Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

Lịch sử nào?




Gã hơi choáng khi đọc thông báo 70% học sinh thi tốt nghiệp phổ thông môn lịch sử đểm dưới trung bình.

Gã lật coi xem câu hỏi thế nào mà trò vướng điểm dốt thế. 

Gã đọc hết 40 câu hỏi thi trắc nghiệm xong thì thở phào nhẹ cả tâm lẫn can. Vẫn còn hy vọng ở bọn trẻ tuổi 18 của đất nước gã lắm. Chúng chưa có biểu hiện chứng minh dốt sử nước nhà từ thuở Bách Việt, từ thuở Hai Bà rồi Triệu, Đinh, Lý Trần, Lê... Vì 40 câu hỏi mà chúng phải trả lời đáp án đúng, chả có câu nào liên quan tới lịch sử lâu đời của đất nước cả, mà hầu hết liên quan đến lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam.

Thôi dốt sử ấy thì tạm ... tha, vì đảng chỉ là đảng nhất thời dù có thành tích đến đâu chứ không phải là Nước, không phải là Dân tộc. Chả vỡ cái... lu nào, nói theo cách nói thời thượng hôm nay.

Gã ngó thấy thực tế nhiều tiến sĩ, giáo sư và chính khách giỏi sử ấy mà có hiểu được sức mạnh của Dân tộc Việt Nam này từ mấy ngàn năm nay là gì đâu.

Thông sử mà không hiểu sức mạnh của Dân tộc là gì, để gắn kết Dân tộc để tạo nên một Quốc gia hùng cường, thì chỉ giỏi làm xiếc lăn...lu nát hết cả cỏ hoa của Đất nước mà thôi.

LƯU TRỌNG VĂN 14.07.2019

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo Pháp nói về tâm bệnh lớn nhất của Tập Cận Bình


Mới đây ông Tập Cận Bình đã hô hào đối với quan trường, cảnh cáo các quan chức của ĐCSTQ không nên làm 4 loại quan xấu: hôn quan, lãn quan, dung quan, tham quan; càng không được lấy chống tham nhũng làm cớ không gánh vác trách nhiệm, không làm gì. Truyền thông ngoài Trung Quốc phân tích, chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình không loại bỏ được gốc rễ, khiến cho quan trường ĐCSTQ hình thành cục diện “tham quan diệt không sạch, xuân về lại sinh sôi”. Hiện nay, tham quan đang dần phát triển theo chiều sâu và quan chức ‘lãn chính’ (lười nhác, trái với ‘cần chính’) đã trở thành tâm bệnh lớn nhất của Tập Cận Bình. 
Chinese President Xi Jinping speaks during a meeting with Turkish President Recep Tayyip Erdogan (not seen) at the Great Hall of the People on July 2, 2019 in Beijing, China. (Photo by Mark Schiefelbein - Pool/Getty Images)
Quan chức ĐCSTQ hai lòng với Tập Cận Bình
Chiến tranh thương mại vẫn chưa biết khi nào dừng lại, Hồng Kông lại dấy lên làn sóng phản đối dự luật dẫn độ, khiến cao tầng Bắc Kinh lo lắng loạn trong giặc ngoài, bị công kích nặng nề. Tại cuộc họp cấp cao của ĐCSTQ mấy mới đây, ông Tập Tập Cận Bình đã liên tiếp nêu ra 6 “biến”, bao gồm tình thế đang biến đổi, nhiệm vụ đang biến đổi, yêu cầu công tác cũng biến đổi, cần phải nhận thức chính xác biến đổi, ứng biến một cách khoa học, chủ động theo sát biến đổi. Sau đó, lại tiếp tục cảnh báo cao tầng Trung Nam Hải: tuyệt đối không làm 4 loại quan xấu. Có phân tích cho rằng, ông Tập Cận Bình liên tiếp đưa ra cảnh báo, cho thấy hiện nay Bắc Kinh thực sự đang đối mặt với tình thế không tốt.
Bài bình luận hôm 11/7 trên Đài phát thanh quốc tế Pháp (RFI) nói, những thứ mà ông Tập Cận Bình cần ứng biến có rất nhiều, nhưng, ứng biến lớn nhất vẫn là không thể để loạn từ bên trong, nhất là các cơ cấu hạt nhân. Việc ông Tập liên tiếp rung hồi chuông cảnh báo, thực tế chính là đang cảnh báo toàn đảng, không nên có hai lòng với ‘Tập hạt nhân’.
Trước đó, học giả chính trị và kinh tế Trình Hiểu Nông chia sẻ với Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) rằng, rủi ro mà ông Tập Cận Bình thực sự sợ chính là ở bên trong đảng, quan chức ĐCSTQ hai lòng đối với chiến dịch chống tham nhũng, xuất hiện tình hiện tượng rỉ tai nhau gièm pha, chê bai và làm việc thì tiêu cực và biếng nhác. Một số quan chức hoài niệm về thời đại Giang Trạch Dân “dùng tham nhũng hủ bại đổi lấy sự hợp tác”, và họ tìm mọi cách chống lại phương thức “dùng chống tham nhũng để ép hợp tác” của ông Tập Cận Bình.
Ông Trình Hiểu Nông cho biết, “trong ĐCSTQ có 3 loại người khiến ông Tập Cận Bình khó ngủ ngon: Một là đứng ‘xem hài kịch’, nhìn xem trung ương làm thế nào, họ cho rằng ông [Tập Cận Bình] dù sao cũng làm không tốt, và chúng tôi cũng không quan tâm;  hai là không làm gì, ít làm thì ít sai, ngồi yên không làm gì, ai cũng không thể nắm được điểm yếu của mình. Hy vọng ông Tập làm sự việc rối loạn lên, sau đó các quan chức sẽ vẫn hủ bại như cũ, tiếp tục bòn rút tiền và chuyển ra nước ngoài; ba là làm bừa, bên trên hô Đông, họ lại đến đằng Đông làm ầm ĩ một phen. Bên trên hô Tây, họ lại chuyển đến đằng Tây làm ầm ĩ một phen, còn về việc liệu có lợi ích với kinh tế hay không thì khỏi phải nói. Dù sao bên trên nói rồi, tôi cũng đã làm rồi, còn kết quả thế nào thì tôi không quan tâm.” Còn trong lòng ông Tập Cận Bình cũng đã hiểu rõ tình trạng quan chức không đồng lòng, không đoàn kết hiện nay.
Chống tham nhũng không diệt gốc rễ, tham quan diệt không tận
RFI cho rằng, hiện tại ông Tập Cận Bình đang đối mặt với vấn đề vô cùng nghiêm trọng, tức là quan chức không làm gì.
Tại hội nghị của cơ quan quốc gia hôm 9/7, ông Tập Cận Bình đã cảnh cáo quan chức, tuyệt đối không thể lấy chống tham nhũng làm cái cớ để không gánh vác trách nhiệm, không có hành động gì. Không làm hôn quan tê liệt chính trị, làm việc hồ đồ; không làm lãn quan (quan chức lười nhác) ăn không ngồi rồi không biết làm gì, không làm dung (công chức bình thường không có gì nổi bật) quan né tránh tranh luận, không biết tiến thủ, không làm tham quan dùng quyền lực mưu cầu tư lợi, thoái hoá biến chất.
Bài viết chỉ ra, cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân khuyến khích “im lặng phát đại tài”, từ đó tình trạng tham nhũng hủ bại trong quan trường ĐCSTQ bắt đầu bén rễ nảy mầm, và sinh sôi nhanh chóng, không có quan chức nào không tham nhũng, tham nhũng hủ bại đã trở thành môi trường chung. Trong khi 5 năm chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình, mặc dù đã loại bỏ được một lô tham quan, nhưng chống tham nhũng vẫn chưa trừ tận gốc rễ, “tổng quản tham nhũng” Giang Trạch Dân vẫn chưa bị bắt, kết quả trong quan trường của ĐCSTQ đã hình thành cục diện “tham quan không diệt tận, xuân về lại sinh sôi”.
Bầu không khí “ngày tận thế” bao trùm quan trường
Hiện nay, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và sự oán hận trong người dân đang sôi sục, khiến cho ĐCSTQ khó khăn cả trong lẫn ngoài, và bầu không khí ngày tận thế bao trùm quan trường ĐCSTQ, sự biếng nhác chính vụ (chỉ công tác quản lý nhà nước) đã đến mức độ chưa từng có,
Truyền thông tại Trung Quốc Đại lục tiết lộ, quan chức ĐCSTQ xuất hiện dòng chảy ngầm “không có lý tưởng”, nhiều người bản thân ở tuyến đầu có có “tâm lý nghỉ hưu”. Quan chức bị phơi bày trong thời gian làm việc lại đánh bạc, hút ma tuý, chơi trò chơi, mua sắm trên mạng, xem phim khiêu dâm, thậm chí là thông gian, v.v.
Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường đã nhiều lần “phát hoả” vì “mệnh lệnh không ra khỏi Trung Nam Hải” và quan chức lười nhác, thậm chí từng dùng tách trà mà đập bàn. Quan chức lười nhác trở thành nguy cơ khác của chính quyền không ĐCSTQ.
Không ít quan điểm cho rằng, xã hội Trung Quốc hiện nay không khác gì so với thời kỳ cuối của bất cứ triều đại nào trong lịch sử. Truyền thông ngoài Trung Quốc cho biết, từ cao tầng của ĐCSTQ tới trường đảng trung ương của ĐCSTQ, từ lâu đã suy nghĩ tới chính quyền ĐCSTQ đối mặt với vấn đề kết thúc.
Một giáo sư trường đảng trung ương không muốn tiết lộ danh tính nói với tờ Financial Times rằng, người dân Trung Quốc đang hỏi rằng bao giờ ĐCSTQ sụp đổ, nhưng rất khó trả lời câu hỏi này.
Ông Tập Cận Bình cũng từng nhiều lần đưa ra cảnh báo tại các cuộc họp của Bộ Chính trị, ĐCSTQ đang đối mặt với thời khắc quan trọng liên quan đến sinh tử tồn vong, “một số nơi, sự oán hận của người dân lên đến điểm sôi, và sự phẫn nộ đang tiệm cận giới điểm”, “mất lòng dân là mất đảng”.
Đài VOA từng trích dẫn lời của học giả Trung Quốc cho biết, “quan chức tham nhũng của Trung Quốc quen mua tài sản nhà, đất đai tại Mỹ và các nước phương Tây, chuyển ‘mồ hôi nước mắt của người dân’ mà họ đánh cắp được ra nước ngoài … họ đang bố trí mọi việc trước khi chìm tàu …”.
Nhiều quan điểm cho rằng, hiện tại, nguồn gốc của nhiều hiện tượng rối loạn ở Trung Quốc Đại lục chính là độc đảng chuyên chính, người chấp chính muốn giải quyết mọi thứ này, ắt phải từ bỏ ĐCSTQ.
Trí Đạt ? Trithucvn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái chết Đen: Đại dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại


Bùng phát trong một khoảng thời gian ngắn, đại dịch Cái chết Đen đã cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người trong thế kỷ 14, tương đương với 60% toàn bộ dân số châu Âu, khiến nó trở thành một trong những nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất đeo bám nhân loại dai dẳng.
Lây theo cấp số nhân
Cái chết Đen lây lan ở châu Âu trong những năm từ 1346 – 1353. Tuy nhiên, cái tên nghe rợn tóc gáy này chỉ xuất hiện vài thế kỷ sau đó. Cái chết Đen (atra mors) trên thực tế là một cụm từ cổ trong tiếng Hy Lạp và được sử dụng trong tiếng Latin cổ điển. Nó vốn được dùng trong thơ ca để biểu thị sự đen tối và sợ hãi liên quan đến cái chết chứ không chỉ riêng một loại bệnh nào.
Lần đầu tiên cụm từ “atra mors” được sử dụng để ám chỉ dịch bệnh này là vào năm 1631 trong một cuốn sách về lịch sử Đan Mạch của J.I. Pontanus. Cái tên sau đó được sử dụng rộng rãi ở vùng Bắc Âu và tiếp đến là Đức, dần dần nó được gắn liền với đại dịch chết chóc này. Ở Anh, mãi đến năm 1823 thì đại dịch trung cổ mới lần đầu tiên được gọi là Cái chết Đen.
Biểu hiện của bệnh là hạch nổi khắp cơ thể. Khi những mạch máu trong các hạch bị vỡ, máu khô lại và biến thành những cục màu đen cản trở sự lưu thông máu. Hiện tượng chảy máu trong cũng xuất hiện ở các cơ quan nội tạng như gan, phổi và dẫn đến tử vong. Bệnh có thể lây từ người này sang người khác qua đường hô hấp và dịch đường hô hấp.
Các ghi chép lịch sử và cả thư từ thời kỳ đó đã khắc họa nỗi khiếp sợ do dịch bệnh này gây ra. Người ta không thể làm gì khác ngoài việc đem các thi thể đi chôn. Ở mỗi một nhà thờ, họ đào những hố sâu tới mặt nước ngầm. Những người nghèo bị chết trong đêm sẽ được bọc lại nhanh chóng và quăng xuống hố. Sáng hôm sau khi hàng loạt thi thể đã được chất đống bên trong hố, người ta phủ một lớp đất bên trên các thi thể sau đó lại đặt các thi thể khác lên rồi lại xúc đất đổ vào, cứ như thể đang làm một chiếc bánh kẹp lasagne với nhiều lớp patê và pho mát.
Cái chết Đen là một loại bệnh dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra và lây lan thông qua các loài gặm nhấm sinh sống thành từng bầy với số lượng lớn. Một khu vực như vậy được gọi là “ổ dịch”. Dịch bệnh ở người xuất hiện khi những động vật gặm nhấm trong nơi ở của người, thường là chuột đen, bắt đầu nhiễm bệnh. Chuột đen rất thích sống gần người và đó chính là mối hiểm họa bởi các loài chuột nâu hay chuột xám lại hay tránh xa con người, sống trong ống cống hay nhà kho.
Thông thường, sẽ mất từ 10 – 14 ngày trước khi dịch bệnh giết chết gần như toàn bộ bầy chuột bị nhiễm bệnh, khiến vô số những con bọ chét không thể bám hết vào vật chủ mới vốn là những con chuột khác trong bầy (cũng sẽ sớm chết không lâu sau đó). Sau 3 ngày “rỗng bụng”, những con bọ chét khát máu này sẽ chuyển sang cắn người. Từ vết cắn, vi khuẩn lây nhiễm đến hạch bạch huyết, khiến nó sưng lên thành chứng sưng bạch hạch gây căng cứng và đau đớn, chủ yếu nổi lên ở bẹn, nách hoặc cổ.
Thời gian ủ bệnh từ lúc bị cắn là 3 – 5 ngày trước khi bệnh nhân bị ốm, và có tới 80% số ca nhiễm bệnh tử vong trong 3 – 5 ngày tiếp theo. Do đó, từ khi có chuột nhiễm bệnh xuất hiện trong một cộng đồng người thì trung bình sau khoảng 23 ngày sẽ có người đầu tiên trong cộng đồng đó tử vong.
Ví dụ, khi một người lạ có tên Andrew Hobson chết do bệnh dịch hạch khi đến Penrith (Anh) vào năm 1597, ca nhiễm bệnh tiếp theo xuất hiện 22 ngày sau đó, tương ứng với giai đoạn đầu tiên của quá trình bùng phát bệnh dịch. Và tất nhiên Hobson không phải là người duy nhất từ một thị trấn hay khu vực bị dịch hạch hoành hành đi đến nhiều cộng đồng khác nhau trong vùng mang theo những con bọ chét nhiễm bệnh trên quần áo và hành lý của mình. Sự lây lan kiểu này gọi là lây lan theo “cấp số nhân” hay “di căn”. Bởi vậy, bệnh dịch hạch sớm nổ ra ở những trung tâm đô thị hay vùng nông thôn khác, từ đó nó lại lan truyền đến những ngôi làng và thị trấn của những vùng xung quanh theo mức độ tương tự.
Để bùng phát, bệnh dịch hạch phải lan truyền đến các bầy chuột khác trong vùng và lây nhiễm cho người dân theo cách tương tự. Phải mất một khoảng thời gian tương đối thì người ta mới nhận ra một dịch bệnh khủng khiếp đang bùng phát trong khu vực của họ và được ghi chép lại trong sử sách. Khoảng thời gian đó không cố định, ở vùng nông thôn là khoảng 40 ngày; còn ở hầu hết các thị trấn với vài nghìn dân thì từ 6 – 7 tuần; ở các thành phố từ 10.000 dân trở lên thì khoảng 7 tuần và ở một số ít đô thị lớn với trên 100.000 dân thì mất đến 8 tuần.
Vi khuẩn dịch hạch có thể được mạch máu đưa từ hạch tới phổi và gây ra một thể dịch hạch khác lây nhiễm từ người sang người qua những giọt nước bọt khi ho. Tuy nhiên, trái ngược với quan niệm của nhiều người, dịch hạch thể phổi không dễ mắc phải, chỉ lây lan một cách tình cờ theo từng lúc, do đó chỉ chiếm một phần nhỏ số các ca nhiễm bệnh.
Như vậy rõ ràng là chấy rận ở người không góp phần gây ra sự lây lan của dịch bệnh, ít nhất là ở mức không đáng kể. Mạch máu của người không bị vi khuẩn dịch hạch từ các bạch hạch xâm chiếm, do đó bệnh nhân tử vong mà trong máu có rất ít vi khuẩn, không đủ để khiến các ký sinh trùng hút máu trên cơ thể người bị lây nhiễm và phát tán dịch bệnh. Một đơn vị máu của những con chuột nhiễm bệnh chứa lượng vi khuẩn cao gấp 500 – 1.000 lần so với một đơn vị máu tương ứng ở người nhiễm bệnh.
Hiểm họa từ vận tải biển
Trước đây nhiều người cho rằng Cái chết Đen bắt nguồn từ Trung Quốc, song những nghiên cứu mới cho thấy nó bắt đầu vào mùa xuân năm 1346 ở vùng thảo nguyên chứa nhiều ổ dịch trải dài từ vùng duyên hải tây bắc Biển Caspi tới miền Nam nước Nga. Thậm chí đến nay vẫn có người thỉnh thoảng bị mắc bệnh. Hai bản sử ký đương đại xác định vùng cửa sông Đông – dòng sông chảy ra Biển Azov – là khu vực khởi phát của dịch bệnh.
Tuy nhiên, đó có thể chỉ là những suy đoán và dịch bệnh có thể bắt nguồn từ những nơi khác, như khu vực cửa sông Volga chảy ra Biển Caspi. Khi đó, khu vực này nằm dưới sự cai trị của Hãn quốc Mông Cổ. Vài thập kỷ trước đó, Hãn quốc Mông Cổ cải sang đạo Hồi và không chấp nhận sự hiện diện của người Cơ đốc giáo cũng như hoạt động giao thương với họ. Kết quả là, những tuyến thương mại trên Con đường Tơ lụa giữa Trung Quốc và châu Âu bị cắt đứt. Theo đó, Cái chết Đen không lan truyền từ phương Đông qua Nga đến Tây Âu, mà dừng lại đột ngột trên biên giới Mông Cổ với các công quốc Nga.
Trên thực tế đại dịch bắt đầu bằng một cuộc tấn công của người Mông Cổ nhằm vào trạm giao thương cuối cùng của các lái buôn Italy – Kaffa (nay là Feodosiya) ở Crimea. Mùa thu năm 1346, dịch bệnh bùng phát trong các binh sĩ vây hãm rồi xâm nhập vào thị trấn. Khi mùa xuân đến, người Italy bỏ chạy trên những con tàu và Cái chết Đen “âm thầm” đồng hành với họ.
Các con tàu di chuyển với tốc độ trung bình khoảng 40 km/ngày, tương đối chậm so với ngày nay. Tuy nhiên, tốc độ đó cũng đồng nghĩa với việc Cái chết Đen dễ dàng lan xa tới 600 km trong hai tuần bởi một con tàu – một mức độ phát tán đáng kinh ngạc và khó lường theo thuật ngữ đương đại. Trên bộ, dịch bệnh lây lan với tốc độ trung bình chậm hơn nhiều, tối đa 2 km/ngày theo các tuyến đường chính tấp nập nhất và khoảng 0,6 km/ngày theo những tuyến đường thứ cấp.
Các tàu Italy mang theo Cái chết Đen từ Kaffa đến Constantinople (Istanbul) vào tháng 5/1347. Dịch bệnh bùng phát ở đó vào đầu tháng 7 cùng năm và ở Trung Đông – Bắc Phi trong khoảng ngày 1/9 sau khi đến Alexandria (Ai Cập) trên tàu vận tải từ Constantinople. Dịch cũng bắt đầu lan truyền từ Constantinople sang các trung tâm thương mại ven Địa Trung Hải của châu Âu từ mùa thu năm 1347.
Các thương lái Italy dường như đã rời Constantinople vài tháng sau đó và trở về quê nhà của họ ở Genoa và Venice với dịch bệnh trên những con tàu. Trên đường trở về, các con tàu từ Genoa cũng làm lây nhiễm thành phố cảng Pisa ở Florence. Những thành phố thương mại lớn này đã đóng vai trò như những đầu cầu giúp dịch bệnh “xâm chiếm” châu Âu.
Tại khu vực Địa Trung Hải thuộc châu Âu, Marseilles (Pháp) là trung tâm phát tán dịch lớn đầu tiên. Sự lây lan lên phía bắc đến thung lũng Rhone cho tới Lyon và về phía tây nam dọc các vùng duyên hải tới Tây Ban Nha, diễn ra với tốc độ kinh hoàng bất chấp những tháng ngày mùa đông lạnh lẽo với rất ít hoạt động vận tải biển. Đến tháng 3/1348, các khu vực ven Địa Trung Hải của Lyon và Tây Ban Nha đều bị dịch bệnh tấn công.
Từ cuối tháng 3, đầu mối thương mại Bordeaux (Pháp) ven Đại Tây Dương cũng trở thành trung tâm phát tán dịch bệnh mới. Cuối tháng 4, một con tàu chứa mầm bệnh khác khởi hành từ Bordeaux đã đến Rouen thuộc vùng Normandy. Từ đây, vào tháng 6, một mặt trận dịch bệnh nữa lan truyền về phía tây đến Brittany, về phía đông nam đến Paris và phía bắc theo hướng các vùng trũng duyên hải Tây Âu (Hà Lan, Bỉ).
Vào khoảng ngày 8/5, một con tàu nữa rời Bordeaux mang theo Cái chết Đen đến thị trấn Melcombe Regis của Anh. Dịch bệnh bùng phát ngay trước ngày 24/6. Từ Melcombe Regis, dịch bệnh lan truyền không chỉ bằng đường bộ mà còn bằng đường biển với tốc độ chóng mặt. London bị lây nhiễm vào đầu tháng 8. Các thị trấn cảng biển thương mại như Colchester và Harwich cũng đã nhiễm dịch vào cùng khoảng thời gian này.
Cái chết Đen xuất hiện ở Oslo vào mùa thu năm 1348 và chắc chắn là đến theo một con tàu từ miền Đông Nam nước Anh, quốc gia có quan hệ thương mại sôi động với Na Uy. Dịch bệnh tại Na Uy nổ ra thậm chí trước khi nó xâm nhập được vào miền Nam nước Đức qua đường bộ – diễn biến một lần nữa cho thấy tác động to lớn của hoạt động vận tải tàu biển và tốc độ lây lan chậm chạp trên đất liền. Dịch bệnh ở Oslo chấm dứt khi mùa đông đến nhưng trở lại vào đầu mùa xuân.
Sau khi đến Oslo, bệnh dịch hạch tiếp tục lây lan tới những nơi khác ở Bắc Âu. Vận tải biển tiếp tục đóng một vai trò then chốt. Lần này chủ yếu là thông qua các tàu thuộc Liên minh Hanse (một liên minh tồn tại từ giữa thế kỷ 13 cho đến giữa thế kỷ 17 với mục đích cùng nhau bảo đảm an ninh của các tàu buôn và đại diện quyền lợi kinh tế chung) rời bỏ trung tâm giao thương của họ ở Oslo với hàng hóa đã mua trong mùa đông.
Trên đường trở về quê nhà, con tàu đã khiến Cảng biển Halmstad (Thụy Điển) bị lây nhiễm vào đầu tháng 7. Và đây là “tiền trạm” cho Cái chết Đen “đổ bộ” vào Đan Mạch cũng như Thụy Điển. Các tàu này sau đó cũng đưa Cái chết Đen tới một số thành phố khác thuộc Liên minh Hanse nằm ven cả Biển Baltic và Biển Bắc. Đến mùa xuân năm 1350, một ổ dịch ở miền Bắc nước Đức xuất hiện và lây lan về phía nam, hòa vào ổ dịch hình thành ở miền Nam nước Đức từ mùa hè năm 1349 với nguồn lây nhiễm từ Áo và Thụy Sĩ.
Bước ngoặt lịch sử
Năm 1353, đến lượt Moskva bị hoành hành và dịch bệnh cũng tiến đến biên giới Hãn quốc Mông Cổ rồi tắt dần ở đó. Theo lộ trình này thì dịch bệnh bắt nguồn từ phương Tây. Ba Lan bị đại dịch tràn vào từ nguồn bệnh ở Elbing, ổ dịch miền Bắc nước Đức và dường như từ phía nam qua biên giới của Slovakia thông qua Hungary. Iceland và Phần Lan là những khu vực duy nhất tránh được đại dịch bởi các nước này có quy mô dân số nhỏ và có rất ít tiếp xúc với bên ngoài.
Vậy rốt cuộc bao nhiêu người là nạn nhân của Cái chết Đen. Các nhà nghiên cứu trước đây từng thống nhất quan điểm rằng đại dịch này đã làm giảm từ 20 – 30% dân số châu Âu. Tuy nhiên, cho đến năm 1960, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về con số tử vong ở người dân bình thường, do đó cơ sở của đánh giá trên là không chắc chắn. Từ năm 1960, nhiều nghiên cứu đối với các khu vực khác nhau của châu Âu đã được công bố. Chúng đã được đối chiếu với nhau và giúp đưa đến kết luận rằng những ước tính trước đó chỉ bằng một nửa so với con số tử vong thực tế.
Trước sức lây truyền như vũ bão của thảm họa Cái chết Đen, chính phủ các nước châu Âu gần như tê liệt hoàn toàn. Ở một số thành phố trong một ngày thậm chí có tới 800 người tử vong. Những nhà khoa học hàng đầu thời điểm đó đã không thể đưa ra một biện pháp đối phó nào vì họ không thể tìm ra nguyên nhân hoặc cách thức lây lan của đại dịch. Họ thậm chí còn không đủ thời gian để nghiên cứu bởi chính mình cũng trở thành nạn nhân.
Theo chuyên gia về lịch sử Trung Cổ Philip Daileader thì kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy chừng 45 – 50% dân số châu Âu chết chỉ trong vòng bốn năm, các quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải như miền Nam nước Pháp, Tây Ban Nha, tỷ lệ dân số tử vong có lẽ lên tới 75 – 80% trong khi ở các nước phía bắc như Đức hay Anh, con số này dừng lại ở chừng 20%. Tại khu vực Trung Đông gồm Iraq, Iran và Syria, số người chết là vào khoảng một phần ba dân số. Ước chừng 40% dân số Ai Cập đã chết trong lần đại dịch này.
Vì nhiều lý do mà tỷ lệ tử vong do bệnh dịch hạch ở phụ nữ và trẻ em cao hơn so với nam giới trưởng thành. Một số cuộc điều tra dân số do các thành bang ở Tuscany (Italy) thực hiện nhằm nắm bắt nhu cầu về ngũ cốc hay muối hiện vẫn còn được lưu giữ. Số liệu cho thấy các hộ gia đình ở vùng nông thôn trung bình giảm từ 4,5 xuống 4 thành viên và ở các trung tâm đô thị giảm từ 4 xuống còn 3,5 thành viên. Tất cả các nguồn tài liệu từ thời trung cổ cho phép tiến hành nghiên cứu về quy mô và thành phần các hộ gia đình cũng đưa đến những số liệu tương tự, từ Italy ở Nam Âu cho đến Anh ở Tây Âu và Na Uy ở Bắc Âu.
Nghiên cứu kỹ về các số liệu tử vong có sẵn đã chỉ ra hai đặc điểm nổi bật liên quan đến các nạn nhân của Cái chết Đen, đó là tỷ lệ tử vong cực cao do bệnh dịch hạch và sự giống nhau đến lạ thường của tỷ lệ tử vong tại các khu vực khác nhau, từ Tây Ban Nha ở Nam Âu cho đến Anh ở Tây Bắc Âu.
Các học giả nói chung cho rằng quy mô dân số châu Âu vào thời kỳ đó là khoảng 80 triệu người và các số liệu phổ biến cho thấy Cái chết Đen đã làm biến mất đến 60% dân số châu lục này, tương đương với khoảng 50 triệu người. Đây quả là con số không thể tin nổi, làm lu mờ ngay cả những thiệt hại khủng khiếp nhất trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Làm biến mất một phần dân số toàn cầu chỉ trong vẻn vẹn vài năm từ 1346 – 1353, Cái chết Đen thực sự là một thảm họa có một không hai, đến mức tạo ra cả bước ngoặt trong lịch sử nhân loại.
Theo các sử gia, sự tàn phá khủng khiếp của Cái chết Đen đã gần như đảo lộn hoàn toàn lục địa già, dẫn đến sự ra đời của nhiều tôn giáo mới hay chuyển đổi cơ bản về kinh tế và xã hội. Những thay đổi ấy ảnh hưởng sâu sắc tới tiến trình lịch sử của châu lục này. Ước tính châu Âu phải mất tới 150 năm để phục hồi dân số như thời gian trước đại dịch. Sau này bệnh dịch hạch còn nhiều lần bùng phát trở lại tại đây và nó chỉ biến mất vào thế kỷ 19.
Bất chấp những hậu quả nặng nề do Cái chết Đen, châu Âu đã cho thấy khả năng phục hồi đáng ngạc nhiên với những đột phá lớn lao, mà trước hết là những cải tiến về sức khỏe nhờ biến thể gene đặc biệt thông qua quá trình được gọi là lựa chọn tích cực. Ngoài ra còn có những cải tiến vượt bậc về bệnh viện, sự chuyển đổi rõ rệt trong lĩnh vực điều trị; sự phát triển của ngành xây dựng, kiến trúc với các thiết kế đơn giản, chú trọng đến không gian riêng tư trong khi nhà được xây với các bức tường chia phòng, sạch sẽ và thoải mái hơn nhằm ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.
Cái chết Đen thực sự đã để lại nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với toàn nhân loại. Phải mất hàng trăm năm người ta mới có thể kiểm soát được đại dịch và cũng cho tới tận hàng trăm năm sau, các nhà khoa học mới tìm ra phương pháp điều trị căn bệnh chết chóc này.
Theo BÁO TIN TỨC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đây là căn nhà nhỏ đơn sơ, vách đất bần cùng của hàn sỹ dị thường Hữu Loan.


Tâm Nhiên

Hữu Vũ, con trai Hữu Loan, ngồi bên hiên nhà của cha mình ở Nga Sơn, Thanh Hóa, sáng 25. 6. 2019
Đây là căn nhà nhỏ đơn sơ, vách đất bần cùng của hàn sỹ dị thường Hữu Loan.
Không rõ có phép mầu nào đã yểm trợ mà nhà thơ đã nuôi dưỡng được 10 đứa con (4 trai, 6 gái) đều trưởng thành, tốt đẹp như hôm nay, trong ngôi nhà xiêu vẹo này ?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những gì mà bạn nhìn thấy chỉ là một phần rất nhỏ của sự thật


Nguyễn Hiền

Trước đây, tôi xem bức ảnh này nhưng không hiểu hết ý nghĩa, chỉ biết là chú mèo thấy cái đuôi rắn thò ra từ 1 cái lỗ bé và chú mèo cứ nghĩ đó là đuôi chuột, lấy chân vờn định kéo ra.
Sau này, tôi mới biết bức ảnh này là một tác phẩm nổi tiếng của họa sỹ người Ý Marco Melgrati, dưới bức ảnh có chú thích rằng:
"Bạn sẽ không bao giờ biết được bạn đang chơi với ai, vì vậy xin hãy luôn tôn trọng mỗi người trong suốt cuộc đời bạn".
Trong cuộc sống, những gì mà bạn nhìn thấy chỉ là một phần rất nhỏ của sự thật, những gì bạn chưa nhìn thấy như phần chìm của tảng băng trôi!
Đôi khi, bạn nghĩ không ai biết bạn đang làm gì, nhưng kỳ thực họ đã nhìn thấu bạn là ai từ lâu rồi, nên bạn hãy cẩn trọng trong phát ngôn và hành động, bởi bạn không biết điều gì xảy ra khi bạn làm tổn thương họ.
Hãy luôn làm đầy ngân hàng cảm xúc, hãy dùng sự chân thành, hoà hiếu, yêu thương của bạn để đối đãi với người❤️
Những con rắn trong tối luôn là con rắn độc 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHÂN DUNG NGUYỄN XUÂN KHÁNH ĐẶT CẠNH NGUYỄN HUY THIỆP


Paul Nguyễn Hoàng Đức
Các nhà sư phạm nói với tôi, ở Âu - Mỹ các thầy cô kiêng, không được so sánh trực tiếp giữa trò nọ với trò kia, vì có thể tạo ra cả định kiến lẫn mặc cảm thiên lệch không tốt. Tôi đã định đặt tên bài là “so sánh” giữa nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, nhưng thấy không ổn, nên đành “để cạnh” nhau thôi. Để cạnh thì cái này làm ngời lên cái kia, hay cái ni dìm cái nớ… là việc tự nhiên, chứ không thể quy tội trù úm??? Nhưng tại sao nhất định cứ phải đặt NX Khánh cạnh NH Thiệp? Nó có lý do không đừng được của nó, tôi sẽ minh tường sau. Nhân đây cũng cám ơn nhà văn Uông Triều đã đưa hai nhà văn này lên trang Facebook để tôi có nguyên do viết bài này.
Trước tiên, tôi muốn viết về N X Khánh, không phải ưu tiên ông về tuổi tác, mà trong đám rước, bao giờ vua cũng ra sau, tôi đã từng gọi N H Thiệp là vua truyện ngắn, cho nên để người ngồi ngai ra sau thì đúng lẽ hơn.
N X Khánh hình như là người Hà Nội phố cổ (để tôn trọng sự bảng lảng thăng hoa của mình, tôi tự miễn không tra trích ông). Ông có một dáng người cao trang nhã, mà tướng mạo có thể gọi là “vóc hạc” – rất thích hợp cho tướng làm tham mưu, cũng như chữ nghĩa. Khuôn mặt ông có thể dùng lối nói của người Việt “khô chân gân mặt đắt mấy cũng mua” – nghĩa là làn da có hình Kim (kim loại), cộng với đôi môi vừa phải (không dầy – không mỏng) biểu hiện ông là người có lý trí cao. Bằng bản lĩnh của lý trí, ông chuẩn bị cho mình cho mình một kiến thức khá dồi dào, tiếng Pháp, tiếng Anh, hình như cả tiếng Tàu, nghiên cứu triết học… Còn trải nghiệm cuộc đời mặt ông như một thung lũng đau khổ dày vò không thể đau đớn hơn, cả khuôn mặt ông lúc nào cũng như đang mếu khóc, có thể ông không khóc nhiều, nhưng cả cơ hàm của ông mang cấu trúc của những hàng lệ giống như vặn máy thì ra nước vậy. Ông đã từng là tay bút ưu tiên trong hệ tem phiếu, nhưng không hiểu cuộc đời vật vã thế nào ông bị treo bút, rồi phải nuôi lợn để chăm lo cho bảy người từ mẹ già đến con thơ trong nhà… Thôi, phần "khổ nhục kế" của N X Khánh thế cũng tạm đủ rồi. Văn chương của ông thì sao? Thật sự tôi rất ít, hoặc gần như không có thời gian đọc sách của người Việt, nhưng tôi đã đọc trọn vẹn cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly của ông. Ông viết bằng một kiến thức sâu, rộng và dầy, những đường công-tua (chu vi) mạch lạc rõ ràng, còn những bảng lảng mơ hồ mà dân họa sĩ hay dùng là Sensible (run rẩy nhạy cảm) thì lúc nào cũng tràn ngập như sương khói lam chiều đang trộn sa lát cùng nắng rụng hoàng hôn… Những câu văn của ông dù viết về nhân vật Á Đông nhưng mang cấu trúc của ngôn từ tiếng Pháp, tiếng Anh.
Còn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, tại sao tôi cứ phải dính mắc vào với N X Khánh? Vì anh Thiệp vốn dân sử. Sử Việt Nam chủ yếu đằng đẵng vài ngàn năm liên đới với Tàu. Ngôn ngữ, học vấn, bút pháp của N H Thiệp chủ yếu là Tàu, và một ít văn học Nga hồi chủ nghĩa xã hội, hay còn gọi là bao cấp tem phiếu. Gì chứ một Hồ Quý Ly của N X Khánh hoàn toàn có những mặt bằng để soi sang bút pháp trần thuật Tàu, mệnh đề ngắn đơn giản của N H Thiệp. Về điểm này, thì văn anh Thiệp chỉ là đoản ca hát xoan – xẩm của người Việt so với giao hưởng tiểu thuyết của N X Khánh. Tôi đã gặp vô số người ca tụng N H Thiệp, nhưng chưa một lần thấy họ nói được nó hay ở cái gì? Mà chủ yếu là: “Anh Thiệp ơi, anh viết về cây đa trong truyện sao giống hệt cây đa ở làng em…”
Anh Thiệp bé lùn, dáng đi tấp tểnh, đặc biệt anh hay nói lắp, lắp bắp luôn. Nhà văn mà nói lắp là tối kỵ, vì nhà văn là ngôn ngữ mà. Và chính thế mà anh Thiệp viết câu văn ngắn, điều này còn thể hiện tất yếu, khi anh Thiệp không biết tiếng Tây và gặp vấn để về mệnh đề phức hợp.
Với nhà văn danh tiếng bao trùm kinh thiên động địa như Nguyễn Huy Thiệp thì tôi không thể nói vu vơ mà phải chắc chắn với những sở cứ. Tri thức của một nhà văn như anh Thiệp là còn quá mỏng, bằng chứng anh Thiệp vừa từ truyện ngắn chuyển lên tiểu thuyết mini như “Tiểu Long Nữ” thì rơi thẳng đứng luôn… nếu không kịp dừng lại có nguy cơ mất cả vốn lẫn lãi. Nhà văn Nam Cao viết: “Viết văn giống đi buôn vậy, anh không có vốn thì buôn cái gì?”
Vậy nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có thành công không? Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công giữa đám cán bộ lèo tèo lười nhác nhưng háo danh quen thói ẩn nấp trong các tòa báo công sở, viết gì cũng được in và lo chạy giải, hà hít vài hơi ra mấy mẩu thơ hay vài truyện ngắn kiểu người tốt việc tốt… trong khi đó N H Thiệp viết bằng một mặc cảm của Napoleon sống nơi sơn cùng thủy tận trên đảo Corse, khi bị đầy lên Sơn La dạy học trò, và hì hục đổ mồ hôi lao động viết cả tháng mới xong một truyện ngắn (truyện ngắn “Sang Sông” NHT viết nhanh nhất là một tuần, theo như anh tâm sự).
Rõ ràng về tri thức một giáo viên sử học, cùng lao động văn chương miệt mài lao tâm khổ tứ, Nguyễn Huy Thiệp hơn hẳn những cán bộ văn phòng viết văn chủ yếu là tiểu nông, già cả mà anh gọi là “bọn giặc già thơ phú lăng nhăng”. Đấy là lý do để Nguyễn Huy Thiệp bứt phá và vượt lên trên dãy nhà văn cán bộ. Nhưng như vậy là chưa đủ, ông mới chỉ đạt được nhà văn nổi tiếng lẫy lừng nơi thôn quê, góc phố mà chưa thể trở thành văn hào mang những cơn chấn động trong những sa lông sang trọng của dân trí thức thượng thừa. Số đông rất quan trọng nhưng đó chỉ là nghệ thuật bình dân hay nhạc pop thôi. Nhưng chỉ có giàn nhạc giao hưởng mới được biểu diễn trong nhà hát lớn có khoảng trăm người nghe.
Paul Đức 09/7/2019

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bị đánh đau không dám rên cũng là nỗi nhục lớn

Thọ Nguyễn

14-7-2019
Vụ tàu Hải Dương Địa Lý 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc vi phạm vùng chủ quyền kinh tế của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính, đối đầu với tàu cảnh sát biển Việt Nam đã kéo dài cả tuần nay không có gì là bất ngờ. Trung Quốc đã nhiều lần làm như vậy, một phần để nắn gân Việt Nam, một phần để tạo ra các tiền lệ, cắm thêm các cột mốc mới vào sâu trong vùng biển của Việt Nam.
Việc tàu cảnh sát biển Việt Nam có mặt và ngăn chặn, dù không ở mức quyết liệt cũng không phải là mới, từ vụ Hải Dương 981 đến nay cũng vẫn quanh quẩn như vậy. Không phái là nhà binh, tôi không dám phê phán cách phòng thủ khá thụ động của cảnh sát biển và hải quân Việt Nam trong suốt hàng chục năm qua trước các hành động vi phạm lãnh hải, bắn giết, đánh đập ngư dân và khiêu khích các lực lượng vũ trang biển Việt Nam.
Xưa nay các nước cựu XNCH như Nga, Trung Quốc và cả Việt Nam vẫn hay áp dụng các kiểu đánh nhau không chính danh trong các cuộc chiến tranh không minh bạch. Nga thì đưa quân đặc nhiệm, nhưng không quân hiệu, quân hàm vào Crime, đưa lính đánh thuê vào Đông Ucraine, đánh nhau xong chối phắt. Trung Quốc thì vũ trang cho ngư dân, dùng tàu kiểm ngư thay hải quân để trấn áp các tàu cá nước ngoài trên chính vùng biển cúa nước đó. Việt Nam thì xui ngư dân cứ ra Hoàng Sa đánh cá, khi có tàu “lạ” thì cho tàu kiểm ngư, cùng lắm là cảnh sát biển ra gọi loa bắn nước vào nhau. Ai cũng khẳng định chủ quyền biển của mình mà bộ đội hải quân, bộ đội biên phòng là lực lượng chính danh bảo vệ biên giới quốc gia lại không bao giờ ló mặt. Lần này cũng vậy, tuy rất nghiêm trọng.
Ai đó sẽ an ủi: Đây là cách đánh của một võ sỹ bé nhỏ, trước một đối thủ to cao hơn. Nhiều khi cứ chạy lùi, né tránh, thậm chí chịu đòn đau, nhưng lúc nào đó sẽ tung chưởng?
Nhưng điều khó chịu nhất, đặc biệt trong hoàn cảnh thế giới phức tạp như hiện nay, là thái độ của truyền thông Việt Nam. Báo chí Trung Quốc im lặng, thậm chí chối bay biến về sự kiện tàu Hải Dương Địa lý 8 có mặt tại Tư Chính, là điều tất nhiên, vì họ là kẻ ăn cướp, vì họ muốn im lặng trong lúc này, khi mà tai tiếng của họ bốc mùi khắp nơi.
Việt Nam đã im lặng xưa nay về tranh chấp biển Đông một cách quá đáng. Ngay cả việc kiện Trung Quốc ra tòa Quốc tế cũng cứ cân nhắc mãi và chẳng còn bao lâu nữa, vụ kiện sẽ mất hiệu lực sau 50 năm. Đã có ông Bộ trưởng quốc Phòng Việt nam tuyên bố tại một hội nghị an ninh quốc tế rằng: “Tranh chấp biển Đông là chuyện của hai nước“. Nghe vậy, ai cũng thấy rằng, ông này đã ngả vào vòng tay của Trung Quốc.
Nhưng tình thế hôm nay đã khác: Trung Quốc đang ngày càng bị cô lập trên mọi lĩnh vực: kinh tế, quân sự, ngoại giao. Mỹ, EU, Nhật, Ấn Độ, Úc, Canada đều có những động thái ngoại giao và quân sự trên biển Đông, biển Hoa Đông để cảnh báo Trung Quốc. Một liên minh chống lại kẻ ăn cắp công nghệ đang hình thành. Hồng Kong và Đài Loan đều đang ra mặt chống lại âm mưu một nước Trung Hoa… Ngay cả những cái đầu thân Trung Quốc nhất ở Việt Nam cũng cảm thấy được sự tức giận của người dân trước những vụ việc Luật Đặc khu, Đường Cao tốc, Formosa, Bauxite Tây Nguyên.
Vậy thì lúc này chính là lúc cần phải thông tin minh bạch hơn về thái độ xấu của Trung Quốc trên biển Đông. Cứ cho là báo chí nhà nước, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị vẫn phải im miệng để giữ gìn tình hữu nghị của hai đảng, nhưng còn bao nhiêu báo chí khác không nằm trong hệ thống này, sao lại không đưa tin. Nhiều nhà báo lớn, tên tuổi ở Việt Nam cũng im re.
Có điều lạ là một cuộc đối đầu lớn như vậy, kéo dài vài ngày mà chỉ có một nguồn tin duy nhất của South China Morning Post đưa, tất cả BBC, AFP, VOA và Facebook Việt Ngữ đều dựa vào ông Ryan Martinson.
Trong khi đó Việt Nam có ít nhất bốn tàu đang chiến đấu bằng loa tại chỗ lại không có một thông tin nào về hành động này của Trung Quốc. Kiểu truyền thông này thì đừng bao giờ hy vọng đạt được hỗ trợ của quốc tế khi bị ăn cướp, lại càng không bao giờ đạt được sự thống nhất trong lòng dân tộc.
Trong lúc đó, bà Chủ tịch Quốc hội mặc áo dài đẹp đang ở thăm Trung Quốc. Không biết hai bên bàn với nhau cái gì, trong khi có quá nhiều mâu thuẫn như vậy? Có lẽ điều duy nhất hai bên thống nhất được với nhau là: Chúng ta cứ uỵch nhau thoải mái, nhưng đừng kêu la.
Hôm trước mới viết “Giả dối là đức tính nhục nhã nhất hiện nay“, Giờ lại thấy bị đánh đau không dám rên cũng là nỗi nhục lớn. Hèn.


Phần nhận xét hiển thị trên trang