Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

Nghệ thuật giúp cho con người hướng thiện?

Thanh niên “vỡ òa đón sao”
Chu Mộng Long: Nghệ thuật dẫu là đạt đến cái đẹp thuần khiết đi nữa thì sự vươn đến thiện ác còn tùy người thưởng thức. Kẻ phàm phu mà thưởng thức nghệ thuật, nói như Nguyễn Hưng Quốc, khác nào bọn Mã Giám Sinh yêu Thúy Kiều, hậu quả là biến Thúy Kiều thành con đĩ.
Một con hát triết luận về âm nhạc. Rằng âm nhạc mang cái đẹp đến cho cuộc sống, rằng cái đẹp lay động lòng người, làm cho con người hướng thiện. Thứ triết luận mỏng môi này đầy rẫy trong các sách mỹ học, lý luận nghệ thuật ở Việt Nam. Nó ngớ ngẩn, nhưng nhiều nhà báo bênh vực cho con hát lại tin như thật và dẫn đi dẫn lại như là chân lý vậy.
Sự thật, xưa nay trên thế giới chưa có ai lý luận như thế. Là bởi các giáo sư tiến sĩ Việt Nam chộp giật rồi viết bậy vào sách của mình làm cho cái con hát kia và đám nhà báo nọ tưởng đó là tri thức thứ thiệt.
Các triết gia Hy Lạp cổ nói nhiều nhất về âm nhạc và cái đẹp. Không ai trong số các nhà thông thái ấy quan niệm âm nhạc hay cái đẹp đơn giản như vậy. Phái Pythagoras xem những bản hòa âm của âm nhạc là toán học, rằng các thanh âm hòa điệu được phát ra từ những dây đàn có các số đo được xác định bằng các tỷ lệ chuẩn mực, được coi như là sự thiên khải của tôn giáo. Có nghĩa là Pythagoras xem âm nhạc hay cái đẹp là những mẫu mực tinh thần, và sự mẫu mực ấy thuộc về thần thánh. Phái Plato cũng không xem cái đẹp nằm trong thường nghiệm của tri giác mà thuộc siêu nghiệm khi con người vươn đến tinh thần siêu việt. Ngay cả người được nhắc đến như một ông tổ của phái duy vật là Aristotle cũng không xem cái đẹp như là cái tự nhiên của đời sống. Nghệ thuật là sự mô phỏng (mimesis), nhưng nó luôn đẹp hơn tự nhiên (anh hùng ca, bi kịch) hoặc xấu hơn tự nhiên (hài kịch).
Trong sự vươn đến trí tuệ siêu việt, thậm chí mô phỏng đẹp hơn hay xấu hơn tự nhiên, không có chuyện nghệ thuật bao giờ cũng lay động lòng người, làm cho con người hướng thiện. Nếu thế thì Plato đã không đòi đuổi các nhà thơ ra khỏi vương quốc cộng hòa lý tưởng của ông, và Aristotle đã không phân biệt sự cao cả, trật tự của nghệ thuật đỉnh cao và sự tầm thường thấp kém của loại nghệ thuật phàm tục.
Trong suốt chiều dài lịch sử từ cổ đại vắt qua ngàn năm trung đại rồi Phục hưng, Khai sáng và cho đến nay, mặc dù nghệ thuật thay đổi với nhiều dạng thức khác nhau, nhưng xấu có tốt có chứ không có chuyện nghệ thuật là đẹp, là hướng thiện. Kant phản bác thứ nghệ thuật thực dụng thứ cấp gây hại cho người xem hơn là giáo dưỡng tinh thần. Hegel cũng không tin nghệ thuật là cứu cánh giúp cho con người thoát khỏi vô minh, trừ phi đó là nghệ thuật đạt đến sự hoàn mỹ của tinh thần tuyệt đối như Plato đã nói.
Đáng chú ý là Nietzsche, dù lấy thần Dionysus với sự say sưa làm cảm hứng, nhưng ông vẫn lấy thần Apollo là mẫu mực để điều chỉnh cảm hứng và vươn đến tinh thần siêu việt. Ông khinh bỉ thứ nghệ thuật chạy theo thị hiếu tầm thường: trong những nền văn minh suy tàn, nghệ thuật tước bỏ ý chí, niềm tin của con người, là thứ ma túy đầu độc con người. Sau Nietzsche, chẳng còn ai huyễn tưởng nghệ thuật là cái đẹp, là phương tiện hay cứu cánh cho sự hướng thiện. Nghệ thuật có thể là một bông hoa tươi thắm nhưng cũng có thể là cái bô tiểu, có thể là thần tiên nhưng cũng có thể là ma quỷ.
Ngay đối với truyền thống Việt, cha ông ta cũng từng phân làm hai loại nghệ thuật, loại đáng thờ (chân thực và đẫm chất nhân sinh) và loại không đáng thờ (loại chỉ dành cho sự tiêu khiển hoa mỹ, lừa dối). (Nguyễn Văn Siêu).
Nhà thờ dòng Mến ở Thủ Thiêm hàng tuần vẫn có nhạc giao hưởng cho các con chiên ngoan đạo. Đó có thể là nghệ thuật hướng thiện, dù theo Nietzsche, mới chỉ là sự cứu rỗi, chưa phải là thứ nghệ thuật mang lại sức mạnh của ý chí, niềm tin. Nhưng dẹp nhà thờ này đi và thay vào đó nhà hát với 1.700 chỗ ngồi chỉ có thể là thứ nghệ thuật trọc phú, ô hợp, hát trên xương máu của người nghèo.
Nói nghệ thuật làm lay động lòng người có thể đúng. Bởi không ít thanh thiếu niên mê mẩn thứ nghệ thuật mà các con hát ru ngủ chúng, đến mức la hét, khóc lóc và sẵn sàng bò ra hôn ghế liếm ghế các thần tượng mà chúng gọi là “sao”. Nhưng nói nghệ thuật làm cho con người hướng thiện thì sai bét. Hướng thiện theo cách bỏ học vào vũ trường tiêm chích và hoan lạc, trong lễ hội âm nhạc điện tử vừa rồi, chúng dùng thuốc lắc, nhảy nhót tưng bừng và sốc thuốc đến chết mấy mạng người?
Đó là chưa nói thứ nghệ thuật cổ vũ giết người. Một bản nhạc, một bài thơ sắt máu do mấy nghệ sĩ hiếu chiến làm ra đã từng thúc giục đồng loại giết nhau, tàn sát nhau mà nhầm tưởng là anh hùng!
Này mấy ông giáo sư tiến sĩ dỏm. Này mấy ông bà nhà báo tỏ ra hiểu biết nghệ thuật. Hãy đọc và suy nghĩ, đừng chộp giật vài câu của người ta rồi tỏ ra hiểu biết. Mà nếu không đọc hiểu được sách thì hãy chống mắt lên mà xem cái thực tiễn nghệ thuật hiện nay nó đã hủy hoại tính cách dân tộc như thế nào. May mà trong sự hủy hoại đó, đa số nhân dân đã tỉnh ra và tự giải thoát bằng sự tẩy chay hoặc bằng tiếng cười chế giễu. Tôi dẫn cho các vị nguyên văn một đoạn K. Marx nói về thứ nghệ thuật của “Chủ nghĩa xã hội phong kiến” – từ dùng của chính K. Marx về một chủ nghĩa xã hội mà chủ nhân là bọn “quý tộc tinh hoa” hay bọn trọc phú đang lên:
“Các ngài quý tộc ấy đã giơ cao cái bị ăn mày lên làm cờ để lôi kéo nhân dân đi theo. Nhưng nhân dân vừa đi theo các ngài thì đã trông thấy ngay những huy chương phong kiến cũ đeo sau lưng các ngài , họ đã liền tản đi và phá lên cười một cách ngạo mạn” (Marx-Engels toàn tập, TậpVI, tr. 547, Mega).
Cái bản nhạc giới “quý tộc tinh hoa” đó làm ra nghe có giống nhạc giao hưởng ăn mày ngàn tỉ của dân mà các ngài đòi mang ra phục vụ cho dân không?
Đó là tôi chưa nói, nghệ thuật dẫu là đạt đến cái đẹp thuần khiết đi nữa thì sự vươn đến thiện ác còn tùy người thưởng thức. Kẻ phàm phu mà thưởng thức nghệ thuật, nói như Nguyễn Hưng Quốc, khác nào bọn Mã Giám Sinh yêu Thúy Kiều, hậu quả là biến Thúy Kiều thành con đĩ. Không tin hãy hỏi cái bọn “tinh hoa quý tộc” chơi tranh vừa rồi. Chúng mới chỉ xem chữ ký của chúng đẹp hơn tranh họa sĩ vẽ là còn may. Chúng cậy tiền mà ỉa bậy vào đó cũng đành chịu!
Tháng 10 năm 2018
Chu Mộng Long
Khi “tinh hoa quý tộc” chơi tranh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vũ hội thi ca: Khi ngài Phao-lồ thách đấu


Ngài Paul Nguyễn Hoàng Đức
Chu Mộng Long: Một đất nước không thể một lúc có hai vua. Huống hồ là hiện nay “cường quốc thi ca” của ta có cả triệu vua. Đi đâu cũng thấy các nhà thơ xưng hùng xưng bá, cao hứng lên thì tự xưng hoàng đế hết. Ngài Paul Nguyễn Hoàng Đức có nói, một đất nước mà bất phân cao thấp thì loạn to. Mà đang loạn thật. Mỗi vua thơ hùng cứ một phương, thỉnh thoảng ném phân vào nhà nhau để hưởng. Lần này ngài Paul quyết chí ra tay dẹp loạn bằng cuộc thách đấu đầy hào khí.
Để tạo không khí cho cuộc đấu có một không hai này, Chu mỗ nhiệt thành viết bài cổ vũ.
Tôi phiên tên ngài Paul thành Phao-lồ theo các bản Phúc âm mang tên một vị thánh vào thời đế chế Rome, cũng là thời kỳ tiên khởi và khải hoàn của Kito giáo. Ngài Paul Nguyễn Hoàng Đức xứng đáng là Thánh Phao-lồ của thế kỉ 21.
Để trở thành ông hoàng thi ca-triết gia hiện nay, ngài Phao-lồ đã thách đấu với ông hoàng cổ điển Nguyễn Du. Theo tôi, không cần thách thì Nguyễn Du cũng đã quy hàng, như Từ Hải hàng Hồ Tôn Hiến vậy.
Về tư tưởng triết học thì Nguyễn Du quanh quẩn với thuyết hồng nhan bạc mênh, với chữ tâm chữ tài xưa rích, thậm chí là “hàng nhái” của Trung Hoa. Về chữ nghĩa thì đúng là cải trang từ ngôn ngữ của bọn bình dân vô học, thêm gia vị điển tích điển cố của bọn hủ nho Tàu cho ra vẻ có học. Tương truyền cụ Nguyễn nhìn thấu sáu cõi, nhưng đã không nhìn ra ba trăm năm lẻ sau có ngài Phao-lồ lừng lững thách đấu với mình? Phải chăng vì thế mà sinh thời cụ Nguyễn không dám ho he lấy một câu ngoài sự cười khẩy “Mua vui cũng được một vài trống canh”, mặc cho hậu thế nói gì thì nói.
Tôi tin có đào mồ cụ Nguyễn lên thách đấu, cụ cũng chào thua vì “tao đã dành hết sức cho bọn dân đen, không còn sức đấu với giới tinh hoa quý tộc”.
Theo tôi biết, hiện nay trên chính trường thi ca-triết học có ngài Đông La là đáng mặt tranh hùng với ngài Phao-lồ. Tình cờ vào Blog Đông La, thấy ngài này cũng đã từng tự xưng ông hoàng thi gia-triết gia, đến mức theo lời ngài, đại thi bá Chế Lan Viên rồi Trần Mạnh Hảo đều cúi đầu bái phục. Hơn 10 năm nay, ngài Đông La cũng từng thách đấu với bất cứ thi hào thi bá nào nhưng cho đến nay cũng chưa có ai dám thò mặt ra so găng… vì sợ vỡ mặt.
Ông hoàng Thi gia-Triết gia Đông La
Vì thế, tôi xin tiến cử Đông La cho ngài Phao-lồ thử sức.
Không gì bất hạnh hơn là làm người hùng không có đối thủ. Lẽ nào cường quốc thi ca một lúc có đến hai vua mà không vua nào chịu xuất chiêu để phân cao thấp cho thiện hạ mở mắt một phen?
Thú thật, bài thách đấu có nhiều ý kiến thú vị. Về số lượng nhà thơ chỉ đứng sau lực lượng nông dân mù chữ hoặc vô học. Về chất lượng của thể loại “đoản ca” tức cảnh sinh tình, thể loại mà ai cũng làm được nhưng ai cũng tưởng mình là vĩ nhân. Về sự thần tượng hóa thi hào Nguyễn Du, đó chỉ có thể là sự thể hiện mặc cảm mù chữ của đám đông…
Những ý kiến ấy có thể gây tranh cãi, nhưng rất đáng suy nghĩ.
Người ta sẽ không tranh cãi về sự có học hay vô học của nhà thơ, nhưng xem nông dân mù chữ ắt vô học, thậm chí bị ngài Phao-lồ mạt sát là kẻ mang vô số tật xấu so với dân thị thành và trí thức thì xem chừng anh nông dân sẽ quất lại bằng roi cày. Mà nông dân bây giờ cũng có những ông hoàng tầm vóc, quyền lực đầy mình như Thần Nông Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết chứ không phải bé như con ruồi con muỗi.
Người ta sẽ không tranh cãi đoản ca thì thiểu năng hay đoản trí so với trường ca, nhưng xem sách bằng da hay bằng thẻ tre mới là sách quý, còn loại sách truyền miệng là loại sách của bọn ăn mày, hài kịch chỉ dành cho đám đàn bà con nít đáng bị khinh bỉ thì coi chừng dân Cái Bang sẽ cho ngài Phao-lồ biết mùi “đả cẩu bổng pháp”, kể cả vũ khí lợi hại của váy mấn đàn bà và tã lót của con nít.
Có lẽ ngài Phao-lồ quên không nói đến sách bìa bằng gỗ quý nặng 54 kg của Phật hoàng Hoàng Quang Thuận để khẳng định thêm chất lượng của nó còn cao quý hơn loại sách viết trên da thú hay thẻ tre thời cổ. Và Hoàng Quang Thuận cũng đáng gờm không thua kém Đông La.
Nhưng dù sao cũng nên hóng chờ xem cuộc tử chiến giữa hai hoàng đế Phao-lồ và Đông La cái đã. Hy vọng sẽ hấp dẫn hơn phim kiếm hiệp của Kim Dung.
Đông La thuộc trường phái Ma giáo có bề dày truyền thống, còn ngài Phao-lồ thuộc Kito giáo phương Tây hiện đại, chiêu thức khác nhau như lửa với nước, ắt cả hai sẽ quyết chiến và quyết tử vì đạo.
Nhưng ngài Phao-lồ cũng nên nhớ, không chỉ Đông La, 60/ 90 triệu người biết làm thơ của cường quốc thi ca này ai cũng đang tự xưng là vĩ nhân thi ca-triết học đấy. Ngài mà không trấn nổi 60 triệu ông vua ấy thì đất nước loạn to!
Chu Mộng Long
————-
Nguyên văn bài thách đấu của ngài Phao-lồ:
THƠ VÀ TRUYỆN KIỀU PHÁT SINH TRONG GIỚI MÙ CHỮ VÀ ÍT HỌC
Paul Nguyễn Hoàng Đức
Trước hết tôi cũng là nhà thơ chuyên nghiệp với số lượng và chất lượng hàng đầu: 5 trường ca có nhân vật, một tập thơ lẻ, và hàng trăm bài tiểu luận về thơ (nếu bạn nào thấy không thỏa đáng thì xin đề cử và ứng cử ở Việt Nam có người hơn tôi?!)
Từ Tây chí Đông, thơ mở màn giành cho người mù chữ. Ở phương Tây, chữ nghĩa ngày xưa viết trên da thuộc, nghĩa là rất đắt, chỉ có vua chúa và nhà giầu nứt đố đổ vách đủ tiền mua sách bằng da. Ngay cả ngày nay, một cuốn sách bọc có hai trang bìa bằng da đã cực đắt. Vì sách bằng da đắt thế nên xuất hiện vô số những kẻ ngâm thơ rong… có tài như Homer thì ngâm trường ca như Iliad và Odyssey, còn đám bất tài thì như triết gia Aristote viết là bọn ngâm đoản ca ngoài chợ. Thơ đoản ca ngày đó bị khinh bị tuyết đối, chỉ hơn đám ăn mày. Giá trị văn hóa cao nhất là các vở bi kịch giành cho đàn ông, hài kịch giành cho đàn bà trẻ nhỏ, được nhà nước Hy Lạp phát vé mỗi tối, còn không bao giờ có sân khấu cho nhà thơ, nên đám đoản ca thường đứng chầu hẫu bên đường đến sân khấu hay sân vận động…
Người Tàu cũng cự kỳ khinh bỉ thơ đoản ca, nó được gọi là “tức cảnh sinh tình” – tức là tiện đâu làm đấy. Sách của Tàu là đất nung hay thẻ tre nói chung rất đắt và kỳ công, nên có những người đi kể chuyện rong các bộ Thủy Hử, Tam Quốc cho người mù chữ nghe. Còn câu đối là thứ đám mù chữ nghe xong gật gù phải xin chữ về treo trong nhà…
Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng vậy, được phát sinh giữa vô vàn nông dân mù chữ, đến đầu thế kỷ 20, mà người Việt còn phải điểm chỉ dấu tay, đủ hiểu số mù chữ đông cỡ nào?! Nhà của người Việt thường giống như lều, một gian hai trái, kéo dài ra là 3 gian 2 trái, đến chùa lớn ở Hà Nội là trăm gian cũng chỉ là những gian nối kéo dài… Vì thế tính cấu trúc của người Việt cực kỳ yếu. Đấy là một logic về tất cả các mặt, xương cốt yếu, thì hệ thần kinh yếu, dẫn đến lý trí yếu, nên không thể sáng tác ra cốt truyện… Việc người Việt phải dùng đến tất cả các cốt truyện kinh điển của Tàu là một bằng chứng, như: Lưu Bình – Dương Lễ, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Lục Vân Tiên… rồi Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân…
Hình thức thơ chính là để dễ đọc dễ nhớ giành cho người mù chữ. Không có cốt truyện, lại có Truyện Kiều ngâm nga quả là liều thuốc quí hiếm cho mặc cảm mù chữ. Mặc cảm mù chữ là một mặc cảm lớn bậc nhất của lịch sử. Những người già tập thể dục ở Trung Quốc sáng tập thể dục dùng gậy vẽ chữ xuống đất, chính là mặc cảm mù chữ. Việc vua chúa Tàu dựng một bảng chữ to tướng sau ngai vàng cũng là mặc cảm khoe chữ. Còn phương ngôn hiện đại của bậc cha mẹ Tàu là: “Không học không thành người được!” chính là mặc cảm mù chữ.
Truyện Kiều hàng nhái của Nguyễn Du rõ ràng đã đóng vai bảo bối cho mặc cảm mù chữ, quê mùa vô học, vậy mà đọc vanh vách Truyện Kiều khiến người ta và con cháu lác mắt chẳng phải không có chữ mà vẫn giống người có học sao?!
Ngôn ngữ là trí tuệ! (đó là bất khả cãi). Tất cả những lời nói và viết đều bị người ta bẻ lại: điều đó có thật hay có lý không? Nhưng không ai đi vặn vẹo một nhà thơ về trí tuệ cả, điều đó có 2 lý do:
1- Thơ là lĩnh vực tưởng tượng, không nên tra xét trí tuệ.
2- Trí tuệ của loại đoản ca có được bao nhiêu mà vặn vẹo.
Người Việt gọi thơ và nhà thơ là: “thơ thẩn”, tức cũng muốn nói chấp gì đám ngớ ngẩn lẩn thẩn làm thơ.
Trong thực tế, người nhà quê mù chữ nhiều nhất và cũng mang tính xấu nhiều nhất. Khổng Tử nói: “Hương nguyện đức chi tặc giã” – tức nhà quê là hại đức. Người Tầu thường xuyên mắng nhà quê rằng: “Đồ quê mùa cục súc, bỉ ổi, thô lỗ…” Hình ảnh quê mùa bản năng, tham lam, xấu tính chính là Trư Bát Giới đã được văn học Trung Quốc dựng lên…
Người Việt cũng giống các chuyên gia thế giới đánh giá rằng: “Nhà giầu nhà quê không bằng ngồi lê thành thị!” Tại sao? Vì chỉ có mật độ của thành thị mới có thể tiếp cận nền văn minh.
Nước ta xưa nay vẫn là tam nông. Tiểu nông là đông nhất, cũng đóng góp nhiều người mù chữ nhất. Từ đó cũng đóng góp nhiều người làm thơ và yêu thơ nhất, những thứ hát xẩm xoan chẳng từ lục bát ra là gì?! Con số nhà thơ chính thức chỉ xếp sau con số nông dân?! Số này cũng lạc hậu và thải ra nhiều tính xấu cho xã hội nhất như ích kỷ, đố kỵ, hiệu ứng bày đàn, đạo văn, mới đây trong cuộc thi thơ tại Đồng bằng sông Cửu Long phát hiện hơn 40% đạo văn, chuyện số này ca tụng việc đạo cốt Tàu của Nguyễn Du chẳng qua cũng có phần biện hộ cho tính ăn cắp nhiều nhất thế giới của người Việt mà thôi?!
Đã là tiểu nông mù chữ vô văn hóa thì xấu xa đủ trò, bời vì họ cũng là những nô tài không thể có danh dự và bổn phận lớn?! Trước hết họ thường xó máy hèn hạ nhũn như con chi chi, sau lại gàn dở láo khét để phản thùng tư chất nô tài, chẳng hạn họ đã từng khoe cái gì cũng nhât thế giới như: Kinh Dịch là của Việt Nam, người Hoa từ Việt Nam phát triển ra, Việt Nam là nhân lõi của thế giới vì Việt Nam giỏi nông nghiệp nhất mà thế giới mở màn bằng nông nghiệp, khoe thế khác gì con ếch bảo: vì tôi không có đuôi, nên tôi là ông tổ của loài người?!
Việc bàn về Nguyễn Du, đòi hỏi phải có chuyên môn, nhưng nhiều thứ ruồi muỗi kém cỏi thuộc giới mù chữ và ít học lại cho rằng: đây là bữa tiệc sơn hào hải vị về danh vọng, nên lê la đến để cầu tí danh thừa. Việc có một cô mẫu giáo đòi chỉ bảo cho tôi, và những anh chàng bảo tôi không có luận điểm gì, vì mọi thứ tôi tự nói ra… thật là thiểu năng hết chỗ nói, tôi không nói cái của tôi thì sỏi đá nói à?! Đó cũng là cái xấu của thói tiểu nông nô tài…
Ở Việt Nam, đi qua bất kể làng nào, để gặp một kỹ sư thiên khó vạn nan, nhưng để gặp mươi anh hát xẩm hát xoan là có ngay, đó là thơ nghiệp dư nhà quê đấy. Điều đó chứng tỏ giới làm thơ, yêu thơ, hà hít thơ, chầu rìa quanh thơ kiếm tí danh thừa, kể cả lê la vào cung điện nhà quê hàng chế của Truyện Kiều là những người ít học và thiểu năng bậc nhất. Điều này thì nhà phê bình Hoài Thanh đã nói từ đầu thế kỷ 20: cái học kiểu Tàu chỉ biến con người thành những cái máy đúc hàng vạn bài thơ dở.
Còn tôi xin nói thật, tôi nhìn đám học kiểu Tàu, âm lịch, ăn nói lằng nhằng nước đôi, rồi thơ phú đoản câu… tôi đều thấy họ có vẻ âm u, cố chấp, đần đần… Bây giờ tôi muốn xin thách đấu thơ với Nguyễn Du cả bài ngắn lẫn thơ dài, có vị nào dám chính thức đứng ra làm trọng tài không? Thực ra điều này tôi cũng chẳng dũng cảm gì: hồi Thơ Mới, đã có người thách đấu, nhưng đám âm lịch Tàu học im như thóc đâu có dám thò mặt ra?!
Paul Đức 30/11/2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Tư duy của Đồng Minh về Hitler trước WW2


[Tư duy của Đồng Minh về Hitler trước WW2] — Khi nói về WW2 hầu hết chúng ta chỉ nói đến khi Hitler bắt đầu xâm chiếm Ba Lan vào năm 1939 nhưng ít khi nào nói đến quan niệm của các nhà tri thức Tây Phương về ông ta. Lý do là vì họ quá xấu hổ vì đã yêu mến một con quỷ.
Rất nhiều người không biết rằng trước WW2 khi Hitler cầm quyền và bắt đầu tái xây dựng quân lực, giới tri thức Anh, Mỹ và Pháp có cái nhìn rất thiện cảm đối với ông ta. Ở Pháp có nhiều vỡ kịch kêu gọi tình hữu nghị giữ Pháp và Đức, vì tình yêu nhân loại nên chúng ta hãy xóa bỏ hận thù.
Ở Mỹ thì có vô số bài báo thiện cảm với Hitler và Đức cho rằng Đồng Minh đã làm nhục họ sau WW1. Tạp chí Time thậm chí đã chọn Hitler làm nhân vật của năm 1938 – 1 năm trước khi WW2 bắt đầu – một điều mà họ không bao giờ nhắc đến.
Các nhà tri thức cao cấp thì đồng cảm với Đức nên đã trao họ quyền đăng cai Thế Vận Hội Olympic 1936 tại Berlin. Hitler đã dùng sự kiện để tuyên truyền sức mạnh của chủng tộc Aryan bằng cách đưa một người cao ráo cầm đuốc chạy. Tôi cá ít bạn hiểu nguyền gốc của cái này, bây giờ thì bạn đã hiểu.
Khi Winston Churchill, dựa theo những báo cáo của nhiều sĩ quan Đức rằng Hitler đang xây dựng lực lượng để xâm chiếm, thì giới tri chức nói rằng ông điên. Họ nói rằng không nên đánh đồng cả dân tộc Đức vì hành vi của Hitler hay Đảng Quốc Xã. Đừng khiêu khích họ, phải đồng cảm.
Khi Hitler xâm chiếm Áo mà không cần tốn công sức, Đồng Minh lại im lặng. Khi Hitler chiếm Czechslovakia, họ im lặng. Thủ Tướng Chamberlain vì muốn hòa bình nên ký thỏa thuận Hòa Bình Trong Thời Đại Chúng Ta. Rồi khi Hitler xâm chiếm Ba Lan, họ mới tỉnh giấc.
Không lẽ chúng ta muốn lập lại sai lầm lịch sử này trong thời đại của vũ khí hạt nhân? Một khi phe thiện im lặng trước sự bánh trướng của phe tà, phe tà sẽ lấn tới. Một khi phe thiện đổ lỗi cho bản thân rằng mình đã không cảm hóa tình yêu với phe tà, thì điều đó đã bắt đầu một xu hướng với tư duy tự sát.
Thật đáng sợ!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁC NGHỆ SĨ ĐỪNG BUỒN

Kết quả hình ảnh cho Đám ma bác giun?


Vừa xem kênh HTV9, truyền hình TP Hồ Chí Minh.
Chương trình nói về đám tang nghệ sĩ hài Anh Vũ. Người đến đám tang rất đông, không chỉ giới nghệ sĩ mà hàng ngàn ngàn người hâm mộ.
Đài truyền hình phê phán giới trẻ đến đó livestream rồi chia sẻ trên mạng với tiếng cười hồn nhiên... như đi hội. Các nghệ sĩ cũng thông qua kênh này bày tỏ sự bức xúc về sự vô cảm của giới trẻ.
Tôi chia sẻ bài này với sự cảm thông và chia sẻ sâu sắc với các nghệ sĩ. Thành thật chia buồn cùng với gia đình nghệ sĩ Anh Vũ.
Và cũng mong các nghệ sĩ đừng buồn mà hãy rộng lòng tha thứ cho giới trẻ.
Sự thật, nếu đây là đám tang ông to bà lớn nào đó thì tình hình cũng vậy thôi. Hàng ngàn hay hàng triệu người ra đứng đường tiễn đưa người đã khuất, tôi dám chắc trong đó, đa phần kéo đến đám tang cũng chỉ là sự tò mò, hiếu kỳ hơn là tỏ lòng thương tiếc như VTV và báo chí ngợi ca một cách hoang tưởng. Tang lễ càng to thì càng dễ biến thành hội hè. Ngay cả những anh nhà thơ đọc thơ ong ỏng hay một người có danh tiếng khóc rống lên trước ống kính truyền hình cũng chỉ là lòng thương tiếc giả tạo.
Cái giống dân Việt Nam xưa nay vẫn vậy. Trong đám tang, người Việt đóng kịch rất giỏi.
Chỉ có bọn trẻ hôm nay đến đám tang nghệ sĩ hài Anh Vũ là không biết đóng kịch. Thôi thì nhờ chúng mà đài báo quốc doanh sáng mắt ra và chúng ta cũng bớt hoang tưởng về sự "vô cùng thương tiếc" của đám đông đi!
Giả định, đó không phải là đám tang một nghệ sĩ mà là đám tang ông to bà lớn nào đó, có lẽ truyền hình đã lờ tịt sự thật này đi và ra rả tuyên truyền rằng có hàng triệu người "vô cùng thương tiếc"...
Ta đã đắc đạo thì quan tâm chi đến chuyện khóc cười của thiên hạ, Anh Vũ nhỉ. Cầu chúc Anh Vũ an vui nơi miền Cực Lạc.
Share lại bài bình thơ này để mọi người hiểu thêm người Việt.
------------
ĐÁM MA BÁC GIUN
Thú thật, khi viết bài báo dài về tập Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa, tôi rất thích bài Đám ma bác Giun, nhưng rốt cuộc bình được một đoạn rồi phải rút bỏ. Bởi vì đọc đi đọc lại, thích thì thích thật, thích từ khi còn học tiểu học, nhưng bình cách nào cũng không ổn vì bài thơ đầy mâu thuẫn.
Bác Giun chết, đàn kiến tha bác như tha một con mồi, sao lại hóa thành đám tang trang trọng, thiêng liêng? Mà không khí tang lễ được cu Khoa miêu tả cứ như là tang lễ cung đình vậy! Đúng là nhóc con nhìn con giun to tướng so với đàn kiến nên cứ tưởng là vua.
Trong bài thơ chỉ có mỗi câu cuối là hiện thực:
Kiến đen uống rượu la đà
Bao nhiêu kiến gió bay ra chia phần...
Bọn kiến no say nhờ cái chết béo bở???
Nhưng cái hiện thực đó thật là nghịch lý so với không khí tang lễ thiêng liêng và cao cả mà cu Khoa tưởng tượng và hư cấu trong toàn bộ bài thơ:
Bác Giun đào đất suốt ngày
Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà
Họ hàng nhà kiến kéo ra
Kiến con đi trước, kiến già theo sau
Cầm hương kiến đất bạc đầu
Khóc than kiến cánh khoác màu áo tang
Kiến lửa đốt đuốc đỏ đàng
Kiến kim chống gậy, kiến càng nặng vai
Đám ma đi đến là dài
Qua những vườn chuối vườn khoai vườn cà...
Đọc bao nhiêu lần vẫn không giải thích được vì sao cu Khoa viết như vậy. Bài thơ viết về không khí tang lễ rất đặc thù của văn hóa Việt Nam, đang thiêng liêng và cao cả, bỗng dưng kết lại hai câu thật vô duyên. Ăn uống no say gì trong cái không khí ấy?
Đến bây giờ mới hiểu. Chẳng có gì là tưởng tượng hư cấu cả. Khoa đã viết như Khoa nhìn thấy: đàn kiến tha giun và đám ma của con người. Hai hình ảnh này chập lại trong đầu thằng bé và bùng nổ thành thi ca. Cái ẩn khuất của đám tang người được soi chiếu bằng cảnh đàn kiến tha giun. Đám tang với trẻ con là thế. Mà không chỉ trẻ con. Đất nước này bốn nghìn năm vẫn thế. Mỗi khi có đám tang, người ta kéo nhau xem đông lắm. Đám tang càng lớn, người xem càng đông. Như xem hội vậy. Dẫu biết là có kẻ nhân cơ hội được ăn uống no say, nhưng không khí đông đúc ấy cũng an ủi phần nào linh hồn người đã khuất.
Trong bài thơ, thân xác bác Giun rồi sẽ được táng trong bụng kiến và tan thành đất, nhưng linh hồn bác sẽ an vui cực lạc khi biết trước khi làm thịt mình, bọn kiến đã tổ chức cho mình một tang lễ linh đình. Người đời sẽ bình: "Bác Giun ra đi trong lòng yêu thương vô hạn của đàn kiến"!
Tiên sư cu Khoa. Nhớ hồi nhỏ tớ cũng thích đi xem đám tang như cậu vậy. Đám tang người Việt đẹp lắm, lung linh sắc màu và rộn ràng náo nhiệt.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỌC “VÒNG TRÒN MA THUẬT” NGHĨ VỀ NGUYÊN LÝ CỦA TÁC PHẨM LỚN


( Tiểu thuyết “Vòng tròn ma thuật”, tác giả Arthur
Koestler, do tg Phạm Nguyên Trường dịch)
Paul Nguyễn Hoàng Đức
Tôi được bạn trẻ Hành Nhân một người rất gần gũi với nhà xuất bản Giấy Vụn (cũng là nơi in cuốn tiểu thuyết này) tặng trong một đại tiệc của lễ Phục Sinh. Đây quả là một đại tiệc lớn bất ngờ. Bất ngờ về nhiều ý nghĩa. Đó là chiều dài gần hai nghìn cây số tôi bay từ Bắc vào Nam dự lễ rửa tội cho hai tân tòng Ánh Hồng và Sương Quỳnh để trở thành con cái của Chúa (ăn một bữa tiệc chạy 300 quãng đồng), thứ hai được gặp gỡ giao lưu với câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng gồm nhiều văn nghệ sĩ, nhà báo gạo cội xứ Nam, thứ ba thường tôi chỉ được đàn ông thiết tiệc nào ngờ đây là tiệc của má hồng nhưng vang trắng, vang đỏ, bia rót như thể mình đang ngự trên những đồi nho trong Kinh Thánh “Hôm nay nho chín đồi cao/ Gió nam trở về với đàn bồ câu/ Hôm nay Chúa sinh ra đời/ Hôm nay chúa đem dân người lên núi Si-on”… Tôi thật sự vinh hạnh và xúc động vì lần đầu trong cuộc đời tự tôn kiểu đàn ông Á châu được chứng kiến sự quảng hiệp của phái đào tơ liễu yếu, rồi người cầm cây đàn ghi ta gẩy và hát cũng không phải mày râu mà là một người có đôi tay nhỏ nhắn của nữ nhi có tên Hồng Ánh… Có phái đẹp, có rượu nho, có tràn trề sản vật, có cả âm nhạc, chắc chắn đã thành tiệc… nhưng không bữa tiệc như một bàn tay dâng lên hái quả tinh thần, đó là nhà văn Lê Phú Khải đem tặng cuốn “Đồng Bằng Cửu Long bốn mươi năm nhìn lại”.
Và đặc biệt hơn bạn Hành Nhân đến muộn hơn đã tiến thẳng về phía tôi tặng cuốn tiểu thuyết “Vòng tròn ma thuật” của tác giả Đức Arthur Kostler. Cuốn sách được nhà xuất bản Random House xếp thứ 8 trong 100 cuốn tiểu thuyết hay nhất thế kỷ XX.
Đúng là cách phán xét có lý trí của người phương Tây, lúc nào họ cũng phải đưa ra những tiêu chí làm cơ sở để đánh giá, không như mấy ông úm ba la Á Đông lúc nào cũng thủ túi cẩm nang “mọi so sánh là khập khiễng” để lờ tịt trách nhiệm của lý trí trong mọi hoàn cảnh. Nói vậy thôi, nhoáy một cái là các ông biết ngay lương mình ít hơn người, nhà mình bé hơn người, ghế mình thấp hay cao, kém một ly một lai tem phiếu chưa chia cho ông thì đem sổ tính ngay…
Tại sao tiểu thuyết được xếp hàng đầu trong dãy tiểu thuyết thế kỷ 20? Rõ ràng đó là tầm cao tư tưởng của nó. Phải nói về hình thức nó chẳng cách tân gì cả mà chủ yếu lần theo những cuộc đối thoại làm nảy sinh tư tưởng, tốc độ trôi rất nhanh theo lối hiện đại. Nhà văn đã giải quyết vấn đề vĩ mô hàng đầu của thời đại và thế giới. Vấn đề của hệ thống cai trị Xô Viết chấn chỉnh, rà soát, và thanh trừng để đạt tới một quyền lực toàn trị tối thượng. Câu chuyện thanh trừng, đối thoại, rủ rê, vuốt ve, kêu gọi các đồng chí hãy hy sinh nghĩa cử cuối cùng cho đảng, đó là hãy nhận tội đối lập, cũng đồng nghĩa với làm gián điệp cho nước ngoài… mà đừng đòi hỏi đảng phải có sự đáp trả biết ơn nào cả. Sự thiệt thòi oan ức đó, tột cùng là sự thiệt mạng phi công lý cũng là sự hy sinh tận cùng cho tổ chức. Cuộc đối thoại diễn ra thường xuyên giữa vài con người cốt cán luôn có cơ hội gần gũi Anh Cả (ám chỉ lãnh đạo cao cấp nhất).
Ở đây tôi muốn nói: tiểu thuyết đã bám sát những tiêu chí phổ quát nhất về tầm vĩ đại cũng như giá trị.
- Trước hết đó là cơn khát Công Lý trong và giữa các đồng chí đã từng vào sinh ra tử với nhau.
- Đối thoại là hình thức văn học trực tiếp mãnh liệt nhất để bộc lộ tư tưởng nhân vật cũng như của nhà văn.
- Tầm vóc tiểu thuyết được xác định bằng ưu tư hàng đầu của con người đó là Sinh Tử, cũng như chính trị.
- Sân khấu hay môi trường của tiểu thuyết là vấn đề vĩ mô ở tầm quốc gia đại sự cao nhất.
- Tư tưởng trực tiếp được trở thành đối tượng giải phẫu.
- Nhân cách, danh dự, chân lý phải đối mặt trước quyền lực ám toán dầy đặc…
Nói chung để có được tác phẩm lớn, chúng ta khó mà có thể viết được bằng tư duy làng xã. Tư duy làng có thể đan được cái thuyền, nhưng để làm tầu vũ trụ chắc chắn phải có tư duy khoa học của tầm vóc quốc gia.
Cám ơn tác giả Phạm Nguyên Trường đã dịch cuốn tiểu thuyết giá trị này cho mọi người được nghĩ và tư duy chiều sâu trên qui mô địa chính trị toàn cầu của thời đại có liên đới trực tiếp đến chúng ta. Cám ơn nhà xuất bản Giấy Vụn đã ấn hành cuốn sách. Cám ơn bạn Hành Nhân đã tặng cuốn sách quí báu này. Cuối cùng cám ơn hai người đẹp Ánh Hồng và Sương Quỳnh là tác giả của cơ hội mà tôi được tặng cuốn sách này. Một món quà làm đầy hơn cho bữa tiệc!
Paul Đức 15/4/2015



Phần nhận xét hiển thị trên trang