trung Quốc bất chấp mọi phán xét công lý của quốc tế, nên kiện ra tòa án quốc tế không có giá trị, là lý lẽ mê muội và che dấu bản chất sợ hãi trước Trung Quốc. Chúng ta có chính nghĩa được thừa nhận bởi tòa án quốc tế thì sức mạnh của chúng ta được nhân lên gấp bội, còn Trung Quốc thì trong lòng yếu đi, dẫu ngoài miệng có ngàn lần lớn tiếng.
2. “Bảo bối” thứ hai: Thành lập liên minh quốc tế lên án Trung Quốc về Bãi Tư Chính. Đây là mặt trận ngoại giao.
3. Phải tìm cách thông tin cho nhân dân Trung Quốc biết sự thật về Bãi Tư Chính. Đây là mặt trận truyền thông quan trọng hàng đầu. Khi nhân dân Trung Quốc biết được sự thật thì sức mạnh của nhà cầm quyền Trung Quốc và quân đội Trung Quốc bị suy giảm.
4. Thiết lập đồng minh hạt nhân chống sự xâm lược của Trung Quốc ở bãi Tư Chính, ở Biển Đông Nam Á, và mưu toan thống trị thế giới. Hợp tác toàn diện về quân sự và tập trận chung với các đồng minh hạt nhân quan trọng. Hợp tác kinh tế toàn diện với các nước đồng minh hùng mạnh, trong đó có khai thác tài nguyên ở vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.
Đồng minh chia thành 5 lớp. Tính “hạt nhân” đi từ lớp 1 trở ra. Đồng minh hạt nhân lớp 1: Mỹ. Đồng minh hạt nhân lớp 2: Nhật, EU, Ấn Độ, Úc, Anh, Canada, Israel, Hàn Quốc, Nga. Và đồng minh hạt nhân lớp 3: Malaysia, Philippines (đây là đồng minh tuy không mạnh về quân sự và có khi thất thường trong đường hướng quan hệ với Trung Quốc, nhưng có chung biển đảo bị Trung Quốc xâm chiếm trực tiếp, nên có nhiều điểm chung). Đồng minh lớp 4: Các nước chủ chốt trong Asean, các nước khác là thành viên NATO. Đồng minh lớp 5: Một số nước chọn lọc khác còn lại.
Nga là trường hợp đặc biệt. Vì bị cô lâp nên ông Putin phải “liên minh” với Trung Quốc, tuy nhiên trong lòng thì tê tái. Nga biết sự nguy hiểm của Trung Quốc. Khi Nga hết bị Mỹ và EU cô lập thì Nga sẽ giữ quan hệ bình thường với Trung Quốc. Nga có quyền lợi mật thiết và quan hệ truyền thống với Việt Nam. Ngoài mặt Nga có thể trung lập, mà bên trong thì ngầm hỗ trợ - vì quyền lợi hợp tác với Nga và vì ngầm kiềm chế Trung Quốc bởi Trung quốc cũng là đối thủ nguy hiểm trực tiếp của Nga.
Tùy quan hệ song phương, mà một nước có thể di chuyển thay đổi trong các nhóm lớp đồng minh 2,3,4,5.
Thành lập đồng minh hạt nhân là một quá trình. Cần thiết lập tức thì là đồng minh hạt nhân lớp 1 và 2.
5. Nguyên tắc dựa vào công nghệ khắc chế. Đây là điều cực kỳ quan trọng. Muốn làm thất bại việc khai thác dầu khí của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính là phải dựa vào công nghệ khắc chế. Cũng như muốn làm giảm uy lực sức mạnh quân sự của Trung Quốc là phải dựa vào công nghệ khắc chế.
6. Đẩy mạnh sự đồng thuận trong Asean, nhất là với Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Thái Lan để chống lại sự thâu tóm đường lưỡi bò của Trung Quốc.
7. Kêu gọi sự hiện diện trực tiếp của cảnh sát biển và hải quân Mỹ và các nước khác có mặt tại Biển Đông Nam Á để bảo vệ tự do hàng hải. Tạo điều kiện cho hải quân các nước được sử dụng cơ sở và dịch vụ của Việt Nam trong việc tuần tra tại Biển Đông Nam Á.
Nhờ vào viện trợ kỹ thuật, phương tiện và công nghệ để cản phá Trung Quốc đặt giàn khoan tại Bãi Tư Chính. Nhờ vào viện trợ thông tin để đối phó với Trung Quốc trên biển.
8. Tự cường: Bằng mọi giá, gấp rút tăng cường lực lượng cảnh sát biển, dân quân biển, hải quân và quân đội. Với phương tiện thiết bị thì dựa trên nguyên tắc mua và viện trợ. Tập trung lực lượng quân sự để chuẩn bị cho trường hợp đối đầu xấu nhất ở Bãi Tư Chính, trên biển, và trên đất liền.
9. Gấp rút đổi mới về nhân sự. Trước hết là nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước và lãnh đạo Bộ Quốc phòng, sao cho người thực tài được lên nắm quyền.
10. Cải cách thể chế, cải cách quân đội, giải phóng nội lực - để đất nước nhanh chóng hùng mạnh.
Chu Thị Xuyến: Ông có tin Việt Nam có thể cản phá thành công “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc?Và trách nhiệm này trước hết thuộc về ai?
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu: Phải khẳng định rằng, Việt Nam có khả năng cản phá thành công “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc vào thời điểm hiện tại. Vấn đề là ai sẽ đại diện cho Việt Nam đứng ra dẫn đầu để làm điều này? Đây là lúc cần xuất hiện vai trò cá nhân lịch sử, chứ không phải là tập thể lãnh đạo. Nhưng phải “khắc cốt ghi tâm” rằng càng để lâu càng khó chống lại “Mục tiêu điên cuồng” của Trung Quốc đặt dàn khoan tại Bãi Tư Chính. Nên nhớ rằng trong thập niên 90 của thế kỷ trước, Trung Quốc đến rồi phải rút khỏi Bãi Tư Chính là vì lực chưa đủ mạnh, chưa có khả năng đặt giàn khoan và không thể bảo vệ. Còn hiện nay, Trung Quốc có thể đặt được giàn khoan tại Bãi Tư Chính nhưng đang khó khai thác và đang khó bảo vệ. Chỉ vài năm nữa thôi, Trung Quốc sẽ đặt giàn khoan mà vừa dễ bảo vệ lại vừa có thể khai thác. Cho nên, phải hành động ngay bây giờ khi mà Trung Quốc chưa sở hữu công nghệ khai thác dầu khí hoàn hảo, chưa đủ phương tiện để duy trì việc khai thác dầu khí ở xa và ở độ sâu của đại dương, chưa đủ sức mạnh quân sự vượt trội để bảo đảm thắng lợi tuyệt đối khi một cuộc đối đầu quân sự trên biển xẩy ra.
Hành động muộn là phải mất một phần Bãi Tư Chính cho Trung Quốc. Từ đó sẽ mất thêm rất nhiều vùng đặc quyền kinh tế nữa cho Trung Quốc.
Phải “khắc cốt ghi tâm” rằng nếu Trung Quốc liều lĩnh mang quân tấn công trên bộ thì Trung Quốc sẽ phải nhận lấy thất bại. Nhưng càng phải “khắc cốt ghi tâm” rằng không có đồng minh thì không thể nào cản ngăn được Trung Quốc chiếm thêm biển đảo.
Chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc là muôn đời thiêng liêng. Khi chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm phạm thì trách nhiệm không chỉ ở người cầm quyền mà là trách nhiệm của toàn dân. Chỉ toàn dân mới có đủ trí tuệ và lực lượng để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Toàn dân là tất cả chúng ta. Ai cũng phải có trách nhiệm đóng góp trí tuệ, sức lực, của cải, và cả sinh mạng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Vì thế, ai nói rằng đã có Bộ Chính trị, Đảng, và Nhà nước lo thì đó chính là kẻ trốn tránh trách nhiệm.
Chu Thị Xuyến: Xin cảm ơn Tiến sỹ về cuộc trao đổi hôm nay!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam tố Trung Quốc phạm luật ngay tại hội nghị ASEAN - Trung Quốc

TTO - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh các hành vi vi phạm luật quốc tế của Trung Quốc đã và đang ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình và an ninh ở khu vực, không tạo bối cảnh thuận lợi cho tiến trình đàm phán COC.

Việt Nam tố Trung Quốc phạm luật ngay tại hội nghị ASEAN - Trung Quốc - Ảnh 1.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Dũng tại hội nghị SOM-DOC lần thứ 18 - Ảnh: DUY LINH
Tuyên bố được Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng đưa ra tại Hội nghị quan chức cao cấp ASEAN -Trung Quốc về thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (SOM-DOC) lần thứ 18 vừa mới kết thúc tại Đà Lạt ngày 15-10.
Trung Quốc và Philippines, nước giữ vai trò điều phối viên ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2018-2021, đồng chủ trì hội nghị.
Dù không giữ vai trò chủ tọa, song phát biểu tại hội nghị, đoàn Việt Nam đã làm rõ về những diễn biến phức tạp ở Biển Đông, đặc biệt là việc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đang bị xâm phạm nghiêm trọng.
Trong bối cảnh đó, đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng dẫn đầu đã nêu bật lập trường, quan điểm chính đáng của Việt Nam dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.
Trước sự hiện diện của 9 nước ASEAN còn lại và Trung Quốc, đoàn Việt Nam nhấn mạnh hành vi vi phạm của Trung Quốc đã và đang ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình và an ninh ở khu vực, đặc biệt không tạo bối cảnh thuận lợi cho tiến trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên biển giữa ASEAN và Trung Quốc (COC).
Việt Nam tố Trung Quốc phạm luật ngay tại hội nghị ASEAN - Trung Quốc - Ảnh 2.
Đại diện đoàn Trung Quốc, ông Hồng Lượng, tại SOM-DOC lần thứ 18 - Ảnh: DUY LINH
Khẳng định cam kết đối với tiến trình thực hiện DOC và xây dựng COC, đoàn Việt Nam cũng nhấn mạnh tình hình hiện nay càng cho thấy tính cấp thiết của việc có một bộ quy tắc ứng xử hiệu lực, hiệu quả, phù hợp luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982, giúp ngăn ngừa các vụ việc tương tự trong tương lai. 
Theo đó, đoàn Việt Nam đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm cải tiến phương cách làm việc cho các vòng đàm phán sắp tới, trong đó có việc tập trung xử lý những vấn đề mang tính chính sách, nâng cao vai trò của các quan chức cao cấp (SOM) trong việc chỉ đạo và định hướng cho tiến trình đàm phán.
Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam bày tỏ lo ngại về các hành vi vi phạm luật quốc tế ở Biển Đông. 
Được biết, trong hội nghị SOM-DOC lần thứ 17 được tổ chức tại Hàng Châu (Trung Quốc) hồi tháng 5-2019, đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng dẫn đầu cũng đã chỉ ra các hành động đơn phương trên Biển Đông, đặc biệt là quân sự hóa đảo nhân tạo, đang gây xói mòn niềm tin và đe dọa sự ổn định của khu vực.
Trong thông cáo báo chí sau đó của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, chính quyền Bắc Kinh đã gạt ra các quan ngại và kêu gọi của Việt Nam, khẳng định "tất cả các bên tham dự đều tin rằng tình hình Biển Đông đang tiến triển theo chiều hướng ngày càng tốt và ổn định hơn".

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đơn vị tình báo tuyệt mật của Nga cùng chuỗi chiến dịch rúng động tại châu Âu bị “phanh phui”?


Đơn vị tình báo tuyệt mật của Nga cùng chuỗi chiến dịch rúng động tại châu Âu bị "phanh phui"?
(Ảnh minh họa: Getty Images)
Điện Kremlin đã bác bỏ báo cáo của tờ New York Times (Mỹ) đăng hôm 8/10, đề cập cơ quan tình báo quân sự Nga dính líu các vụ gây bất ổn tại châu Âu.
Điện Kremlin chỉ trích báo cáo rẻ tiền
Thư ký báo chí của tổng thống Nga, ông Dmitry Peskov, ngày 9/10 chỉ trích: "Những ấn phẩm như vậy được xếp vào hạng mục 'tiểu thuyết rẻ tiền', tiểu thuyết rẻ tiền bằng tiếng Anh."
Ông Peskov nhấn mạnh tổng thống Vladimir Putin nhiều lần khẳng định Moskva "muốn xây dựng quan hệ tốt với toàn thể châu Âu và quan hệ song phương với các nước châu Âu".
Trước đó, báo cáo của NYT đề cập sự tồn tại của một đơn vị bí mật trong Cơ quan Tình báo Quân đội Nga (GRU), với nhiệm vụ gây bất ổn tại châu Âu. Bài báo khẳng định bộ phận này hoạt động bí mật tới mức chính các quan chức GRU khác cũng không nắm được sự tồn tại của nó.
Báo cáo về "đơn vị tuyệt mật" của tình báo Nga
Theo NYT, đơn vị tuyệt mật dưới tên gọi Đơn vị 29155 thuộc GRU đã tổ chức các vụ lật đổ và ám sát tại châu Âu. Đơn vị này có trụ sở chính ở Moscow, dưới quyền chỉ huy của tướng Andrei Averyanov, với quân số bao gồm các cựu chiến binh Nga và chịu trách nhiệm cho các hoạt động gây bất ổn ở Moldova, đảo chính ở Montenegro hay các vụ ám sát ở Bulgaria và Anh.
Mặc dù các vụ việc liên quan có dấu vết của tình báo Nga, nhưng các cơ quan chức năng bản địa ban đầu chỉ coi chúng là các vụ tấn công đơn lẻ và không có mối liên hệ giữa chúng.
Báo cáo nêu, Đơn vị 29155 đã tiến hành các hoạt động của mình trong ít nhất 10 năm qua, nhưng các quan chức phương Tây chỉ vừa mới phát hiện ra nó. Các quan chức tình báo của bốn nước phương Tây nói rằng hiện chưa rõ đơn vị này được điều động như thế nào và cảnh báo sẽ không thể biết được các chiến dịch của nó sẽ được triển khai ở đâu và vào thời điểm nào.
Mục đích của Đơn vị 29155, vốn chưa từng được ghi nhận trước đây, được NYT nhận xét là "chủ động đối đầu với phương Tây" theo chiến thuật "chiến tranh hỗn hợp" - kết hợp giữa tuyên tuyền, tấn công mạng và phát tán thông tin giả - cùng với đối đầu quân sự trên thực địa.
Peter Zwack, cựu sỹ quan tình báo từng làm tùy viên quân sự tại đại sứ quán Mỹ ở Moscow, nói rằng mình không biết về sự tồn tại của đơn vị kể trên.
Đơn vị 29155 được cho là đang đóng tại trụ sở của Trung tâm Huấn luyện Chuyên gia Đặc biệt ở phía Đông Moscow và nằm trong biên chế của lực lượng tình báo Bộ Tổng tham mưu của Nga, thường được biết đến dưới cái tên GRU.
Mặc dù phần lớn các chiến dịch của GRU hiện vẫn nằm trong vòng bí mật, các cơ quan tình báo phương Tây bắt đầu nhận ra bức tranh toàn cảnh hơn về cách tổ chức các chiến dịch này.
NYT cho hay, vài tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, các quan chức Mỹ cho biết hai đơn vị tác chiến mạng của GRU với mã hiệu 26165 và 74455 đã tìm cách đột nhập vào các máy chủ thuộc Ủy ban Quốc gia của đảng Dân chủ (DNC) và các máy chủ phục vụ cho chiến dịch tranh cử của bà Hillary Clinton, sau đó tung ra những trao đổi "đáng xấu hổ" trong nội bộ đảng này.
Năm ngoái, Robert S. Mueller III, công tố viên đặc biệt giám sát cuộc điều tra cáo buộc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử 2016 ở Mỹ, đã buộc tội hàng chục quan chức thuộc các đơn vị tác chiến mạng của Nga nói trên. Các đội tác chiến mạng chủ yếu hoạt động tại Moscow, cách xa các mục tiêu của mình hàng ngàn dặm.
Đơn vị tình báo tuyệt mật của Nga cùng chuỗi chiến dịch rúng động tại châu Âu bị phanh phui? - Ảnh 2.
Thủ tướng Montenegro Milo Djukanovic kiêm lãnh đạo Đảng Dân chủ của những người xã hội (DPS) ăn mừng sau cuộc bầu cử quốc hội nước này, ngày 17/10/2016 (Ảnh: AP)
Những cựu binh dày dạn kinh nghiệm của Nga?
Ngược lại với các đơn vị tác chiến mạng, NYT nêu, các quan chức trong Đơn vị 29155 thường di chuyển tới và trong nội bộ các quốc gia châu Âu. Một số thành viên của đơn vị là những cựu chiến binh "dày dạn kinh nghiệm" qua những cuộc chiến đẫm máu nhất mà Nga từng tham dự, bao gồm Afghanistan, Chechnya và Ukraine.
Theo đánh giá của các cơ quan tình báo phương Tây, hoạt động của đơn vị này được bảo mật đến mức ngay cả các đặc vụ GRU cũng hầu như không biết về nó.
Thành viên của đơn vị luôn có quan hệ gắn bó với nhau. Trong một bức ảnh năm 2017, chỉ huy đơn vị - thiếu tướng Andrei V. Averyanov - chụp cùng cùng với một trong hai sỹ quan GRU bị Anh buộc tội đầu độc cựu điệp viên Nga Sergei Skripal.
Các cơ quan tình báo phương Tây lần đầu tiên nhận ra dấu vết của Đơn vị 29155 sau cuộc đảo chính bất thành ở Montenegro năm 2016, trong đó hai sỹ quan thuộc đơn vị bị nghi là âm mưu ám sát thủ tướng và chiếm tòa nhà quốc hội nước này.
Ngày 20/2/2017, ông Dmitry Peskov, gọi cáo buộc của phía Montenegro rằng Moskva đứng đằng sau âm mưu đảo chính tại nước này hồi tháng 10/2016 là vô lý và vô trách nhiệm.
"Nga thậm chí chưa từng bàn đến chuyện can thiệp vào công việc nội bộ của Montenegro. Nga không và sẽ không can thiệp vào nội bộ của bất kỳ nước nào, đặc biệt là Montenegro - quốc gia mà chúng tôi có quan hệ rất tốt," ông Peskov nói.
Nhưng các quan chức châu Âu chỉ thực sự nhận ra các chiến dịch đặc biệt nhằm gây bất ổn của đơn vị này từ sau vụ đầu độc tháng 3/2018 nhằm vào Skripal.
Vụ đầu độc đã làm leo thang khủng hoảng ngoại giao khi hơn 20 quốc gia, trong đó có Mỹ, đã tiến hành trục xuất 150 nhà ngoại giao Nga để thể hiện sự đoàn kết với Anh.
Chính quyền Anh tiết lộ hai nghi phạm đến Anh bằng tên giả nhưng sau đó được xác định là đại tá Chepiga và người kia là Alexander Mishkin. Sáu tháng sau vụ đầu độc, các công tố viên Anh buộc tội cả hai người vì đã vận chuyển chất độc thần kinh đến Anh và bôi chất độc lên cửa trước nhà Skripal ở Salisbury.
Nhưng các quan chức châu Âu cho biết chiến dịch này còn phức tạp hơn nhiều.
Phương Tây nghi ngờ "chuỗi chiến dịch" gây bất ổn của Moskva
Báo cáo của NYT nêu, 1 năm trước vụ đầu độc Skripal, ba đặc vụ trong Đơn vị 29155 đã tới Anh, nhiều khả năng để thử nghiệm phương án tiến hành vụ việc. Một người là Alexander Mishkin, người thứ hai sử dụng biệt danh Sergei Pavlov, và người thứ ba, chịu trách nhiệm giám sát chiến dịch, sử dụng tên giả Sergei Fedotov.
Không lâu sau đó, các quan chức EU xác định được hai người này, Sergei Pavlov và Sergei Fedotov, là thành viên của nhóm đã tiến hành đầu độc nhà buôn vũ khí người Bulgaria Emilian Gebrev năm 2015.
Ngày 12/10/2018, đại sứ Nga tại London Alexander Yakovenko bác bỏ cáo buộc rằng các mật vụ từ GRU đứng sau vụ cố ý sát hại Skripal.
Vị đại sứ này cũng phản bác cáo buộc từ Anh, Mỹ, và Hà Lan, rằng GRU đã tấn công các máy tính của nhiều tổ chức trên khắp thế giới để làm suy yếu nền dân chủ phương Tây.
Nhóm này đã tiến hành ám sát ông Gebrev hai lần, một lần ở thủ đô Sofia, Bulgaria và một lần nữa ở nhà ông này trên bờ biển Đen, cách lần thứ nhất một tháng.
Phát biểu với các phóng viên tại Hội nghị An ninh Munich tháng 2/2019, Alex Younger, Giám đốc cơ quan tình báo Anh MI6 nhắc tới "mối đe dọa ngày càng lớn từ phía Nga" và chỉ rõ đây là một loạt các chiến dịch hành động được lên kế hoạch chi tiết với cùng một đội ngũ nhân viên tham gia, đặc biệt là trong vụ đầu độc Skripal và vụ đảo chính ở Montenegro.
Ông nói thêm rằng MI6 đánh giá luôn có một "mối đe dọa thường trực" từ phía GRU nói riêng và các cơ quan tình báo Nga nói chung, và các mối đe dọa này "gần như không có giới hạn".
Dù thông tin về Đơn vị 29155 rất hạn chế, nhưng vẫn có một vài bản tin xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Nga hé lộ phần nào liên hệ giữa đơn vị này với chiến lược của Kremlin.
Đơn vị tình báo tuyệt mật của Nga cùng chuỗi chiến dịch rúng động tại châu Âu bị phanh phui? - Ảnh 5.
Cảnh sát Anh đeo mặt nạ làm việc gần hiện trường vụ đầu độc cựu điệp viên hai mang Nga Sergei Skripal, tháng 3/2018 (Ảnh: Jack Taylor/Getty Images)
Mặc dù là một lực lượng tinh nhuệ, nhưng đơn vị này chỉ được cấp một ngân sách khá hạn hẹp. Theo truyền thông Nga, tướng Averyanov sống trong trong một tòa nhà khiêm tốn được xây từ thời Liên Xô cũ, cách không xa trụ sở chính của đơn vị và sử dụng một chiếc sedan Nga đời 1996.
Các đặc vụ thường sống trong những chỗ trọ bình dân để tiết kiệm chi phí khi đang trên đường làm nhiệm vụ. Các nhà điều tra Anh tiết lộ các nghi phạm trong vụ đầu độc Skripal đã ở trong một khách sạn giá rẻ ở Bow, khu ngoại ô nghèo phía Đông London.
Nhưng các quan chức an ninh châu Âu cũng cảm thấy ngạc nhiên vì sự thiếu hiệu quả khá rõ ràng trong các chiến dịch của đơn vị này. Skripal đã sống sót qua vụ ám sát, cũng giống như nhà buôn vũ khí Bulgaria Gebrev. Nỗ lực tiến hành đảo chính ở Montenegro thu hút rất nhiều sự chú ý, nhưng cuối cùng cũng thất bại. Một năm sau đó, quốc gia này gia nhập NATO.
Tuy nhiên, các quan chức an ninh cũng lưu ý có thể những chiến dịch thành công của đơn vị này vẫn chưa được hé lộ.
Khó có thể biết rắc rối sau các vụ việc nói trên có làm điện Kremin phải bận tâm hay không. Theo lời Eerik-Niiles Kross, cựu giám đốc cơ quan tình báo Estonia thì những hoạt động tình báo kiểu này đã trở thành một phần trong chiến lược chiến tranh tâm lý, không phải vì Nga trở nên hung hăng hơn, mà chỉ để mọi người không thể không nhắc đến họ, đó cũng là một phần trong trò chơi tình báo.
theo Trí Thức Trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CẦN VIẾT LẠI LỊCH SỬ PHƯƠNG ĐÔNG VÀ VIỆT NAM?


  • Hà Văn Thùy
Hà Văn Thùy. Cần viết lại lịch sử phương Đông và Việt Nam?
Lời giới thiệu: Trong bài viết dưới đây, tác giả Hà Văn Thùy cho rằng phải viết lại lịch sử phương Đông cũng như lịch sử Việt Nam. Tác giả đưa ra lập luận này dựa trên một số phát hiện khoa học, cho rằng trái với nhận thức xưa nay, người hiện đại Homo Sapiens xuất hiện ở châu Phi từ 160.000 đến 180.000 năm trước; khoảng 70.000 năm trước, con người từ châu Phi theo ven biến Ấn Độ tới Việt Nam, rồi từ Việt Nam di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ và 40.000 năm trước lên khai phá Trung Hoa rồi từ đó vượt eo Berring chinh phục châu Mỹ… Mặc dù lập luận này còn gây nhiều tranh cãi nhưng để rộng đường dư luận, chúng tôi xin đăng lại bài viết và hoan nghênh mọi ý kiến góp ý, phản biện.
Khái quát về khoa học lịch sử thế kỷ XX
Sử học là khoa học khảo cứu hoạt động xã hội của những cộng đồng người trong quá khứ. Vì vậy, yếu tố quyết định thành công của Sử học là nhận thức chính xác về cộng đồng người đó có gốc gác từ đâu, qua quá trình  như thế nào để có mặt tại thời gian và không gian mà sự kiện lịch sử diễn ra. Như vậy, vô hình trung, trong bước khởi đầu, mục tiêu của Sử học trùng với mục tiêu của Nhân học. Nói chính xác hơn, Sử học phụ thuộc, “ăn theo” kết quả nghiên cứu của Nhân học.
Thế kỷ XX, Nhân học sáng tạo phương pháp đo đạc so sánh hình thái sọ để xác định các dạng người từng tồn tại trên Trái đất đồng thời định tuổi các cốt sọ để tìm hiểu nguồn gốc loài người. Từ kết quả nghiên cứu đã xuất hiện hai giả thuyết. Giả thuyết châu Phi (out of Africa hypothesis) xác định châu Phi là quê hương của loài người và giả thuyết nhiều vùng (The multiregional hypothesis) cho rằng loài người được sinh ra từ nhiều vùng khác nhau: Châu Phi cho ra người da đen, châu Âu sinh ra người da trắng, Tây Nam Á cho ra người Arian còn châu Á là quê hương của người Mongoloid. Gần suốt thế kỷ, hai giả thuyết tranh chấp nhau, không phân thắng bại. Nhưng vào thập kỷ 1970, do phát hiện di cốt của người Neanderthal rất giống với người châu Âu hiện đại, thuyết Đa nguồn gốc thắng thế, chi phối Nhân  học thế giới.
Nhìn chung, với châu Âu, vấn đề nhân chủng khá đơn giản nhưng ở Đông Á, câu chuyện đặc biệt phức tạp. Thập kỷ 1920, tại Trung Quốc có những khám phá khảo cổ học quan trọng. Đó là việc kỹ sư mỏ người Thụy Điển Andersson phát hiện văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều 7.000 năm trước mà chủ nhân của nó rất gần với người Trung Hoa hiện đại. Tiếp đó là di chỉ Chu Khẩu Điếm ở gần Bắc Kinh, có di cốt người Đứng thẳng (Homo erectus) khoảng 600.000 năm tuổi, được đặt tên là người Bắc Kinh (H. pekinensis). Ở tầng phía trên (New cave) là di cốt người hiện đại Homo sapiens 27.000 năm trước. Di chỉ Chu Khẩu Điếm được coi như địa điểm thu gọn lịch sử phát triển của nhân loại. Những khám phá này trở thành chứng cứ thuyết phục để giới khoa học tin rằng, con người xuất hiện ở Tây Tạng, di cư vào Trung Quốc rồi người H. erectus chuyển hóa thành người H. sapiens. Từ đây người H. sapiens lan tỏa ra toàn bộ châu Á.
Kết hợp cổ thư Trung Hoa với khám phá của khoa học, các học giả thế giới và Trung Quốc cho rằng, người Bắc Kinh là tổ tiên của người Trung Hoa. Đồng bằng miền Trung Hoàng Hà là nơi phát tích của dân tộc Trung Hoa. Từ đây con người và văn hóa Hoa Hạ lan tỏa xuống phía Nam. Bên cạnh quan niệm Âu trung: văn minh nhân loại bắt nguồn từ phương Tây thì quan niệm Hoa trung xuất hiện: Trung Hoa là trung tâm hình thành con người và văn hóa phương Đông.
Có thể nói, Nhân học và Sử học hiện đại Việt Nam ra đời trong khí quyển của hai quan niệm này. Sau gần nửa thế kỷ chiếm đóng Đông Dương, do ý đồ thống trị lâu dài và nhờ tích lũy được ít nhiều tri thức về phương Đông, người Pháp cho thành lập Viện Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội vào năm 1898. Trên lĩnh vực khoa học nhân văn, những nhà Hán học như Maspéro, Aurousseau… giữ vai trò chủ đạo. Do vậy, cả Nhân học và Sử học Việt Nam được hình thành trên hai nguồn tư liệu là cổ thư Trung Hoa và những khám phá khoa học nhân văn của học giả phương Tây. Trong khi người phương Tây còn hiểu biết về phương Đông rất hạn chế thì những nghiên cứu của Viễn Đông Bác cổ như ánh đuốc tỏa sáng từ miền đất tối tăm và bí ẩn, soi đường cho giới khoa học quốc tế.
Trường phái Viễn Đông Bác cổ cho rằng, người Melanesien là dân cư cổ nhất ở Đông Dương. Khoảng 2000 năm TCN, người Indonesien từ Ấn Độ tràn sang, tiêu diệt hoặc đẩy người Melanesien bản địa ra các đảo Đông Nam Á. Sau cùng, khoảng năm 333 TCN, do nước Sở diệt nước Việt, người Việt từ Nam Dương Tử chạy xuống Bắc Việt Nam, tạo nên dân cư Việt Nam hôm nay.[1]
Từ sự xác định nguồn gốc như vậy đã hình thành quan niệm phổ biến cho rằng, người Việt Nam là sản phẩm đồng hóa của người Trung Hoa từ trước Công nguyên và được tiếp tục trong thời gian hơn nghìn năm Bắc thuộc. Lẽ đương nhiên, văn hóa Việt cũng là sản phẩm đồng hóa của văn hóa Trung Hoa. Không chỉ trong nhiều phong tục tập quán mà rõ ràng nhất là tiếng Viêt vay mượn khoảng 70% từ ngôn ngữ Hán và chữ Hán trở thành quốc ngữ của người Việt. Quan niệm như vậy về nguồn gốc, lịch sử và văn hóa của người Việt đã định hướng cho mọi nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX.
Những yếu tố khai sinh nền Sử học mới
Tuy nhiên, trên thực tế, đó không phải màu sắc duy nhất của bức tranh khoa học nhân văn phương Đông. Người ta vẫn thấy, trên cái nền chung ấy có những đốm sáng tương phản.
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, tại Paris, Đại tá Frey, H, (1847-1932) đã công bố ba cuốn sách liên quan tới ngôn ngữ Việt Nam là:
  • L’Annamite, mère des langues; communauté d’origine des races celtiques, sémitiques, soudanaises et de l’Indo-Chine, Paris, 1892, 248p. (Tiếng Việt, mẹ của các ngữ; cộng đồng có nguồn gốc của các chủng tộc Celtic, Do Thái, Sudan và Đông Dương);
  • Annamites et extréme occidentaux, recherche sur l’origine des langues, Paris Hachette, 1894, 272 p. (An Nam và Viễn Tây, nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ)
  • Les Egyptiens préhistoriques identifiés avec les Annamites, d’aprés les inscriptions hiéroglyphiques Paris, Hachette, 1905, 106 p. (Người Ai Cập thời tiền sử liên hệ với An Nam qua chữ khắc tượng hình).
Là sỹ quan người Pháp từng công tác tại Tây Phi rồi có mặt ở Đông Dương, tác giả đã nhận ra sự gần gũi giữa ngôn ngữ Đông Dương và tiếng nói của thổ dân châu Phi cùng các sắc dân Celtic, Semitic và Soudan. Chính ông đã cảm nhận nguồn gốc châu Phi của ngôn ngữ Việt Nam. Đồng thời ông cũng phát hiện, tiếng nói của người Việt Nam có vai trò chủ đạo ở phương Đông. Từ đó ông khẳng định, tiếng Việt là mẹ của các ngữ.…
Đáng tiếc là tiếng nói cô đơn của tay võ biền không thể chống lại một xu hướng đang lên của những học giả có uy tín lớn.
– Năm 1923, nhà khảo cổ người Pháp Madeleine Colani khám phá ra số lượng rất lớn di cốt người và dụng cụ bằng đá cuội được ghè đẽo xung quanh hòn cuội, trong một hang đá vôi thuộc tỉnh Hòa Bình, có niên đại 22.000 đến 2.000 năm TCN. Sau đó còn phát hiện rất nhiều địa điểm ở Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Malaysia, Sumatra, Nhật Bản, Đài Loan, Australia… những di tích với các công cụ cùng một kỹ thuật chế tác. Văn hóa Hòa Bình có ý nghĩa khoa học rất lớn trên hai phương diện:
a. Đánh dấu sự chuyển tiếp từ văn minh đá cũ sang đá mới ở thời điểm rất sớm: 22.000 năm trước. Trong khi, với tri thức kinh điển, ở phương Tây, văn minh đá mới chỉ xuất hiện khoảng 10.000 năm trước. Điều này cho thấy, văn minh phương Đông tiến trước phương Tây hơn chục nghìn năm. Một chứng cứ phủ nhận thuyết Âu trung.
b. Diện bao phủ rộng của văn hóa Hòa Bình cho thấy Hòa Bình là trung tâm phát sinh văn hóa đá mới. Điều này nói lên vai trò quan trọng của Việt Nam trong văn minh phương Đông. Thuyết Hoa tâm bị nghi ngờ.
Tháng Giêng năm 1932, Hội nghị Khảo cổ học Quốc tế về Tiền sử Viễn Ðông họp tại Hà Nội xác nhận: “Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm.” (Encyclopédia d’Archeologie).
– Từ năm 1933 tới 1937, có cuộc tranh luận giữa nhà ngữ học Ba Lan Pzrilusky với viện sĩ Maspéro về nguồn gốc của ngôn ngữ Việt Nam. Trong khi Pzrilusky đồng ý với Frey cho tiếng Việt là gốc của các ngôn ngữ phương Đông thì Maspéro cực lực phản đối, vẫn giữ quan điểm của mình: tiếng Việt vay mượn 70% từ tiếng Trung Hoa. Cuối cùng, Maspéro chiến thắng. Ở đây, thắng cuộc không phải chân lý khoa học mà là vai vế của người tranh luận.
–  Năm 1952, tiếp nối tư tưởng của Hội nghị về Tiền sử Viễn Đông, nhà thực vật học Hoa Kỳ C. Sauer khẳng định:
“Về cái nôi của nền nông nghiệp đầu tiên, tôi xin thưa rằng ở Đông Nam Á. Nơi này quy tụ đầy đủ những điều kiện khác nhau cần thiết về vật lý thể chất, hóa học hữu cơ, khí hậu ôn hòa với cả hai vụ gió mùa, với chu kỳ mùa mưa ẩm ướt và mùa khô tạnh ráo, sông nước tiện cho viêc đánh cá. Đất này là trung tâm điểm giao thương cả đường biển lẫn đường bộ của Cựu thế giới. Không có nơi nào mà vị trí lại thích hợp và có đủ yếu tố cung cấp cho sự phát triển nền văn minh hỗn hợp giữa nông và ngư nghiệp tốt hơn nữa.”
“Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ.” “Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật.”[2]
Không chỉ vậy, ngày càng nhiều học giả như A.G. Haudricourt & Louis Hedin (1944), E. Werth (1954), H. Wissmann (1957), Jacques Barrau (1965, 1974), Solheim (1969), Chester Gorman (1970)… cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng sớm nhất của nhân loại.
– Năm 1972 từ những khám phá khảo cổ ở Thái Lan, W.G. Solheim II đã viết:
 “Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN…
“Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn.”
“Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh…”
“Khác với quan niệm phổ biến cho rằng, văn hóa Ngưỡng Thiều và Long Sơn ảnh hưởng xuống phía nam, tôi cho rằng, Ngưỡng Thiều và cả Long Sơn là do giai đoạn Hòa Bình sớm mang lên.”
“Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi. Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.”[3]
– Năm 1998 Stephen Oppenheimer cho xuất bản cuốn Địa đàng ở phương Đông: Lục địa Đông Nam Á bị chìm,[4] một cuốn sách làm thay đổi quan niệm về vai trò của Đông Nam Á trong lịch sử thế giới. Từ kinh nghiệm của một bác sỹ nhi khoa phát hiện dòng gen thiên di của bệnh thiếu máu ở trẻ em hải đảo Đông Nam Á, kết nối tài liệu khảo cổ, cổ nhân chủng và giải mã truyền thuyết, ông đưa tới kết luận: Đông Nam Á là nơi nông nghiệp hình thành sớm nhất trên thế giới. Từ đây, những giống vật nuôi, cây trồng cùng tư tưởng nông nghiệp được truyền sang phương Tây qua nạn đại hồng thủy.
Hòa với những khám phá của học giả thế giới về nền văn hóa phương Đông thì vào thập kỷ 1970, những khai quật khảo cổ ở phía Nam Dương Tử phát hiện một thực tế không ngờ: Nhiều văn hóa khảo cổ phía Nam Trung Hoa không những xuất hiện sớm hơn mà còn tiến bộ hơn phía Bắc. Chữ tượng hình có mặt ở Giả Hồ 9.000 năm trước. Tại Lương Chử, 3.300 năm TCN, chữ tượng hình đã trưởng thành, sớm hơn Giáp cốt văn Ân Khư 2.000 năm. Các học giả Trung Quốc buộc phải thừa nhận có một nhà nước Lương Chử ra đời sớm nhất ở phương Đông, sớm hơn nhà Hạ hàng nghìn năm. Cũng từ đó xuất hiện quan điểm cho rằng: đồng bằng phía Nam Dương Tử là người mẹ thứ hai của dân tộc Trung Hoa. Người ta càng ngạc nhiên hơn khi phát hiện văn hóa Gò Ba Sao (Tam Tinh Đôi) vùng Tứ Xuyên. Thực tế này dẫn tới sự nghi ngờ về nguồn gốc phương Bắc của con người và văn hóa Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng, có thể sự thực ngược lại, là dòng dịch chuyển của con người cùng văn hóa từ phía Nam lên.[5]
Tuy đưa ra nhiều nhận định mới nhưng phải thừa nhận là, những bằng cứ của chúng, nhất là về khảo cổ chưa vững chắc. Việc định tuổi hạt thóc phát hiện ở Non Nok Tha Thái Lan thấp hơn niên đại do Solheim đưa ra là một gáo nước lạnh dội vào xu hướng này.
Nhưng rồi giọt nước đã tràn ly.
Ngày 29. 9. 1998 xuất hiện một sự kiện gây chấn động giới khoa học. Công nghệ khảo sát ADN người đang sống cho ra khám phá chưa từng có. Báo cáo Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc (Genetic Relationship of Populations in China) đưa ra kết luận: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi từ 160.000 đến 180.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm cách nay, con người từ châu Phi theo ven biến Ấn Độ tới Việt Nam. Sau thời gian chung sống ở đây, người từ Việt Nam di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ và 40.000 năm trước lên khai phá Trung Hoa rồi từ đó vượt eo Beringa chinh phục châu Mỹ…”[6]
Lập tức, nhiều phòng thí nghiệm di truyền học trên thế giới kiểm định nghiên cứu này. Vài năm sau, hàng loạt khảo cứu di truyền được công bố, không chỉ đồng thuận với phát hiện trên mà còn đưa ra những kết quả cụ thể, chính xác hơn.
Xuất phát từ thực tế này, có những người dựa vào khám phá di truyền học để viết cuốn sử mới cho phương Đông. Bắt đầu là những học giả người Việt trong nhóm Tư Tưởng ở Úc gồm Luật sư Cung Đình Thanh, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn và Tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp. Bằng những bài viết từ năm 2001, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn giới thiệu công trình của nhóm J. Y. Chu, tuy có những hạn chế về số lượng mẫu vật nhưng là khám phá rất có ý nghĩa trong việc khảo sát quá trình hình thành dân tộc Việt. Năm 2003, tại Sidney, Luật sư Cung Đình Thanh cho in cuốn Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học. Do tiếp cận tài liệu Genetic Relationship of Populations in China của nhóm J. Y. Chu và Eden in the East của Stephen Oppenheimer nên công trình của Luật sư Cung Đình Thanh là cuốn sách đầu tiên viết bằng tiếng Việt trình bày việc người từ châu Phi di cư tới Đông Nam Á rồi từ đây đi lên khai phá Trung Hoa. Do vậy, đó cũng là cuốn sách đầu tiên cùng lúc phản bác quan niệm được thừa nhận rộng rãi là con người từ phía nam Tây Tạng xâm nhập Trung Hoa rồi đi xuống Việt Nam cũng như quan niệm cho rằng người Việt do dân cư các đảo Đông Nam Á xâm nhập: “Thuyết của GS. Nguyễn Khắc Ngữ cũng như các GS Đại học Hà Nội về người Hắc chủng ở hải đảo vào lai giống với người Mongoloid là tổ tiên của người Việt ngày nay và thuyết của các học giả Pháp và các học giả người Việt lớp cũ từ Đại Việt sử ký toàn thư đến Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim … nói về nguồn gốc người Việt là hậu duệ của người từ phương Bắc xuống phải được đảo ngược lại mới đúng với sự thực.” (trang 298) Có thể nói, ở thời điểm xuất hiện, nó tiến xa nhất trên con đường tìm về nguồn cội.
Từ năm 2004, khi tiếp cận công trình của J.Y. Chu, chúng tôi đã dành toàn bộ thời gian cùng tâm lực tìm về nguồn gốc dân tộc. Sau hơn 10 năm khảo cứu, có thể khái quát lịch sử và văn hóa phương Đông như sau:
1- 70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid từ châu Phi theo bờ biển Ấn Độ tới Việt Nam. Tại đây họ hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ là Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid do người đa số Indonesian (Lạc Việt) lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Khi nhân số tăng, người từ Việt Nam di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ và 40.000 năm trước, đi lên khai phá Trung Hoa. 30.000 năm trước qua eo Beringa chinh phục châu Mỹ.
2- Khoảng 20.000 năm trước, tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây, phía Nam Dương Tử, người Lạc Việt chế tác đồ gốm đầu tiên. Sau đó vào khoảng 12.400 năm cách nay, thuần hóa thành công lúa nước. Tại văn hóa Giả Hồ tình Hà Nam, 9.000 năm trước xuất hiện những ký tự tượng hình đầu tiên. Lúa nước và kê được trồng rộng rãi ở lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà.
  1. Khoảng 7.000 năm trước, diễn ra sự tiếp xúc giữa người Việt trồng kê và người Mông Cổ du mục tại cao nguyên Hoàng Thổ phía Nam sông Hoàng Hà (người Mông Cổ cũng từ Việt Nam đi lên 40.000 năm trước, nhưng do di cư riêng rẽ tới đất Mông Cổ nên giữ được gen Mongoloid thuần chủng, được gọi là người Mongoloid phương Bắc- North Mongoloid) sinh ra chủng người Việt mới Mongoloid phương Nam. Người Việt Mongoloid phương Nam tăng số lượng, trở thành chủ thể của lưu vực Hoàng Hà.
  2. Khoảng 3.300 năm TCN, nhà nước đầu tiên ở phương Đông của người Lạc Việt được thành lập với kinh đô Lương Chử vùng Thái Hồ, ranh giới gần trùng sát với nhà nước Xích Quỷ. So sánh với truyền thuyết thì đó là nhà nước của Thần Nông. Khoảng năm 2879 TCN diễn ra việc lập nước Xích Quỷ.
  3. Khoảng năm 2698 TCN, người Mông Cổ đánh vào Trác Lộc, chiếm đất của người Việt ở Nam Hoàng Hà, lập nhà nước Hoàng Đế. Bại trận, một bộ phận người Việt từ lưu vực Hoàng Hà (Núi Thái-Trong Nguồn) di tản xuống phía Nam, đem nguồn gen Mongoloid về, chuyển hóa dân cư Việt Nam và Đông Nam Á sang chủng Mongoloid phương Nam.
Từ 2.000 năm TCN, dân cư Đông Dương cũng như Việt Nam duy nhất là chủng (race) Mongoloid phương Nam gồm nhiều sắc tộc (ethnicities) khác nhau. Khoảng 500 năm TCN, đồng bằng sông Hồng hình thành. Các sắc dân Việt từ Đông Dương và Nam Dương Tử tụ về khai phá đất mới. Những sắc dân Thái, Tày, Hẹ (Hakka), Hán từ Trung Nguyên trở về mang theo tiếng nói đơn âm, hữu thanh. Do sống trong môi trường thuận lợi về kinh tế và giao lưu văn hóa, lại tiếp thu tiếng nói đơn âm nên tại đồng bằng sông Hồng hình thành sắc tộc mới, là người Kinh. Do chưa hiểu nguồn gốc nên trước đây gọi cộng đồng này là người Việt. Như vậy, người Kinh là sắc dân được sinh ra muộn nhất từ cộng đồng người Việt.
  1. Vào Nam Hoàng Hà, người Mông Cổ bỏ lối sống du mục, học nghề nông và văn hóa của người Việt. Do sống chung, lớp người lai Mông-Việt ra đời, tự gọi là Hoa Hạ. Do nhân số ít và văn hóa chưa phát triển, người Mông Cổ bị người Việt đồng hóa về máu huyết cũng như văn hóa. Tuy nhiên vì giữ địa vị thống trị, người Mông Cổ bắt cộng đồng nói theo cách nói Mông Cổ (phụ trước chính sau)
  2. Suốt thời kỳ dài, các vương triều Hoa Hạ chỉ chiếm phần đất nhỏ ở đồng bằng miền Trung Hoàng Hà và luôn trong cuộc chiến tranh với các nước hoặc bộ tộc người Việt xung quanh. Phía Nam Dương Tử hoàn toàn là đất của người Việt. Năm 2.300 TCN, nhà nước Xích Quỷ phân rã, sau đó hình thành các quốc gia Việt, Ngô, Sở của người Việt.
  3. Cuối thời Chiến Quốc, nhà Tần, một quốc gia của người Việt, diệt lục quốc, lập đế quốc Tần. Khi nhà Chu diệt vong, người Hoa Hạ hết vai trò lãnh đạo. Mặt khác, từ lâu người Hoa Hạ cũng được đồng hóa để hòa mình trong cộng đồng Việt. Lưu Bang vốn người nước Sở nên nhà Hán do ông thành lập cũng là quốc gia của người Việt. Tuy nhiên, vì uy danh từ xa xưa của Hoa Hạ nên không chỉ Lưu Bang mà các đế vương sau này cũng nhận là Hoa Hạ.
  4. Từ cuối đời Hán và tiếp tới sau này, các bộ tộc du mục ở Tây Bắc liên tục xâm nhập, có thời gian dài thống trị Trung Quốc như Nguyên, Thanh nên rất nhiều người Mongoloid phương Bắc vào Trung Quốc, hòa huyết với người tại chỗ. Nhưng hầu hết họ bị dân bản địa đồng hóa thành người Mongoloid phương Nam, được gọi là người Hán.
  5. Do dân cư Trung Quốc được hình thành trên nền cơ bản là người Việt nên tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa. Tiếng Trung Quốc là tiếng Việt được nói theo giọng và cách nói Mông Cổ (Mongol parlance).
  6. Với chúng tôi, việc tìm nguồn gốc chữ viết Trung Hoa là thách thức lớn. Sách sử cho thấy, tới giữa thời Thương, các vương triều Hoa Hạ chưa có chữ. Nhưng khi Bàn Canh chiếm đất An Dương của người Dương Việt ở Hà Nam, lập nhà Ân (khoảng 1300 năm TCN) thì chữ tượng hình Giáp cốt văn Ân Khư xuất hiện, ở dạng thức đã trưởng thành. Nguyên nhân do đâu?
Tuy phát hiện chữ tượng hình ở văn hóa Giả Hồ (Hà Nam) 9.000 năm trước, Bán Pha (Sơn Tây) 6.000 năm trước, Lương Chử (Chiết Giang) hơn 5.000 năm trước nhưng các học giả phương Tây không thừa nhận. Rất may là vào cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây, khi khai quật những đàn tế của người Lạc Việt, hàng nghìn mảnh xẻng đá khắc chữ tượng hình được tìm thấy. Như giọt nước làm tràn ly, hàng nghìn phù tự (chữ dùng trong bói toán và cúng tế) trên các mảnh đá ở Cảm Tang Quảng Tây 6.000 năm trước, khẳng định: người Lạc Việt đã sáng tạo chữ tượng hình khắc trên đá, yếm rùa, xương thú rồi đưa lên Hà Nam. Khi chiếm đất An Dương, nhà Ân đã chiếm đoạt loại chữ này rồi phát triển lên. Như vậy, có thể khẳng định, chữ Việt là chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa.
  1. Một câu hỏi nan giải khác: cây lúa được trồng trước hết ở đâu? Tuy với niềm tin vững chắc rằng Đông Nam Á là quê hương của cây kê và cây lúa nhưng vì thiếu chứng cứ khảo cổ học nên không thể đưa ra lời khẳng định. Thật may là vào năm 2012, khảo cổ học phát hiện tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây cùng mảnh gốm 20.000 năm là hạt lúa trồng 12.400 tuổi. Điều này xác nhận người Lạc Việt thuần hóa cây lúa sớm nhất trên thế giới.[7]
Trên địa bàn Đông Á, người Việt đã sáng tạo nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ mà tiêu biểu là quan niệm Âm Dương, Ngũ hành, kinh Dịch, kinh Thi, tiếng nói phong phú, chữ tượng hình giàu biểu cảm…
Nhưng trớ trêu thay, tộc người sinh ra dân cư và sáng tạo nền văn hóa phương Đông kỳ vĩ lại có số phận bất hạnh. Mất đất đai, mất con người, mất văn hóa, mất chữ viết… hàng nghìn năm người Việt bị coi như đám trôi sông lạc chợ, sống phận tôi đòi dưới bóng Trung Hoa!
Nay, nhờ ánh sáng của khoa học nhân loại, dân tộc ta tìm lại được cội nguồn, văn hóa, lịch sử của mình. Hy vọng tri thức mới sẽ khiến người Việt ngửng đầu làm tròn sứ mệnh vinh quang dẫn dắt nhân loại trong kỷ nguyên mới để xứng đáng với tổ tiên xưa.
Những ý tưởng trên đã được chúng tôi trình bày trong hàng trăm bài viết và năm cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn Học, 2006), Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn Học, 2008), Tìm cội nguồn qua di truyền học (NXB Văn Học, 2011), Khám phá lịch sử Trung Hoa ( NXB Hội Nhà văn, 2016) và Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt (NXB Hội Nhà văn. H. 2016). Có thể khẳng định, những công trình kể trên mở đầu cho cuốn sử mới và chân thực của phương Đông.
Số phận của nền Sử học không ADN
Một sự thực được phơi bày: nhân chủng học là khoa học tự nhiên nên việc tìm nguồn gốc con người không chỉ cần phương pháp luận đúng mà còn rất cần một công nghệ thích hợp. Công nghệ hiệu quả nhất mà khoa học sáng tạo được ở thế kỷ trước là đo sọ: đo những chỉ số của sọ người như chiều dọc, chiều ngang, chiều rộng hố mắt, độ nổi của vành mày, mặt nghiêng hay mặt đứng… rồi từ tỷ lệ giữa chúng mà xếp thành từng chủng người. Công nghệ này gặp nhiều trở ngại. Trước hết là những mẫu sọ cổ thường được phát hiện ngẫu nhiên, vì vậy việc khảo cứu chúng không thể tiến hành theo hệ thống. Mặt khác, số mẫu vật tìm được thường rất ít nên không đủ độ tin cậy trong thống kê học. Nhưng quan trọng nhất, là những số đo các bộ phận của sọ chỉ là biểu hiện đặc điểm bề ngoài (fenotipe), không phản ánh chính xác bản chất giống nòi. Do vậy phương pháp đo sọ không đạt độ tin cậy cần thiết. Công nghệ đo sọ tuy đưa tới những khám phá ban đầu về nhân loại: Loài người gồm ba đại chủng Australoid, Mongoloid và Europid… nhưng việc định loại con người ở bậc phân loại thấp hơn (chủng người – race) gặp nhiều khó khăn và thiếu chính xác. Thất bại của Nhân học thế kỷ XX đã kéo theo thất bại của Sử học.
Cho tới nay nhiều sử gia bỏ công sức khảo cứu về người Việt, người Hán, người Chăm, người Khmer… trong khi chưa biết những cộng đồng đó có nguồn gốc ra sao, có mối quan hệ với nhau thế nào nên không thể hiểu họ một cách đúng đắn. Một khoa học mà đối tượng nghiên cứu của nó chưa xác định được thì có thể khẳng định, kết quả của khoa học ấy là không đáng tin.
Có hai lý do để khẳng định Sử học phương Đông thế kỷ XX không đáng tin:
  1. Loài người hay một chủng người xuất hiện tới nay trên mặt đất đều có một quá trình. Nhưng do chưa biết quá trình đó nên các nghiên cứu về con người phải bỏ qua thời tiền sử để khảo cứu nó từ 2000 năm cách nay. Khi chưa biết gốc thì mọi chuyện nói về ngọn đều không có cơ sở.
  2. Cũng do chưa xác định được nguồn gốc và quá trình hình thành của mỗi chủng người nên mọi khảo cứu về nó dựa vào hình dáng, chất liệu các rìu đá, hoa văn khắc trên đồ gốm rồi ngôn ngữ… đều chỉ là những chứng cứ gián tiếp, không phản ánh đúng sự thực.
Đúng như nhận định của nhà nhân học người Mỹ Jared Diamond: “Giờ không còn là lúc chơi với những mẩu xương và những hòn đá nữa. Những gì thuộc về con người mà không được di truyền học xác nhận đều không đáng tin cậy.”
Do vậy, có thể kết luận: về cơ bản, sử học phương Đông thế kỷ XX không phản ánh đúng thực chất những gì diễn ra trong quá khứ. Đó là nền Sử học thất bại, đã bị khoa học phủ định.
Vấn đề cấp thiết hiện nay là viết cuốn sử mới của dân tộc Việt.
———————-
[1] Léonard Aurousseau. Khảo về cỗi rễ dân An Nam. Bản dịch của Hồng Nhân Phạm Quỳnh. Nam Phong tạp chí số 84, tháng 6-1924, tr.480. Dẫn theo Cao Thế Dung: Tên nước Việt. (http://www.mevietnam.org/NguonGoc/ctd-tennuocvietnam.html)
[2] Carl Sauer. Agricultural Origins and Dispersals, The American Geographical Society, New York, 1952.
[3] Wilhelm G. Solheim II. New light on Forgotten Past. National Geographic, Vol. 139, No. 3, Mar.1971.
[4] Stephen Oppenheimer. Eden in the East: the drowned continent of Southeast Asia.  https://www.amazon.com/Eden-East-Drowned-Continent-Southeast/dp/0753806797
[5] Hà Văn Thùy. Khám phá lịch sử Trung Hoa. (NXB Hội Nhà văn, 2016)
[6] J. Y. Chu et al.  Genetic relationship of populations in China, http://www.pnas.org/content/95/20/11763.full

Phần nhận xét hiển thị trên trang