Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

CẢNH SÁT BIỂN TRUNG QUỐC, THÁNG TRƯỚC LÀ BẠN THÁNG SAU LÀ.... CƯỚP BIỂN. NỖI KINH HOÀNG CỦA NGƯ DÂN VIỆT.



Hoàng Tuấn Minh


1. “Cướp biển” 

Sáng 7/6/2019, trao đổi với Tuổi Trẻ Online, thượng tá Võ Viết Dũng - chính trị viên đồn biên phòng cửa khẩu Cảng Kỳ Hà (xã Tam Quang, huyện Núi Thành, Quảng Nam), cho biết vừa tiếp nhận đơn trình báo của ông Trần Văn Nhân (42 tuổi, trú thôn Sâm Linh Đông, xã Tam Quang), chủ tàu cá mang số hiệu QNa- 91441 về việc bị tàu Trung Quốc vây áp, cướp hải sản đánh bắt được.

Đến khoảng 13h30 ngày 2/6, khi tàu của ông đang cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) 22 hải lý, các thuyền viên đang nghỉ trưa sau hoạt động đánh bắt thì bất ngờ có một tàu sắt sơn màu trắng có treo cờ Trung Quốc mang số hiệu 46305 ập đến tìm cách áp sát. Tàu này sau đó thả canô mang theo 6 người cầm vũ khí, leo lên tàu cá của ông Nhân.

Trong đó có một người nói được tiếng Việt Nam đã hỏi tên tuổi, quê quán của chủ tàu. Sau đó người kia nói: "Vùng biển này thuộc Trung Quốc", nên yêu cầu tàu của tôi không được đánh bắt ở đây". "Họ yêu cầu chúng tôi mở khoang đựng cá, mực để kiểm tra. Sau đó họ đã lấy hơn 2 tấn mực khô bỏ lên canô và chở về tàu của họ. Họ chở 4 chuyến mới hết số mực đó"- ông Nhân kể lại.


Sau khi “cướp” hết số mực trên, những người này quay lại tàu ông nói lần sau không được đánh bắt ở vùng biển này, nếu tái phạm thì sẽ bị phá ngư lưới cụ, đưa tàu về Trung Quốc xử phạt.


"Họ làm y như cướp biển, lại có vũ khí trên tay nên chúng tôi không dám chống cự" - ngư dân Trần Phu (thuyền viên của tàu) - kể lại.


2. Hội đàm và viếng thăm thắm tình hữu nghị.

Cách đây hơn một tháng ngày 26/4/2019, tại trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc kết thúc chuyến kiểm tra liên hợp nghề cá Việt Nam - Trung Quốc năm 2019 và tiến hành hội đàm tổng kết chuyến kiểm tra trên tàu Cảnh sát biển Trung Quốc số hiệu 46305. Về phía Việt Nam do Thượng tá Lương Cao Khải Phó Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 dẫn đầu. Về phía Trung Quốc do Lưu Thiêm Vinh Phó Cục trưởng Phân Cục Nam Hải (Cảnh sát biển Trung Quốc) dẫn đầu.

Và cách đây gần 3 năm, sáng 10/11/2016 tàu Cảnh sát biển 46305 của Trung Quốc sau khi kết thúc chuyến Kiểm tra liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ với Cảnh sát biển Việt Nam đã cập cảng Chùa Vẽ (Hải Phòng) thăm hữu nghị Việt Nam. Đây là chuyến thăm đầu tiên của tàu Cảnh sát biển Trung Quốc đến Việt Nam. Chuyến thăm là một trong những hoạt động thiết thực, góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị, truyền thống Việt Nam – Trung Quốc; tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa quân đội và lực lượng thực thi pháp luật hai nước; Chiều 10/11, tại BTL Vùng Cảnh sát biển 1, trong không khí thắm tình hữu nghị, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hai lực lượng CSB Việt Nam và CSB Trung Quốc đã có dịp thi đấu giao hữu các môn bóng chuyền, bóng bàn và biểu diễn võ thuật dưới sự cổ vũ nhiệt tình của khán giả hai bên.

Mới tháng trước vẫn là bạn của nhau cùng hội đàm "hữu hảo" mà tháng sau đã đi cướp của bạn, trên thế giới này chắc chỉ có mỗi thằng Tàu.

Chơi với cướp thì sẽ có ngày bị nó cướp. Hôm nay nó cướp 2 tấn mực thì ngày mai nó cướp cả “giang sơn, xã tắc”.

Hãy chờ xem việc này “đã có Đảng và Nhà nước lo” xử lý như thế nào.

https://tuoitre.vn/tau-ca-quang-nam-to-bi-tau-trung-quoc-va…
https://infonet.vn/tau-canh-sat-bien-trung-quoc-tham-viet-n…
http://canhsatbien.vn/…/canh-sat-bien-trung-quoc-thi-dau-gi…
 Tàu Cảnh sát biển Trung Quốc mang số hiệu 46305

 Giao hữu bóng chuyền giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Cảnh sát biển Trung Quốc 
tại BTL Vùng CSB 1.


 Đại diện Cảnh sát biển Việt Nam và Cảnh sát biển Trung Quốc chụp ảnh lưu niệm 
tại cảng Chùa Vẽ (Hải Phòng)

 Chiếc tàu của ngư dân Trần Văn Nhân bị tàu Cảnh sát biển Trung Quốc số hiệu 46305
 cướp hơn 2 hai tấn mực.

 Đoàn Việt Nam lên thăm tàu Cảnh sát biển Trung Quốc mang số hiệu 46305

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HẾT CẢNH ĐU DÂY ?


Cuộc chiến Trăm – Tập, đúng hơn là Mỹ – Trung, rộng hơn là Mỹ và đồng minh chiến với Trung Quốc, ngày càng hay. Có thể dự đoán: đây là cuộc chiến khốc liệt nhất của nửa đầu thế kỷ 21, được ghi vào lịch sử nhân loại như chưa có tiền lệ.
Chắc đến 99,9 % người Việt Nam cổ vũ anh Trăm, kiểu như: “Đánh chết mẹ thằng Tập đi !”. Số 0,1 % không vui vì gắn với lợi ích của Tập (được lại quả dự án chẳng hạn). Và đây đó cũng lọp bọp mấy tiếng “chọc quê” Trăm để ra cái vẻ khách quan.
Hẳn dân Việt khoái trận này không phải vì tính thích xem đánh nhau,
Mà bởi đều mong Tập chết cho hết cảnh đu dây.
Đu dây với trẻ con thì vui,
Chứ với chính khách thì tủi nhục lắm. 😂
Vương Xuân Tình Fb, 1/6/2019.


Tuyên truyền kiểu Trung Quốc: Nói dối từ chuyện ăn uống của lãnh đạo

Tác giả: Trần Hưng

Thời kỳ 1958 – 1961, Trung Quốc diễn ra nạn đói lớn 3 năm khiến hàng chục triệu người chết. Để động viên người dân vượt qua thời kỳ này, báo chí luôn tuyên truyền về việc lãnh đạo đồng cam cộng khổ với người dân, mà tấm gương điển hình là Mao Trạch Đông. Vậy sự thật về việc này như thế nào?
Mao Trạch Đông
Tư liệu ghi chép về chi phí ăn uống hàng tháng của Mao. (Ảnh từ history.bayvoice.net)
Trong nạn đói lớn, ĐCSTQ ra sức tô vẽ Mao Trạch Đông như một lãnh tụ hết sức vĩ đại, sống gian khổ giản dị, đồng cam cộng khổ với nhân dân, “từng rất nhiều ngày không ăn cơm, 7 tháng không ăn lấy một miếng thịt, bởi thiếu thốn dinh dưỡng nên đã mắc bệnh phù thũng”. Lúc đó là thời người dân Trung Quốc còn tin tưởng vào đảng, nên không ít người cảm động sâu sắc về hình ảnh này.
Thực tế tư liệu được công bố sau này cho thấy vào tháng 7/1961, mức chi tiêu cho ăn uống của Mao Trạch Đông là 654,82 nhân dân tệ (NDT), ngoài số tiền đó ra còn có 86,65 NDT tiền trái cây cùng các chi tiêu khác. Vào thời điểm đấy, xác người chết đói khắp nơi, gia đình khấm khá cũng chỉ tiêu 11 – 13 NDT một tháng.
Nếu tính theo giá vàng, thì vào thời điểm năm 1961 giá vàng của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc là 3,04 NDT/gram, thì chi phí cho 1 tháng ăn của Mao là 243,9 gram vàng. Nếu tính theo giá vàng hiện nay 370 NDT/gram vàng, thì mỗi tháng Mao đã tiêu tốn hết 90.243 NDT cho việc ăn uống, tương đương khoảng 310 triệu VND.
Vậy cái gọi là không ăn lấy một miếng thịt mà ĐCSTQ tuyên truyền thực chất là gì? Trong “Nghiên cứu lý luận Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình” kỳ thứ 9/2006 đã đăng bài viết của ông Trương Tố Hoa – nhân viên nghiên cứu của phòng nghiên cứu văn hiến trung ương. Đối với cách nói Mao Trạch Đông năm đó mắc bệnh phù thũng, bài viết đã trích dẫn lại lời của Lam Khắc – thư ký của Mao Trạch Đông, rằng:
“Tôi lúc đó ở ngay bên cạnh ông ấy. Vì để xác thực chuyện này tôi còn đặc biệt gọi điện thoại hỏi bác sĩ và y tá trưởng chuyên môn phụ trách sức khỏe của Mao Trạch Đông lúc đó. Họ nói không có chuyện này, nếu như chúng tôi khiến Mao Trạch Đông mắc bệnh phù thũng, vậy thì chúng tôi đã phạm phải sai lầm lớn, là bất trắc nghiêm trọng, trung ương cũng sẽ không cho phép”.
Còn về vấn đề Mao Trạch Đông 7 tháng không ăn lấy một miếng thịt, bài viết có nói rằng, Mao có một đoạn thời gian không ăn thịt là có thật, nhưng lúc đó thực đơn của Mao Trạch Đông cũng rất phong phú, không chỉ có các loại rau củ, đậu hũ, khoai môn, v.v…, còn có cá sông Xuân Giang, cá quế, măng mùa đông, các loại nấm, v.v…
Mao Trạch Đông
Mao Trạch Đông. (Ảnh từ whatsonweibo.com)
Kỳ thực, Hà Phương, một chuyên gia nghiên cứu lịch sử ĐCSTQ viết: “Mao Trạch Đông hàng mấy tháng không ăn thịt là sự thật, đó là bởi vì bác sĩ cho rằng trong thịt lợn có hàm lượng cholesterol cao, đề nghị ông ta chuyển sang ăn thịt dê, thịt bò”. Như vậy chuyện Mao Trạch Đông không ăn thịt chỉ là chuyện không ăn thịt gì.
Trong cuốn “hồ sơ sinh hoạt của Mao Trạch Đông” được trung ương ĐCSTQ xuất bản cho biết, trong thời gian diễn ra nạn đói lớn, Mao Trạch Đông rất thích các món ăn tây, có dẫn chứng thực đơn ngày 26/4/1961 của Mao có gà vịt cá mực, chỉ riêng món gà có đến 14 loại, món thịt dê, thịt bò có đến hơn 10 loại.
Trong cuốn “Sự điển di vật Mao Trạch Đông” của ông Uông Đông Hưng có ghi chép về thực đơn món ăn Tây được đầu bếp đặc biệt soạn ra cho Mao Trạch Đông vào tháng 4/1961, trong đó chỉ riêng món cá tôm có đến 17 loại.
Vậy nên trong nạn đói lớn, Mao Trạch Đông kỳ thực chẳng hề quan tâm tới nỗi khổ của người dân.
ĐCSTQ thường tuyên truyền rằng “ba năm chịu thảm họa tự nhiên” đã khiến nông nghiệp ảnh hưởng làm giảm sản lượng lớn. Nhưng đơn cử như trong cuốn “Bia mộ” của Dương Kế Thằng phát hành tại Paris, chương 15 có viết rằng nguyên nhân nạn đói không phải do thiên tai, khi xem lại dữ liệu từ 360 trạm khí tượng thủy văn có thể tra thấy, trong khoảng thời gian từ 1959 – 1961 không hề có thảm họa tự nhiên nào diễn ra trên phạm vi toàn Trung Quốc.
Dễ dàng nhận ra, một số nước chạy theo mô hình của Trung Quốc đều có chung một lần nạn đói. Liên Xô, Triều Tiên, Cuba, Khmer Đỏ đều từng xảy ra nạn đói khi chế độ mới lên nắm quyền. Hơn nữa, các nước này chỉ tiến hành nông nghiệp tập thể hóa, hợp tác hóa, không tiến hành Đại nhảy vọt, nhưng vẫn có nạn đói xảy ra. Nên có thể thấy, mẫu số chung của các nước này là vì xóa bỏ chế độ tư hữu, phổ biến hợp tác hóa, công xã hóa, nên mới dẫn đến nạn đói lớn.
Mao Trạch Đông
Người dân Trung Quốc trong nạn đói lớn.
Trong giai đoạn đó, vì lãnh đạo ĐCSTQ ôm giữ ảo mộng xây dựng “thiên đường tại nhân gian” và cho rằng “công xã nhân dân là cây cầu tiến đến đó” nên đã tạo ra vô số cờ hiệu huyễn tưởng phi thực tế, dẫn không biết bao nhiêu người dân và cán bộ đi theo, thay vì đến thiên đường lại là một vực thẳm tối tăm, phải đối diện với một nạn đói trên phạm vi toàn quốc.
Có thể nói, tuyên truyền chuyện ăn uống của Mao Trạch Đông chỉ là màn nói dối nhỏ, còn tuyên truyền về nạn đói mới thực sự là màn nói dối lớn.
—————  

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hơn 100 quỹ ngoại đến Việt Nam tìm cơ hội đầu tư mạo hiểm



Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chuẩn bị một sự kiện quy tụ hơn 100 quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội, kết nối với các startup trong nước.
Ngày 10/6 tới, lần đầu tiên tại Việt Nam diễn ra một hội nghị dành riêng cho các quỹ đầu tư mạo hiểm. Sự kiện có tên Hội nghị Quỹ đầu tư khởi nghiệpsáng tạo tại Việt Nam 2019 (Vietnam Venture Summit 2019) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tổ chức.
Theo ban tổ chức, hiện tại đã có hơn 100 quỹ đầu tư trong khu vực và thế giới đăng ký tham gia sự kiện nhằm kết nối nguồn lực đầu tư vào Việt Nam.
Ông Vinnie Lauria, đại diện Quỹ Đầu tư Golden Gate Ventures - đơn vị phối hợp tổ chức Vietnam Venture Summit 2019, cho biết Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư vào đổi mới sáng tạo.
Hon 100 quy ngoai den Viet Nam tim co hoi dau tu mao hiem hinh anh 1
Sẽ có trên 100 quỹ đầu tư mạo hiểm đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội. Ảnh minh họa.
“Sẽ có trên 100 quỹ đầu tư mạo hiểm đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội. Đặc biệt, tại sự kiện này, những thương vụ đầu tư lớn vào các dự án khởi nghiệp của Việt Nam cũng sẽ được công bố”, ông Vinnie Lauria tiết lộ.
Trong khi đó, Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết ngoài các quỹ ngoại, sự kiện cũng chào đón các quỹ trong nước. Ông nhấn mạnh, thời gian gần đây, nhiều quỹ đầu tư được thành lập tại Việt Nam với số vốn hàng trăm triệu USD sẵn sàng rót vốn vào các dự án đầu tư mạo hiểm.
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết năm qua, các công ty khởi nghiệp Việt Nam đã nhận được 889 triệu USD đầu tư, trong 92 thương vụ với các quỹ đầu tư trong và ngoài nước.
Ông cũng đánh giá Việt Nam có quy mô thị trường lớn với gần 100 triệu dân, đang phát triển nhanh đối với các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số. Việt Nam cũng có dân số trẻ, 67% dân số sử dụng Internet, 57% dân số tích cực sử dụng mạng xã hội và 73% dân số có điện thoại di động cá nhân.
"Năm 2018, ước tính Việt Nam có hơn 3.000 startup, được cho là lớn thứ ba ở châu Á. Nền kinh tế đổi mới sáng tạo của Việt Nam sẽ bùng nổ trong thời gian tới, hứa hẹn là một thị trường đầu tư hấp dẫn cho các quỹ đầu tư mạo hiểm", ông nhận định.
Theo Bộ KH&ĐT, Vietnam Venture Summit 2019 là hoạt động thực hiện các chủ trương của Đảng và Chính phủ về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Trong đó có chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng nâng cao chất lượng đầu tư, tạo sự lan tỏa về công nghệ để góp phần nâng cao nội lực nền kinh tế.
"Đây cũng là sự kiện thiết thực để đưa doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư", ông đánh giá.
Văn Hưng / Zing


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại gia Việt Nam, Trung Quốc xếp hàng dài chờ ‘giấc mơ Mỹ’



Một công dân Việt Nam nộp đơn xin thị thực nhà đầu tư nhập cư Hoa Kỳ năm nay có thể sẽ phải đợi tới năm 2027 mới được chấp thuận.
Tại một hội nghị gần đây, ông Charlie Oppenheim, Trưởng phòng kiểm soát và báo cáo thị thực nhập cư, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết một công dân Việt Nam sẽ phải đợi từ 7,6 năm để được cấp thị thực EB-5 của Hoa Kỳ.
Bởi lẽ, thị thực EB-5 không thu hút được nhiều sự chú ý từ Nhà Trắng như chương trình xổ số visa Diversity Lottery hay thị thực lao động có tay nghề cao H-1B. Hạn ngạch thẻ xanh diện EB5 là 10.000 visa mỗi năm và không một quốc gia nào được phân bổ trên 7% hạn ngạch.
Tuy vậy, lượng thị thực còn lại có thể được phân bổ cho những quốc gia chưa dùng hết số visa này. Ngoài ra, visa được cấp theo quy chế người đăng kí trước được phục vụ trước.
Đại gia Việt Nam, Trung Quốc xếp hàng dài chờ 'giấc mơ Mỹ'
Đại gia Việt Nam, Trung Quốc xếp hàng dài chờ 'giấc mơ Mỹ'
Các nhà đầu tư Trung Quốc dù nhiều năm chiếm đa số trong danh sách ứng cử viên EB-5 vẫn đang phải chờ đợi lâu nhất, dù số lượng công dân Ấn Độ và Việt Nam xin visa này cũng tăng nhanh chóng. Hiện tại, 32.169 công dân Trung Quốc đang xếp hàng xin visa EB-5 và 17.368 người đang chờ các kiến ​​nghị của họ được chấp thuận.
Đáng chú ý, sự chờ đợi kéo dài này đe dọa làm suy yếu một chương trình đã mang lại cho Mỹ hàng tỷ USD và tạo ra hàng trăm ngàn việc làm cho người dân nước này. Hiện tại, chính quyền Trump đang siết chặt quá trình cấp visa nhằm giảm gian lận trong chương trình và đảm bảo đầu tư nhiều hơn vào các khu vực nông thôn như dự định.
American Lending Center - một công ty có trụ sở tại Long Beach, California đã sử dụng quỹ của các nhà đầu tư nhập cư để tài trợ cho hơn 80 dự án kinh doanh nhỏ ở 18 tiểu bang, bao gồm nhượng quyền khách sạn, văn phòng nha khoa và bệnh viện phục hồi chức năng trẻ em. Thế nhưng ông John Shen - Giám đốc điều hành doanh nghiệp này lo ngại việc kéo dài thời gian chờ đợi thị thực EB-5 có thể khiến nguồn tài trợ cho các dự án hiện tại và tương lai cạn kiệt.
Đại gia Việt Nam, Trung Quốc xếp hàng dài chờ 'giấc mơ Mỹ'
Mặt khác, tình trạng tồn đọng hồ sơ vẫn có thể ảnh hưởng đến độ tuổi của con cái theo Đạo luật Bảo vệ Tuổi Trẻ em (CSPA), cũng như khả năng xin thẻ xanh Mỹ theo hồ sơ của bố mẹ.
Chương trình EB-5 cho phép con cái độc thân dưới 21 tuổi (và trên 21 tuổi được bảo vệ bởi Đạo luật Bảo vệ Tuổi Trẻ em) có thể đi cùng bố mẹ. Nếu phải chờ đợi quá lâu, trẻ có thể bị “quá tuổi” vào thời điểm xin thẻ xanh EB-5.
Mặc dù việc đầu tư vào Hoa Kỳ có thể giảm sút, nhưng ông Bernard Wolfsdorf của Wolfsdorf Rosenthal ở Santa Monica, California nói rằng ông không thấy các nhà đầu tư giảm hứng thú với EB-5. Nguyên nhân là do sự chờ đợi là xứng đáng đối với cha mẹ.
“Nhiều người cảm thấy rằng cơ hội để con cái họ sống trong giấc mơ Mỹ và học tập ở Mỹ vô cùng giá trị. Tất cả những điều họ làm là để con được học ở Mỹ”. Và nhiều người vẫn đang lạc quan rằng Quốc hội sẽ sớm đồng hành và giảm bớt danh sách chờ đợi còn tồn đọng.
Được biết, chương trình thị thực EB-5 sẽ cấp thẻ xanh (thẻ thường trú) cho các công dân nước ngoài nếu họ đầu tư ít nhất 500.000 đô la Mỹ vào doanh nghiệp thương mại hoặc dự án bất động sản ở các khu vực tạo việc làm mục tiêu ở Mỹ, giúp tạo ra ít nhất 10 việc làm toàn thời gian.
Dự án EB-5 phải nằm trong vùng nông thôn hoặc trong khu vực có tỉ lệ thất nghiệp cao để đủ tiêu chuẩn được gọi là khu vực tạo việc làm mục tiêu. Nếu đầu tư ngoài khu vực này, mức đầu tư tối thiểu phải là một triệu đô la Mỹ.
Một nghiên cứu của Bộ Thương mại Hoa Kỳ tháng 1 năm 2017 cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đã đóng góp 5,8 tỷ USD trong tổng số 16,7 tỷ USD đầu tư vào các dự án liên quan đến EB-5 trong năm tài khóa 2012 và 2013. Các dự án dự kiến ​​sẽ tạo ra hơn 174.000 việc làm.
Quỳnh Hoa(Theo Bloomberg)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tự thuật của một trùm KGB bỏ trốn


stalin crimes
Tác giả: Alexander M. Orlov | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
Khi viết những dòng này tôi[1] không thuộc bất kỳ đảng phái nào; nhưng cho tới trước ngày 12/7/1938 thì tôi vẫn là đảng viên Đảng Cộng sản Bolshevik Liên Xô. Trong thời kỳ Nội chiến cách mạng (1918-1920), tôi từng chỉ huy một đội du kích trong vùng địch hậu. Sau Nội chiến, tôi làm Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Liên Xô. Năm 1924, tôi làm Cục phó Cục Quản lý kinh tế thuộc Tổng cục Bảo vệ Chính trị nhà nước (sau là Bộ Ủy viên nhân dân Nội vụ Liên Xô, tức Bộ Nội vụ, NKVD). Năm 1926, tôi làm Vụ trưởng Vụ kinh tế thuộc Tổng cục này. Tháng 9/1936, Bộ Chính trị Trung ương Đảng cử tôi sang làm Cố vấn cho Chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha,[2] phụ trách tổ chức công tác phản gián và chiến tranh du kích vùng địch hậu.
Trong thời gian công tác tại Tổng cục Bảo vệ Chính trị nhà nước, tôi sưu tầm được khá nhiều tài liệu về các vụ xét xử và hành quyết một số cựu lãnh tụ Cách mạng Tháng Mười Nga – các bạn chiến đấu của Lenin cà các tài liệu về mối liên quan giữa Stalin với họ. Tôi ghi chép tỉ mỉ các chỉ thị miệng của Stalin nói với cán bộ lãnh đạo Bộ Nội vụ, kể cả chỉ thị về cách dẹp sự chống đối Stalin từ phía các bạn chiến đấu cũ của  Lenin, các chỉ dẫn cách ép cung để lấy được các bản nhận tội giả. Tôi còn ghi được cả một số bài nói của Stalin với các đồng chí đó và cả lời phát biểu của họ trước khi bị hành quyết. Những tài liệu tuyệt mật được dầy công cất giấu bao năm này là do các trinh sát viên của Bộ Nội vụ cung cấp, trong đó có người phó của tôi là Mironov (sau là Cục trưởng Cục Quản lý kinh tế Bộ Nội vụ) và Boris Berman, Cục phó Cục Đối ngoại Bộ Nội vụ.
Chân dung Orlov. Nguồn: Wikipedia.
Chân dung Orlov. Nguồn: Wikipedia.
Đầu năm 1937, người ta đã thanh toán mà không qua xét xử hầu như toàn bộ cán bộ lãnh đạo và trinh sát viên của Bộ Nội vụ từng trực tiếp tham gia việc ép buộc một số cựu lãnh tụ Cách mạng tháng Mười đưa ra các bản nhận tội giả. Tiếp đó lại xảy ra vụ hành quyết hàng nghìn cán bộ Bộ Nội vụ từng nắm giữ các tin tức tình báo bí mật. Khi đang ở Tây Ban Nha, tôi nhận được tin Bộ trưởng Bộ Nội vụ G. Zagoda bị bắt.[3] Xem ra sắp đến lượt tôi chung số phận với họ. Nhưng tôi chưa thể trốn đi vì mẹ đẻ và mẹ vợ tôi đều đang còn ở Liên Xô; họ sẽ bị coi là những con tin, nếu tôi từ chối về nước thì hai bà sẽ bị hành quyết.
Trong các trận chiến đấu với bọn phát xít Franco, đã nhiều lần tôi nghĩ: giá mình hy sinh bây giờ thì những người thân trong nước sẽ không bị nguy hiểm nữa, như vậy còn tốt hơn là mình bỏ trốn khỏi cương vị hiện nay. Song đó chỉ là suy nghĩ của những kẻ hèn nhát. Tôi tiếp tục làm việc giữa những người Tây Ban Nha mà lòng dũng cảm của họ luôn làm tôi thán phục, và mơ ước hão huyền đợt sóng thanh trừng cực kỳ tàn bạo ở Moskva sẽ chấm dứt sớm.
Tháng 8/1937, tôi nhận được điện báo của Abram Slutsky, Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Nội vụ (NKVD Foreign Intelligence), cho biết bọn đặc vụ của Franco và Hitler có ý định bắt cóc tôi, do đó Bộ Nội vụ chuẩn bị cử một đội vệ sĩ 12 người sang bảo vệ tôi. Tôi hiểu ngay rằng nhiệm vụ đầu tiên của đội này sẽ là trừ khử … chính tôi.
Thế là tôi trả lời rằng tôi không cần vệ sĩ, vì Bộ Tư lệnh của tôi đang được Cận vệ quân Quốc dân Tây Ban Nha bảo vệ suốt ngày đêm, tôi đi đâu họ cũng đi theo. Điều này hoàn toàn có thật; nhờ đó Slutsky không phái vệ sĩ sang Tây Ban Nha nữa.
Song bức điện nói trên khiến tôi cảnh giác. Chắc Yezhov Bộ trưởng mới của Bộ Nội vụ đã ra lệnh cho đội biệt động mật của ông ta phải khử tôi ngay tại Tây Ban Nha. Để đối phó lại âm mưu ấy, tôi cử người ra mặt trận chọn từ Lữ đoàn Quốc tế người Đức ra 10 đảng viên cộng sản trung thành và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu nhất, lập thành một đội vệ sĩ của tôi, trang bị tiểu liên và lựu đạn, luôn bám sát tôi.
Tháng 10/1937, Spigoria, người phó của Slutsky tới Tây Ban Nha. Cách đây ba tháng, chính tay này đã bố trí vụ mưu sát đồng chí Ignace Reiss, tổ trưởng tổ tình báo Liên Xô tại Thụy Sĩ. Spigoria không có bất cứ công việc chính thức nào ở Tây Ban Nha, như vậy việc anh ta có mặt ở đây chỉ chứng minh dự đoán của tôi, nhất là khi tôi biết là vừa đến Madrid, anh ta gặp ngay Borodin, kẻ được Yezhov phái sang chỉ huy đội biệt động chuyên thực hiện các vụ khủng bố. Hai người này ắt hẳn đã phải cân nhắc việc nếu muốn hạ sát tôi thì họ không thể không chạm súng với đội vệ sĩ của tôi. Hay là họ muốn bắt cóc đứa con gái 14 tuổi của tôi để ép tôi phải về nước?
Nỗi lo này lớn dần, cuối cùng tôi phóng xe về nhà mình ở ngoại ô Barcelona đón vợ và con gái đưa ngay sang Pháp. Tại một nơi gần biên giới, tôi thuê nhà cho hai mẹ con trọ và để lại đây một người của Cục Cảnh sát mật Tây Ban Nha vừa là lái xe vừa là bảo vệ. Xong việc, tôi lập tức trở về công tác như cũ.
Ngày 9/7/1938, Yezhov ra lệnh: đúng ngày 14 tôi phải có mặt trên một chiếc tàu Liên Xô có tên là Svir đang đậu tại cảng Antwerpen ở Bỉ để bàn công việc với “một người quen của đồng chí”; rồi tôi phải cùng với Periukov, Tổng Lãnh sự Liên Xô tại Bỉ đi bằng xe của Đại sứ Liên Xô tại Pháp đến một nơi hẹn. Yezhov giải thích: “do nhiệm vụ sắp tới rất quan trọng”, nên sẽ để Periukov  “làm người trung gian” là thích hợp.
Bức điện vừa dài dòng văn tự vừa khó hiểu, chứng tỏ Yezhov và các cộng sự mới ở Bộ Nội vụ còn quá non nớt về nghiệp vụ so với những người tiền nhiệm đã bị thanh toán hết. Họ ngu xuẩn tới mức để lộ tất cả các ý đồ xấu xa đối với tôi: chiếc tàu Svir kia sẽ là cái nhà tù nổi giam giữ tôi. Tôi trả lời Yezhov là sẽ có mặt tại Antwerpen đúng hẹn.
Ngày 12/7, tôi đến biên giới Pháp. Tại đây tôi chia tay với đội bảo vệ và người vệ sĩ mặc thường phục của Cục Cảnh sát mật Tây Ban Nha đi theo tôi lâu nay. Anh lái xe người Tây Ban Nha đưa tôi đến Pertinan đón gia đình tôi ra ga xe lửa. Sáng hôm sau chúng tôi đến Paris. Tôi biết mình phải rời nước Pháp ngay, vì chỉ trong 48 giờ, mạng điệp viên tại Pháp của Yezhov sẽ đánh hơi ra tung tích tôi.
Đối với tôi, nơi tị nạn an toàn nhất là nước Mỹ; do đó tôi gọi điện đến Sứ quán Mỹ xin gặp Đại sứ William Boris. Không may ông vắng mặt, vì ngày mai là quốc khánh Pháp [14/7]. Chúng tôi bèn đến cơ quan đại diện Canada tại Paris, xuất trình hộ chiếu ngoại giao và xin cấp thị thực nhập cảnh với lý do đi nghỉ hè tại Quebec. Hồi ấy Liên Xô chưa lập quan hệ ngoại giao với Canada nên tôi rất lo sẽ bị từ chối. May sao ông Trưởng Đại diện rất thông cảm và còn viết thư tay giới thiệu tôi với Cục Xuất nhập cảnh Quebec nhờ họ tạo thuận lợi cho tôi. Sau đó tôi đến ngay nơi bán vé của Công ty Vận tải biển mua vé đi Canada, rồi phóng taxi đến ga xe lửa đáp chuyến tàu Paris-Serburg.
Mấy giờ sau chúng tôi đã rời cảng Serburg, lênh đênh trên Đại Tây Dương. Con gái tôi rất mừng vì được đi du lịch châu Mỹ. Nó đâu có ngờ rằng sẽ chẳng bao giờ được trở về Tổ quốc gặp bà nội và bà ngoại nữa. Cháu bị bệnh tim, chắc sẽ chết yểu; do đó chúng tôi không nỡ cho cháu biết số phận của gia đình. Song thấy bố mẹ luôn lo âu và mọi chuyện đều thì thầm có vẻ bí ẩn, cháu đoán ra ngay sự thật. Nó khóc suốt đêm, chiếc gối ướt đẫm nước mắt.
Sau khi tới Canada, tôi viết ngay cho Stalin một bức thư rất dài; bản sao thư ấy tôi gửi cho Yezhov. Mục đích chính của thư này là nhằm bảo vệ tính mạng hai bà mẹ của tôi. Stalin quen tôi từ năm 1924, tôi rất hiểu con người ông; vì vậy tôi không chọn cách xin xỏ tình thương, mà dùng cách cảnh cáo: nếu người của ông dám động đến hai bà thì tôi sẽ lập tức công bố trước toàn thế giới tất cả những chuyện tôi biết về Stalin. Để chứng tỏ lời đe dọa của mình không phải là lời nói suông, tôi liệt kê tất cả các tội trạng của Stalin thành một bảng kèm theo thư. Ngoài ra tôi còn báo trước: nếu tôi bị người của Stalin ám sát thì luật sư của tôi sẽ công bố ngay tất cả các tài liệu nói trên.
Tôi biết mình đang chơi một canh bạc rất nguy hiểm cho bản thân và gia đinh, nhưng tôi tin rằng chừng nào Stalin còn chưa chắc chắn là tôi đã mất khả năng công bố tội trạng của ông thì ông ta còn chưa trả thù tôi ngay.
Ngày 13/8/1938, ba chúng tôi đặt chân đến nước Mỹ bằng visa ngoại giao do cơ quan đại diện Mỹ tại Ottawa cấp. Tôi đưa ngay luật sư của mình đến Washington gặp Ủy ban Ngoại kiều, tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với Chính phủ Liên Xô và xin tị nạn chính trị tại Mỹ.
Sau đó, cuộc truy sát tôi lập tức được mạng lưới dầy đặc gián điệp bí mật của Yezhov và về sau là Beria tiến hành và kéo dài trong 14 năm liền. Tôi thoát chết được là nhờ khả năng nhạy bén dự đoán tình hình và kịp thời có đối sách; ngoài ra cũng là nhờ lòng dũng cảm của vợ con tôi. Trong suốt thời gian trên, tôi không liên lạc gì với hai bà mẹ của mình cũng như với các bạn bè ở Liên Xô, nhằm tránh gây ra cho họ những điều đáng tiếc.
Đầu năm 1953, sau khi đoán chắc là hai bà mẹ của tôi đã quy tiên, vợ chồng tôi bàn bạc và quyết định cho xuất bản cuốn sách này. Tháng Hai, tôi bắt đầu thảo luận với Ban Biên tập tạp chí LIFE về việc cho đăng thử vài chương trong cuốn sách. Công việc đang dở dang thì Stalin qua đời.
New York, tháng Sáu năm 1953
Dịch theo Ba vụ xử án lớn tại Moskva làm rung chuyển thế giới, bản tiếng Trung Quốc.
————–
[1] Alexander Mikhailovich Orlov (Александр Михайлович Орлов 1895-1973, người Belarus gốc Do Thái) là cán bộ cấp cao của Tổng cục An ninh quốc gia (KGB), năm 1938 trốn sang Mỹ nhằm tránh bị Stalin thanh trừng. Năm 1965 KGB xác nhận là Orlov không phản bội tổ quốc Xô Viết. (xem: – Alexander Orlov: The FBI’s KGB General của Edward P. Gazur. – Số phận người Tổ trưởng Tình báo buộc phải bỏ trốn đăng trên An ninh thế giớingày 2/1/1997). Cuốn Deadly Illusions: The KGB Orlov Dossier Reveals Stalin’s Master Spy cho biết năm 1969 và 1971, KGB đã bí mật gặp Orlov, mời ông trở lại Moscow như một anh hùng. Bài trên đây là phần Thay Lời tựa (tiêu đề Tôi ngửa bài với Stalin) trong hồi ký của Orlov: The Secret History of Stalin’s Crimes (Random House, 1953. Bản Trung văn là Ba vụ xử án lớn tại Moskva làm rung chuyển thế giới) tố cáo ba vụ án oan lớn do Stalin tiến hành (trong đó có vụ ám sát Kirov – chúng tôi sẽ giới thiệu sau).
[2] Chính phủ của Mặt trận bình dân Tây Ban Nha, thành lập tháng 4/1931, đại diện cho lực lượng dân chủ, tiến bộ, bị các thế lực dân tộc chủ nghĩa và phát xít, bảo hoàng chống lại. Tháng 6/1936, tướng Francisco Francolàm đảo chính, gây ra cuộc nội chiến giữa chính phủ (phe cộng hòa) với phe quốc gia của Franco. Phát xít Đức, Ý cho quân giúp Franco. Liên Xô gửi vũ khí và tình nguyện quân tham gia Lữ đoàn quốc tế chống Franco. Ngày 8/3/1939 Franco chiếm Madrid, thành lập chính phủ độc tài thống trị Tây Ban Nha cho tới khi chết (1975).
[3] Ba Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên Xô Zagoda, Yezhov và Beria cuối cùng đều bị chính phủ Liên Xô xử tử, trong đó Zagoda, Yezhov bị xử dưới thời Stalin.



Tư liệu lịch sử về quan hệ Hồ Chí Minh – Stalin những năm 1950


Biên dịch: Hồ Anh Hải
1. Đối thoại thân mật Hồ Chí Minh – Stalin ngày 16/02/1950
Tạp chí Triển vọng, tiếng Trung Quốc, xuất bản tại Hong Kong, số 511 tháng 11/1983 có đăng một bài trích trong cuốn “Trải nghiệm tám năm ở Bộ Ngoại giao” của ông Ngũ Tu Quyền[1] nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Bài này viết về sự kiện Liên Xô và Trung Quốc ký kết Hiệp ước Hữu hảo đồng minh tương trợ Xô-Trung ngày 14/02/1950 tại Moskva. Tối 16/2, phía Liên Xô tổ chức chiêu đãi tiễn đoàn Trung Quốc về nước.[2] Chủ tịch Hồ Chí Minh được mời tới dự, ngồi cùng bàn với Stalin, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Dưới đây dịch nguyên văn đoạn Ngũ Tu Quyền kể về mấy câu đối thoại giữa Hồ Chí Minh với Stalin tại buổi chiêu đãi nói trên:
… Ngày 16 tháng Hai năm 1950, Chính phủ Liên Xô mở tiệc chiêu đãi Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai và toàn thể Đoàn Đại biểu Trung Quốc. Hầu như toàn bộ các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, Chính phủ và Quân đội Liên Xô đều tới dự. Trong hai buổi chiêu đãi này,[3] Stalin tỏ ra rất vui vẻ, luôn trò chuyện thân mật, thậm chí pha trò với các vị khách.
Hôm ấy lãnh tụ Việt Nam là đồng chí Hồ Chí Minh đang ở Moskva cũng tới dự buổi chiêu đãi. Trong bữa tiệc, khi Hồ Chí Minh hỏi Stalin là đồng chí có chỉ thị gì cho tôi không thì Stalin tươi cười trả lời: “Sao tôi có thể chỉ thị cho đồng chí được nhỉ? Đồng chí là ‘Tổng thống’ rồi, làm quan còn to hơn cả tôi nữa kia mà.”[4]
Hồ Chí Minh lại nửa đùa nửa thật nói với Stalin: “Các đồng chí đã ký kết Hiệp ước Hữu hảo đồng minh tương trợ với Trung Quốc rồi. Nhân dịp tôi đang ở đây, chúng ta [Liên Xô và Việt Nam] có thể ký một hiệp ước tương tự được không?”
Vì lần này Hồ Chí Minh bí mật đến Liên Xô nên Stalin nói: “Thế thì người ta sẽ hỏi đồng chí từ đâu bỗng dưng xuất hiện ở đây thế nhỉ?”. Hồ Chí Minh nói: “Chuyện ấy dễ giải quyết thôi. Đề nghị phía Liên Xô cho một chiếc máy bay đưa tôi lên trời bay một vòng  rồi cho người ra sân bay đón tôi, sau đó đăng tin lên báo, chẳng phải là xong đấy ư?”
Stalin cười: “Đây thật là đầu óc tưởng tượng chỉ người phương Đông các đồng chí mới có mà thôi!” Stalin lúc ấy thật hiền từ dễ gần….”
Ảnh Ngũ Tu Quyền hồi trẻ ở Liên Xô 
2. Hai bức thư Hồ Chí Minh gửi Stalin tháng 10/1952
Dưới đây là ảnh chụp hai bức thư do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tay bằng tiếng Nga gửi Stalin ngày 30 và 31 tháng Mười năm 1952. Các ảnh này lấy từ trang mạngportal.rusachives.ru  của Cục Lưu trữ Hồ sơ Liên bang Nga trong dịp Phòng Triển lãm của Cục này tổ chức trưng bày kỷ niệm 40 năm Hợp tác Liên Xô-Việt Nam về kinh tế và khoa học kỹ thuật (1950-1990).
Федеральное архивное агентство. Государственное управление по делопроизводству и архивному делу Вьетнама. Российский государственный архив экономики.  Письмо Хо Ши Мина И.В.Сталину. 1952 г.
Bức thư thứ nhất, viết ngày 30/10/1952.
Bản dịch bức thư viết ngày 30/10/1952
Đồng chí I. V. Stalin kính mến
Tôi đã bắt đầu soạn bản dự thảo chương trình ruộng đất[5] của Đảng Lao Động Việt Nam, bản dự tháo này sẽ được đệ trình đồng chí muộn một chút.
Tôi xin gửi tới đồng chí các yêu cầu dưới đây, hy vọng nhận được chỉ thị của đồng chí về các yêu cầu đó:
  1. Biệt phái một hoặc hai đồng chí Liên Xô đến Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu tình hình nơi ấy. Nếu các đồng chí đó biết tiếng Pháp thì họ có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi cần khoảng 10 ngày đi đường.
  2. Nên chăng chúng tôi có thể gửi 50-100 học sinh đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam tới Liên Xô để học tập, trong số họ có người là đảng viên và không đảng viên, độ tuổi của họ từ 17 đến 22. Đồng chí đồng ý về vấn đề này chứ?
  3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc Ký ninh trong một năm để dùng cho quân đội và dân chúng, có nghĩa là 5 tấn trong mỗi nửa năm.
  4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau:
     (a) Pháo phòng không 37 mm cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.
     (b) Pháo dã chiến 76,2 mm cho hai trung đoàn, tất cả 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.
     (c) Súng máy phòng không 12,7 mm – 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.
Sau khi nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moskva vào ngày 8 hoặc 9 tháng Mười Một.
Gửi đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất!
Hồ Chí Minh
Ngày 30 tháng Mười năm 1952 
[ký tên bằng tiếng Nga và chữ Hán]
Bức thư thứ hai viết ngày 31/10/1952
Bản dịch bức thư viết ngày 31/10/1952
Đồng chí I.V. Stalin kính mến
Tôi xin gửi tới đồng chí bản dự thảo Chương trình ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Bản dự thảo chương trình này do tôi soạn thảo với sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường[6] Đề nghị đồng chí xem xét bản dự thảo này và cho chỉ thị về văn bản đó.
Gửi đồng chí lời chào cộng sản!
                                                            Hồ Chí Minh
                        Ngày 31 tháng Mười năm 1952.
Chữ ký tiếng Việt
[Mấy chữ Nga viết rất nhỏ và không rõ ở dưới cùng có lẽ là ghi chú của cơ quan tiếp nhận thư này: Các bản sao gửi cho Malenkov, Molotov và Grigorian (?). 1/11/1952…]
Hồ Anh Hải  sưu tầm, biên dịch và ghi chú.
——————
[1] Ngũ Tu Quyền (伍修权, Wu Xiuquan, 1908-1997), năm 1925 được Đảng Cộng sản Trung Quốc cử sang học trường Đại học Tôn Trung Sơn ở Moskva, năm 1927 học trường Lục quân Liên Xô, sau đó làm công tác bảo vệ biên giới Viễn Đông Liên Xô, là đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1931 về TQ công tác trong quân đội, từng làm Phó ban Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Thời gian 1950-1958 làm Vụ trưởng Vụ Liên Xô-Đông Âu thuộc Bộ Ngoại giao TQ, rồi Thứ trưởng Bộ này. Từng là Ủy viên Trung ương ĐCSTQ các khóa VIII và XI, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng TQ. Tham gia phái đoàn Chính phủ TQ do Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu sang Moskva đàm phán ký kết Hiệp ước Hữu hảo đồng minh tương trợ Xô-Trung đầu năm 1950.
[2] Đoàn Chu Ân Lai đến Moskva ngày 21/12/1950 và bắt đầu đàm phán với đoàn Liên Xô về vấn đề dự thảo Hiệp ước nói trên. Trước đó, Chủ tịch TQ Mao Trạch Đông đã đến Moskva từ ngày 16/12/1949 để dự lễ chúc thọ Stalin 70 tuổi và thăm một số nơi ở Liên Xô, Mao có bàn với Stalin về việc soạn thảo và ký Hiệp ước nói trên. Theo một nguồn tin khác, ngày 17/02/1950, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh rời Moskva về TQ trên cùng một chuyến xe lửa riêng. Phía Liên Xô dành cho ba vị khách quý này mỗi vị (cùng cán bộ đi theo) một toa xe. Dọc đường đoàn tàu có dừng lại vài nơi để khách xuống tham quan. Ngày 4/3 đoàn tàu về đến Bắc Kinh. Ngày 11/3/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Bắc Kinh đi Việt Nam.
[3] Tác giả muốn nói tới bữa tiệc tối hôm 14/2 do Vương Gia Tường Đại sứ Trung Quốc tại Liên Xô thay mặt phía TQ chiêu đãi phía Liên Xô.
[4] Stalin là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tương đương Thủ tướng. Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, tương đương Tổng thống.
[5] “Chương trình ruộng đất” viết trong hai bức thư trên nên hiểu là chương trình cải cách ruộng đất ở Việt Nam, một vấn đề Stalin rất quan tâm.
[6] Hồi ấy Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi) là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản TQ, Phó Chủ tịch Chính phủ nước CHND Trung Hoa; Vương Gia Tường (Wang Jiaxiang) là Đại sứ TQ tại Liên Xô.