Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

Hiền tài và sự hưng vong của đất nước

Tác giả: Tô Văn Trường
Trước hết, phải khẳng định:  Chỉ có hiền tài mới biết quý hiền tài và mới trọng dụng được hiền tài. Bởi vì nếu chỉ có đức mà không có tài thì khó đánh giá đúng tài năng của người khác. Chỉ có tài mà không có đức thì dễ ghen ghét, đố kị, không muốn ai hơn mình. (TVT)
KD: Tác giả Tô Văn Trường gửi cho bài viết này về chủ đề hiền tài. Nhưng tìm đâu người hiền tài trong cái XH tiểu nông này, XH mà “cái sân gạch nhà ông không được cao hơn cái sân gạch nhà tôi”?
Chợt nhớ câu của nhà văn Thép Mới khi ông còn sống, chứng tỏ ông rất hiểu đời, và trải nghiệm dày dạn: “Cái XH này như cái rọ cua. Con cua nào bò được lên miệng rọ, lập tức có con cua khác bò lên kéo xuống ngay”!
Có hiền tài nào đủ sức bò lên khỏi miệng rọ cua không?  😀  😀  😀
—————————  
Có một câu hỏi đang khiến rất nhiều người quan tâm :”Những gương mặt được Đại hội Đảng khóa tới chọn ra như thế nào?. Liệu được bao nhiêu người trí tuệ và bản lĩnh lên cao mà không phải chạy?. Cứ đánh giá cán bộ kiểu văn hóa tiểu nông “”thằng này ngoan, con kia biết điều” để đưa lên làm “địa chủ” nhờ cơ chế thì làm sao có được đội ngũ lãnh đạo thực tâm và thực tài.
Hiền – Tài nay cũng như xưa
Như sao buổi sớm mà chưa biết dùng
Chuyện xưa ở chốn hoàng cung
Tiểu nhân chèn lấn anh hùng…than ôi!
Gương Trần Nguyên Hãn còn soi
Vết đau Nguyễn Trãi  xưa rồi còn đau.
Hiền – Tài lặn ngụp nơi đâu
Tai… huyền- Tài vận với nhau một vần
Chuyện về hiền tài và trọng dụng hiền tài là chuyện lớn xưa nay. Ở đâu hiền tài được trọng dụng thì ở đó có hưng thịnh. Nhưng hiền tài là ai? Phải trọng dụng hiền tài như thế nào? Và làm sao để xã hội ngày càng có nhiều hiền tài giúp nước?
Theo tôi hiểu:
Hiền tài = Hiền (value, motivation) + Tài (Ability).
Hay nói cách khác, hiền tài là người có đức có tài
Người chỉ có value (giá trị trong con người) mà không  đủ trình độ và bản lĩnh thì chưa phải hiền tài để trao việc lớn. Ngược lại, người có tài mà bạc đức càng không phải hiền tài. Giao việc công cho những người này chỉ có hại.
Xưa nay trọng dụng hiền tài như thế nào? Trước hết, phải khẳng định:  Chỉ có hiền tài mới biết quý hiền tài và mới trọng dụng được hiền tài. Bởi vì nếu chỉ có đức mà không có tài thì khó đánh giá đúng tài năng của người khác. Chỉ có tài mà không có đức thì dễ ghen ghét, đố kị, không muốn ai hơn mình.
Muốn dùng được hiền tài (“dụng nhân”) thì người lãnh đạo phải  có phong cách lãnh đạo phụng sự (servant leadership), phong cách lãnh đạo khiêm nhường (humble leadership). Những người lãnh đạo mang phong cách này có tấm lòng bao dung như biển cả, coi việc trọng dụng hiền tài là một nghĩa vụ với dân tộc, quốc gia, là một chiến lược lâu dài, chứ không phải là chiến thuật nhất thời để lấy lòng người hay chỉ để thực hiện một vài nhiệm vụ khó khăn trước mắt,  xong việc thì “vắt chanh bỏ vỏ”.
Nhưng tìm hiền tài ở đâu? Vua chúa xưa thường ban chiếu cầu hiền và tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn hiền tài. Những năm mới thành lập chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nhiều lần kêu gọi người tài ra giúp nước, thậm chí còn coi việc tiến cử người tài là trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp. Tuy nhiên, cho đến nay, việc tiến cử, tuyển chọn hiền tài ở nước ta chủ yếu là qua đánh giá trong hoạt động thực tiễn.
Những lãnh đạo được tuyển chọn qua hoạt động thực tiễn là những người làm việc hiệu quả nhưng cũng còn thiếu hụt nhiều phẩm chất của nhà lãnh đạo có tầm vóc, đúng như nhận xét của nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong bài viết: ”Hãy học làm người tử tế đã” Cán bộ lãnh đạo của ta chủ yếu là cán bộ chính trị, chuyên môn, chưa được bồi dưỡng những kỹ năng của chính khách. Cần phải coi làm chính trị là một nghề, do đó phải đào tạo bài bản: từ cách ăn, cách nói, cách trả lời phỏng vấn, ra quyết định, điều khiển cuộc họp, tiến hành đàm phán…
Phải làm sao tạo dựng được “văn hoá chính khách” chứ không thể mang “văn hoá đường phố” vào chính trường được. Đáng buồn là các học viện của ta và toàn bộ nền giáo dục thường không chú trọng việc đào tạo kỹ năng cho nên toàn bộ công, viên chức của ta thiếu tính chuyên nghiệp vv…”
Ý kiến của ông Vũ Khoan cho thấy để trở thành hiền tài thật sự thì phải học. Người trưởng thành trong trường đời phải học lý luận để có tầm nhìn xa trông rộng của chính khách, học quản trị để làm tốt công việc không phải chỉ bằng kinh nghiệm rất dễ lỗi thời của mình, học kỹ năng mềm để ứng xử như một chính khách chuyên nghiệp. Người trưởng thành từ trường học càng phải học nhiều hơn. Nói cách khác, hiền tài rất hiếm khi có sẵn. Nếu chỉ đặt vấn đề soi đuốc tìm người thì chưa đủ. Đất nước muốn có hiền tài thì phải đầu tư rất nhiều công sức bồi dưỡng, đào tạo hiền tài.
Một trong những phương pháp bồi dưỡng, đào tạo hiền tài là dựa vào những tác nhân chuyển đổi (change agents), như Hồ Chí Minh đã giao trọng trách cho Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Ngụy Như Kon Tum, v.v…, đặt lên vai những nhà khoa học này sứ mệnh tác nhân tạo ra sự thay đổi trong lĩnh vực của họ. Rồi chính họ trở thành “transformational leaders” tạo ra hàng ngàn “change agents”, nâng nền khoa học sơ khai của Việt Nam lên tầm phát triển mới.
Có thể nói những nhà lãnh đạo chân chính không chỉ lo trọng dụng hiền tài mà còn phải lo đào tạo hiền tài, nhân lên được hiền tài từ một số tác nhân ban đầu, đúng như người phương Tây nói: “Leaders don’t create followers but create more leaders.” (Tạm dịch: Lãnh đạo không tạo nên những người phò tá mà tạo thêm nhiều lãnh đạo).
Người tài chỉ nảy nở và phát huy được vai trò trong môi trường mà sự khác biệt được tôn trọng và đề cao. Mọi vật đều luôn thay đổi, và lớn lên bởi phá huỷ cái cũ và thay thế bằng cái mới tốt hơn, nhờ những  “chất kích thích” vốn có từ bên trong, gọi là năng lực nội sinh (capacité endogene). Trong một quốc gia, năng lực nội sinh bắt nguồn từ những ý tưởng khác biệt được cọ xát, kiểm nghiệm trong thực tế của các tài năng. Nếu loại trừ những cái khác biệt thì năng lực nội sinh không được tăng cường. Sự vật không có đủ năng lực nội sinh thì không phát triển và cũng không hấp thụ được chi viện của ngoại lực, giống như một cây yếu bẩm sinh dù có chăm sóc tốt cũng không tốt lên được.
Ngày nay, thế giới đang bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên văn minh trí tuệ. Cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh về tài năng. Tri thức và sáng tạo là nguồn lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. “Tri thức trở thành lực lượng sản xuất”, “khoa hoc trực tiếp làm ra sản phẩm” đúng như Marx nói. Không coi trọng tài năng, không bảo đảm môi trường dân chủ để tài năng phát triển thì nói phát triển, cạnh tranh quốc tế chỉ là khẩu hiệu trên giấy. Việc đào tạo nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, phát huy nhân tài là điều kiện cần số một, tạo thể chế dân chủ là điều kiện đủ, thiếu nó thì nhân lực, tài năng chỉ còn là tiềm năng thôi.
Trong thế giới ngày nay, sáng tạo và tinh thần doanh nhân (entrepreneuship) là hai yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Cần có nhiều nhân tài khoa học và nhân tài kinh doanh quốc tế tài ba. Dân tộc ta không thua kém thông minh so với các nước, với thể chế công bằng dân chủ công khai minh bạch,  những tài năng ấy sẽ sinh sôi nảy nở. 
Nhìn ngay từ một vấn đề thời sự nóng bỏng giới cầm quyền Trung Quốc đang triển khai mục tiêu chiếm quyền kiểm soát Biển Đông, trắng trợn thôn tính chủ quyền biển đảo của Việt Nam có thể thấy sự đối phó của VN rất lúng túng do hậu quả một giai đoạn thiếu đầu tư nghiên cứu nghiêm túc, dân chủ. Đến bây giờ mà vẫn loay hoay tìm mẹo Trạng Quỳnh để đối phó với mưu ma chước quỷ thì chắc chắn sẽ để lại những hậu quả thảm hại cho đất nước, dân tộc và lịch sử.
Ngẫm suy, đất nước ta đang rất cần những hiền tài ra giúp nước. Để phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và trong dụng hiền tài, phát huy vai trò của hiền tại trong công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc, chỉ có 1 giải pháp là Dân chủ hóa xã hội – dân chủ thực sự chứ không phải là “dân chủ định hướng XHCN”.
Xin mượn lời của cố Giáo sư Hòang Tụy đáng kính, lúc sinh thời ngay từ cuối năm 2013 khi bàn về hiền tài, cách lựa chọn nhân sự lãnh đạo của nước ta, để kết thúc cho bài viết này:
Vào 10:37 Ngày 24 tháng 12 năm 2013, 
Hoang Tuy <hoangtuy1927@gmail.com> đã viết:
Anh Trường thân mến,
Tôi rất tâm đắc những ý kiến của anh. Nói thẳng ra, chuẩn bị nhân sự như cách làm của ta: lãnh đạo tự chọn người kế tiếp để đưa ra bầu thực tế là “lấy phiếu tín nhiệm” chứ không phải theo một cơ chế sàng lọc tự nhiên lành mạnh, thì xu hướng suy thoái  nhanh chóng của chất lượng đầu não lãnh đạo là KHÔNG TRÁNH  ĐƯỢC.
Nếu chất lượng lãnh đạo ở một thế hệ là A thì ở thế hệ tiếp liền theo không vượt quá tA với 0<t<1, cho nên sau k thế hệ sẽ không vượt quá  t^k A (t lũy thừa k của A). Vì t^k tiến dần rất mau tới 0, chẳng hạn với t=0,8 thì sau 2 thế hệ chất lượng đã không vượt quá 0,64 A rồi. Chính vì vậy mà từ Cách mạng Tháng 8 thế hệ đầu tiên chất lượng rất cao, nhưng đến thế hệ này thì đã tiệm cận đến … 
Nhiều người sẽ bảo đó là logic toán học máy móc. Nhưng bỏ qua các con số định lượng cụ thể, chỉ xét  định tính thì đó là logic cuộc đời. Đáng thương thay cho dân tộc ta.
Hoàng Tụy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

Nhìn Tư Chính nhớ Thành Đô


Tác giả: theo FB Trương Huy San
Bình thường hóa, kết thúc 10 năm chiến tranh Biên giới là cần thiết. Nhưng, đó phải là công việc giữa hai quốc gia (bằng các đại diện chính danh của hai nhà nước). Mơ hồ về Trung Quốc, tưởng những kẻ nuôi tham vọng Đại Hán này vẫn còn coi trọng “Ý thức hệ” là nguyên nhân sâu xa dẫn tới sai lầm ngớ ngẩn khi đề xuất “giải pháp đỏ”(làm ngay chính Hun Sen cũng giận dữ); khi nhanh nhảu xỏ chân vào 16 gông vàng… (THS)
KD: Đúng là “Tin một ly đi một dặm”. Buồn thương cho dải đất hình chữ S. Vị trí địa chính trị đặc biệt và hình như cả số phận đã khiến một QG long đong lận đận. Nhưng cái số phận ấy lại do con người  với nhận thức ấu trĩ, ngộ nhận và cả tin quyết định, đâu phải trời cao đất dày gì 😦  😦  😦
—————————  
Bình thường hóa, kết thúc 10 năm chiến tranh Biên giới là cần thiết. Nhưng, đó phải là công việc giữa hai quốc gia (bằng các đại diện chính danh của hai nhà nước). 
Mơ hồ về Trung Quốc, tưởng những kẻ nuôi tham vọng Đại Hán này vẫn còn coi trọng “Ý thức hệ” là nguyên nhân sâu xa dẫn tới sai lầm ngớ ngẩn khi đề xuất “giải pháp đỏ”(làm ngay chính Hun Sen cũng giận dữ); khi nhanh nhảu xỏ chân vào 16 gông vàng…
[Hãy nghe Lê Đức Anh nói với Giang Trạch Dân trong lần gặp đầu tiên: “Bây giờ Trung Quốc hơn một tỷ dân, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là viện trợ to lớn nhất, không thể đánh giá hết được…”]
Hơn mười năm sau đó, Bắc Kinh để yên Biển Đông, vừa vuốt ve trong các cuộc gặp cấp cao, vừa du côn trong quá trình phân giới cắm mốc; sau khi có được phần hơn ở 1509, Thác Bản Giốc, Điểm Nối Ray, Bãi Tục Lãm… chúng bắt đâu gây hấn ở Biển Đông(2006), xây căn cứ Gạc Ma và giờ đây là làm trò “xã hội đen” ở Tư Chính.
PS: Thành Đô chỉ bàn giải pháp chính trị cho CPC và bình thường hóa Trung Quốc – Việt Nam trên nền ý thức hệ chứ không bàn gì khác (tôi viết thêm vì có nhiều suy diễn không căn cứ).
Đọc tiếp bài này: 

Phút gặp riêng giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Đại tướng Lê Đức Anh viết trong hồi ký: Trước khi hội đàm, có ít phút gặp riêng giữa Tổng bí thư Giang Trạch Dân và tôi. Đồng chí Giang Trạch Dân nêu một vấn đề khá “hóc búa”.
VietNamNet giới thiệu các trích đoạn của chương 11: “Tham gia lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”  trong hồi ký “Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng” của Đại tướng Lê Đức Anh.
…Cuối tháng 7/1991, Bộ Chính trị cử tôi làm phái viên của Bộ Chính trị sang bàn bạc những vấn đề cụ thể về việc bình thường hóa quan hệ hai nước. Cùng đi với tôi có đồng chí Hồng Hà, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương. Sáng ngày 28/7, chúng tôi bắt đầu khởi hành. Trên đường đi Bắc Kinh, chúng tôi dừng chân ở Nam Ninh, thủ phủ khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây…
…Sau khi ăn cơm trưa ở Quảng Tây, chúng tôi đi máy bay lên Bắc Kinh. Ra sân bay Bắc Kinh đón chúng tôi có đồng chí Chu Lương, ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Trung Quốc, nữ đồng chí Chu Sĩ Cầm, Cục trưởng Cục 2 châu Á và một số cán bộ Ban Đối ngoại. Đồng chí Chu Lương chủ yếu giới thiệu về cải cách kinh tế của Trung Quốc những năm vừa qua. 
Phút gặp riêng giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân
Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân tiếp Đại tướng Lê Đức Anh – ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam tại Bắc Kinh, Trung Quốc tháng 7/1991. Ảnh tư liệu
Sáng hôm sau (29/7) từ 9 giờ đến 12 giờ, đồng chí Kiều Thạch, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc làm việc với chúng tôi tại Đại lễ đường. Cùng dự, về phía Trung Quốc còn có các đồng chí: Chu Lương và Chu Thiện Khanh, Trưởng và Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương; Chu Sĩ Cầm, Trịnh Quốc Tài là Cục trưởng và Phó Cục trưởng Cục 2 châu Á, Ban Đối ngoại; Trương Đức Duy, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam; Từ Đôn Tín, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Cuộc hội đàm này để chuẩn bị cho cuộc hội kiến chính thức với Tổng bí thư Giang Trạch Dân sau đó.
Sáng ngày 30/7, đồng chí Chu Thiện Khanh và một số cán bộ Ban Đối ngoại Trung Quốc đưa chúng tôi tới thăm xã Tứ Quý Thanh (tức bốn mùa xanh) ở ngoại ô Bắc Kinh. Buổi chiều, Thủ tướng Lý Bằng tiếp đoàn chúng tôi tại Tử Quang Cáo trong Trung Nam Hải.
Cuộc hội kiến chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991, phía Trung Quốc do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân làm trưởng đoàn. Trước khi hội đàm, có ít phút gặp riêng giữa Tổng bí thư Giang Trạch Dân và tôi, có hai phiên dịch của hai Ban Đối ngoại Trung ương Việt Nam và Trung Quốc. Đồng chí Giang Trạch Dân nêu một vấn đề khá “hóc búa”:
– Tới đây lãnh đạo cấp cao hai nước gặp nhau sẽ mở lại trang sử tốt đẹp quan hệ Trung – Việt. Nhưng có một vấn đề quan trọng phải bàn riêng, vì ra họp chung khó nói. Tôi ở địa phương mới lên làm Tổng bí thư. Trước chưa biết, nhưng nay nghiên cứu lịch sử mới biết Nam Sa (tức Trường Sa) là của Trung Quốc.
Nghe vậy tôi liền nói:
– Tôi cũng như đồng chí, tôi ở chiến trường mới về Trung ương, có dịp nghiên cứu lịch sử, địa lý và pháp lý thì thấy Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Bây giờ chúng ta nên cử các cơ quan chức năng nghiên cứu và xác định cụ thể.
Nghe vậy, đồng chí Giang Trạch Dân không nói gì nữa, chỉ cười thôi. Rồi ông bảo:
– Tới giờ rồi, mời đồng chí ra hội đàm!
Nói chung cuộc hội đàm đạt kết quả tốt, mọi vấn đề đặt ra đều được hai bên thỏa thuận, nhất trí. Trung Quốc cũng thấy rằng quan hệ hữu nghị với Việt Nam để phát triển là một nhu cầu của cải cách, mở cửa của họ. Họ đang có nhu cầu phát triển, ta cũng có nhu cầu bình thường hóa quan hệ để ổn định và phát triển.
Tôi còn nhớ một số đoạn trong lời phát biểu của hai trưởng đoàn tại cuộc hội đàm này. Đồng chí Tổng bí thư Giang Trạch Dân đứng dậy trịnh trọng nói:
– Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà. Hôm nay, được dịp quen biết đồng chí Lê Đức Anh – phái viên đặc biệt của Việt Nam, chúng tôi rất phấn khởi. Đồng chí đã hội đàm rất tốt với đồng chí Kiều Thạch và đồng chí Lý Bằng. Một giờ sáng nay, tôi mới ở địa phương về đến Bắc Kinh. Theo tập quán của chúng tôi, xin mời đồng chí nói trước.
Tôi đứng lên nói:
– Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí Tổng bí thư – Chủ tịch nước. Tôi biết đồng chí rất bận, nhưng vẫn dành thì giờ tiếp chúng tôi. Cảm ơn đồng chí. Chúng tôi rất phấn khởi thấy được thành tựu 10 năm cải cách của các đồng chí. Điều đó cổ vũ rất lớn đối với Đảng và nhân dân Việt Nam chúng tôi. Về công việc, chúng tôi đã thông báo kết quả Đại hội 7. Hôm qua, tôi đã nêu tất cả những ý này với đồng chí Kiều Thạch và đồng chí Lý Bằng. Hôm nay, gặp đồng chí Tổng bí thư, xin đề nghị đồng chí cho ý kiến về việc đoàn cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc sẽ được thực hiện trong năm 1991 này.
Từ nay đến khi có cuộc gặp cấp cao đó, đề nghị đồng chí Tổng bí thư chỉ đạo các ban gặp nhau trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hết, chúng tôi mời đoàn Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sang làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tôi đề nghị các đoàn thể, các hội hữu nghị Việt – Trung và Trung – Việt trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Tôi có mấy ý kiến như thế, mong đồng chí cho ý kiến.
Đồng chí Giang Trạch Dân nói:
– Hôm qua tôi đã đọc thư đồng chí Đỗ Mười gửi cho chúng tôi. Hôm nay tôi xin nói thẳng thắn. Sáng nay tôi gặp đồng chí Lý Bằng, đồng chí Kiều Thạch và nhiều đồng chí ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khác, chúng tôi đã bàn với nhau và chúng tôi hoan nghênh đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc năm nay. Tôi rất đồng ý với ý kiến của đồng chí Lê Đức Anh, các cơ quan của hai Đảng qua lại trao đổi ý kiến với nhau. Ban Đối ngoại Trung Quốc sang thăm Việt Nam trước. Hôm qua đồng chí Lý Bằng đã trao đổi ý kiến với các đồng chí rất tốt. Ý kiến chúng ta nhất trí với nhau. Tình hình thế giới bây giờ rất phức tạp. Tôi biết đồng chí Lê Đức Anh hiểu biết hơn tôi về quân sự. Đồng chí là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi là Chủ tịch Quân ủy Trung ương… Tôi giữ chức Tổng bí thư từ ngày 24/6/1989, từ đó đến nay, tôi không ngờ tình hình Đông Âu biến động và Liên Xô rối ren đến như vậy.
Chúng ta là những người cộng sản, phải thực sự cầu thị. Hiện nay chủ nghĩa xã hội đang thoái trào. Tình hình ngày nay khác tình hình khi nước chúng tôi giải phóng và khi nước các đồng chí được giải phóng. Nhưng chúng ta là những nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải khẳng định chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi. Chúng ta phải thấy đây là quá trình đấu tranh hết sức gian khổ. Cho nên chúng ta là hai nước láng giềng, hai Đảng Cộng sản cầm quyền, không có lý do gì không xây dựng quan hệ láng giềng hữu hảo với nhau.
Từ sự đột biến ở Đông Âu và qua 25 tháng tôi công tác ở Trung ương, tôi nhận thức được rằng kiên trì chủ nghĩa xã hội là rất quan trọng. Các nước phương Tây lúc nào cũng muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội khỏi trái đất này. Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đổ chính quyền Quốc dân Đảng, giành chính quyền. Chúng tôi xây dựng đất nước, không bao lâu, chúng tôi phải chống Mỹ viện Triều. Cho nên phương Tây, nhất là Mỹ qua hai lần đọ sức bằng phương thức chiến tranh, chúng không xóa được chủ nghĩa xã hội của chúng ta. Họ dùng biện pháp “diễn biến hòa bình” của Ngoại trưởng Mỹ Dulles (Đalét), để đối phó với chủ nghĩa xã hội, đối phó với bức màn sắt – như Nixon đã viết cuốn 1999 – chiến thắng không cần chiến tranh…
Đối với âm mưu lật đổ, chúng có pháp bảo: dùng chế độ đa đảng để lật đổ Đảng Cộng sản. Chúng tôi rất cảnh giác chế độ đa đảng. Về mặt này chúng tôi kiên quyết chống hoạt động đa đảng. Quả thật như thế, Yeltsin (Enxin) vừa lên làm Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nga liền thủ tiêu các cơ sở đảng ở cơ quan, xí nghiệp. Yeltsin đã từng là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô.
Nghe tin này, như người Trung Quốc nói “Xúc mục kinh tâm” – Những điều trông thấy khiến ta giật mình. Hiện nay các nước phương Tây muốn dùng chiêu bài dân chủ, tự do, nhân quyền để thực hiện “diễn biến hòa bình”. Mỗi năm chúng tôi triệu tập đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc một lần. Tôi đã dự hội nghị đó hai lần. Quan điểm của tôi là, đại hội đại biểu nhân dân là của dân, không đi theo con đường nghị viện kiểu phương Tây. Chúng tôi cũng có tám đảng nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không cho phép có đảng đối lập… Chúng tôi bây giờ hết sức cảnh giác với tư tưởng luân phiên nắm chính quyền. Điều đáng sợ không phải là có tồn tại hay không tồn tại vấn đề đó mà là ở chỗ Đảng có kiên quyết chống tư tưởng đó, có cảnh giác với âm mưu đó hay không. Nếu biết cảnh giác, có biện pháp, thì không sợ gì cả…
Tôi nhận thức được quân đội nhân dân phải tuyệt đối đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là cây súng, hình thái ý thức là cây bút. Với tư cách quân đội, đồng chí Lê Đức Anh lâu năm hơn tôi. Tôi vừa đi hơn 20 tỉnh và thành phố trong tổng số 30 tỉnh, thành. Tôi đã đi 18 quân khu. Trước đây tôi chưa được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Sau khi được bầu tôi thường xuyên đi thăm các quân khu. Đồng chí Lê Đức Anh hiểu tầm quan trọng của cây súng hơn tôi. Cây bút cũng rất quan trọng.
Về tuyên truyền quả thật phải không ngừng cải tiến phương pháp tuyên truyền. Mục đích của tuyên truyền là đi sâu vào lòng người. Nếu ta chỉ theo cách cũ cứng nhắc là không được. Tuyên truyền phải sống động, hoạt bát, không thế sẽ không có kết quả tốt. Về phương thức, về công tác tư tưởng, phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Hiện nay ti vi rất phổ biến ở thành phố. Hằng ngày dân chúng cứ nghe, nhìn, rồi qua tai, mắt, nếu chúng ta không có năng lực phân tích thì dân chúng sẽ hấp thụ những điều dở…
Chúng ta chống tư sản không chỉ chống văn hóa màu vàng. Phải chống cả tự do hóa tư sản. Đứng về góc độ phiên dịch chắc khó diễn đạt hết hàm ý của nội dung này. Nội dung chống này bao gồm việc chống lại tất cả những tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội, chống những sự thối tha đồi trụy của tư sản.
Còn đối với những kỹ thuật tiên tiến, cách quản lý khoa học, văn hóa ưu tú của tư sản chúng ta lại phải học tập. Chúng tôi có chuyển hướng cải cách mở cửa, khuyến khích nước ngoài đầu tư nhưng phải tôn trọng pháp luật… Trên đây tôi đã giới thiệu tóm tắt nhận thức của cá nhân. Tôi tin rằng chuyến đi thăm của đồng chí thúc đẩy việc tiến tới bình thường hóa quan hệ hai Đảng, hai nước. Qua đồng chí, xin gửi lời thăm tốt đẹp tới đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí. Hôm nay là bước mở đầu tốt đẹp của chúng ta.
Cuộc đàm đạo được nối tiếp trong buổi chiêu đãi ngay tối hôm đó tại Trung Nam Hải. Đồng chí Giang Trạch Dân nói tiếp:
– Fucik (Phu xích) viết trong tác phẩm Viết dưới giá treo cổ có một câu nói tôi mãi mãi không quên: “Nhân dân ơi! Tôi yêu nhân dân, nhưng nhân dân đừng quên cảnh giác!”. Ý này rất hay, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác. Tôi hiểu rằng kinh nghiệm của đồng chí Lê Đức Anh rất phong phú. Các nước phương Tây bắt đầu tính toán đến vấn đề rất nghiêm trọng đối với chúng ta là vấn đề giáo dục thanh niên. Thanh niên dễ tiếp thu văn minh phương Tây. Tiếp thu kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của phương Tây, chúng ta không phản đối. Tôi thường xuyên có quan điểm tiếp thu những văn hóa ưu tú phương Tây. Nhưng phải làm cho thanh niên thấy nhân dân ta đã từng bị áp bức của các cường quốc…
Bắt đầu từ năm nay, chương trình giáo dục cấp I của chúng tôi có phần giáo dục tình hình đất nước, có phần lịch sử cận đại, vì thế hệ chúng tôi sớm muộn cũng đi gặp Các Mác, nên chính quyền sau này rơi vào tay ai không thể không suy nghĩ. Tôi xin nói thẳng với đồng chí và nói nhiều vì lần đầu gặp đồng chí nhưng cảm thấy như người bạn lâu năm.
Tôi nói:
– Khi ở chiến trường, tôi thấy rõ sự giúp đỡ của Trung Quốc. Tất nhiên có cả Liên Xô. Sự giúp đỡ của Trung Quốc cụ thể, thiết thực như: súng B40, lương khô, mũ cối, giày, dép, quần áo, thuốc xoa chống muỗi, chống vắt, v.v., rồi giúp cả tiền chuyển vào chiến trường để mua gạo… Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đồng chí đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam.
– Đó là việc cần làm – Đồng chí Giang Trạch Dân nói.
– Bây giờ Trung Quốc hơn một tỷ dân, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là viện trợ to lớn nhất, không thể đánh giá hết được – Tôi nói.
– Tôi nghe thông báo về Đại hội 7, thấy các đồng chí kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, tự đáy lòng tôi thấy rất phấn khởi – Đồng chí Giang Trạch Dân nói.
– Về quốc tế, đồng chí nói gọn, đủ, tôi rất phấn khởi trước lập trường quan điểm của đồng chí, điều đó làm tăng niềm tin ở tương lai xã hội chủ nghĩa đối với chúng tôi. Trong thời điểm này, Trung Quốc đóng vai trò cực kỳ to lớn trước sự tồn vong, còn hay mất của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Đó là nhận thức sâu sắc của chúng tôi. Về phía Việt Nam, chúng tôi kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên không cần lập mặt trận chống ai, nhưng Trung Quốc ổn định, vững, là niềm cổ vũ lớn cho phong trào cộng sản quốc tế – Tôi nói.
– Quan hệ quốc tế với quốc gia, chúng tôi theo năm nguyên tắc chung sống hòa bình, mấu chốt nhất là không can thiệp vào nội bộ của nhau. Còn giải quyết quan hệ Đảng với Đảng, chúng tôi theo bốn nguyên tắc, mấu chốt cũng là không can thiệp vào nội bộ nhau. Người ta ai cũng mong muốn người trong họ hàng của mình tốt lên. Láng giềng cũng muốn láng giềng của mình tốt hơn. Như tôi đã nói, trước tình hình quốc tế hiện nay, chủ nghĩa xã hội đang thoái trào, những nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền không còn bao nhiêu, nên tôi hết sức tán thưởng đường lối Đại hội 7 của Việt Nam… Đối với chúng ta phải kiên trì sự lãnh đạo của Đảng. Trong kinh tế, sở hữu nhiều thành phần nhưng phải lấy công hữu làm cơ sở. Đó là những điều tâm huyết của tôi. Lần đầu tiên được gặp đồng chí, tôi rất thú vị – Đồng chí Giang Trạch Dân nói.
Phút gặp riêng giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân
Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh
– Lần đầu tiên được gặp đồng chí Tổng bí thư Giang Trạch Dân, tôi thấy rất thân tình. Những lời từ đáy lòng đồng chí nói ra được thể hiện cụ thể ở những nơi tôi đến tham quan: xã Tứ Quý Thanh, công ty gang thép Thủ Đô,… – Tôi nói.
– Đồng chí lớn tuổi hơn tôi, làm việc lâu năm hơn tôi, kinh nghiệm phong phú hơn tôi – Đồng chí Giang Trạch Dân nói.
– Chúng tôi ở nước nhỏ, tầm nhìn hạn chế trong phạm vi độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia – Tôi khiêm tốn nói.
Đồng chí Giang Trạch Dân cười, vui vẻ nói:
– Trung Quốc có câu nói “Con chim chích tuy nhỏ, nhưng gan mật đều có”. Tôi chủ trương bố trí cho cán bộ công tác cơ sở rồi mới điều lên trên, như vậy mới tốt… Chúng tôi phải quyết tâm phát triển kinh tế. Nhưng điều đó hoàn toàn không phải do một mình chúng tôi quyết định được. Chúng tôi phải hết sức cố gắng. Trời không chiều ý người nên chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, như thế tốt hơn chỉ nghĩ tới một mặt.
Tối hôm nay, tôi rất phấn khởi được làm quen và được tâm sự nhiều với đồng chí, một lần lạ, lần sau quen. Chuyến đi của đồng chí là một chuyến đi tốt, “bon voyage” – Đồng chí Giang Trạch Dân nói tiếng Pháp.
Chúng tôi trở về Việt Nam. Ngày 3/8/1991, tại cuộc họp Bộ Chính trị, sau khi tôi báo cáo kết quả chuyến đi Trung Quốc, các thành viên dự họp phát biểu sôi nổi và thống nhất đánh giá chuyến đi đạt kết quả tốt và nhất trí mấy việc cần làm là:
– Thông báo kết quả chuyến đi này với Lào và Campuchia. Thông báo về chuyến đi trong nội bộ Đảng và báo cáo với Quốc hội.
– Triển khai các công việc cần thiết trước mắt, nhất là các cơ quan chức năng như Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Thủ tướng Chính phủ để xúc tiến các bước trong tiến trình thực hiện bình thường hóa quan hệ Việt – Trung.
Tiếp đó là những cuộc tiếp xúc, trao đổi giữa hai Ban Đối ngoại Trung ương của hai Đảng, giữa Bộ Ngoại giao hai nước và giữa Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm với Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy.
Tháng 11/1991, nhận lời mời của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc Lý Bằng, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 5 đến 10. Sau lễ đón tiếp và hội đàm, hai bên ra Thông cáo chung và ký Hiệp định chính thức bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Trung – Việt trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình, đồng thời ký kết quan hệ bình thường giữa hai Đảng, mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn 10 năm trắc trở.
Lời hứa của Tướng Lê Đức Anh ở Trường Sa lớn

Lời hứa của Tướng Lê Đức Anh ở Trường Sa lớn

Năm 1988, trong chuyến thị sát tại quần đảo Trường Sa, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Quốc phòng đã ….
—————-


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chùm ảnh giương băng rôn trước Đại sứ quán Trung Cộng


Blog Tễu - 11h00 sáng nay, 6/8/2019, trước cửa Đại sứ quán Trung Cộng tại Hà Nội đã nổ ra cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng xâm lược Bãi Tư Chính của Việt Nam. Mặc dù Việt Cộng đã dùng đủ mọi kiểu giao thiệp mà bọn Trung Cộng vẫn chưa chịu rút. Chùm ảnh do các anh chị cảm tử đến trước hang ổ của Cộng sản Trung Quốc tại Hà Nội để chửi bọn cướp nước vừa biểu tình vừa chụp. Được ít phút thì có bọn sai nha kéo đến giải tán vì sợ làm mất lòng bạn vàng khè 16 chữ của nó.








Nguồn: FB Lê Hoàng - Thảo Terexa - Reuters - và các FB



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

‘Chúng ta không thể mất biển, mất đảo được’




(TuầnVietnam 05/08/2019) Đại sứ Nguyễn Trường Giang, người đã dành hơn 10 năm nghiên cứu về tình hình biển, đảo, chia sẻ những suy nghĩ của mình về những diễn biến quanh Bãi Tư Chính. Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu.

Hiện nay chúng ta đang đứng ở thời điểm lịch sử vô cùng quan trọng của dân tộc. Vì sao ? Vì chúng ta đang đối mặt với một cuộc xâm lược căn cứ theo các tiêu chí, định nghĩa của Liên Hiệp Quốc mà Đại hội đồng Liên Hiệp quốc thông qua năm 1974. Chúng ta phải kết luận rằng, chúng ta đang đối mặt với một cuộc xâm lược trên biển lớn nhất trong lịch sử nhân loại (trên đất liền thì có nhiều cuộc xâm lược lớn hơn).

Luận điểm này chúng ta phải ghi nhớ. Những gì đang diễn ra quanh Bãi Tư Chính chứng minh quá rõ ràng điều đó. Tại sao nó là thời điểm quan trọng trong lịch sử? Vì thời điểm này quyết định biển mất hay biển còn, nước mất hay nước còn. Thời điểm này quyết định chúng ta sẽ là quốc gia yếu ớt hay là quốc gia bản lĩnh, hùng cường.

Những diễn biến quanh Bãi Tư Chính là thời khắc rất quan trọng trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền của chúng ta. Tôi cho rằng đây là cuộc chiến chiến lược, giống như Điện Biên Phủ năm 1954, như trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972. Nó quyết định bước ngoặt trong cuộc đấu tranh trên biển của chúng ta. Nó có tính chất hết sức chiến lược, kết quả của nó sẽquyết định tương lai của dân tộc Việt Nam.

Chúng ta đang đứng trước một lựa chọn rất khốc liệt. Có một vài người cho rằng: trời ơi, chúng ta làm sao có đủ tiềm lực để giữ được biển đảo; chúng ta phải duy trì hòa bình, ổn định vì có hòa bình, ổn định mới có thể phát triển. Hôm nọ tôi kinh ngạc xem một clip nói rằng, chúng ta không có đủ tiềm năng để chiến đấu, rằng nếu có mất một ít biển đảo thì cũng không tác động lớn đến chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Tôi thật sự kinh ngạc khi nghe có người cho rằng, họ mạnh ta yếu, ta chống giữ thế nào; rằng mấy hòn đảo xa xôi ngoài kia làm sao mà ta phải chiến đấu, bảo vệ đến cùng vì như thế có thể dẫn đến chiến tranh, làm sao có hòa bình, ổn định.

Xin thưa, nếu nước không còn, nếu biển không còn, còn đâu là hòa bình, còn đâu là ổn định. Đó là chân lý đơn giản.

Trong thời điểm lịch sử này, là chúng ta phải đối diện với sự lựa chọn: chúng ta có để mất Bãi Tư Chính hay không? Liệu có một Scarborough 2012 hay không? Chính hôm nay, chúng ta phải quyết định.

Qua vụ Bãi Tư Chính này, chúng ta nhận rõ hơn dã tâm của họ quyết tâm biến Biển Đông thành ao nhà của mình.

Vậy người Việt Nam có lựa chọn như thế nào? Chúng ta có lựa chọn phải xin phép họ để đến tiếp tế cho các chiến sĩ của chúng ta trên đảo hay không? Chúng ta có chấp nhận không? Chúng ta có chấp nhận chúng ta là một dân tộc hèn yếu hay không? Chúng ta có chấp nhận chúng ta mất phẩm giá quốc gia hay không? Lúc này là lúc lựa chọn.

Tôi cho rằng, tuyệt đại đa số người Việt Nam lựa chọn phải giữ được biển, phải giữ được nước. Chúng ta phải lựa chọn xây dựng được đất nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng để không một quốc gia, dù hùng mạnh đến đâu, có thể bắt nạt chúng ta, có thể xúc phạm phẩm giá quốc gia của chúng ta, có thể xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta, có thể xâm phạm vùng biển của chúng ta !

Trên thế giới này, có 10 quốc gia mà không một ai có thể và dám xúc phạm đến họ; Việt Nam chúng ta nằm trong số đó. Nhưng phẩm giá quốc gia đang bị thách thức, làm sao chúng ta có thể chấp nhận ở ngay trên vùng biển của chúng ta mà lực lượng chấp pháp của chúng ta bị xua đuổi ?

Đại sứ Nguyễn Trường Giang: ‘Chúng ta không thể mất biển, mất đảo được’
Chúng ta phải giữ bằng được Bãi Tư Chính !

Thứ nhất là nhận diện về Bãi Tư Chính. Nếu chúng ta không nhận diện đây là cuộc xâm lược, thì có người sẵn sàng nói, chã nhẽ vì nó mà chiến tranh. Nhận thức là rất quan trọng.

Thứ hai là lý trí. Lúc này là lúc họ áp dụng chiến thuật dưới mức chiến tranh triệt để, đặc biệt khi họ đang trải qua cuộc chiến tranh thương mại. Nếu họ bắn một phát súng, chắc chắn họ sẽ dẫn đến cuộc suy vong. Giấc mộng của họ chắc chắn sẽ bị chôn vùi dưới đáy biển này. Không chỉ các nước trong khu vực, rất nhiều nước khác đang chờ đợi cơ hội này để đánh con hổ đang trỗi dậy sụp xuống. Rất nhiều quốc gia đang chờ đợi thời điểm đó. Vì thế, chúng ta phải đủ mạnh mẽ, đủ tỉnh táo. Họ sử dụng chính sách dưới ngưỡng chiến tranh, sử dụng chiến thuật vùng xám, gần miệng hố chiến tranh để mọi người sợ hãi. Tuy nhiên, sẽ có xung đột, va chạm dữ dội. Đó là cuộc đấu tâm lý. Nếu chúng ta chuẩn bị cho chiến tranh, chúng ta sẽ có hòa bình. Đó là binh pháp Tôn Tử.

Có thể có người nói, nhận xét của tôi có chút cực đoan. Tôi nói, niềm tin là cực kỳ quan trọng. Nếu chúng ta tin rằng, chúng ta giữ được biển, giữ được Bãi Tư Chính, chúng ta sẽ giữ được. Niềm tin là vô cùng quan trọng, là cơ sở giúp chúng ta có đủ sức mạnh để giữ biển đảo.

Mà biển là của mình, đảo là của mình, chúng ta không có sức mạnh nào cũng giữ được. Có nhiều người đang nhầm lẫn về thời đại chúng ta đang sống. Thời đại này khác các thời kỳ trung cổ. Làm sao cứ so sánh họ mạnh, ta yếu. Xin lỗi, đó là sự so sánh ngu xuẩn. Tôi xin thưa, đây không phải là thời kỳ trung cổ. Thời đại của chúng ta đang sống là thời đại của thế kỷ 21; trật tự an ninh đã được xác lập sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai vẫn đang tồn tại; hệ thống luật pháp quốc tế vẫn đang tồn tại; 99% cam kết quốc tế vẫn đang được thực hiện nghiêm chỉnh.

Đúng là ngày nay, các nước vẫn sử dụng vũ lực, nhưng phải có cớ mới sử dụng vũ lực được. Cái cớ của họ là gì? Bãi Tư Chính là của họ? Chúng ta là kẻ cướp biển, cướp đảo của họ? Họ chứng minh được việc này thì họ mới có thể bắn. Nhưng làm sao họ chứng minh được ! Họ không thể chứng minh được!

Tôi cho rằng, trong bất kỳ tình huống nào chúng ta cũng ngăn được các giàn khoan của họ vào vùng biển của chúng ta. Lý do là chưa một quốc gia nào trên thế giới này làm được việc đó. Nếu làm được thì người Mỹ, người Nhật đã chiếm sạch biển của thế giới rồi. Không một ai có thể dùng vũ lực để chiếm biển cả.

Tôi cho rằng, chúng ta không thể nào đánh mất biển được. Tôi đã nói điều này 10 năm nay rồi. Chúng ta không có lý do gì đánh mất biển, mất đảo.

Chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý khách quan, thuyết phục để bác bỏ chủ quyền của họ ở Hoàng Sa, Trường Sa, đường lưỡi bò. Đây là công cụ vô cùng quan trọng, là niềm tin quan trọng. Nhất định chúng ta giữ được.

Câu chuyện lòng dân là cực kỳ quan trọng. Nếu Biển Đông nằm trong trái tim của mỗi người Việt Nam, Biển Đông không bao giờ mất được. Nếu chúng ta dửng dưng, vô cảm, không quan tâm đến biển thì khả năng giữ là khó. Lòng dân quyết định tất cả. Chúng ta phải có được đoàn kết dân tộc, 96 triệu người như một, chúng ta sẽ giữ được biển bảo.

Tuy nhiên, chúng ta phải chuẩn bị những phương án cần thiết nhất, không chỉ đơn giản là gửi công hàm hay tiếp xúc… Sức mạnh của chúng ta lớn lắm, danh tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam lớn tương đương 50 sư đoàn được trang bị hiện đại nhất. Nhiều nhà ngoại giao ở Liên Hiệp Quốc đã nói với tôi như vậy, họ kính nể Việt Nam.

Tuy nhiên, truyền thông của chúng ta về vụ việc này còn hơi khiêm tốn. Cần tuyên truyền rộng rãi hơn nữa để thấy, nếu họ đưa một chân sói vào được vùng biển của chúng ta, họ sẽ đưa tiếp chân sói thứ hai, chân sói thứ ba… từ đó chúng ta sẽ mất khu vực phòng ngự chiến lược trong vùng biển của chúng ta.

Cuối cùng, thái độ nhân nhượng là không ăn thua, giữ đại cục không ăn thua. Chúng ta từng nhũn nhặn, nhân nhượng nhưng không có tác dụng, dẫn đến những diễn biến quanh Bãi Tư Chính ngày nay. Chúng ta phải có lòng tin, sự quyết tâm vì bất kỳ sự nhân nhượng nào sẽ không dẫn đến hòa bình.

Phần nhận xét hiển thị trên trang