Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

Chúng ta hiểu gì về Trung Quốc? Có lẽ là không nhiều lắm!

Việt Nam là một trong số những quốc gia trong Đông Nam Á được Trung Quốc quan tâm đặc biệt vì trong tâm trí người TQ, TQ luôn coi VN là một phần lãnh thổ không thể tách rời của TQ. Không những thế, khi tôi học và sống ở Mỹ và Châu Âu, nhiều người dân ở đó, kể cả Hoa Kiều, cũng nghĩ VN là một tỉnh của TQ.

Ấn phẩm duy nhất có tính hàn lâm về nghiên cứu Trung Quốc hiện nay là Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc cũng có nhiều công bố dựa vào nguồn tư liệu cấp hai, thậm chí là công bố các vấn đề về Trung Quốc “thông qua con mắt của người Trung Quốc”. Bill Hayton thì cho rằng ông không thể phỏng vấn người Việt Nam ở trong nước về vấn đề chính trị khu vực, một phần lớn là do họ luôn đề nghị giấu tên và không thể nói một cách tự do và độc lập như các học giả nước ngoài. Jonathan London thì cho rằng, những nghiên cứu phản biện Trung Quốc dễ bị coi là “nhạy cảm”. Ông lấy ví dụ, những nghiên cứu so sánh những hành động của Trung Quốc hiện nay với những động thái của các quốc gia được cho là bành trướng sức mạnh đế quốc trong lịch sử sẽ bị kiểm duyệt ở Việt Nam, điều mà không nhà nghiên cứu nghiêm túc nào có thể chấp nhận.

Xe tải nối nhau chở nông sản qua cửa 
khẩu sang Trung Quốc. Ảnh: Dân Việt. 
Vào năm 2012, tình trạng cấm biên ở cửa khẩu quốc tế Móng Cái diễn ra từ tháng 3 đến tháng 10, chưa bao giờ lâu đến như vậy1. Hàng ngàn container, phần lớn là hàng đông lạnh bị ách lại tại đây. Các cơ quan chức năng tìm mọi cách để đưa hàng hóa sang các lối cửa khẩu khác, nhưng chỉ giải quyết được 1/30 số hàng đang lưu kho. Ngoài ra toàn bộ các dịch vụ lo giấy tờ xuất nhập khẩu ở Móng Cái – nguồn sinh kế của nhiều người dân ở thành phố này bị đình trệ.

Đến bây giờ, tình trạng ách tắc tại các cửa khẩu mỗi mùa nông sản vẫn là nỗi lo thường trực của người dân. Thậm chí trong dịp Tết Nguyên Đán vừa rồi, Thủ tướng đã phải đăng đàn để chỉ đạo thông quan cho các hàng hóa xuất khẩu2. Đó chỉ là một ví dụ cho thấy một động thái nhỏ từ phía Trung Quốc có thể ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nó khiến dấy lên câu hỏi, chúng ta đã hiểu gì về tư duy, hành vi và lựa chọn của quốc gia này để có thể “chung sống” với họ? Có lẽ là không nhiều lắm!

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng. Vì vậy, nhu cầu nghiên cứu Trung Quốc của Việt Nam là “tự thân”, “thường xuyên” của ông cha ta trong suốt chiều dài lịch sử để “thích ứng”. Kể từ sau khi hai Đảng thành lập và trở thành đảng cầm quyền, Trung Quốc và Việt Nam lại càng có nhu cầu “trao đổi và tham khảo kinh nghiệm của nhau”, bởi hai nước cùng chung mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước. Trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ với tham vọng trở thành một đế chế siêu cường, thì nghiên cứu về Trung Quốc học càng trở nên hết sức cần thiết.

Có những điều kiện đặc biệt như vậy, nhưng Việt Nam chưa tổ chức nghiên cứu người láng giềng này một cách đúng mức. PGS. Jonathan London, nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc, Đại học Leiden, Hà Lan cho rằng: “Những nhà nghiên cứu Việt Nam ở một vị trí mà lẽ ra phải có một hiểu biết sâu sắc hơn các quốc gia khác về Trung Quốc, nhưng lại hiếm khi có cơ hội triển khai và công bố những nghiên cứu sử dụng những phương pháp và tiêu chuẩn được công nhận trên thế giới”.

Thiếu liên kết và thông tin

Hiện nay, nghiên cứu Trung Quốc học được tập trung ở một số nơi, trong đó lâu đời và có nhiều dấu ấn hơn cả là Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc và Bộ môn Trung Quốc học, trực thuộc Khoa Đông phương học, đặt tại trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, còn Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc thuộc trường Đại học KHXH&NV TP. HCM mới thành lập ba năm nay và chưa có kết quả nổi bật. 


Ngoài ra, số đơn vị, chương trình nghiên cứu khác như Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), ĐHQGHN thường phân tích cập nhật tình hình kinh tế Trung Quốc; các khoa dạy ngôn ngữ Trung văn thuộc Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN hoặc Đại học Hà Nội tập trung vào giảng dạy, giao lưu về ngôn ngữ chứ không nghiên cứu khu vực học. 

Việc nghiên cứu về Trung Quốc của các bộ ngành như Ngoại giao, Công an, Quốc phòng… thường tập trung vào các đối sách chứ không nhằm nghiên cứu liên ngành và toàn diện về Trung Quốc. Để nghiên cứu cơ bản tốt, các đơn vị chuyên nghiên cứu về Trung Quốc như Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm KHXH tập trung vào các chương trình nghiên cứu lớn gồm: Nghiên cứu Trung Quốc truyền thống; Nghiên cứu về Trung Quốc hiện đại, đặc biệt là cải cách mở cửa; Nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, ngoài ra nghiên cứu phát hiện và cảnh báo sớm những nguy cơ có thể xảy ra, như chiến tranh thương mại Mỹ - Trung hiện nay sẽ đem lại các nguy cơ gì về kinh tế xã hội.

Mặc dù nghiên cứu cơ bản về Trung Quốc học có vai trò là “đầu vào” cho các tư vấn, tham mưu chính sách của các bộ, ngành nhưng việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị nghiên cứu với nhau và với các cơ quan tư vấn chính sách còn chưa tốt. Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc thuộc ĐHQGHN được mở ra từ năm 2016 với kỳ vọng triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu có tính liên ngành, xây dựng và kết nối chuyên gia nhưng cũng chỉ tập hợp lực lượng nghiên cứu Trung Quốc họp một lần duy nhất để bàn bạc … rồi cho đến nay chưa thấy khởi động lại. 

Theo GS. Đỗ Tiến Sâm, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu của Trung Quốc, cơ quan nghiên cứu và tham mưu chính sách cần ngồi lại với nhau một cách “phi chính thức chứ không nhất thiết phải có cơ chế cứng nhắc” để cùng phân tích nhận định tình hình, khoảng 3 – 6 tháng một lần, nhưng cũng chưa thực hiện được. Các đơn vị tham mưu thuộc các bộ, ngành có nguồn tin riêng cũng như cập nhật thường xuyên từ các địa phương, còn các cơ quan nghiên cứu về Trung Quốc lại thường xuyên giao lưu học giả, nên có rất nhiều thông tin có thể chia sẻ cho nhau, cùng nhau phân tích. Tuy nhiên, có điều đáng tiếc là, “nhiều thông tin từ phía các cơ quan tham mưu thường khó tiếp cận”.


Những tiểu thương buôn bán hàng qua cửa khẩu Móng Cái. Ảnh: Nguyễn Văn Chính.

Mặt khác, việc đầu tư cho nghiên cứu khu vực học về Trung Quốc có thể nói là “nghèo nàn” và chưa có một chiến lược bài bản. Nhiều sản phẩm nghiên cứu về Trung Quốc là nghiên cứu “chay”, tức là mới chỉ dừng ở chỗ tìm hiểu thông qua các nguồn tài liệu bằng tiếng Trung qua các trang mạng, chứ ít có điều kiện đi khảo sát thực tế tại Trung Quốc. Chỉ có một vài nhà nghiên cứu kỳ cựu mới đủ năng lực và kinh nghiệm xin các quỹ kinh phí cho khảo sát và giao lưu học thuật quốc tế. Cho nên, khi trao đổi với chúng tôi, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá, ấn phẩm duy nhất có tính hàn lâm về nghiên cứu Trung Quốc hiện nay là Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc cũng có nhiều công bố dựa vào nguồn tư liệu cấp hai,thậm chí là công bố các vấn đề về Trung Quốc “thông qua con mắt của người Trung Quốc”. Những thành tựu đáng kể hiện nay về nghiên cứu Nho học Trung Quốc phần nhiều nhằm thông qua đó để hiểu về Nho học Việt Nam truyền thống, hoặc chuyển tải các nghiên cứu Nho học của Việt Nam ra nước ngoài, hơn là hình dung một cách đầy đủ về Nho học Trung Quốc, theo một nhà nghiên cứu đề nghị giấu tên của trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.

Mặc dù ít ỏi như vậy, hiện chỉ có Viện Nghiên cứu Trung Quốc là có nguồn đề tài nhất định, và thường xuyên từ hệ thống đề tài cấp viện, cấp bộ... về nghiên cứu Trung Quốc, còn đa số giảng viên ở các trường đại học thường phải kiêm nhiệm công tác giảng dạy và cũng không có đề tài thường xuyên mà phải “bươn chải” để có được xuất bản phẩm. Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc của Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội có hàng chục đầu sách về Nho học, trong đó nhiều sách là kết quả hợp tác với Đại học Bắc Kinh và Đại học Quốc gia Đài Loan, chủ yếu gắn với sự nỗ lực vận động của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, hiện nay là Giám đốc ĐHQG HN, kiêm Chủ tịch Hội đồng khoa học của Trung tâm. 

Trong khi đó, Đại học Sư phạm Hà Nội từng thành lập Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc nhưng từ lâu cũng phải dừng hoạt động và giám đốc Trung tâm chuyển hướng sang nghiên cứu Hàn Quốc học - theo TS Nghiêm Thúy Hằng, Bộ môn Trung Quốc học, Khoa Đông phương học, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội. “Không được đầu tư, để các nhà khoa học tự bơi, tự đi tìm kinh phí nghiên cứu, thì nhà khoa học chỉ … bơi được thế thôi”, TS. Nghiêm Thúy Hằng nói.

Việc đào tạo nghiên cứu khu vực học về Trung Quốc ở Việt Nam cũng đang thiếu bài bản. Thông thường, để có được một số nhà nghiên cứu “sắc nhọn” về Trung Quốc học hay bất cứ một khu vực nào khác, các cơ sở đào tạo cần phải nhận được “đơn đặt hàng” của các cơ quan nghiên cứu hoặc bộ ngành để tuyển chọn sinh viên xuất sắc. Số sinh viên này được đào tạo ở trong nước với những nhà khoa học thực sự am hiểu Trung Quốc và sau đó sẽ được cử đi nước ngoài rồi về với những địa chỉ sẵn sàng nhận họ trở lại. Hiện nay nguồn kinh phí từ các quỹ quốc tế cho nghiên cứu sinh nghiên cứu về Trung Quốc rất dồi dào, vì “cả thế giới đang phải nghiên cứu Trung Quốc”, nhưng vấn đề đặt ra là nghiên cứu xong các em sẽ về đâu? TS. Nghiêm Thúy Hằng đặt câu hỏi. Nhiều học viên của bà sau khi được đào tạo bài bản xong đã đi tìm kiếm công việc khác hoặc chỉ dạy ngoại ngữ là “rất phí”. Hoặc nhiều người đi theo con đường nghiên cứu nhưng cứ phải “lờ phờ” với nguồn kinh phí ít ỏi cho tới khi tự mình tìm kiếm hoặc đứng tên được đề tài cấp bộ, và con số đó không nhiều, chỉ đếm trên đầu ngón tay trong số nhà nghiên cứu về khu vực học vẫn còn ít ỏi ở Việt Nam. 

Trong khi đó, các chuyên viên ngoại giao hầu hết được tuyển chọn chỉ với tiêu chí thành thạo tiếng Anh. “Thứ quan trọng nhất không phải tiếng Anh mà là hiểu biết về sự tương đồng và khác biệt giữa các quốc gia, giữa các nền văn hóa, nhất là trong bối cảnh xung đột về ý thức hệ và giá trị cốt lõi giữa các quốc gia, các nền văn minh. Do đó, học khu vực học, là để có căn cốt văn hóa, có mẫn cảm khoa học, giúp đủ phẩm chất, đáp ứng nhu cầu công việc [công tác ngoại giao]”, TS. Nghiêm Thúy Hằng nói.

Nghiên cứu “khu vực học được coi như là công nghệ trong KHXH&NV, học hỏi tất cả những thành tựu mới nhất của các ngành KHXH&NV, sau đó giải bài toán thực tế liên quan đến những quyết sách, vận mệnh, lợi ích quốc gia”, để tạo ra một “vũ khí lợi hại nhắm tới thay đổi tư duy con người, khiến cho con người đáng lẽ ra không đồng ý thì nay lại đồng ý” đã trở thành một chiến lược được đầu tư bài bản, không chỉ bởi các nước hùng mạnh, mà còn cả các tập đoàn như Ford, Rockefeller. 

Những bài học của nhiều quốc gia đã cho thấy vai trò của khu vực học, như cuốn sách “Hoa cúc và gươm” của Ruth Benedict đã giúp cho Mỹ thực sự hiểu Nhật Bản và trả lời được câu hỏi “ Nếu Mỹ ném bom nguyên tử thì Nhật hoàng có đầu hàng hay không?”, từ đó có chiến lược và quyết sách mang tính quyết định trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai. Không chỉ “nhất thời” như vậy, công trình so sánh văn hóa này của bà Benedict đã trở thành kinh điển, gối đầu giường cho những người làm chính trị ở Mỹ và cả Nhật Bản trong nhiều năm sau. Ngay cả Trung Quốc, trước khi tiến hành chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979, GS Đái Khả Lai và các cộng sự ở Đại học Trịnh Châu tiến hành các nghiên cứu về Việt Nam, biên soạn “sách trắng” và sau này nhóm của ông còn sản xuất cả các tài liệu ngụy tạo lịch sử về Trường Sa và Hoàng Sa. Còn Việt Nam thì sao? Nhìn thẳng thắn như PGS.TS Nguyễn Văn Chính, trường ĐH KHXH&NV HN, thì Việt Nam chưa hình thành cái gọi là Trung Quốc học theo nghĩa đầy đủ và toàn diện của từ này, mà mới chỉ có nghiên cứu về Nho học, Hán nôm học mà thôi.

Không thể ngày một ngày hai mà có những câu trả lời ngay lập tức, có những thành tựu nghiên cứu đóng góp vai trò quan trọng cho việc xây dựng chiến lược quốc gia được. “Không thể chỉ "hớt váng" mà có khu vực học. Khu vực học là một ngành học rất ‘lâu công, đắt tiền’ và cần đầu tư bài bản từ đào tạo cho tới thành lập nhóm nghiên cứu - vừa có nhà nghiên cứu khu vực học là trưởng nhóm, vừa có các thành viên từ các chuyên ngành KHXH&NV khác”, TS. Nghiêm Thúy Hằng nói. “Và nghiên cứu là để nhằm tạo ra ‘công nghệ’ hữu dụng cho các chính sách chứ không phải nghiên cứu để chơi”. 

Trước hết, cần có định hướng với nhu cầu thực sự, đặt hàng các nhà nghiên cứu trả lời những câu hỏi quan trọng. Thay cho tình trạng hiện nay là, mỗi khi xây dựng các chiến lược, thì chỉ có các chuyên viên ở các bộ ngành tiến hành, đến sát ngày ra văn bản mới bắt đầu lấy ý kiến các nhà nghiên cứu. Nếu vẫn còn tư duy theo kiểu “ăn đong” tuỳ tiện như vậy thì sẽ gây thiệt hại cho đất nước, khó có chính sách bền vững, khó lòng giải mã văn hóa để có ứng xử phù hợp, đối thoại thành công và chung sống hài hòa với các quốc gia khác, tối ưu hóa lợi ích quốc gia.

"Việt Nam chưa hình thành cái gọi là Trung Quốc học theo nghĩa đầy đủ và toàn diện của từ này, mà mới chỉ có nghiên cứu về Nho học, Hán nôm học mà thôi." PGS.TS Nguyễn Văn Chính, trường ĐH KHXH&NV HN

Vắng bóng trên các diễn đàn quốc tế?

TS. Nghiêm Thuý Hằng chia sẻ, không chỉ bà mà nhiều nhà nghiên cứu nhận định, từ trước đến nay, Viện nghiên cứu Trung Quốc của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam mới chỉ chủ yếu kết nối với giới học giả Trung Quốc, còn chưa có điều kiện tiếp xúc với các nhà Trung Quốc học của Mỹ và các nước phương Tây khác vì kinh phí và rào cản ngôn ngữ. Nhiều công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc phần nhiều tham khảo từ nguồn sách báo tiếng Trung. GS. Đỗ Tiến Sâm cho biết, những người vừa có chuyên môn về một lĩnh vực, vừa biết tiếng Trung vừa biết tiếng Anh như TS. Phạm Sỹ Thành (VEPR) là “hiếm” trong giới nghiên cứu trẻ về Trung Quốc ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, khi chia sẻ với chúng tôi, TS. Thành cho biết mình còn ít công bố quốc tế vì những lí do liên quan đến công việc tư vấn cho các công ty bên ngoài.

“Trong khu vực học cần phải kết nối với Mỹ, Nga, Ấn Độ, Đài Loan” – TS. Nghiêm Thuý Hằng nhấn mạnh nhiều lần. Mỹ được coi là một trong những “cường quốc” về Trung Quốc học, khởi nguồn từ những năm 1950. Tất cả các “ngõ ngách” của Trung Quốc đều ghi dấu chân của học giả Mỹ, kể cả những vùng “nhạy cảm” như Tân Cương và khu tự trị Tây Tạng. Người Mỹ đã có được cái nhìn sâu sắc và chi tiết về gần như tất cả các khía cạnh của Trung Quốc truyền thống và đương đại3. Các trường Đại học lớn của Mỹ từ công lập đến tư nhân, các think tank, quỹ tư nhân đều đổ tiền cho Trung Quốc học. Rất nhiều sinh viên Trung Quốc tài năng có chuyên ngành về Hoa Kỳ học được tuyển luôn cho các chương trình Trung Quốc học ở Mỹ, nơi họ có lợi thế không phải bàn cãi.


Hội thảo “Chuyển đổi phương thức phát triển của Trung Quốc” năm 2014 do Viện Nghiên cứu Trung Quốc tổ chức. Tại đây, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hồng Tiểu Dũng đã trình bày về những vấn đề đặt ra trong quá trình đi sâu cải cách toàn diện và chuyển đổi phương thức phát triển gần đây ở Trung Quốc. Nguồn: vnics.org.vn

Thế nhưng, giới học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam có vẻ xa lạ với phương Tây. Bill Hayton, nhà báo và nhà nghiên cứu tại một trong những think tank có ảnh hưởng nhất thế giới - Chatham House, tác giả của hai quyển sách Việt Nam: Con rồng trỗi dậy và Biển Đông - Sự tranh giành quyền lực ở châu Á, trả lời chúng tôi: “Ngoại trừ một hai ngoại lệ, nếu có học giả Việt Nam nào có thể bình luận về chính trị khu vực mà các nhà báo quốc tế có thể phỏng vấn, thì họ là những người làm việc ở nước ngoài. Những nghiên cứu của Việt Nam về Trung Quốc tìm đỏ mắt cũng không thấy”.

Còn PGS Jonathan London chỉ thấy những mẩu bình luận cảm tính về Trung Quốc trên báo nước ngoài của các học giả Việt Nam chứ không phải là các nghiên cứu khoa học có bình duyệt. Nếu công bố quốc tế của Việt Nam gọi là có liên quan đến Trung Quốc thì phần lớn là về Biển Đông.

Một vấn đề khác mà các học giả phương Tây nhận định, là nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam bị hạn chế tự do học thuật. Bill Hayton thì cho rằng ông không thể phỏng vấn người Việt Nam ở trong nước về vấn đề chính trị khu vực, một phần lớn là do họ luôn đề nghị giấu tên và không thể nói một cách tự do và độc lập như các học giả nước ngoài. Jonathan London thì cho rằng, những nghiên cứu phản biện Trung Quốc dễ bị coi là “nhạy cảm”. Ông lấy ví dụ, những nghiên cứu so sánh những hành động của Trung Quốc hiện nay với những động thái của các quốc gia được cho là bành trướng sức mạnh đế quốc trong lịch sử sẽ bị kiểm duyệt ở Việt Nam, điều mà không nhà nghiên cứu nghiêm túc nào có thể chấp nhận.

Trong khi đó, Trung Quốc đã có một bề dày lịch sử trong lĩnh vực Đông Nam Á học, khởi đầu từ trước những năm 1950 – 60, học hỏi phương pháp và quan điểm tiếp cận từ Xô Viết, để phục vụ việc xây dựng chính sách ngoại giao. Thời điểm bấy giờ có bốn cơ sở đào tạo và nghiên cứu của địa phương, chủ yếu tập trung vào dạy ngoại ngữ của các nước Đông Nam Á, nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, lịch sử Đông Nam Á và chính sách ngoại giao của nước này. Tuy nhiên, đến năm 1980-90, ngành học này mới trở thành đầu tư mũi nhọn của Trung Quốc, bùng nổ và được giảng dạy rộng rãi ở hơn mười trường đại học uy tín, lớn nhất của nước này, từ học vị cử nhân đến tiến sĩ và các viện nghiên cứu quốc gia trực thuộc Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại Trung Quốc, nghiên cứu mọi khía cạnh đa dạng của khu vực này từ ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, ngoại giao, luật... Mỗi đại học và viện nghiên cứu như vậy đều có từ một đến hai tạp chí khoa học uy tín trong lĩnh vực Đông Nam Á học. Ở thời điểm này, phương pháp nghiên cứu của họ đã được cập nhật và theo tiêu chuẩn cũng như lý thuyết của phương Tây. Các đơn vị nghiên cứu ở trung ương tập trung vào những vấn đề cấp khu vực nhưng các đơn vị nghiên cứu địa phương tập trung vào từng quốc gia.

Các nhà nghiên cứu Đông Nam Á, không phân biệt ở tỉnh hay trung ương, thường xuyên được mời tham vấn chính sách cho chính phủ và ảnh hưởng của họ lên hoạt động ngoại giao của Trung Quốc. Cụ thể là phần lớn những điều khoản Trung Quốc đặt ra trong Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là do các học giả Đông Nam Á học của nước này đề xuất.

Việt Nam là một trong số những quốc gia trong Đông Nam Á được Trung Quốc quan tâm đặc biệt. Từ những năm 1950 – 60, các trung tâm, viện nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc đều dạy tiếng Việt. Hai trường Đại học lớn của Trung Quốc là Đại học Trịnh Châu (Hà Nam) và Đại học Bắc Kinh đều có bộ phận nghiên cứu Việt Nam học. Riêng Đại học Trịnh Châu, “bộ phận” này là một viện nghiên cứu độc lập, được thành lập từ những năm 1980. Theo một khảo sát trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á từ 1992 – 2004 của hai nhà nghiên cứu John Wong và Lai Hongyi, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia được nghiên cứu nhiều thứ hai, sau Indonesia. 

Các sinh viên học ngành Việt Nam học nói chung, đều được tuyển chọn, mỗi đợt chỉ khoảng trên dưới 10 sinh viên, vài năm một lần. Đến năm thứ hai đại học, Bộ Ngoại giao sẽ về tận trường đặt hàng những người xuất sắc, tài trợ học bổng để đi học ở Việt Nam một thời gian, về sau trở thành người điều hành các chiến lược ngoại giao. Theo TS. Nghiêm Thúy Hằng, nhiều đại sứ Trung Quốc hay cán bộ ngoại giao Trung Quốc ở Việt Nam từng được đào tạo bài bản về Việt Nam học từ những giáo sư hàng đầu Trung Quốc tại Đại học Bắc Kinh, Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh hoặc các đại học nổi tiếng khác. Bản thân Trung Quốc cũng mời người Việt Nam sang dạy về tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ở nhiều trường đại học, theo diện chuyên gia với mức lương vài chục triệu đồng/tháng (bao chỗ ở). Trung Quốc cũng tận dụng những sinh viên, nghiên cứu sinh người Việt Nam học tập tại Trung Quốc nghiên cứu về Việt Nam. GS. Đỗ Tiến Sâm kể rằng, ông bất ngờ khi thấy nhiều luận án, luận văn về Việt Nam bằng tiếng Trung lại do học viên và nghiên cứu sinh người Việt Nam du học tại Trung Quốc thực hiện với sự hướng dẫn của các giảng viên Trung Quốc.

Oscar Salemink, một nhà Việt Nam học hàng đầu và cũng thực hiện một số nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng, sự phiến diện trong nghiên cứu về Trung Quốc sẽ ngăn cản Việt Nam có chiến lược và động lực để hiểu biết sâu sắc hơn về quốc gia này, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang trên đà lấy lại vị trí “cường quốc” trên toàn cầu (bên cạnh Mỹ và vượt qua Nga, Ấn Độ, châu Âu): Việt Nam không may bị rơi vào trò chơi địa chính trị của nước này nhưng đồng thời cũng gặp may hưởng lợi về kinh tế khi ở gần một nước lớn đang phát triển. Làm sao để thăng bằng trên vị trí này phụ thuộc nhiều vào chiến lược nghiên cứu Trung Quốc học của Việt Nam. □
http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Chung-ta-hieu-gi-ve-Trung-Quoc-16403
-----

1https://laodong.vn/archived/doi-ben-cung-thiet-vi-cam-bien-tai-cua-khau-mong-cai-672292.ldo

2https://tuoitre.vn/thu-tuong-chi-dao-thong-quan-hang-hoa-xuat-khau-tai-tan-thanh-20180209092327679.htm

3https://www.chronicle.com/article/Chinas-Deficit-in-American/123884

GS. Đỗ Tiến Sâm:
Nghiên cứu Trung Quốc: Cần một sự đột phá 

Trong bối cảnh mới, khi cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nghiên cứu, dự báo về sự điều chỉnh chiến lược và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ là hết sức cần thiết. Hơn lúc nào hết chúng ta rất cần một sự “đột phá” về thể chế quản lý trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ, để có thể “kết nối”giữa các nhà nghiên cứu về Trung Quốc thuộc các bộ ngành khác nhau, giữa trong nước với nước ngoài, nhằm tạo ra những sản phẩm khoa học có chất lượng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nước nhỏ, nước lớn


Sự phân chia nước nhỏ nước lớn trên thế giới đã có từ thời thượng cổ. Có nước lớn (rộng, mạnh, đông dân, chi phối nước khác), có nước nhỏ (hẹp, yếu, ít dân, phụ thuộc), là thực tế không thể chối cãi.

Khi ở nhà (trong nước), bàn bạc trao đổi với nhau, tha hồ dùng khái niệm nước nhỏ nước lớn bởi có như thế thì mới cụ thể, vì chỉ trong nhà nên không ngại đứa khác bên ngoài nó coi thường mình.

Nhưng đi ra ngoài, nhất là về mặt ngoại giao, hoặc trên diễn đàn quốc tế, thì phải khác. Phải ăn nói làm sao đừng hạ mình xuống, tôn đứa khác lên, đừng huyênh hoang giả dối một tấc đến giời, nhưng cũng đừng để kẻ khác coi thường mình. Phải giữ vị thế. Chứ ra trường quốc tế, lại cứ lý luận nước nhỏ nước lớn, chưa chi đã lót dép ngồi xuống đất thì bảo làm sao người ta trọng mình được. Tôi thấy hai ông tướng nhà ta sang Singapore ông nào cũng truyền bá quan điểm nước nhỏ nước lớn, vô hình trung tự xếp nước mình là nước nhỏ, rồi dạy cần phải thế này, thế này để giữ hòa bình...

Nước Israel có nhỏ không? Quá nhỏ về diện tích, dân số, nhưng không bao giờ những người thay mặt nước này tại các diễn đàn quốc tế dùng khái niệm nước nhỏ, tự nhận là nước nhỏ. Cũng chả thèm tự phong là nước lớn, nhưng thằng nào đánh tao, tao đánh bỏ mẹ.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bầu không khí thời chiến căng thẳng tại đại bản doanh Huawei


Đánh mất nguồn cung linh kiện công nghệ cao từ Mỹ, tập đoàn Trung Quốc Huawei vật vã, căng thẳng tìm đường sống sót.
Những ngày này, bầu không khí tại trụ sở và các văn phòng của Huaweicực kỳ căng thẳng vì những tin xấu dồn dập kéo đến. Phóng viên Bloomberg có dịp tới đại bản doanh của tập đoàn Trung Quốc ở thành phố Đông Hoản thuộc tỉnh Quảng Đông.
"Bước vào khuôn viên viên đại bản doanh Huawei, chúng ta sẽ quan sát thấy lực lượng nhân công đang lao động một cách điên cuồng. Những chiếc xe chở công nhân qua lại giữa các văn phòng chạy suốt ngày đêm. Đèn văn phòng làm việc sáng thâu đêm. Nhà ăn dành cho nhân viên cũng hoạt động cho đến khuya", phóng viên Bloomberg viết.
Bau khong khi thoi chien cang thang tai dai ban doanh Huawei hinh anh 1
Nhân viên đi bộ đến căn tin của trụ sở Huawei ở Thâm Quyến, Trung Quốc ngày 22/5. Ảnh: Bloomberg.
Nhiều nhân viên cũ của Huawei và giới công nghệ Trung Quốc mô tả đây là văn hóa làm việc "bầy sói”. Và sự khắc nghiệt đó càng bùng lên sau khi chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh cấm vận nhà sản xuất smartphone lớn thứ hai thế giới.
Ngày 17/5, Huawei bị Bộ Thương mại Mỹ đưa vào danh sách đen những công ty không được phép mua phần mềm và linh kiện của Mỹ để sản xuất các sản phẩm.

"Buộc phải thắng"

Một số nguồn tin nội bộ cho biết những ngày qua, Huawei huy động 10.000 kỹ sư phần mềm làm việc 3 ca mỗi ngày tại các văn phòng ở Thượng Hải, Thâm Quyến và Tây An để phát triển phần mềm và linh kiện thay thế cho nguồn cung từ Mỹ.
Từ nhân viên lao công cho đến tài xế, tất cả đều được ban lãnh đạo Huawei yêu cầu quyết tâm chiến đấu và chuẩn bị tâm lý đối phó với những áp lực chính trị và thị trường ngày càng leo thang. Huawei không tiết lộ gì thêm với phóng viên Bloomberg mà chỉ cho biết họ có một kế hoạch dự phòng để đối phó với tình huống xấu nhất.
Một nguồn tin giấu tên kể có những kỹ sư phải làm việc thâu đêm suốt sáng, thậm chí không về nhà trong nhiều ngày. Người này tiết lộ các kỹ sư Huawei đang phát triển anten trạm thu phát sóng di động, loại thiết bị các công ty Mỹ như Rogers Corp sản xuất.
Đồng thời, kỹ sư Huawei đang điều chỉnh thiết kế của toàn bộ trạm thu phát sóng 4G, sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ phương Tây như Ericsson AB (Thụy Điển) và Nokia Corp (Phần Lan).
Bau khong khi thoi chien cang thang tai dai ban doanh Huawei hinh anh 2
Các kỹ sư Huawei phải làm việc thâu đêm suốt sáng. Ảnh: Digital Trends.
“Vấn đề không phải là chúng tôi có thể thắng hay không mà là chúng tôi bắt buộc phải thắng”, một kỹ sư đứng đầu nhóm nghiên cứu và phát triển chip viễn thông của Huawei nhấn mạnh. “Đây là cuộc chiến để từ đó Trung Quốc xây dựng được một ngành công nghệ viễn thông độc lập”, kỹ sư này khẳng định.
Trên diễn đàn của nhân viên Huawei, một người đăng bài viết: “Các chiến binh mặc áo giáp vàng sẽ không bao giờ trở về nhà cho đến khi họ đánh bại Trump ở Mỹ”.

Bóp nghẹt tăng trưởng

Giới chuyên môn đánh giá lệnh cấm vận của chính phủ Mỹ sẽ đặt dấu chấm hết cho thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của Huawei. Trước khi Tổng thống Trump ra tay, công ty Trung Quốc nhà cung cấp thiết bị mạng hàng đấu thế giới và là hãng cung cấp điện thoại thông minh lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Samsung.
Lệnh cấm được cho là đang đẩy nhiều nhà sản xuất chip điện tử Mỹ và châu Âu vào tình thế bất an và làm đảo lộn chuỗi cung ứng toàn cầu. Nó cũng có thể làm chậm lại quá trình triển khai mạng 5G trên toàn thế giới. Đây là hệ thống hứa hẹn sẽ hỗ trợ cho các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao, từ ôtô tự hành đến phẫu thuật bằng robot.
Tổng thống Trump khẳng định lệnh cấm vận là phản ứng cần thiết bởi Huawei làm gián điệp cho chính quyền Bắc Kinh. Trước đây, hàng loạt công ty Mỹ như Cisco Systems Inc. và T-Mobile đã kiện Huawei tội ăn cắp bí mật công nghệ và thương mại.
Bau khong khi thoi chien cang thang tai dai ban doanh Huawei hinh anh 3
Số lượng các công ty và cá nhân nước ngoài bị Bộ Thương mại Mỹ cấm trong năm 2018. Đồ hoạ: Hà Bùi.
Huawei bác bỏ mọi cáo buộc. “Chúng tôi đang dẫn trước Mỹ. Ông Trump sẽ không cần phải tấn công chúng tôi mạnh mẽ như thế nếu chúng tôi đi sau”. người sáng lập Huawei Nhậm Chính Phi nói cứng khi trả lời phỏng vấn Bloomberg ngày 24/5.

Dự phòng trong 3 tháng

Trước Huawei, một công ty Trung Quốc khác là ZTE Corps rơi vào khủng hoảng khi chọc giận Mỹ. Bộ Thương mại Mỹ cũng đưa ZTE vào danh sách đen, khiến công ty này trượt tới bờ vực của sự sụp đổ. ZTE phải chấp nhận nộp tiền phạt cho chính phủ Mỹ và bị Mỹ giám sát chặt chẽ.
Các lãnh đạo Huawei khẳng định đã rút ra bài học từ ZTE và có sự chuẩn bị đối phó với "cơn bão" mang tên Donald Trump. "Sau mỗi cơn bão, cầu vồng sẽ xuất hiện. Chúng tôi hy vọng mỗi người trong các bạn luôn tự tin, tận tâm và siêng năng để hoàn thành nhiệm vụ của mình”, ban lãnh đạo Huawei nhắn nhủ nhân viên.
Huawei cho biết đã dự trữ đủ chip và các linh kiện quan trọng khác để duy trì hoạt động kinh doanh trong ít nhất 3 tháng. Nhiều nhân viên của công ty vẫn lạc quan rằng Bắc Kinh sẽ giải quyết được tranh chấp với Washington. Những người khác cũng tin tưởng chính phủ Trung Quốc sẽ rót vốn hoặc áp dụng các chính sách để hỗ trợ công ty.
Bau khong khi thoi chien cang thang tai dai ban doanh Huawei hinh anh 4
Nhân viên mới tham dự một lớp học tại Đại học Huawei, cơ sở đào tạo của công ty tại Đông Hoản, Trung Quốc. Ảnh: Bloomberg. 
Trong ngày Huawei bị liệt vào danh sách đen, chính quyền Trung Quốc công bố mức thuế ưu đãi dành cho các công ty thiết kế chip điện tử và phần mềm. Nhờ đó, HiSilicon - hãng sản xuất chip và bán dẫn của Huawei - sẽ không phải nộp thuế trong 2 năm tới.

Tin xấu đến mỗi ngày

Tuy nhiên, nỗi lo lắng vẫn đang bao trùm các văn phòng của Huawei từ Tokyo đến Sydney. Một nhân viên ở Nhật cho biết: “Không thể phủ nhận rằng những tin tức không hay về Huawei được đăng mỗi ngày đang gây ra tác động tiêu cực. Thế nhưng các nhân viên ở Nhật đang tập trung lại và cố gắng tiếp tục làm việc như bình thường”.
Trong lúc Huawei đang kích động tinh thần của 180.000 nhân viên, Mỹ vẫn tiếp tục kêu gọi chính phủ các nước ngừng sử dụng thiết bị của công ty Trung Quốc. Australia và New Zealand cấm các sản phẩm của Huawei, Nhật Bản đã tiếp bước, trong khi những nước như Anh đang cân nhắc.
Tổng thống Donald Trump tuyên bố có thể gỡ bỏ lệnh cấm vận Huawei nếu Mỹ và Trung Quốc đạt thỏa thuận thương mại. Tuy nhiên các cuộc đàm phán đang bị đình trệ.
“Câu hỏi đặt ra ở đây là Mỹ có sử dụng Huawei như một quân cờ trong đàm phán với Trung Quốc hay không? Nếu lệnh cấm kéo dài, Huawei sẽ đánh mất phần lớn thị phần”, Bloomberg dẫn lời nhà phân tích Chris Lane của hãng Sanford C. Bernstein nhận định.
Hà Bùi / Zing


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CON ĐƯỜNG “TỰ CHUYỂN HÓA”, “TỰ DIỄN BIẾN” LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN


GS.TS Vũ Trọng Khải 

  Có nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nói, đại ý: Không ai có thể tắm 2 lần trên cùng một dòng sông. Điều đó có nghĩa là vạn vật luôn luôn thay đổi theo những qui luật tất yếu khách quan mà ý chí chủ quan của con người cần phải thuận theo; còn đi ngược lại qui luật thì con người sẽ lãnh đủ mọi hậu quả khôn lường.
  Theo chủ quan, con người luôn nghĩ rằng hoạt động của mình là tạo ra những thay đổi vì mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trong thực tế, sự thay đổi luôn diễn ra theo cả 2 chiều hướng: tiêu cực và tích cực.
  Chỉ những hoạt động phù hợp với qui luật khách quan mới tạo ra thay đổi tích cực, được coi là đổi mới. Hơn thế nữa, trong tiến trình phát triển, con người luôn luôn phải đối mặt, xử lý, giải quyết những vấn đề do chính sự đổi mới tạo ra, để vươn lên tầm cao hơn. Nếu không, sự đổi mới của ngày hôm qua lại trở thành sự lạc hậu, cản trở sự đổi mới của ngày hôm nay. Như Albert Einstein đã dạy: Người ta không thể giải quyết được những vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra những vấn đề đó.
  Nếu hiểu như vậy, thì con đường “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” mà Đảng Cộng sản Việt Nam thường cảnh báo, là một tất yếu khách quan. Vấn đề đặt ra là sự chuyển hóa, diễn biến của xã hội, của mỗi con người có phù hợp với qui luật khách quan hay không.
  Đọc bài diễn văn khai mạc hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10 (khóa 12) vừa qua, tôi thấy, so với các bài viết và nói trước đây mà tôi được biết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có sự thay đổi, sự chuyển hóa, diễn biến theo hướng tích cực.
  Trước đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định lập trường của mình về con đường đi lên CHXH ở nước ta do Đảng cộng sản chủ trương và lãnh đạo thực hiện suốt mấy chục năm qua, là đúng đắn. Nay ông đã đặt ra 3 vấn đề, 3 câu hỏi có tính gợi mở để Ban chấp hành trung ương Đảng thảo luận: (i) “Đổi mới chính trị có phải là đổi mới chế độ chính trị không? Đổi mới chính trị là đổi mới hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy, nhân sự, phương thức, lề lối làm việc”. (ii) Kinh tế thị trường và định hướng XHCN…, có coi nhẹ kinh tế nhà nước không? Chuyển tất cả sang kinh tế tư nhân có đúng không?…; Đến 2030, nước ta là nước công nghiệp phát triển hay là nước phát triển, hay là nước công nghiệp theo hướng hiện đại?… Năm 2020, nước ta đã là nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại chưa? (iii) Có sửa đổi Điều lệ Đảng không ?
  Có phải ông Trọng đã có ngầm ý khẳng định mấy điều sau:
  1. Kinh tế thị trường và định hướng XHCN
  Tôi có thể hiểu, Tổng Bí thư khẳng định là, kinh tế thị trường không bị phân chia thanh 2 loại: kinh tế thị trường định hướng XHCN và kinh tế thị trường TBCN. Đại hội đảng lần thứ 6 (1986) quyết định:
a. Từ bỏ nền kinh tế chỉ huy, tập trung quan liêu và bao cấp, mà thực chất là nền kinh tế nhà nước hóa cao độ, gần như tuyệt đối; Theo đó, nhà nước làm kinh tế để nuôi dân, người dân làm công ăn lương của nhà nước; Thuế không phải là nguồn thu lớn (thậm chí rất ít) của ngân sách nhà nước.
b. Khôi phục và phát triển kinh tế thị trường như nó vốn có.
Theo đó, dân làm kinh tế và đóng thuế để nuôi nhà nước, thuê nhà nước quản lý sự phát triển đất nước của mình.
Gọi đó là “đổi mới” thì thật khiên cưỡng. Đó chỉ là sự “cởi trói” có ý thức của đảng đối với chính mình và với dân, để giải phóng sức sản xuất đang có sẵn, tạo ra quá trình chuyển từ chệch hướng sang đúng hướng theo qui luật  đã và đang vận hành nền kinh tế của nhân loại, nhờ thay đổi tư duy. Còn “định hướng XHCN” phải chăng là phát triển xã hội theo hướng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, như mô hình xã hội ở các nước Bắc Âu?
  1. Khẳng định không kì thị kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân phải được pháp luật ứng xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác. Nếu nó vận hành sai, thì nhà nước buộc nó phải thay đổi nhờ hệ thống luật pháp do bộ máy công quyền hoạt động bằng tiền thuế của dân. Và nếu nó vận hành tốt, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước thì được nhà nước khen thưởng, tặng danh hiệu anh hùng, như những tổ chức, cá nhân khác.
  2. Ông Trọng hỏi tiếp: chuyển tất cả (kinh tế nhà nước – Vũ Trọng Khải) sang kinh tế tư nhân có đúng không. Hỏi như vậy là ông Trọng đã tự trả lời: Kinh tế nhà nước luôn tồn tại trong tất cả các nước phát triển. Nhưng vai trò, ngành nghề hoạt động của kinh tế nhà nước và cơ chế quản lý nó như thế nào để bảo đảm không để xảy ra thất thoát, tham nhũng như hiện nay, để đảm bảo thực sự bình đẳng với kinh tế tư nhân. Điều này còn cần thảo luận, làm rõ.Mặt khác,ông Trọng hoan nghênh đầu tư nước ngoai FDI ,nhưng lại hòi làm sao giử được độc lập ,tự chủ.Phải chăng ông Trọng đã thấy được những hậu quả to lớn đã gây ra cho đất nước do tiếp nhân FDI quá dễ dãi trong những nămqua.Nhưng làm thế nào để vừa thu hút FDI vừa giữ được độc tự chủ vẫn còn là câu hỏi, cần được làm rõ
  3. Ông Trọng cũng dường như thừa nhận mục tiêu do Đảng Cộng sản đề ra: đến năm 2020 nước ta trở thanh một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, là không thể thực hiện được. Hơn nữa, mục tiêu này cũng có thể không còn đặt ra cho những năm sắp tới, vì nó không phù hợp với thời đại và với điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên của nước ta, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế rất sâu rộng. Vì vậy, ông mới đặt ra câu hỏi: Đến năm 2030, nước ta sẽ là nước công nghiệp phát triển, hay là nước phát triển, hay là nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại? Theo tôi, ông hỏi như vậy là ông tự trả lời theo hướng nước ta trở thành một nước phát triển. Còn nội dung “nước phát triển” trong thời đại ngày nay như thế nào thì còn cần thảo luận tiếp.
  4. Ông Trọng cũng hỏi: có sửa đổi điều lệ đảng không? Ai cũng biết, đại hội nào cũng có sửa điều lệ đảng, nhưng chỉ là sửa những điều không trọng yếu. Nhưng nếu thừa nhận những điều nêu ở các điểm trên, tất nhiên phải sửa đổi khá căn bản điều lệ đảng ở Đại hội 13. Hơn nữa, tuy ông Trọng nói không bàn sửa cương lĩnh, nhưng với bấy nhiêu sự đổi mới lớn lao như nêu ở trên, thì về thực tế là đã sửa cương lĩnh của đảng rồi.
  Nếu tôi hiểu đúng như nêu trên,thì ông Trọng đã có thay đổi nhận thức rõ rệt theo hướng tích cực
  Đôi điều lạm bàn
  Tổng Bí thư đã nêu 3 câu hỏi có tính gợi mở để Ban Chấp hành trung ương suy nghĩ, thảo luận, tìm ra câu hỏi trả lời đúng đắn. Do vậy, tôi xin mạn phép góp vài lời lạm bàn, mặc dù tôi không phải là Ủy viên Ban Chấp hành trung ương đảng. Để trở thành một nước phat triển,Việt Nam cần đổi mới toàn diện ,đòng bộ cả kinh tế và chính trị ,phù hợp với quy luật khách quan và đăc điềm riềng có, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
   I. VỀ CHÍNH TRỊ
  1. Đổi mới Đảng Cộng sản
Tôi xin luận bàn trong khuôn khổ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang còn là một tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo toàn diện, trực tiếp, tuyệt đối, đối với mọi hoạt động kinh tế – xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường của đất nước. Do vậy, phải xây dựng một hệ tư duy mới để giải đáp 3 câu hỏi của ông Trọng. Việc làm này là chưa có tiền lệ,nên sẽ gây tranh cãi và hoài nghi tính khả thi của nó
  • Đảng cộng sản Việt Nam của ai?
Kinh tế thị trường nhiều thành phần sở hữu nên đương nhiên sinh ra các nhóm lợi ích khác nhau, cùng tồn tại, phát triển theo pháp luật. Do vậy, hầu hết các nước đều đa nguyên về chính trị, sinh ra các đảng phái khác nhau, đại diện, cho các nhóm lợi ích khác nhau, vừa đấu tranh, vừa hợp tác cùng phát triển trong khuôn khổ pháp luật.
  Nhưng ở Việt Nam, không có đa nguyên chính trị và đa đảng, thì đảng Cộng sản không thể là của riêng giai cấp công nhân, mà dứt khoát phải là đảng của dân tộc, đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của giai cấp công nhân. Hơn nữa, không có một quốc gia, một tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội nào phát triển lại không do tầng lớp tinh hoa của dân tộc, của mỗi tổ chức đó, lãnh đạo và quản lý. Tầng lớp tinh hoa ấy được hình thành và phát triển do sự kết tinh của vốn học vấn, kinh nghiệm thực tiễn, văn hóa truyền thống của dân tộc, của mỗi tổ chức, mỗi gia tộc và gene của mỗi cá thể. Họ đương nhiên không thuộc về một giai cấp nào, mà thuộc về dân tộc.
  Đảng nói chung và ban lãnh đạo đảng nói riêng, phải và chỉ bao gồm những con người thuộc tầng lớp tinh hoa của dân tộc. Chỉ có như vậy, đường lối chính trị, pháp luật, chính sách do đảng đề ra mới bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các nhóm người khác nhau của dân tộc, trong nền kinh tế thị trường đa nguyên về sở hữu, về lợi ích, về khát vọng, về năng lực.
  • Cần có luật về đảng Cộng sản
Vì đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp đối với cả 3 nhánh quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp, nên để tránh lạm quyền, nói như ông Trọng là “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, phải có luật về tổ chức hoạt động của đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy có thể có một đạo luật như vậy không?Điều này cũng chưa có tiền lệ.
  • Đổi mới cấu trúc của đảng để có thể “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”
  1. a) Luật về đảng trước hêt phải bảo đảm triệt để dân chủ ,mọi đảng viên đều bình đăng trước luật và điều lệ đảng: được quyền phát biểu,tranh luận, bảo lưu ý kiến, quan điểm của mình,nếu thuộc thiểu số trong tổ chức đảng ,mà không bị quy chụp là thoái hóa ,biến chất;mọi đảng viên đều có quyền tự do ứng cử ,tranh cử bằng chương trình hành động,và bầu cử các cấp lãnh đạo của đảng.
  2. b) Ban Chấp hành trung ương đảng nên có cơ cấu và chức năng, nhiệm vụ như là thượng viện ở các nước theo chế độ đại nghị. Các ủy viên trung ương hoạt động chuyên trách, hưởng lương thượng nghị sĩ và có kinh phí hoạt động thực thi nhiệm vụ. Và do đó đương nhiên Tổng Bí thư sẽ kiêm chức Chủ tịch thượng viện. Các ban giúp việc của Ban chấp hành trung ương đảng chuyển thành các ủy ban chuyên trách của thượng viện và được nhận lương từ ngân sách nhà nước.
  3. c) Ủy ban Kiểm tra của đảng không do Ban Chấp hành bầu ra như hiện nay mà phải do đại hội đảng trực tiếp bầu ra, để có thể xóa bỏ tất cả vùng cấm trên thực tế, tương tự như Ban Kiểm soát của công ty cổ phần. Do vậy, Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra trung ương đảng sẽ kiêm nhiệm Chánh tòa bảo hiến, các ủy viên Ủy ban Kiểm tra là thẩm phán của Tòa án này và đương nhiên Ủy ban Kiểm tra đảng sẽ không ăn lương của đảng. Việc xử lý sai phạm của thành viên Ủy ban Kiểm tra do một Tòa án đặc biệt được thiết lập cho từng trường hợp cụ thể, theo luật định.
  1. Đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước, nhân sự và phương thức lề lối làm việc
    • Thành lập Hạ viện
  • Quốc hội hiện nay nên đổi thành Hạ (nghị) viện. Số đại biểu quốc hội (Hạ nghị sĩ) được bầu với số lượng nhiều, ít phụ thuộc vào dân số của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và có ưu tiên cho các tỉnh có nhiều sắc tộc thiểu số.
  • Do vậy, cần xóa bỏ cơ chế “Đảng cử, mặt trận Tổ quốc giới thiệu, dân bầu” như bấy lâu nay. Mọi công dân từ 21 tuổi trở lên, vận động được đủ số công dân giới thiệu (ví dụ có thể 500 công dân ở thành phố lớn, 200 công dân ở nông thôn, 100 công dân ở vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa thớt), đều có quyền tự do ứng cử Hạ nghị sĩ.
  • Hạ nghị sĩ phải hoạt động chuyên nghiệp được hưởng lương, tuyệt đối không được tham gia làm việc có thù lao của bất kì tổ chức hành pháp, tư pháp các cấp, từ trung ương đến xã, thôn, ấp, bản. Mỗi Hạ nghị sĩ và các thành viên của ủy ban chuyên trách các lĩnh vực được cấp một khoản kinh phí để thuê tư vấn soạn thảo hay phản biện các dự án luật trước khi trình Hạ viện thảo luận, biểu quyết.
  • Như vậy, các Hạ nghị sĩ và Chủ tịch Hạ viện không nhất thiết phải là đảng viên Cộng sản.
  • Các ứng viên được tự do tranh cử bằng mọi cách theo luật định, nhất là bằng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội.
  • Hạ nghị sĩ có thể đồng thời là thành viên của hội đồng nhân dân các cấp, nơi họ cư trú thường xuyên.
   2.2. Quốc Hội: Quốc hội bao gồm lưỡng viên,thượng viện và hạ viên;Quốc hội không có cấp trên,cấp dưới .Các nghị sĩ dều bình đẳng và c0 1 phiếu biểu quyết hay bầu cử.Do vậy quốc hội không có ủy ban thường vụ và khong ban hành pháp lệnh ,như hiên nay.Mổi viện chỉ cần 1 phó chủ tịch để giúp chủ tịch điểu hành khi chủ tịch vắng mặt;Văn phòng thượng viện và hạ viện chỉ có chức năng hành chính ,hậu cần ,bảo đảm điều kiện cho lưởng viện và các nghị sĩ hoạt động. Các ủy ban chuyên môn của mỗi viện đảm trách soạn thảo ,phản biện các dư án luật  được trình lưỡng viện biểu quyết.Moi công dân,tổ chức chính trị ,xã hội ,nghề nghiệp đều có quyền soạn thảo và phản biện các dự án luật
  • Chủ tịch nước và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
  1. Cần xóa bỏ định chế của Chủ tịch nước. Bởi vì vai trò Chủ tịch nước theo hiến pháp nước ta qui định rất lớn (tổng chỉ huy lực lượng vũ trang, trưởng ban cải cách tư pháp, đại diện Nhà nước về đối nội đối ngoại, kí quyết định phong hàm cấp trưởng và các danh hiệu khen thưởng cấp quốc gia…), nhưng không rõ thuộc hệ lập pháp, hành pháp, tư pháp, hay trên tất cả các nhánh quyền lực này.
  2. Thủ tướng Chính phủ đứng đầu cơ quan hành pháp ở cấp trung ương do 2 viện bầu ra trong số thượng nghị sĩ, thông qua thể thức ứng cử và tranh cử bằng chương trình hành động của mỗi ứng viên.
  Các Bộ trưởng không thể đồng thời là nghị sĩ ở lưỡng viện và không nhất thiết phải là đảng viên đảng Cộng sản. Thủ tướng Chính phủ đệ trình lưỡng viện phê duyệt và bãi miễn thành viên Chính phủ. Lưỡng viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm của cả Chính phủ hay của từng thành viên Chí
  1. Bộ trưởng với tư cách là thành viên Chính phủ phải là cấp trên, thay mặt Chính phủ đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bộ trưởng không có chức năng tham mưu cho Chính phủ như hiện nay, mà phải là người thay mặt Chính phủ quản lý ngành, chịu trách nhiệm trước 2 viện của Quốc hội, trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
    • Xóa bỏ cấp trung gian phụ trách khối ngành là Phó thủ tướng, nếu Bộ trưởng có vai trò như trên. Bởi vì, không có Phó thủ tướng nào phụ trách khối ngành lại giỏi hơn Bộ trưởng trong lĩnh vực của họ. Chỉ cần 1 Phó thủ tướng kiêm Tổng thư ký Chính phủ để giúp Thủ tướng điều hành mang tính hành chính. Còn chuyên môn thuộc lĩnh vực nào do Bộ trưởng phụ trách lĩnh vực đó thực thi. Như vậy, Thủ tướng Chính phủ mới không trở thành một vị “đốc công cấp cao” hàng ngày xử lý việc vặt như hiện nay.
  • Thay định chế UBND các cấp hiện nay bằng định chế tỉnh trưởng,thị trưởng,quận (huyện) trưởng, xã trrưởng, thôn (ấp, bản) trưởng do người đứng đầu cấp hành chính cấp trên trực tiếp bổ nhiêm và kỉ luật, bãi miễn, có tham khảo ý kiến của HĐND cùng cấp. Bí thư đảng các cấp giữ chức vụ chủ tịch HĐND cung cấp. Tất cả các vị trí quyền lực thuộc các câp nhà nước địa phương phải do ngưởi không có cùng quê hương của “tứ thân phụ mẫu” đảm trách.
  • Tổ chức tư pháp
             2.6.1/ Bộ Tư pháp
  Hãy trở lại Hiến pháp 1946. Bộ tư pháp quản lý hệ thống trại giam theo Luật và qui chế quản lí trại. Hiện nay, ngành công an các cấp từ Bộ đến quận đều có quyền khởi tố, bắt tạm giam nghi can, điều tra, xét hỏi, giam giữ cả nghi can và tù nhân đã thành án, thì chẳng khác gì 1 người vừa là thủ trưởng, vừa là kế toán viên, vừa làm thủ kho, thủ quỹ trong một tổ chức cực lớn là quốc gia (Tệ hại hơn cả trường hợp1 người vừa là cầu thủ vừa là trọng tài trong một trận thi đấu bóng). Do vậy, việc công an không chỉ bắt ‘nóng’ mà bắt cả nghi can khi chưa có lệnh Tòa án, ép cung, bức cung, mớm cung, tra tấn nghi can để đạt thành tích phá án nhanh, thậm chí khi đã thành án, còn bắt tội nhân nhận thêm tội này tội khác để được giảm án, dẫn đến nhiều vụ án oan, chết oan ngay khi nghi can còn đang trong giai đoạn tạm giam. Điều đó đã gây bức xúc lớn trong xã hội ta hiện nay. Nếu các trại giam thuộc ngành Tư pháp quản lý thì sẽ hạn chế tốt đa, thậm chí xóa bỏ tình trạng nêu trên. Bộ tư pháp cần có tổ chức cảnh sat tư pháp có quyền cưỡng chế buôc bên bị phải ra hầu tòa, buộc bên bị kết tội hay thua kiên thực thi bản án đã có hiệu lực.
  Mặt khác, Bộ tư pháp còn quản lý cả thẩm phán xử tội, lẫn thẩm phán buộc tội (công tố viên), từ khâu bồi dưỡng chuyên môn, đề xuất bổ nhiệm, khen thưởng, kỉ luật (đối với thẩm phán cấp cao), bổ nhiệm, kỉ luật thẩm phán cấp thấp, theo Luật định.
(Do vậy, không cần mỗi cơ quan như Tòa án tối cao, Viện kiểm soát tối cao, Bộ Tư pháp, đều có học viện bồi dưỡng thẩm phán như hiện nay).   
2.6.2/ Tòa án
– Trong điều kiện độc đảng lãnh đạo như hiện nay, muốn độc lập xét xử, không bị chính quyền, cấp ủy đảng can thiệp trái luật, Tòa án nên tổ chức theo hướng: bỏ tổ chức Tòa án theo cấp hành chính huyện (quận), tỉnh (thành phố thuộc trung ương) và Tòa án tối cao như hiện nay; thành lập Tòa án sơ cấp liên huyện (quận), qui mô nhiều hay ít huyện (quận) theo số dân và điều kiện giao thông; Tòa án phúc thẩm liên tỉnh cùng thuộc một vùng kinh tế sinh thái tự nhiên và nhân văn (Hiện nay, nước ta được chia thành 7 vùng sinh thái); Tòa án tối cao, xử giám đốc thẩm. Chỉ có Tòa án do 1 thẩm phán đại diện mới có quyền kí lệnh bắt tạm giam, hay cấm đi lại khỏi nơi cư trú đối với nghi can. Trường hợp bắt “nóng”, trong 24 giờ sau khi bắt, công an phải xin lệnh bắt tạm giam của Tòa án.
– Thực hiện chế độ thẩm phán suốt đời, gồm cả thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội (công tố viên). Họ chỉ bị miễn nhiệm khi không đủ sức khỏe thục thi công vụ hoặc phạm tội bị một tòa án được thành lập riêng xét xử và tuyên án bãi miễn. Riêng với tòa Bảo hiến, bên cạnh các thành viên của Ủy ban Kiểm tra có nhiệm kì của đại hội đảng, lưỡng viện cần phê chuẩn số thẩm phán suốt đời theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, với số lượng tương đương với số thành viên Ủy ban Kiểm tra trung ương.
 2.6.3/ Bỏ định chế Viện Kiểm sát vừa giữ quyền công tố (buộc tội) vừa giữ quyền giám sát thực thi pháp luật như hiện nay; thành lập Viện Công tố ở mỗi cấp Tòa án như nêu trên.
  1. Thực hiện dân chủ theo hiến pháp hiện hành và các công ước quốc tế mà VN đã kí kết.
Không có dân chủ thi không có sáng tạo. “Một xã hội không có phản biện là một xã hội chết lâm sàng” (Gs Ngô Bảo Châu). Do vậy Quốc hội cân ban hành luật biểu tình, luật về hội, luât bảo vệ quyền con người, luật tự do ngôn luận trước các vấn đề nẩy sinh của đất nước.
II VỀ KINH TẾ
  1. Tổ chức lại nền kinh tế
1.1 Thành lập hội đồng kinh tế vùng
Đơn vị cấp tỉnh không thể là một đơn vị kinh tế, mà chỉ quản lý hành chính trên các lĩnh vực an ninh, nội chính, văn hóa – xã hội, bảo vệ môi trường, không có chức năng quản lý kinh tế, càng không có đủ thẩm quyền và khả năng tổ chức liên kết kinh tế giữa các tỉnh trong một vùng kinh tế sinh thái. Thay vào đó, thành lập hội đồng quản lý phát triển kinh tế theo vùng kinh tế sinh thái tự nhiên và nhân văn (7 vùng) trực thuộc Chính phủ trung ương, gọi tắt là Hội đồng kinh tế vùng. Thành phẩn hội đồng này bao gồm đại diện các bộ ngành ở cấp trung ương, tỉnh trưởng các tỉnh thuộc vùng (có thể tỉnh trưởng của một tỉnh đồng thời là thành viên của 2 – 3 hội đồng kinh tế do điều kiện sinh thái qui định). Nhiệm vụ của hội đồng này là đề xuất Chính phủ phê duyệt các sản phẩm chiến lược quốc gia, quy hoạch kinh tế – xã hội của mỗi vùng kinh tế sinh thái gồm cả kết cấu hạ tầng kinh tế – kĩ thuật, xã hội của vủng, đặc biệt chú trọng quy hoạch xây đô thị trung tâm vùng và đô thị “vệ tinh” với đầy đủ cơ sở vật chất tạo mức sống cao hơn nông thôn. Nhờ đó, nông dân có thể trở thành thị dân một cách bền vững; Giám sát, đôn đốc các đơn vị có nhiệm vụ thực thi chiến lược sản phẩm, dự án (đã được duyệt gọi là đề án), đầu tư công, công tư kết hợp, BOT và BT do Chính phủ hay Bộ ngành quyết định, theo thẩm quyền do Luật định; Tổ chức chuỗi giá trị ngành hàng chiến lược của vùng. Như vậy, hội đồng vùng kinh tế là một cơ quan quản lý nhà nước. Hội đồng chỉ có bộ máy hành chính, giúp việc hội đồng hoạt động. Việc nghiên cứu xây dựng chiến lược sản phẩm, qui hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng do các viện, trường, các tổ chức nghề nghiệp thực hiện thông qua đấu thầu và được một hội đồng tư vấn độc lập do hội đồng kinh tế vùng thành lập thẩm định, đánh giá kết quả nghiên cứu (có thể mời tổ chức quốc tế có kinh nghiệm).  Trên cơ sở đó, hội đồng kinh tế vùng trình Chính phủ phê duyệt, rồi giám sát thực hiện các quyết định này của Chính phủ.
  • Để phát triển hiệu quả chiến lược phát triển, các ngành kinh tế trọng yếu ở nước ta có thể là:
  1. Công nghệ thông tin (phần mềm)
  Nguồn nhân lực Việt Nam đủ sức để phát triển công nghệ thông tin. Việt Nam chỉ có thể nhanh chóng đứng trong tốp đầu của thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, từ khâu sáng tạo công nghệ nguồn đến sản xuất và thương mại trên thị trường trong và ngoài nước, nếu có cách làm đúng. Còn đối với các ngành khác là không thể. Quan trọng hơn là chỉ trên cơ sơ phát triển cong nghệ thông tin đạt trình độ quốc tê, Việt Nam mới có thể phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường đạt trình độ của một nước văn minh hiện đại.
  1. Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh theo phương pháp đông – tây y kết hợp
  Dọc bờ biển miền trung, Sapa và Đà Lạt… có thể trở thành nơi phát triển nhanh, mang lại hiệu quả cao trên lĩnh vực này do có cả điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ngành này có thể tạo việc làm và giá trị  chiếm tỉ trọng cao trong cả GDP và GNP (40%?).
  1. Nông nghiệp công nghệ cao và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo hướng hữu cơ, trên mỗi vùng nông nghiệp sinh thái (7 vùng). Có thể nêu vài ví dụ: vùng đồng bằng Bắc bộ, bắc Khu 4 cũ có thể xác định sản phẩm chiến lược quốc gia là rau, quả phục vụ đô thị trong nước và xuất sang thị trường đông bắc Á, như bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Xiberi của Nga, nhất là các nông sản vụ đông; vùng miền núi phía bắc và Tây Nguyên có lợi thế sản xuất các loại thảo dược quí hoàn toàn hữu cơ, được chế biến bằng công nghệ hiện đại, theo các bài thuốc y học cổ truyền, bản địa và theo các bài thuốc mới là kết quả nghiên cứu dược khoa, thành các loại thuốc và thực phẩm chức năng có giá trị gia tăng rất cao…
 Mỗi vùng nông nghiệp sinh thái cần được xác định loại nông sản chiến lược quốc gia và xây dựng kết cấu hạ tầng tương ứng để phát triển bền vững, phục vụ cho thị trường hơn 100 triệu dân Việt Nam và xuất cảng sang thị trường thế giới.
 Nền nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam có thể học tập Israel, nhưng phải được Việt hóa. Muốn vậy, cần thay đổi căn bản chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện hành theo các hướng sau đây:
  • Sửa đổi căn bản Luật đất đai hiện hành theo hướng đa chủ thể sở hữu: nhà nước, các tổ chức (doanh nghiệp, nhà chung, nhà chùa…), tư nhân và cá nhân, để hình thành thị trường đất đai đích thực, tạo điều kiện thuận lợi cho tích tụ và tập trung ruộng đất, hình thành các trang trại gia đình, trang trại cá nhân (một chủ sở hữu, không có cấp quản lý trung gian) và trang trại gia đình dự phần, sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn bằng công nghệ cao, theo hướng hữu cơ, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm mà các thị trường yêu cầu (đặc biệt là yêu cầu của các thị trường khó tính, nhưng mang lại giá trị gia tăng cao), cả trong và ngoài nước.
 Trước mắt, cần sửa đổi, bỏ điều 62 của Luật đất đai hiện hành cho phép chính quyền các cấp có quyền thu hồi đất theo qui hoạch phát triển kinh tế – xã hội của mình và đền bù cho người dân theo biểu giá do cấp tỉnh qui định 5 năm 1 lần; Phải xác lập quyền sử dụng đất của người dân theo Luật đất đai hiện hành là quyền tài sản, được mua – bán như các loại hàng hóa khác. Nhà nước cần đất vì mục đích an ninh quốc phòng có quyền trưng mua nhưng với giá trị cao hơn giá thị trường ít nhất 5%.
  • Đào tạo đội ngũ “thanh nông tri điền”, thay thế cho “lão nông tri điền”, nông dân chuyên nghiệp thay thế nông dân cha truyền con nối, thông qua các cơ sở đào tạo hiện có, bằng ngân sách nhà nước.
  • Quản lý theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản ở mỗi vùng và tiểu vùng nông nghiệp sinh thái. Trong đó, chủ thể là doanh nghiệp mua, chế biến, tiêu thụ nông sản bằng công nghệ cao phải đóng vai trò lãnh đạo chuỗi với chính sách thích hợp; Chủ thể là các trang trại nói trên do các nông dân trẻ, chuyên nghiệp làm chủ và quản lý, thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học bằng công nghệ cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và có thể sản xuất theo hướng hữu cơ. Cả 2 chủ thể này tạo ra mối liên kết sản xuất theo hợp đồng với nhau và với các chủ thể khác, cung ứng các dịch vụ khác ở cả đầu vào và đầu ra, theo cơ chế phân chia lợi ích và rủi ro một cách công bằng, bảo đảm nguyên tắc các bên cùng thắng. Nhà nước các cấp, gồm chính quyền và Tòa án, phải xét xử các mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị theo Luật định một cách công khai, minh bạch, và bản án hay kết luận của chính quyền đã có hiệu lực phải được thực thi triệt để, nhanh chóng.
  1. Các thành phần kinh tế 
2.1. Các doanh nghiệp thuộc các chủ sở hữu khác nhau đều là tế bào của nền kinh tế thị trường, hoạt động bình đẳng theo pháp luật, không có cấp trên chủ quản. Do vậy, trong kinh tế thị trường không có loại doanh nghiệp nào có thể đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt hay là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế theo Luật định. Chỉ có doanh nghiệp giỏi, có qui mô kinh doanh lớn, đa ngành, đa quốc gia nên tự nhiên có khả năng dẫn dắt các doanh nghiệp khác theo chuỗi cung ứng. Nhưng khi chúng phát triển đến mức có thể độc quyền lũng đoạn thị trường thi nhà nước sẽ buộc chúng chia nhỏ thành nhiều doanh nghiệp, theo luật định. Doanh nghiệp FDI chỉ được đầu tư và hoạt động theo những điều kiện do luật đinh, như: sử dụng công nghệ cao, tiết kiệm điện, không gây ô nhiễm môi trường, chủ yếu sử dụng sức lao động Việt Nam; không được đóng trên địa bàn trọng yếu về an ninh quốc phòng; phài có chính sách đào tạo nghề và an sinh xã hội cho người lao động, tránh tình trạng bóc lột sức lao đông trẻ với giá rẻ mạt và cường độ lao động cao, rồi sa thải khi họ mới 30-40 tuổi đời, cái tuổi chưa già nhưng rất khó đào tạo lại để chuyển đổi sinh kế.
2.2. Kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước bao gồm 2 bộ phận chính: (a) Các cơ sở nhà nước làm dịch vụ công, như các loại rừng đóng vai trò kết cấu hạ tầng sinh thái tự nhiên (rừng đầu nguồn, phòng hộ, bảo vệ đa dạng sinh học, vườn quốc gia, khu sinh quyển, rừng ngập mặn ven biển đều thuộc quốc gia công thổ), bệnh viện, trường học công lập, một số cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế – kĩ thuật trọng yếu. Những cơ sở này phải giao cho 1 chủ thể quản lý theo luật pháp. (b) Doanh nghiệp nhà nước (có ít nhất 51% vốn chủ sở hữu thuộc nhà nước). Nhà nước chỉ thành lập một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực và địa bàn mà tư nhân không đầu tư vì không hay ít có lợi nhuận, nhưng lại có ý nghĩa thúc đẩy phát triển cả nền kinh tế của mỗi vùng kinh tế sinh thái do sức lan tỏa của nó, hoạt động theo cơ chế đặc biệt. Nhưng khi hoạt động của nó có lợi nhuận thì phải giải tư, bán cho các chủ sở hữu phi nhà nước, rút vốn nhà nước để đầu tư cho các lĩnh vực và vùng cần thiết khác. Doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng không được kinh doanh trong các ngành hàng thông thường, như dệt may, nhà hàng, khách sạn, sân golf, ngân hàng thương mại, nông nghiệp (trừ một số địa bàn trọng yếu về an ninh, quốc phòng)…
  1. Bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn
 3.1. Tất cả các khu, cụm công nghiệp đều phải có cơ sở xử lý chất thải (khí, rắn, lỏng) tập trung trước khi thải ra môi trường; Nếu không có cơ sở xử lí chất thải đạt chuẩn quốc gia thì nhât quyết không được hoạt động
Tất cả các công xưởng, trang trại, các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp bắt buộc phải xử lý chất thải bảo đảm vệ sinh môi trường. Ngành tư pháp các cấp phải nghiêm trị bất cứ ai xả thải chất độc hại chưa được xử lý ra môi trường, bằng cả xử lý hành chính, như phạt tiền, yêu cầu dừng hoạt động hay đóng cửa vĩnh viễn và xử lý hình sự đủ sức răn đe. Cảnh sát môi trường nên trực thuộc Bộ tài nguyên, môi trường, có đủ thẩm quyền và điều kiện vật chất để buộc mọi cá nhân tổ chức chấp hành luật bảo vệ môi trường.
Đổi mới công nghệ, sử dụng những thiết bị hiện đại trong xử lý chất thải, đặc biệt lả phải cải thiện ngay điều kiện lao động cho công nhân vệ sinh môi trường ở các đô thị hiện nay; Áp dụng rộng rãi ở cả đô thị và nông thôn công nghệ xử lý rác hiện đại theo mô hình kinh tế tuần hoàn; chính quyền các cấp theo luật phải thường xuyên, định kì kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh có xả thải, nếu cần thiết thuê các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp về đánh giá tác động môi trường đối với các cơ sở này.
  • Bảo vệ môi trường sinh thái nhân văn theo vùng miền và sắc tộc, như một loại sức mạnh mềm để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa
  • Khôi phục tiếng nói và chữ viết đã có của các sắc tộc và dịch sang tiếng Việt phổ thông các tác phẩm của họ.
  • Xây dựng chữ viết cho các sắc tộc có tiếng nói riêng nhưng chưa có chữ viết.
  • Khôi phục và phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ của các sắc tộc ít người.
  • Dạy ngôn ngữ và chữ viết của mỗi sắc tộc cho con em họ.
  1. Ngân hàng 
Thành lập Ngân hàng Trung ương, thay thế Ngân hàng Nhà nước hiện nay, trực thuộc Quốc hội, có chính sách tiền tệ bảo đảm cân đối vĩ mô như các nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới.
III GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC  
  Nguồn nhân lực là yếu tố quyêt định sự phát triển của đất nước theo các nội dung đổi mới nêu trên. Thực hiện chế độ phổ cập giáo dục miễn phí đến cấp trung học cơ sở. Là nước đi sau, Việt Nam có lợi thế là học tập các nước đã phát triển cả về tri thức, kinh nghiệm, nội dung, phương pháp, cách tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức kĩ năng từ giáo dục mầm non đến đại học, trên đại học, đào tạo nghề bậc cao cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trưởng, quản trị kinh doanh và cả quàn trị quốc gia. Tất nhiên nội dung và cách làm phải được Việt Nam hóa. Ví dụ, có thể mua bản quyền chương trình, sách giáo khoa về khoa học tự nhiên, cách tổ chức thực hiện đối với giáa dục phổ thông… Việc đào tạo  ở cấp đại học, trên đại học và dạy nghề cũng nên làm như vậy. Cần đầu tư ngân sách nhà nước cho du học sinh VN ở các lĩnh vực mà trong nước chưa đào tạo tốt. Có thể học cách làm của Singapore trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực,nhất là nguồn nhân lực quản trị quốc gia. Ở tất cả các vị trí quản trị quốc gia, mọi công chức đều phải được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kĩ năng nghể theo chuẩn chức danh.  Kiên quyết không bầu hay bổ nhiệm những người chưa qua đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn quốc gia…
 Kết luận: Nếu thực hiện được các nội dung nêu trên là thực hiện một bước quan trọng chuyển từ chế độ toàn trị sang dân chủ dựa trên nền tảng kinh tế thị trường đa sở hữu, nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, thượng tôn pháp luật và xã hội dân sự, để khắc phục các khiếm khuyết vốn có của kinh tế thị trường và định chế nhà nước, hướng tới mục tiêu XHCN: dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và con người thuộc các tầng lớp và sắc tộc khác nhau của dân tộc Việt Nam.
  Như vậy phải soạn lại Hiến pháp để toàn cử tri phúc quyêt và soạn lại tất cả các bộ luật theo hiến pháp mới.
[1] “Tự diễn biến”,”Tự chuyển hóa”: Quy luật tiến hóa của cuộc sống
[2] “Tự diễn biến”,”Tự chuyển hóa”: Khái niệm, biểu hiện và nguyên nhân
[3] “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Nhận diện và phòng, chống
[4] Những nhận thức mới về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
[5] Ngăn chặn hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” – nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bảo đảm cho Đảng ta vững mạnh
[6] “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cán bộ, đảng viên và giải pháp phòng, chống
[7] Về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
[8] “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”: Tiền đề của thành công



Phần nhận xét hiển thị trên trang