Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

Biển Đông: Báo Ấn Độ đăng lời đại sứ Phạm Sanh Châu về tranh chấp với TQ


Một cảnh sát biển Việt Nam đăm đăm nhìn tàu hải cảnh Việt Nam di chuyển gần dàn khoan của Trung Quốc tháng Năm, 2014.Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Image captionMột cảnh sát biển Việt Nam đăm đăm nhìn tàu hải cảnh Việt Nam di chuyển gần dàn khoan của Trung Quốc tháng Năm, 2014.
Việt Nam sẽ nâng cao nhận thức về tình hình Biển Đông trong cuộc đối thoại an ninh hàng năm với Ấn Độ trong tháng này, HinduStan Times trích lời Đại sứ Phạm Sanh Châu, cho biết.
Căng thẳng giữa Hà Nội và Trung Quốc ngày càng gia tăng vì sự xâm nhập liên tục của các tàu Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông, và Việt Nam dường như đang cố gắng củng cố sự hỗ trợ của Ấn Độ trong vùng biển này.
Trả lời phỏng vấn của HinduStanTimes Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Phạm Sanh Châu nói kể từ tháng 7, các tàu Trung Quốc đã bốn lần xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Vụ xâm nhập mới nhất của 28 tàu Trung Quốc bắt đầu vào ngày 30 tháng 9 và vẫn đang tiếp tục mặc dù Việt Nam đã 40 lần lên tiếng phản đối qua các nẻo ngoại giao, kể từ lần xâm nhập đầu tiên ba tháng trước.
''Chúng tôi nói với họ rằng họ không nên vi phạm vùng biển của Việt Nam và nên rút tất cả các tàu về càng sớm càng tốt.'' Đại sứ Phạm Sanh Châu nói với HinduStanTimes hôm 2/9.
Ấn Độ là một trong ba quốc gia mà Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, và Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào sự hỗ trợ của Ấn Độ qua cuộc đối thoại an ninh hàng năm dự kiến sẽ được tổ chức tại TP HCM trong tháng này.
''Chúng tôi hy vọng sẽ có thể trình bày không chỉ về an ninh của hai nước mà cả các vấn đề liên quan đến toàn khu vực, và đặc biệt, về tình hình hiện tại ở Biển Đông,'' ông Châu nói.
Củng cố sự hỗ trợ của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực thu hút chú ý của quốc tế trong tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc của Việt NamBản quyền hình ảnhSOUTH CHINA MORNING POST/GETTY IMAGES
Image captionCủng cố sự hỗ trợ của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực thu hút chú ý của quốc tế trong tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc của Việt Nam (hình minh họa)
Việc Việt Nam dự định đưa vấn đề Biển Đông vào cuộc đối thoại an ninh với Ấn Độ có lẽ không làm ai ngạc nhiên.
Thái độ hung hăng của Trunq Quốc tại vùng biển này này đã được đề cập đến trong buổi họp giữa bốn bộ trưởng ngoại giao các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và Hoa Kỳ tại New York, bên lề cuộc họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm 28/9.
Sau đó, tiếp xúc với báo chí trong cuộc họp báo đầu tiên của mình, Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ S Jaishankar cho biết Ấn Độ đang làm việc chặt chẽ với Việt Nam, trong khi đó Bộ Ngoại Vụ của nước này đã hai lần tỏ dấu hiệu ủng hộ vị trí của Việt Nam trên Biển Đông.

Mối quan tâm chung

Trước đó nữa, qua một văn bản công bố vào tháng 8, Ấn Độ tuyên bố 'rất quan tâm đến hòa bình và ổn định của khu vực', và kêu gọi sự tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển.
Quan tâm của Ấn Độ có thể một phần cũng có thể được giải thích là vì tất cả những vi phạm của Trung Quốc tại Biển Đông trong thời gian qua đều xảy ra gần vùng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Ấn Độ ONGC Videsh Ltd của Ấn Độ đang khai thác năng lượng. Các tàu Trung Quốc đến gần cơ sở của ONGC Videsh Ltd nhất vào ngày 3 tháng 7.
Tàu Hải Dương 8 đã quay lại Bãi Tư Chính hôm 13/8Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu Hải Dương 8 lần đầu tiên vào Bãi Tư Chính là đầu tháng Bảy, lần thứ hai vào hôm 13/8, và lần thứ ba, hôm 7/9
Ngoài Biển Đông, hai nước cũng đang hợp tác trong các lãnh vực ưu tiên của Việt Nam trong quan hệ với Ấn Độ như quốc phòng và an ninh, thương mại và đầu tư, khoa học và công nghệ.
Quan hệ hợp tác hơn 45 năm giữa Ấn Độ và Việt Nam, được cho là ngày càng tốt đẹp, và thái độ hỗ trợ Việt Nam có lẽ đã khiến Đại sứ Phạm Sanh Châu có những phát biểu khá thẳng thắn về tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông.
Trong cuộc phỏng vấn độc quyền với Times of India hôm 30/9, ông Châu khẳng định: ''Trung Quốc đang cố gắng biến vùng biển không tranh chấp thành vùng biển tranh chấp''.
Về quan điểm của Việt Nam, ông nói: ''Chúng tôi sẽ dùng tất cả những biện pháp hòa bình được quy đinh bởi luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Chúng tôi làm điều này một cách rất cương quyết và kiên cường. Chúng tôi không loại trừ bất kỳ biện pháp nào để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.''
Ngư dân đánh cá ở Hà Tiên, Việt Nam, trong vùng Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGODONG/GETTY IMAGES
Image captionNgư dân đánh cá ở Hà Tiên, Việt Nam, trong vùng Biển Đông
Đại sứ Phạm Sanh Châu nhấn mạnh:
''Chúng tôi đang phải đối mặt với một trong những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất ở Biển Đông trong vòng tám năm qua. Năm 2011, Trung Quốc đã vào vùng biển của Việt Nam và cắt cáp của chúng tôi. Sau đó vào năm 2014, Trung Quốc đã đặt một giàn khoan khổng lồ trong vùng biển của Việt Nam. Năm 2019, Trung Quốc đã gửi tàu khảo sát của họ (Haiyang Dizhi 8) vào vùng biển của chúng tôi. Tuy nhiên, lần này, các tàu Trung Quốc đã vào, ra, rồi lại vào, như thể đây là vùng biển của họ và họ muốn đến hay đi lúc nào tùy ý.''
Và phân tích:
''Điều nguy hiểm là, Trung Quốc đã xây dựng được căn cứ quân sự trên một hòn đảo nhân tạo gần đó. Họ do đó không cần phải quay trở lại Trung Quốc đại lục hoặc đảo Hải Nam, căn cứ này rất thuận tiện cho họ. Trong năm năm qua, nhiều quốc gia đã lên tiếng phản đối việc quân sự hóa các hòn đảo ở Biển Đông, cũng như việc xây dựng các đảo nhân tạo của Bắc Kinh.''
''Khi phản đối, các nước đã dự đoán những hành động này sẽ xảy ra. Và chúng đang xảy ra. Tòa Trọng tài quốc tế đã bác bỏ tính hợp pháp của đường 9 đoạn, và nói những hòn đảo này quá nhỏ để có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa, cũng chỉ là hòn đá không có người ở. Chúng tôi theo nguyên tắc 'đất thống trị biển' (land dominates sea). Trung Quốc không có đất ở đó. Đất gần nhất của Trung Quốc ở đó là 860 dặm. Đó là một thách thức lớn đối với luật pháp quốc tế.''

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tai bay vạ gió từ những thước phim tư liệu


A-


Khi Liên hoan phim truyền hình vừa kết thúc, nhiều tờ báo khác đều ca ngợi thiên phóng sự vạch trần trò ăn chặn, ăn bớt bẩn thỉu xẩy ra tại tỉnh Cao Bằng. Đúng một tuần sau, tôi tiếp một cú điện thoại đường dài của Chu Sỹ Liên gọi từ Cao Bằng vào TP Hồ Chí Minh: “Tuyên huấn tỉnh đang bắt em viết kiểm điểm vì sao lại để bộ phim ấy đoạt Giải Vàng, để bây giờ báo chí cả nước đang tung hô! Họ bảo, chuyện như vậy phải đóng cửa bảo nhau, sao đem bêu riếu khắp bàn dân thiên hạ…


TAI BAY VẠ GIÓ TỪ NHỮNG THƯỚC PHIM TÀI LIỆU

TÔ  HOÀNG

CHUYỆN CŨ
Nhớ ra rồi! Năm 1993 Liên hoan Phim truyền hình toàn quốc diễn ra tại TP Đà Lạt. Đoàn truyền hình Cao bằng do Giám đốc Đài Phát thanh- truyền hình tỉnh này, Chu Sỹ Liên dẫn đầu, tham dự Liên hoan với một bộ phim phóng sự hết sức lý thú..
Nhưng khoan, trước khi kể về Giám đốc Chu Sỹ Liên và bộ phim phóng sự của Cao Bằng, xin được nhắc lại đôi điều về bức tranh chung của báo viết, báo hình những năm ấy. Dạo đó, chưa hề có VTV1, VTV2, VTV3 và hàng chục thứ VTV “ăn theo” như bây giờ. Truyền hình Việt Nam thuộc triều đại Tổng giám đốc Phạm Khắc Lãm nên còn “hắc xì dầu”, còn “đuya” lắm! Và... khô quèo, sống sít, đầy tính minh họa chủ trương chính sách, chứ không hề mát mẻ, phô bày và nhiều chuyện mua bán, rao mời như bây giờ. Lại cũng cần nói ngay điều này, vào đầu những năm 1990, được hưởng làm gió dân chủ, cởi mở, báo viết (Lao Động, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ TP.HCM…) dũng mãnh, xông sáo, tả đột hữu xung phanh phui hiện thực xã hội hệt như Triệu Tử Long, lấy việc lớn tiếng bênh vực bênh vực dân chủ, cởi mở; bênh vực người nghèo làm sức sống của trang báo. Chứ không xìu xìu, ển ển; cứ chạt con chữ cho đầy các trang báo mà hưởng lộc, hưởng lương; lờ tít những búc xúc, những khổ đau có thật của nhân quần như với nhiều tờ báo bây giờ. So với sức mạnh lan tỏa và sức cuốn hút bạn đọc của báo viết, những năm tháng ấy truyền hình vẫn là lão già lụ khụ, khư khư ôm lấy vài tín điều cũ rích, luôn luôn cao giọng mà không biết rằng thiên hạ đâu có nghe…
Trở lại chuyện về bộ phim dự thi của Cao Bằng và ông Giám đốc họ Chu.
Với mảng phim Phóng sự- tài liệu tham dự Liên hoan, thú thật cánh báo chí chúng tôi không gửi gắm hy vọng nhiều với phim dự thi của Cao bằng. Bởi lẽ, truyền hình Cao bằng dù sao cũng thuộc “đội chân đất”, thậm chí là “ đội bóng phố huyện ” nếu so với truyền hình Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang,TP Hồ Chí Minh. Chưa kể với Truyền hình Việt Nam. Phim Cao Bằng ít ai kỳ vọng, nhưng ông Giám đốc Phát thanh- truyền hình Cao Bằng, Chu Sỹ Liên lại rất gây được thiện cảm của cánh báo chí, đặc biệt là chị em phóng viên nữ. Chu Sỹ Liên thuộc dân tộc Tày. Dạo đó (1993) anh còn trẻ, đâu đó trong ngoài 40, tầm thước, rất đẹp trai, nói tiếng Kinh dịu dàng, êm ái và giao đãi lịch thiệp, tế nhị, hệt như một chàng trai Hà Nội. Trước khi bộ phim phóng sự của Cao Bằng được công chiếu, Chu Sỹ Liên cứ thanh minh với chúng tôi, các anh phát hiện sự việc quá muộn, triển khai quay vội vã, cập rập; quay bằng một máy, băng ghi hình cũng không phải là băng mới… Chúng tôi xúm vào an ủi Liên, đừng lo, đừng lo. Tiêu chí chấm điểm của phim phóng sự -tài liệu là sắc sảo, chạm được vào những vấn đề “ nóng ” của cuộc sống, kỹ thuật xếp xuống hàng ba, bốn. Hơn nữa, các ông mãi từ Cao Bằng tít tắp xa mang phim vào tận Đà lạt tham dự Liên hoan là tuyệt cú mèo rồi.
Phim Cao Bằng được công chiếu trước Ban Giám khảo và giới báo chí. Quả là phim nhiều điểm yếu: khuôn hình chưa ngay ngắn, hình chưa nét, chất lượng băng xấu… Ấy thế nhưng ngay từ phút thứ nhất, chúng tôi đã nín thở theo dõi diễn tiến trên màn ảnh và linh cảm thấy đây đúng là một thiên phóng sự..” thứ thiệt ”. Phim kể lại, một cơ quan Liên Hiệp Quốc nào đó nẩy sinh ý định trợ giúp bà con dân tộc quá nghèo khó ở các bản làng xa xôi. Phim không nói rõ, mỗi xuất trợ giúp cho mỗi hộ là bao nhiêu? Chỉ biết cái ban phân phối ở tỉnh, ở huyện tuyên bố mỗi hộ được 50 dollar Mỹ. Và đây, ống kính bám sát xem họ phát cho các hộ nghèo miền núi những thứ gì để hết 50 dollar đó. Đặc tả: những tấm lưới bắt cá chuột cắn thủng lỗ chỗ; những nắm hạt giống bị mối mọt, rung rung nhúm hạt giống trên tay, những con mọt rơi lả tả nom như mưa bụi. Đặc tả: những lưỡi cuốc cùn vẹt, những con dao mẻ lưỡi. Đây nữa, đặc tả: những chú gà đứng run rẩy trên đôi chân khẳng khiu, phía sau đít lòng thòng những con sán dài cả đốt tay… Không có lời bình. Phim ghi trực tiếp lời các thân chủ được nhận hàng phân phối. Các ông ké, bà má Tày không cao giọng oán trách, không biết mỉa mai mà cứ thủng thà thủng thẳng, mộc mạc theo kiểu bà con dân tộc Tày: “… Mình bảo, mình không nhận cái lưới này đâu. Con cá chui vào đây cho vui, con cá sẽ chui ra thôi ”. “ Nắm hạt này gieo không ra cây, vì con sâu làm tổ trong cái hạt rồi ! ”. “ Mấy con gà này đem trả về nơi phân phối, hỏi xem cán bộ có dám làm thịt uống rượu không? ”..v..v.. Trong khán phòng tiếng vỗ tay nổi lên rào rào. Tôi còn nhớ rõ, có một phóng viên nữ nói như thét lên: “ Mất dậy đến thế là cùng! “…
Phim vừa hết, đám phóng viên báo chí đều nhao nhao, gián tiếp “chỉ đạo” Ban Giám khảo: “ Cao Bằng xứng đáng với giải vàng ”. “ Phóng sự mang đầy tính chiến đấu như thế mới là phóng sự ”. “ Mấy chục phóng sự, không cái nào vượt Cao bằng về tính trung thực và tính chiến đầu ”… Và phân công nhau theo dõi xem ý tứ Ban Giám khảo đối với phim của Cao Bằng ra sao?
Tin thu được, Ban Giám khảo đã dự kiến danh sách Vàng, Bạc. Nghe đâu phóng sự của Cao bằng bị ra dìa vì… những lỗi kỹ thuật ! “ Các vị quan chức ấy thì biết đếch gì nghệ thuật, với kỹ thuật ! “, " Chắc sợ phim gai góc đây!”. “ Các vị rét rồi ! ”… Cánh phóng viên hỏi tôi có thân quen quan chức nào trong Ban chỉ đạo Liên Hoan không. “ Để đi cửa sau mà cứu Cao Bằng ”. Tôi điểm từng gương mặt và chợt nhớ ra một “ đàn anh ”- anh Thắng, trước kia là phóng viên báo Quân đội nhân dân, chuyển ngành, nghe nói bây giờ là chuyên viên bậc cao của Bộ Văn hóa, chuyên theo dõi truyền hình. Còn nhớ, anh Thắng là một phóng viên chiến trường xông xáo, trung thực, giản dị. Chúng tôi đã từng ngủ chung hầm, ăn chung mâm tại Ban Chỉ huy khu đội Vĩnh Linh; đã cùng chui nhủi hầm bí mật khi bị mắc kẹt tại chân đồi 31, huyện Gio Linh, vào những ngày Mỹ mở trận càn ra tận bờ Nam sông Bến hải. Tôi tìm tới trò chuyện với anhThắng. Anh nói thật, quả là phim mạnh, gây ấn tượng; nhưng không thể tung hô được vì Ban chỉ đạo cho rằng bộ phim ấy bôi đen xã hội. Tôi hỏi ngược lại anh: Phim đâu có bôi đen xã hội? Chính bọn chó má bòn rút từ đồng tiền của người nghèo mới đích thị là những kẻ bôi đen xã hội chứ ! Không vạch mặt chúng, tệ nạn ấy cứ hoành hành, thử hỏi xã hội rồi đây sẽ mang màu gì? ..v..v.. Thấy ông chuyên viên im lặng, được thể tôi gợi lại những kỷ niệm người dân đã đùm bọc chở che chúng tôi thời chiến tranh như thế nào; chúng tôi đã từng là những người lính từ dân mà ra, vì dân mà chiến đấu ra sao…Ông chuyên viên phải hợp sức tố cáo bọn tham nhũng, bảo vệ dân chứ ! Gần nửa tiếng trôi qua, sau rốt, anh Thắng vỗ vai tôi: “ Mình sẽ cố gắng thuyết phục các vị còn lại. Nhưng cánh báo chí các ông phải tìm cách gây hậu thuẫn cho mình nhé ! ” 
Chúng tôi hội ý chớp nhoáng và ngay trước bữa cơm chiều, liền xúm tới công kênh Giám đốc Chu Sỹ Liên đi vòng vòng quanh khu nhà Ban chỉ đạo và Ban Giám khảo ở. Vừa đi, vừa hò reo: “Cao Bằng giải Vàng!”, “ Cao Bằng giải Vàng! ”. “Hoan hô Cao Bằng dám nói thẳng, nói thật ! ”…
Vâng, tại Liên hoan Phim truyền hình Đà Lạt năm 1993, thiên phóng sự của Đài Phát thanh –Truyền hình tỉnh Cao Bằng vạch trần thói “cướp cơm chim ” của người nghèo đã nhận được Giải Vàng duy nhất ở mảng phim Phóng sự- tài liệu truyền hình. Anh em báo chí chúng tôi hân hoan chia tay Đoàn Phát thanh- truyền hình Cao Bằng, chúc mừng Giám đốc Chu Sỹ Liên. Bởi lẽ chính thiên phóng sự của truyền hình Cao bằng đã chứng tỏ “chân đất không hề thua chân giày”, nếu người làm phim có tấm lòng và có ánh mắt tinh tường, nhậy cảm. Bởi lẽ, khi sự thật được phanh phui, phản ánh trung thực chính đấy là sức mạnh của thể loại Phóng sự- tài liệu nói riêng, của truyền hình nói chung. Cũng ngay khi Liên hoan phim Truyền hình Đà Lạt vừa kết thúc, sáng hôm sau các báo Lao Động, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ TP Hồ Chí Minh và nhiều tờ báo khác đều có bài ca ngợi thiên phóng sự truyền hình vạch trần trò ăn chặn, ăn bớt bẩn thỉu xẩy ra tại tỉnh Cao Bằng.
Chuyện nếu chỉ đến đấy, chắc tôi không có điều gì để kể cho các bạn nghe hôm nay…
Đúng một tuần sau, tôi tiếp một cú điện thoại đường dài của Chu Sỹ Liên gọi từ Cao Bằng vào TP Hồ Chí Minh.
- Tuyên huấn tỉnh đang bắt em viết kiểm điểm vì sao lại để bộ phim ấy đoạt Giải Vàng, để bây giờ báo chí cả nước đang tung hô! Họ bảo, chuyện như vậy phải đóng cửa bảo nhau, sao đem bêu riếu khắp bàn dân thiên hạ…
- Ơ kìa, sao ông không nhắc lại, trước khi mang đi dự thi, chính các ông Tuyên huấn Tỉnh đã duyệt rồi.
- Em cũng nói như vậy. Họ bảo, họ duyệt tập thể, tập thể xem không kỹ, tập thể bỏ sót... Nhưng chả lẽ tập thể lại có lỗi sao? Em là Giám đốc em phải xem kỹ hơn; phải có trách nhiệm hơn và phải kiểm điểm sâu sắc vụ việc này!
- Thế bây giờ họ định xử lý như thế nào?
- Bộ phim phải hủy là chuyện đương nhiên. Các anh ấy còn bảo em, làm sao phải trả cái Giải Vàng ấy cho Ban Tổ chức Liên hoan Truyền hình Đà Lạt. Để biểu lộ tỉnh mình không công nhận cách đánh giá ấy! Truyền hình sai chứ tỉnh mình không sai!
Tôi bật cười mà cũng không biết an ủi hoặc bày vẽ cho Chu Sỹ Liên ra sao nữa.
Thêm hai tuần lễ trôi qua… Từ Cao Bằng, Chu Sỹ Liên báo tin mới: Lãnh đạo tỉnh không để Chu Sỹ Liên giữ cương vị Giám đốc Đài Phát thanh- truyền hình tỉnh Cao Bằng nữa. Mà điều anh sang giữ chân Chủ tịch Hội Nhà báo Cao Bằng. Tôi nghĩ tới cái tỉnh heo hút vùng biên giới ấy. Chắc ngoài một tờ báo của tỉnh cũng không có thêm một ấn phẩm báo chí nào khác. Từ đó, hẳn cái Hội Nhà báo tỉnh cũng đìu hiu, quạnh quẽ lắm. Thế là chú em Cao bằng của tôi được gạt ra khỏi cơ cấu, được “ngồi chơi xơi nước” rồi!
CHUYỆN MỚI
Chiều ngày 21 tháng 11 mới đây, nhờ nhà thơ Trần Nhương giới thiệu cho một người quen ở Cao Bằng để tìm Chu Sỹ Liên. 15 phút sau, Chu Sỹ Liên lên tiếng ở đầu máy bên kia. Mừng vui, tíu tít vì hội ngộ sau gần 20 năm.
- Ông Liên còn nhớ, đến Liên hoan Truyền hình lần sau diễn ra tại Thủ đô vào năm 1995, Liên không được tham dự nữa, ông em đã nhờ anh chị em trong đoàn Cao Bằng gửi biếu anh một chai mật ong thứ thiệt của rừng núi Cao Bằng không?
- Để tạ ơn ông anh đã sui em “ăn cứt gà” mà! Ô, chuyện cũ, nghĩ lại những ngày Đà Lạt vui quá, anh ơi! Em nghỉ hưu năm ngoái rồi… Vì bộ phim phóng sự dạo ấy, em “lên bờ xuống ruộng” đến tận lúc hưu, anh ạ!
- Chà, hưu rồi sao? Nhanh quá vậy? Làm Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh đến ngày hưu sao?
- Không, sau này, được điều làm Phó Bí thư một huyện khỉ ho cò gáy nhất tỉnh Cao Bằng. Rồi thằng em anh bị tai biến. Liệt toàn thân suốt một năm. Phục hồi, em nộp đơn xin về đuổi gà cho mẹ cháu ngay !
Tai biến… Bị liệt… Liệu đây có phải là hệ quả của năm tháng “ lên bờ xuống ruộng ” không? Nghĩ vậy, nhưng tôi im lặng, lảng qua chuyện khác: 
-Sao, tỉnh hẹp người thưa… Thế có bao giờ gặp lại các đồng chí đã phê phán, quy chụp em vì Giải Vàng Đà Lạt không?
- Có chứ anh ! Về hưu, làm “phó thường dân” như em cả lũ rồi. Bên cốc rượu, vại bia, các đồng chí ấy thanh minh, thanh nga: Rằng hồi ấy họ xúc động vì bộ phim; họ thấy phim hay, họ biết bọn em bênh vực người nghèo, tố cáo bọn bần thỉu là đúng. Các đồng chí ấy gay gắt phê phán, quy chụp em nhưng lời lẽ ấy, phản quyết thuở ấy- theo họ- không phải xuất phát từ khối óc, từ con tim họ. Họ bảo, đấy là sự phê phán, quy kết của Thằng Cơ chế ! Và cười khùng khục, tu bia ùng ục… Để phủi tay vô can, anh ơi!
Tôi nghe đắng đót trong lòng. Chưa kịp nói gì đã nghe Chu Sỹ Liên hỏi:
- Chúng em ở tít trên này mù mịt thông tin lắm. Kể từ ngày Đà Lạt đến nay đã gần 20 năm. Chắc những bộ phim như thiên phóng sự Cao bằng của bọn em dạo ấy, bây giờ thỏa sức làm, thỏa sức chiếu, chứ anh?
Tôi đâm dè dặt:
- Không hẳn thế đâu! Những thằng cơ chế già chết đi, lập tức nẩy nòi những thằng cơ chế con. Trẻ, sung sức, thằng cơ chế con có bớt ngu đi, chịu mở to mắt thêm một chút, nhưng sự hung hăng, bạo liệt và nhất là sự tinh quái, ma mãnh thì còn hơn thằng cơ chế cha nhiều ! Mà thôi, chú em để tâm tới những chuyện ấy làm gì? Hãy thanh thản, tìm ra nhiều cớ để mà cười, mà quên mọi chuyện. Gắng giữ gìn, để cơn tai biến xẩy ra lần thứ hai là "thôi rồi Lượm ơi " đấy nhé….

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc xây đập trên sông Mekong nhưng không để lấy điện

Đó là nhận định của ông Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á, Trung tâm nghiên cứu Stimson, Hoa Kỳ. Chỉ tính riêng tại tỉnh Vân Nam, lượng điện “bỏ không” thậm chí còn gấp đôi sản lượng điện tiêu thụ của toàn Thái Lan. 
Đập Xiaowan, Trung Quốc cao 292m (Ảnh: Flickr)
Tại hội thảo “Tác động từ những chính sách của Trung Quốc đối với sông Mekong” tổ chức bởi Chương trình nghiên cứu kinh tế Trung Quốc (VCES), ông Brian Eyler, Giám đốc chương trình Đông Nam Á, Trung tâm nghiên cứu Stimson (Hoa Kỳ) cho biết năm 2018 xảy ra tình trạng lãng phí điện tại các đập thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn.
Ông Brian Eyler đưa ra dẫn chứng về đập Tiểu Loan (Xiaowan) tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Với công suất 4.200MW, nó là đập thủy điện lớn nhất trên sông Mekong và có công suất lớn thứ 3 thế giới. Tuy nhiên sản lượng điện tạo ra phần lớn lại không được sử dụng do không có điện lưới đến phía đông Trung Quốc.
Chỉ tính riêng tại tỉnh Vân Nam, lượng điện “bỏ không” thậm chí còn gấp đôi sản lượng điện tiêu thụ của toàn Thái Lan.
Những nhà máy nằm tại khu vực đường bờ biển của Trung Quốc không sử dụng lượng điện trên mà thay vào đó là điện than.
Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục xây các đập thủy điện trên sông Mekong. Ở thượng nguồn Mekong, trong tổng số 19 đập thủy điện, Bắc Kinh đã hoàn thành 11 đập.
Ông Brian Eyler suy luận rằng, việc xây thêm các đập nhằm mục tiêu tích trữ nước cho lục địa này. Ông dự đoán trong khoảng 3 thập kỷ tới, Trung Quốc có thể đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt do băng tan trên dãy Himalaya sẽ cạn dần. Ngoài ra, Trung Quốc còn có thể tìm cách khơi nguồn nước chảy sang sông Dương Tử.
Liên quan đến tác động của việc liên tiếp xây các đập thuỷ điện chặn dòng Mekong của Bắc Kinh, ông Brian Eyler nhấn mạnh các đập thủy điện dọc sông Mekong không chỉ cắt giảm lượng nước chảy xuống hạ nguồn mà còn khiến giảm dòng phù sa, giảm luồng cá di cư cũng như làm mất tính đa dạng sinh học của dòng sông.
Đáng lưu ý, việc này gây ra tác động rất lớn đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tháng 7- 8 vừa qua, ĐBSCL đối diện với đợt hạn hán nghiêm trọng, trong khi đáng lẽ mọi năm đây là thời điểm lũ về. Nguyên nhân được cho là việc trữ nước ở thượng nguồn.
Ông Eyler cho biết thêm việc thiếu nước từ thượng nguồn cùng với sự xâm mặn của nước biển đang đe dọa sẽ mất đất. Ước tính cứ mỗi mét nước biển dâng sẽ làm mất 30% đất. Vị chuyên gia dự báo ĐBSCL sẽ mất nhiều đất, chưa kể đến tình trạng sụt lún.
Trong thời gian tới, dự kiến có khoảng 374 đập thủy điện sẽ được xây dựng tại hạ nguồn sông Mekong, trong đó có hơn 300 đập tại Lào. Trung Quốc và Thái Lan sẽ tham gia với tư cách nhà đầu tư tại các dự án này.
Trước tình trạng trên, ông đề xuất Việt Nam có thể hợp tác với Lào và Campuchia điều chỉnh theo hướng giảm số lượng đập thủy điện.
“Việt Nam cần lưu ý thảo luận với Trung Quốc vì ĐBSCL cần có lũ để phát triển. Trong khi Lào lại không cần”, Eyler nói. Ông đánh giá an ninh nguồn nước là vấn đề thuộc về nỗ lực ngoại giao và nó không dễ dàng.
Xuân Lan / Trithucvn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Luận về chữ "LỪA" trong tiếng Việt



Một trong những đặc điểm thú vị của tiếng Việt là sự biến hóa của ngữ nghĩa; cùng một từ có thể có nhiều nghĩa khác nhau, có thể đồng nghĩa hoặc nghịch nghĩa, và nghĩa bóng nghĩa gió đủ thứ...  Xin lấy từ "LỪA" làm một ví dụ. 

Từ này có hai nghĩa gốc: a) là danh từ gọi tên một loài động vật được nuôi giữ để thồ hàng: con lừa; và b) vừa là danh từ vừa là động từ với nghĩa là lừa lọc, lừa đảo, lừa phĩnh, lừa gạt, đánh lừa (đều  có hàm ý xấu, không rõ ràng minh bạch)

Xuất phát từ nghĩa đen (con lừa), còn có thêm những nghĩa bóng ám chỉ sự dốt nát, ù lỳ, chậm hiểu nhưng bảo thủ. Bên cạnh một vài thành ngữ như "đồ con lừa" hay "gìa lừa ưa nặng", còn có ngữ "xứ lừa" để ám chỉ những đất nước mà ở đó tình trạng trì trệ, bảo thủ , chậm tiến luôn ngự trị. Các nghĩa ở b) hoàn toàn không liên quan với nghĩa ở a) và hầu như không có nghĩa bóng nhưng rất thông dụng hàng ngày. Tuy nhiên, với lối "chơi chữ" của người Việt thì các từ, ngữ và nghĩa nói trên có thể vẫn có mối liên quan mật thiết với nhau, đôi khi rất khó dịch ra tiếng nước ngoài sao cho người đọc vừa hiểu đúng nội dung, vừa cảm nhận được cách "chơi chữ" trong tiếng Việt. Ví dụ với đoạn văn này chẳng hạn : "Trong xứ lừa đầy rẫy sự dối trá và lừa lọc, ở đó tầng lớp thống trị lừa dối kẻ bị trị, và người dân lừa gạt lẫn nhau hàng ngày. Rốt cuộc nạn nhân là những người bị lừa, nhưng suy cho cùng ai cũng vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhânĐó là trạng thái đáng buồn của một dân tộc đã lâm vào cảnh tự lừa dối mình trong một thời gian dài ". Đoạn này nếu dịch không khéo, người đọc sẽ không hiểu hoặc chỉ hiểu ý mà không cảm nhận được cái hay của trò chơi chữ.

Đó là xét về mặt ngôn ngữ thuần túy. Nhưng về mặt xã hội học, người ta nói "ngôn ngữ là sinh ngữ" và nó có mối liên quan mật thiết với tính cách và lối sống của chủ nhân của ngôn ngữ đó. Sự hay ho thú vị của tiếng Việt chính là nhờ đặc điểm lỏng lẽo, không tách bạch rõ ràng trong từ vựng, ngữ nghĩa và cú pháp. Và phải chăng điều này có ảnh hưởng  đến tính cách và nếp sống cũng như cung cách quản lý xã hội của người Việt vốn được thể hiện khá rõ ở tình trạng mập mờ, thiếu rõ ràng minh bạch trong luật lệ cũng như trong trao đổi thông tin và giao tiếp  hàng ngày (?). Đó là lý do tại sao trong xã hội Việt Nam mọi thứ luật lệ và quy định thường chỉ mang tính tạm thời hoặc nhất thời, thiếu rõ ràng minh bạch khiến ai muốn hiểu thế nào cũng được, cấp dưới không nhất thiết hiểu đúng như cấp trên, và người dân có tâm lý không tin tưởng vào sự công minh của pháp luật. 

Nếu không phải vậy thì thật khó lý giải  tại sao trong thời đại  toàn cầu hóa và hội nhập,  nền hành chính công của Việt Nam vẫn chậm chạp lê bước trong quá trình được mệnh danh là "cải cách" kéo dài suốt mấy chục năm qua. Tại đất nước này người dân ngày càng khó tiếp cận thông tin cũng như các quy định, luật lệ từ nguồn chính thống- những thứ thường ít khi được soạn thảo một cách ngắn gọn, rõ ràng, đầy đủ. Chúng thường phải được phổ biến với sự giải thích "tam sao thất bản" qua các cấp trung gian mà ngay bản thân họ nhiều khi cũng không hiểu đúng và đầy đủ.  Hệ thống các cơ quan hành chính công ở đất nước này thường rất rườm rà, đông nhưng không đủ để đáp ứng các nhu cầu của người dân. Tại đây các nhân viên hành chính vẫn hiểu rằng một khi được tuyển dụng họ sẽ có quyền hành và cơ hội tiến thân hơn là để phục vụ khách hàng. Đó là lý do tại sao họ hay gây phiền hà nhũng nhiễu và vi phạm các hành vi  tham ô, lãng phí. Đó cũng là nguyên nhân tại sao có hiện tượng trong khi "người ngay sợ kẻ gian" thì  một cô gái trẻ dám thẳng tay tát vào mặt một viên cảnh sát đang thi hành công vụ. Đó là lý do tại sao những người nông dân sau 1/2 thế kỷ cải cách ruộng đất giờ lại trắng tay và phải kéo lên trung ương khiếu kiện. Đó là lý do tại sao hàng loạt những dự án và công trình "thế kỷ" của đất nước bổng chốc trở nên hoang phế hoặc thua lỗ và đứng trước ngu cơ  phá sản.Và đó là lý do tại sao người đứng đầu của Đảng phải lên tiếng báo động về " nguy cơ tồn vong của chế độ". Và đó là lý do của rất nhiều điều nghịch lý khác trên đất nước này.
 
Đúng là không phải vô lý khi người dân tự gọi đất nước mình là "xứ lừa" với đầy đủ mọi ngữ nghĩa vốn có của nó. Nhưng đây không phải là trường hợp để thưởng ngoạn sự thú vị của ngôn ngữ, mà chỉ là cách để lột tã trạng thái tinh thần bức xúc của họ./.
    

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

Trần Đăng Khoa: Làm sao để nước mình đuổi kịp Thái Lan?

Tôi còn nhớ, cách đây vài năm, tôi sang Thái Lan nhận Giải thưởng Văn học Sunthorn Phu. Khi đó Thái Lan đang diễn ra những cuộc biểu tình phản đối Chính phủ. Tôi thực sự lo ngại. Nhưng đến Bangkok, tôi rất đỗi bất ngờ, khi thấy xã hội của họ vẫn rất thanh bình, ổn định. Đời sống nhân dân rất cao. Thành phố sạch và đẹp. Chỉ có tắc đường thì như ta.
Thấy tôi ngạc nhiên và hết lời ca tụng, một nhà văn, kiêm nhà sử học Thái Lan bảo: “Chúng tôi còn nhiều khiếm khuyết lắm. Năm 1975, khi Sài Gòn của các anh là Hòn ngọc Viễn Đông thì Bangkok và cả Thái Lan không là gì cả. Không ai tính đến Thái Lan. Chúng tôi tụt hậu so với các bạn có đến 20 năm. Bây giờ, chúng tôi có thể tạm thời đi trước các bạn 50 năm, nhưng vẫn còn nhiều khiếm khuyết lắm!".
lam sao de viet nam duoi kip thai lan hinh 1
Một góc phố ở Bangkok -Thái Lan(Ảnh: Quang Trung)
Không dám so bì với những nước tiên tiến trên thế giới, chỉ tính ngay trong khu vực, với một nước còn nhỏ hơn chúng ta, cùng bầu khí hậu, cùng phì phọp lội bùn cấy lúa như chúng ta, đi sau chúng ta đến 20 năm, bây giờ lại vượt trước chúng ta xa như vay. Liệu khi chúng ta tiến tới vị trí của họ bây giờ thì họ cách ta bao nhiêu? Mà thôi, không dám “đọ” với Thái Lan. Chỉ so với Lào, với Campuchia, nhiều chỉ tiêu phát triển chúng ta cũng đang thua rồi. 
Nói như báo Vietnamnet, trong tổng thuật phản ánh cuộc toạ đàm hội thảo do Ban kinh tế Trung ương vừa tổ chức ngày 25/8 mới đây, hầu hết các mục tiêu chúng ta đặt ra để Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 đều khó thành hiện thực. Đó là nhận xét của các học giả, các nhà chuyên môn trong nước và quốc tế. Chính sách phát triển công nghiệp của ta, theo nhận định của họ là quá rườm rà, không có trọng điểm. Việt Nam thua xa các nước châu Á và cả Châu Phi. 
Thật đáng buồn. Và cũng đúng vậy. Ở mảng công nghiệp, chỉ tính riêng việc khai thác Boxit ở Tây Nguyên, việc sản xuất thép ở Vũng Áng Hà Tĩnh, nạn bùn đỏ, nạn xả thải tiêu diệt biển, nạn chôn chất phế thải công nghiệp ở bao nhiêu nơi trên đất liền, chúng ta không thể tính hết được tác hại của nó. Thép với Boxit thì chưa thấy đâu, nhưng chất độc hại thì đã khá phổ biến rồi. Hà Tĩnh đã nghèo, giờ còn lâm nạn. Và đâu chỉ Hà Tĩnh. Một dải các tỉnh Miền Trung cùng phải hứng chịu. Không biết đến bao giờ chúng ta mới tẩy rửa hết được hết chất độc hại của tư duy nhiệm kỳ, để đất và biển trở lại trong lành như vốn nó từng có. 
Đành rằng các cơ quan chức năng đã thông báo biển trong lành, đã thấy các quan chức tắm biển và ăn cá biển. Nhưng rồi cũng qua việc thẩm định của Bộ Y tế, vẫn còn có những mẻ cá chứa chất độc vượt ngưỡng. Thế thì biết tin ai? Việc thẩm định này cần hết sức nghiêm túc. Vì nó liên quan đến sức khoẻ, tính mạng của nhân dân. Nước trên bề mặt của biển có thể đã ổn. Nhưng chất độc hại thành trầm tích dưới đáy biển thì đến bao giờ mới sạch?...
 GS. Kenichi Ohno - Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản chia sẻ: “Tham gia vào quá trình làm chính sách tại 20 quốc gia ở châu Á và châu Phi, nói thật lòng, chính sách công nghiệp của các bạn không tốt lắm, còn nằm ở tốp cuối. Một số nước châu Phi có chính sách tốt hơn các bạn rất nhiều”.
Cũng theo vị giáo sư có 20 năm kinh nghiệm theo sát quá trình làm chính sách tại Việt Nam, thì cho rằng, chính sách công nghiệp của Việt Nam phải qua các bước: từ soạn thảo văn kiện, triển khai thực hiện và tác động mang lại. Ở Việt Nam, thường chỉ dừng lại ở việc soạn thảo văn kiện. 
Ông Ohno cũng chỉ ra rằng, trong chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam, thông tin cốt lõi không có hoặc chưa rõ; thông tin bối cảnh, đường lối chủ trương thì quá nhiều, đến nỗi không biết đâu là chính, đâu là phụ. Trong khi đó lại thiếu kế hoạch hành động và cơ chế giám sát; khung thời gian quá xa tới tận 2035 trong khi năm 2020, 2025 còn chưa biết thế nào. 
“Mục tiêu quá nhiều, các bạn đưa ra đến 13/18 mục tiêu, thay vì chỉ nên chọn 1 hoặc 2. Ưu tiên quá nhiều tập trung vào cả những mục tiêu nhỏ lẻ của từng ngành. Quá nhiều ưu tiên lại thành ra không có ưu tiên nào cả, Trong khi đó, tầm nhìn của các nước khác rất rõ ràng, độc đáo, ngắn gọn và dễ nhớ. Nó là những việc, những chỉ tiêu rất cụ thể".
Cũng theo giới truyền thông, tại diễn đàn, nhiều chuyên gia chia sẻ nỗi buồn: “Cho đến nay, công nghiệp Việt Nam vẫn chưa làm được dây điện thoại, bó tay với cả ốc ít, sơn ô tô… chưa nói đến phát triển công nghiệp ô tô”. Thế thì còn nói gì đến các ngành công nghiệp hiện đại khác. Hiện nay thực trạng Việt Nam đã rất khác so với 10-20 năm trước, nhưng cách thức làm chính sách vẫn thế. Vẫn tham vấn chủ yếu doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ đóng góp 30% vào GDP mà chưa tham vấn nhiều khu vực tư nhân.  
Cũng theo giới truyền thông: Nguy cơ Việt Nam đang tụt hậu đã trở thành chủ đề nóng tại cuộc hội thảo “Không nên nói nguy cơ tụt hậu vì chúng ta đã tụt hậu rồi. Thậm chí tụt hậu rất xa" - TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết - Thực tế, điểm lại báo cáo của Tổng cục Thống kê về thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam vừa được công bố, ta  thấy Việt Nam đang thụt lùi rất xa so với các nước trong khu vực. 
Ở nhiều chỉ số kinh tế - xã hội khác, Việt Nam cũng xếp hạng rất thấp, như chỉ số năng lực cạnh trạnh nền kinh tế; giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu, chỉ số giáo dục, việc làm. Tất cả đều thua kém các nước. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn quốc khoảng 30-35 năm, thụt lùi so với Malaysia khoảng 25 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm. Theo tính toán, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 chỉ bằng 3/5 của Indonesia, 2/5 của Thái Lan; 1/5 của Malaysia; 1/4 của Hàn Quốc và bằng 1/27 mức GDP bình quân của Singapore. Cũng theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2038, Việt Nam mới bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới bắt kịp Thái Lan. 
Đó là những con số thực sự làm chúng ta giật mình. Tại sao một đất nước từng hùng mạnh, đánh thắng bao nhiêu kẻ thù mạnh nhất trong những năm chiến tranh, lại từng đi trước Thái Lan 20 năm, giờ lại tụt sau họ quá xa. Những người yêu nước, có lương tri, không thể không động lòng.
Mấu chốt vẫn là con người. Dân ta tốt rồi. Chỉ còn mỗi cán bộ là cần phải củng cố. Khâu cán bộ vẫn là then chốt nhất. Bởi nó quyết định sự thành bại của một quốc gia hay bất kỳ một cuộc cách mạng nào.
Đây cũng là điều quan tâm lớn nhất của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Sự chỉ đạo rốt ráo trong công cuộc chống tham nhũng của Tổng Bí thư hay lòng quyết tâm xây dựng một Chính phủ trong sạch của Thủ tướng chính phủ, quả thật đã cho niềm hy vọng. 
Chúng ta đã có một cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, xây dựng một Chính quyền mới và đánh thắng giặc ngoại xâm, giành lại đất nước. Bây giờ là lúc cần làm một cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai. Đây là cuộc Cách mạng củng cố chính quyền, xây dựng một Chính quyền thật sự trong sạch, kiến tạo, phục vụ, và nói như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đánh thắng giặc nội xâm Tham nhũng. Chính kẻ thù nội xâm với tư duy nhiệm kỳ này mới thực sự nguy hiểm. Thậm chí còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Bởi chúng làm băng hoại niềm tin của dân vào Đảng, vào chính quyền và biến chúng ta trở thành  tụt hậu…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

‘Bảy bài học cho Thế kỷ 21’




Yuval Noah Harari tại một cuộc phỏng vấn tại Berlin. (Hình: Daniel Naber / commons.wikimedia.org/wiki/File:Yuval_Noah_Harari.jpg)
Yuval Noah Harari tại một cuộc phỏng vấn tại Berlin. (Hình: Daniel Naber /commons.wikimedia.org/wiki/File:Yuval_Noah_Harari.jpg)

Trong những ngày đầu xuân Kỷ Hợi, tôi mang cuốn sách ‘21 bài học cho Thế kỷ 21’ ra đọc. Cuốn sách hơn 350 trang của cây viết có tiếng Yuval Noah Harari đưa ra nhiều dự đoán về cuộc cách mạng công nghệ trong thế kỷ này và ảnh hưởng của nó tới loài người. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin điểm bảy bài học chính của cuốn sách.
Harari, tác giả cuốn sách đã được dịch sang tiếng Việt ‘Sapiens: Lược sử Loài Người’, mở đầu với tuyên bố điều tưởng như đã là dấu chấm hết của lịch sử thực ra đã chỉ là dấu ba chấm. Người ta đã ngỡ rằng câu chuyện dân chủ tự do đã thắng thế sau khi chủ nghĩa cộng sản phá sản và chủ nghĩa phát xít đã thất bại từ nhiều thập niên về trước.
Harari nói con ‘phượng hoàng tự do’ từng lâm nguy trong thập niên 1930 và 1940 khi Hitler giành hết thắng lợi này tới thắng lợi khác. Nó cũng gặp sự canh tranh mạnh mẽ của phe cộng sản cho tới khi Liên Xô sụp đổ hồi đầu thập niên 1990.
Tác giả cho rằng một trong những lý do nhiều nước về hùa với Moscow và Bắc Kinh trong nhiều chục năm chính là tiêu chuẩn kép của phương Tây. Đây là một trong những ví dụ được đưa ra: “[K]hi Hà Lan trỗi dậy vào năm 1945 sau năm năm chịu sự chiếm đóng tàn bạo của Phát xít, gần như điều đầu tiên họ làm là lập quân đội và đưa quân nửa vòng thế giới tới tái chiếm thuộc địa cũ của họ, Indonesia. Trong khi vào năm 1940 người Hà Lan từ bỏ sự độc lập của họ chỉ sau hơn bốn ngày giao tranh [với quân của Hitler], họ lại chiến đấu cay đắng trong hơn bốn năm để trấn áp [mong muốn] độc lập của Indonesia.”
Nhưng trong những năm 1990, mọi chuyện đã thay đổi và dường như nhân loại chỉ còn một lựa chọn duy nhất đó là “dân chủ, nhân quyền, thị trường tự do và phúc lợi xã hội do chính phủ [cung cấp]”. Mặc dù vậy lựa chọn này đã bị ngờ vực sau cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008 và chuyện Tổng thống Trump lên cầm quyền tại Hoa Kỳ cũng làm cho sự ngờ vực này càng lớn thêm. Hoa Kỳ không còn là thế lực thúc đẩy các giá trị dân chủ, nhân quyền và thị trường tự do như trước nữa, Liên minh châu Âu EU chưa đủ sức thay thế trong khi các giá trị của Nga và Trung Quốc không hấp dẫn được ai. Thế giới bỗng quay trở lại thời chẳng có câu chuyện nào thuyết phục được đông đảo người dân trên hành tinh này nữa. Harari viết thêm rằng Nga thực ra là một trong những nước bất bình đẳng nhất thế giới với 87 phần trăm tài sản tập trung trong tay của 10 phần trăm dân giàu nhất.
“Con người bỏ phiếu bằng chân. Khi đi vòng quanh thế giới tôi gặp rất nhiều người từ nhiều nước muốn tới Hoa Kỳ, Đức, Canada hay Australia. Tôi gặp vài người muốn tới Trung Quốc hay Nhật Bản. Nhưng tôi chưa gặp ai mơ di cư tới Nga,” tác giả viết.
Bài học thứ hai tác giả nói tới là mọi ngành nghề trên thế giới sẽ đều chịu tác động của trí tuệ nhân tạo và người máy. Máy móc từ chỗ chỉ cạnh tranh với con người trong những lĩnh vực liên quan tới lao động chân tay giờ đang tiến tới cạnh tranh với ông chủ của chúng trong cả lĩnh vực lao động trí óc. Harari nói tự động hoá sẽ gây chấn động đối với hệ thống tư bản nhưng chủ nghĩa cộng sản cũng sẽ chẳng lợi lộc gì từ cuộc khủng hoảng do trí khôn nhân tạo gây ra.
“Kế hoạch chính trị cộng sản kêu gọi cuộc cách mạng của giai cấp công nhân. Nhưng học thuyết này liệu còn ý nghĩa gì khi quần chúng mất giá trị kinh tế và phải chống chọi với sự vô dụng thay vì với sự bóc lột? Làm sao có thể bắt đầu cuộc cách mạng của giai cấp công nhân khi không có giai cấp công nhân?”
Bài học thứ ba được nêu ra là cơ hội và hiểm hoạ mà sự lên ngôi của thuật toán mang lại cho loài người. Cho tới nay con người vẫn được cho là có “ý nguyện tự do” và điều này được tôn trọng khi tất cả mọi người đều được quyền bỏ phiếu cho dù trình độ học vấn của mỗi người mỗi khác. Bầu cử hay trưng cầu dân ý được hiểu là phép thử cảm xúc của dân chúng thay vì đánh giá trình độ của họ. Harari cho rằng với sự phát triển của thuật toán và sự kết hợp của công nghệ sinh học và công nghệ thông tin, chẳng mấy chốc máy móc sẽ hiểu con người hơn cả con người hiểu cảm xúc của chính mình.
“Điều này đã đang diễn ra trong lĩnh vực y khoa. Những quyết định y khoa quan trọng nhất trong cuộc sống của chúng ta không dựa trên cảm giác ốm yếu hay mạnh khoẻ, hay ngay cả các chẩn đoán của các bác sỹ, mà vào tính toán của máy tính vốn hiểu cơ thể của chúng ta hơn cả chúng ta. Trong vài thập niên tới, thuật toán Đại Dữ liệu với sự hỗ trợ của dòng dữ liệu sinh học liên tục có thể theo dõi sức khoẻ của chúng ta 24/7.”
Đó là một trong những cơ hội. Hiểm hoạ có thể là sự đột nhập “hệ điều hành con người” của chính phủ và các công ty nhằm tuyên truyền và quảng cáo. “[N]gay cả trong những xã hội được cho là tự do, thuật toán vẫn có thể có uy quyền vì qua kinh nghiệm chúng ta sẽ học cách tin vào chúng trong ngày càng nhiều vấn đề và sẽ dần mất đi khả năng tự đưa ra quyết định. Hãy nghĩ về cách mà chỉ trong hai thập niên hàng tỷ người đã đặt niềm tin vào thuật toán tìm kiếm của Google khi [thực hiện] một trong những việc quan trọng nhất: tìm kiếm thông tin đáng tin cậy và phù hợp.”
Tác giả cũng nêu khả năng các máy tính với trí tuệ nhân tạo sẽ hợp tác với các nhà độc tài và được sai khiến để theo dõi hay thậm chí kết liễu tính mạng của con người mà chúng chẳng hề thấy cắn rứt lương tâm, thứ mà chúng không có.
Bài học thứ tư là điều mà nhiều người đã dần nhận ra khi sử dụng các dịch vụ của Google, Facebook hay Baidu – chúng ta không phải là khách hàng mà là sản phẩm. Harari chỉ ra rằng mô hình kinh doanh của các công ty này cho tới giờ là “buôn sự chú ý” của chúng ta và khách hàng của họ là các công ty quảng cáo. Nhưng trong tương lai có thể ngành quảng cáo cũng không còn nữa vì chúng ta đâu còn ra quyết định. Thuật toán sẽ quyết hộ chúng ta mọi thứ. Con người và máy tính cũng có thể cộng sinh tới mức mà nếu tách khỏi máy tính, con người sẽ không còn vận hành được nữa. Viết tới đây trong đầu tôi không hiểu sao bỗng nhớ tới câu hát “nếu phải cách xa em [máy tính] anh chỉ còn bão tố”.
Bài học thứ năm là sự gắn kết giữa cộng đồng trên mạng và ngoài xã hội. Harari cho rằng mỗi người chúng ta có lẽ khó có khả năng kết thân với hơn 150 người. “Qua một ngưỡng nhất định, thời gian và năng lượng quý vị bỏ ra để biết các bạn trực tuyến từ Iran hay Nigeria sẽ lấy đi khả năng hiểu biết những người hàng xóm cạnh nhà bạn,” Harari viết. Ông cũng hy vọng Facebook sẽ chú trọng tới việc phát triển các cộng đồng không chỉ trên mạng xã hội của họ mà cả ngoài đời thực. Điều này sẽ khiến cho các hoạt động xã hội không bị tê liệt nếu Facebook không may bị các chính quyền độc tài ngăn chặn. “[Facebook] và các gã khổng lồ trực tuyến khác thường xem con người như động vật nghe nhìn – một đôi mắt và một đôi tai kết nối với 10 ngón tay, một màn hình và một thẻ tín dụng. Bước quan trọng tiến tới đoàn kết nhân loại là ý thức rằng con người có cơ thể [và cơ thể không chỉ ngồi một chỗ trên không gian ảo mà có thể di chuyển và kết nối với nhau ngoài đời thực].”
Bài học thứ sáu là lòng yêu nước xuất phát từ tinh thần dân tộc sẽ mang lại những điều tốt đẹp nhưng sự kiêu căng xuất phát từ niềm tin ta là nước ưu việt có thể mang đến hiểm hoạ bạo lực. Harari cũng nhắc con người nhớ rằng loài người từng tồn tại “hàng trăm ngàn năm” trong những nhóm nhỏ chỉ vài chục người và sự đòi hỏi lòng trung thành của mỗi người với cả triệu người mà họ không quen biết mới chỉ tồn tại từ vài ngàn năm trở lại đây.
Sự tụ họp thành những nhóm khổng lồ khiến người ta có thể làm được những việc vô cùng lớn lao mà cộng đồng nhỏ khó lòng làm được nhưng nó cũng có thể gây ra những cuộc đại chiến. Bởi vậy sẽ là lý tưởng nếu nhân loại nhìn nhận mình như thành viên của một nền văn minh duy nhất và cùng nhau giải quyết các vấn đề phát sinh mà không quan ngại tới ranh giới quốc gia. Một trong những vấn đề đó là tình trạng thay đổi khí hậu do việc khai thác và sử dụng thái quá nhiên liệu hoá thạch của con người.
Bài học thứ bảy là đừng có phát hoảng vì khủng bố. Harari viết rằng khủng bố có khả năng kiểm soát tinh thần của chúng ta rất tốt dù trên thực tế chúng giết rất ít người. “Kể từ ngày 11/9/2001, mỗi năm khủng bố giết khoảng 50 người ở Liên minh châu Âu, 10 người ở Hoa Kỳ, khoảng bảy người ở Trung Quốc, và chừng 25.000 người trên toàn cầu (chủ yếu ở Iraq, Afghanistan, Pakistan, Nigeria và Syria). Trong khi đó, mỗi năm tai nạn giao thông làm thiệt mạng 80.000 người châu Âu, 40.000 người Hoa Kỳ, 270.000 người Trung Quốc và 1,25 triệu người [trên toàn thế giới]. Tiểu đường và mức [tiêu thụ] đường cao làm chết 3,5 triệu người mỗi năm trong khi ô nhiễm không khí làm bảy triệu người chết.”
Lý do người ta lo sợ khủng bố hơn những thứ gây chết chóc hơn rất nhiều chính là khả năng reo rắc nỗi sợ của chúng. Khủng bố hầu hết không gây hư hại gì cho đối thủ của chúng về khả năng quân sự và đó cũng không phải mục đích của chúng. Khủng bố mong muốn đối thủ phản ứng thái quá và do vậy gây ra “cơn bão chính trị và bạo lực quân sự” lớn hơn nhiều so với những gì khủng bố có thể tự chúng gây ra.
Harari nói những kẻ khủng bố không tư duy như các vị tướng quân đội mà như những nhà “biên đạo kịch”. “Giống như những kẻ khủng bố, những người chống khủng bố cũng phải suy nghĩ như các biên đạo kịch… Trên hết, nếu chúng ta muốn chống khủng bố một cách hữu hiệu, chúng ta phải nhận ra rằng không điều gì những kẻ khủng bố làm có thể đánh bại chúng ta. Chúng ta là những người duy nhất có thể đánh bại chúng ta nếu chúng ta phản ứng thái quá theo cách không đúng đối với sự khiêu khích của khủng bố.”
Điều này cũng đúng với sự khủng bố tinh thần của các chính thể cộng sản. Họ chẳng đánh đập hay bỏ tù quá nhiều người so với hàng chục triệu hay cả tỷ dân chúng, nhưng cả triệu hay ngàn triệu người dân lại có phản ứng sợ hãi thái quá và ngoan ngoãn tự biến mình thành những con cừu dễ bảo. Hy vọng hơn một phần năm nhân loại đang sống dưới các chế độ tự nhận là cộng sản sớm sử dụng ý nguyện tự do của họ trước khi thuật toán tước đoạt mất ngay cả điều được coi là thiêng liêng của loài người cho tới ngày hôm nay.
NH
Phần nhận xét hiển thị trên trang