Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019

Báo chí VN, cuộc khủng hoảng bao giờ kết thúc ?




 
Ai cũng đã biết, Quyết định phê duyệt Quy hoạch báo chí VN đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành.

Mức độ ảnh hưởng của quyết định này đến hàng trăm tờ báo, hàng chục ngàn nhà báo và phía sau cũng là hàng vạn người thân của họ là rất lớn. Bởi có nhiều tờ báo phải thu hẹp phạm vi hoạt động, nhiều tờ phải sáp nhập ...sẽ có nhiều nhà báo công việc trở lên khó khăn hơn, và rất có thể sẽ có những người rơi vào cảnh thất nghiệp.

Tôi đã từng rơi vào tình cảnh thất nghiệp một thời gian, khi tờ Sài Gòn Tiếp thị bị đình bản vĩnh viễn, khi nó được cho là một sản phẩm được xuất bản không đúng quy định: Trung tâm Xúc tiến đầu tư của một Sở thuộc TP HCM thì không được ra báo (Ở đây, nó có gì đó, sẽ rất giống với nhiều tờ báo đang trong diện quy hoạch)

Khi đó, Tờ SGTT được gọi là được đưa về Thời báo Kinh tế SG nhưng nhân sự, bộ máy của nó khá lớn và Thời baó KTSG chỉ tiếp nhận được đâu hơn chục người...Thực chất SGTT đã biến mất, chỉ còn duy trì một tên báo giống như nó, tồn tại lay lắt. Thế là hơn 100 người còn lại tan tác, thất nghiệp. Mãi cho đến bây giờ, mọi người mới tìm được việc làm nhưng nhiều người, cho dù đã có việc nhưng cơ bản vẫn khó khăn, vất vưởng hơn nhiều so với thời kỳ làm ở SGTT.

Có anh em trong số đó, vốn là nhà báo khá hiền lành, đã trở thành facebooker luôn thể hiện thái độ không còn tin tưởng gì với nhà nước, sau biến cố đó.

Nhưng đó mới chỉ là ở cấp độ 1 tờ báo hạng vừa. Còn sắp tới đây, hàng loạt tờ báo với ít nhất là hàng ngàn con người ở một loạt tờ báo, có những tờ báo có đội ngũ nhân sự rất lớn như Tuổi trẻ, Pháp luật TP HCM, Người lao động, Thanh niên, Công an TPHCM...vốn là những tờ báo đang hoạt động lành mạnh, hiệu quả, có đóng góp lớn cho xã hội bỗng chốc phải thay đổi tổ chức, bộ máy, sáp nhập...thì mức độ ảnh hưởng nó còn lớn đến thế nào ? Đúng là đáng...rùng mình.

Mặc dù ghi nhận rằng, quy hoạch báo chí sẽ có những hiệu quả, tác dụng tích cực nhất định như dẹp bớt những tờ báo, tạp chí làm ăn luộn thuộm, suốt ngày tung quân đi "đếm tầng", tống tiền DN...viết lách giật gân, câu khách rẻ tiền, khiến nhiều Doanh nghiệp sẽ bớt khổ. Nhưng với rất nhiều tờ báo hoạt động rất đàng hoàng, lành mạnh, một khi bị quy hoạch khiến từ chỗ là báo, bị đưa xuống tạp chí, rồi bị siết về nội dung...đó là cả một thay đổi, tác động vô cùng lớn mà chưa chắc đã đem lại môtj kết quả tích cực mà có thể là một hậu quả vô cùng tai hại.

Thực sự, bài viết này còn khá nhạt bởi tôi không dám viết hết tay về những suy nghĩ, quan điểm của mình về bản quy hoạch này.

Nhưng có lẽ, tôi phải chúc mừng ông Mark Zuckerberg và những ông chủ khác của Youtube, Tweeter...họ sau này có thể sẽ đón nhận những tay viết rất có chất lượng từ việt nam, viết free, để mạng xh Việt Nam ngày càng sôi động và họ sẽ có thêm nguồn thu đáng kể từ các nguồn quảng cáo tăng thêm cho trang của mình. Còn những tay viết mới-những nhà báo bị loại khỏi công việc họ đang làm bởi quá trình sắp xếp, sáp nhập, chia tách báo chí lớn nhất trong lịch sử báo chí VN hàng chục năm qua, họ sẽ viết gì trên FB?, ôi thôi, tôi cũng không dám hình dung ...
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tâm tư cụ Ngô Quyền



Ngô Quyền (897-944) là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng lịch sử (năm 938), đặt dấu chấm hết cho gần nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị đất nước tới khi qua đời.
Ngày 18/01 Âm lịch hàng năm là ngày giỗ ông, con cháu họ Ngô khắp nơi tề tựu về tại thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội để tưởng nhớ tới công lao của của ông đối với với dân tộc Việt Nam và để tự hào về truyền thống bảo vệ tổ quốc của cha ông.
Nhìn nước non ngàn dặm thay da đổi thịt từng ngày, chắc ông vui mừng, phấn khởi lắm!
Nhìn thấy con cháu trong dòng tộc đông vui, đoàn kết và luôn tưởng nhớ tới mình chắc ông cảm động lắm!
Nhưng, khi nghe con cháu lầm rầm khấn vái chắc ông không khỏi buồn lòng: ai nấy đều cố gắng cầu xin để vun vén cho cuộc sống yên bình, đầy đủ của gia đình mình mà thôi; còn điều ông muốn nghe, muốn được thấy là về sự yên bình, sự tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia thì không mấy ai nhắc tới - có chăng là những tiếng mấp máy không thành lời của một vài người mà ông chỉ phỏng đoán được qua khẩu hình mà thôi...
Hơn một nghìn năm trước, ông góp công lớn để giành lại độc lập cho dân tộc nhưng cho tới tận hôm nay, con cháu ông vẫn chưa giữ được sự độc lập, tự chủ đúng nghĩa của nó, nếu không nói là ngày càng lún sâu, lệ thuộc nhiều hơn vào kẻ khác. Bờ cõi có vẻ yên bình khi biên giới không tiếng súng nhưng biển trời chưa lặng, lòng người chưa yên. Trước sự xâm lấn lãnh hải ngày càng quyết liệt, trắng trợn của người phương Bắc (gọi theo cách gọi của báo chí chính thống là thế; còn gọi theo dân gian là “Tàu khựa”😂😂😂) con cháu ông im lặng hoặc phản ứng rất yếu ớt. Thế hệ của ông mạnh mẽ, tự tin, quyết đoán bao nhiêu thì con cháu của ông lại yếu mềm, lúng túng, e dè bấy nhiêu. Nếu xưa kia, trước và khi chiến trận xảy ra, lớp lớp ông cha ai ai cũng đều suy nghĩ, đắn đo rằng lỡ mình có chết đi, ai sẽ cày bừa, làm ruộng, ai sẽ chăm sóc mẹ già, con thơ; đánh nhau với hàng xóm, mai này còn ai để mà qua lại, giao thương ... thì tới tận ngày nay chắc chúng ta vẫn sống trong một cuộc đời tăm tối, nếu không làm thân trâu ngựa cho giặc Tàu thì cũng sống kiếp nô lệ, tôi đòi cho thực dân, đế quốc mà thôi.
Phải chăng vì từng hứng chịu quá nhiều mất mát trong chiến trận, binh đao nên con cháu ông quý trọng từng giây phút của hoà bình, không muốn nhìn thấy cảnh đầu rơi, máu chảy, cảnh nồi da xáo thịt; hay vì cuộc sống hiện tại đủ đầy rồi nên họ không còn động lực để đấu tranh và ý niệm về nghĩa vụ với quốc gia, dân tộc không còn tồn tại trong tiềm thức? Dẫu vậy, dẫu vì lý do gì đi nữa thì chúng ta cũng không thể hèn mãi được, không thể để cho kẻ khác đặt chân trái phép lên lãnh thổ của mình được, không thể để cho kẻ khác dẫm đạp lên lòng tự trọng, tự tôn dân tộc của mình mãi được, như vậy là có lỗi với tiền nhân, có tội với hậu thế. Lịch sử chứng mình rằng không ai lo cho ta hơn chính bản thân ta cả; phụ thuộc hay mong chờ sự hậu thuẫn, giúp đỡ của kẻ khác càng dễ trở thành quân tốt trên bàn cờ cho họ dẫn dắt hoặc trở thành “món quà” cho những kẻ mạnh tặng cho, thoả hiệp hay cấu xé tranh phần mà thôi.
Có lẽ rằng, ở chốn xa xôi nào đó, ông đang mong mỏi con cháu thôi hãy tung hô mình, thôi hãy tung hô những người khác trong quá khứ như là một liệu pháp để vỗ về cảm giác hụt hẫng của hiện tại mà thay vào đó là có những hành động thiết thực hơn để bảo vệ, giữ yên bờ cõi và bảo đảm được quyền tự do, dân chủ cho chính bản thân mỗi người.
Còn ngay lúc này, nhìn vào hậu thế, chắc Đức vương Ngô Quyền đang rơi lệ!
P/s: Tôi nói ra điều này hẳn là nhiều người trong họ Ngô không đồng tình vì họ cho rằng nội dung không có tinh thần xây dựng. Nhưng họ có biết rằng, tôi cũng là người họ Ngô? Trong họ có một phần tôi, trong tôi có một phần họ? Bản thân tôi cũng thấy mình vẫn còn yếu, hèn lắm nên ai đó có nhận mình như tôi hay không thì sự thực vẫn đã như thế rồi. Chúng ta mang trong mình dòng máu anh hùng, chúng ta có quyền tự hào về điều đó, không ai có quyền ngăn cấm sự tự hào ấy nhưng làm gì để xứng đáng với sự tự hào ấy thì chúng ta chưa làm được, thực sự là chưa làm được. Hãy ngẫm lại đi...
Luật sư Tèo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổng thống Duterte tuyên bố động binh "tử chiến" nếu Trung Quốc đụng vào đảo Thị Tứ


Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte (áo trắng) (Ảnh: AFP) 



Hải Võ
Soha
05/04/2019 10:36 AM

Tổng thống Rodrigo Duterte ngày 4/4 đã đề cập căng thẳng quanh đảo Thị Tứ - nằm ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, hiện bị Philippines chiếm đóng trái phép.

Đảo Thị Tứ trở nên nóng sau khi Ngoại trưởng Mỹ thăm Philippines 
Viện nghiên cứu Mỹ: Philippines nâng cấp đường băng trên đảo Thị Tứ ở Biển Đông 
Tàu Trung Quốc đổ hóa chất giết cá quanh đảo Thị Tứ? 

Ông Duterte ngày 4/4 yêu cầu Trung Quốc "tránh xa" đảo Thị Tứ, và cho biết ông sẽ cho triển khai quân đội Philippines ở đây nếu Bắc Kinh xâm phạm đảo này.

Thông điệp của tổng thống Philippines được đưa ra sau thông cáo của Bộ ngoại giao nước này, gọi sự hiện diện của hơn 200 tàu thuyền Trung Quốc ở vùng nước xung quanh đảo Thị Tứ là "phi pháp". Ông Duterte nói phát ngôn của ông không phải là một lời cảnh cáo gửi đến Bắc Kinh, mà như một lời khuyên dành do bạn bè.

"Tôi sẽ không nài nỉ hay cầu xin, tôi chỉ nói với các vị (Trung Quốc) rằng hãy rời khỏi đảo Pagasa (cách gọi của Philippines đối với đảo Thị Tứ, thuộc chủ quyền Việt Nam), bởi tôi có binh lính ở đó. Nếu các vị đụng đến đảo này thì đó sẽ là câu chuyện khác. Tôi sẽ yêu cầu binh sĩ 'sẵn sàng cho nhiệm vụ cảm tử'."

Duterte nhiều lần nhắc lại rằng ông sẽ không đi đến chiến tranh với Trung Quốc bởi hành động đó là tự sát.

Trước đó, quân đội Philippines mô tả các tàu thuyền hiện diện gần đảo Thị Tứ là lực lượng "dân quân trên biển khả nghi".

Đại úy Jason Ramon, phát ngôn viên Bộ chỉ huy miền Tây thuộc quân đội Philippines, cho biết "Có nhiều lúc họ chỉ ở đó mà không hề đánh bắt cá. Cũng có khi họ chỉ đứng yên".

"Những hành động như vậy, khi không bị chính phủ Trung Quốc phủ nhận, thì được xem như là họ đã chấp nhận," Bộ ngoại giao Philippines tuyên bố trong thông cáo chỉ trích hiếm thấy nhằm vào Bắc Kinh.

Tổng thống Duterte đã theo đuổi chính sách hòa dịu với Trung Quốc kể từ khi lên nắm quyền năm 2016, để đổi lại hàng tỉ USD cam kết tín dụng và đầu tư. Tuy nhiên, ông khẳng định sẽ không cho phép Trung Quốc chiếm đảo Thị Tứ.

Theo Manila, sự hiện diện của các tàu bè Trung Quốc gần đảo Thị Tứ làm dấy lên nghi vấn về mục đích và vai trò của chúng "trong việc hỗ trợ những mục đích cưỡng chế".

Trong khi đó, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng không đề cập trực tiếp sự phản đối của Manila. Ông Cảnh nói rằng các cuộc đối thoại song phương về vấn đề biển Đông tổ chức ở Philippines hôm 3/4 đã diễn ra "thẳng thắn, hữu nghị, và mang tính xây dựng".

Hồi tháng trước, ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo bảo đảm với Philippines rằng Mỹ sẽ bảo vệ đồng minh này nếu họ bị tấn công ở biển Đông.

EVFTA sẽ được ký và phê chuẩn vào tháng 6 - 7 năm 2019?


FB Minh Quân - “Việc ký kết và phê chuẩn EVFTA có thể diễn ra vào tháng 6, tháng 7 tới, tức là sau khi EP kết thúc bầu cử và có nhiệm kỳ mới thì vấn đề phê chuẩn EVFTA sẽ được giải quyết ngay lập tức” - một tin tức sốt nóng mà Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) dẫn lại sau cuộc gặp giữa Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch quốc hội Việt Nam với Chủ tịch Ủy ban Thương mại Quốc tế Bernd Lange -một cơ quan tham mưu rất quan trọng về các hiệp định thương mại quốc tế và có vai trò quan trong không kém Hội đồng châu Âu, vào đầu tháng 4 năm 2019.



Cuộc gặp Nguyễn Thị Kim Ngân - Bernd Lange
Nếu đúng nội dung trên là phát ngôn của Bernd Lange mà không phải là lối ‘nhét chữ vào miệng người’ mà các tờ báo đảng vẫn làm thuần thục từ trước đến nay, đó là thông tin cụ thể nhất về triển vọng ký kết và phê chuẩn EVFTA cho đến nay, kể từ sau vụ hiệp định này bị Hội đồng châu Âu hoãn vô thời hạn, mà nguồn cơn thực chất là vô số vi phạm nhân quyền trầm trọng của chính thể độc đảng độc trị ở Việt Nam.

Một chi tiết khác, được VOV dẫn lại, là ý kiến của Nguyễn Thị Kim Ngân: “Nhận thức về một số vấn đề về lao động giữa hai Bên có thể còn có những khác biệt nhất định, nhưng Quốc hội Việt Nam sẽ nghiêm túc, xem xét kỹ lưỡng các quy định có liên quan đến 3 Công ước của Tổ chức ILO theo khuyến nghị của EU, EP. Hiện nay, việc sửa đổi Bộ luật Lao động cũng đã được khởi động và theo lịch trình, tại kỳ họp tháng 5 tới, Quốc hội Việt Nam sẽ cho ý kiến về việc sửa đổi này”.

Trước đây, Việt Nam luôn đánh bài lờ về ký 3 công ước quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tự do lập hội, quyền tổ chức và thương lượng tập thể và việc bãi bỏ lao động cưỡng bức. Từ sau cuộc điều trần về chủ đề EVFTA - nhân quyền do Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu tổ chức vào ngày 10 tháng Mười năm 2018 tại Brussels, Bỉ, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa chịu ký 3 công ước quốc tế này.

Chiến thuật ‘câu giờ’ của chính quyền Việt Nam liên quan đến việc ký 3 công ước quốc tế về lao động là rất rõ. Hứa hẹn ‘sẽ ký’ từ trước cuộc điều trần ở Bỉ cho tới nay vẫn chỉ là một lời hứa chẳng có giá trị gì. Trong khi đó, Việt Nam vừa âm thầm vừa công khai vận động một số nước châu Âu nhằm tác động đến Nghị viện châu Âu để sớm thông qua EVFTA, để nếu việc thông qua này diễn ra sớm trong nửa đầu năm 2019 thì Việt Nam sẽ có luôn EVFTA trong tay mà chẳng phải ký thêm bất kỳ một công ước quốc tế lao động nào.

Do vậy, việc bà Ngân chủ động sẽ ‘xem xét kỹ lưỡng’ 3 công ước này, cùng việc báo đảng đăng tải về phát biểu này, cho thấy nhiều khả năng phía Việt Nam đã chịu nhượng bộ EU bằng cách cam kết… ký thật.

Khỏi phải nói là 3 công ước lao động còn lại thể hiện mối ‘an nguy’ đến thế nào đối với chế độ cầm quyền ở Việt Nam, vì những công ước này, đặc biệt là công ước về quyền tự do lập hội, liên quan mật thiết đến công đoàn độc lập - một định chế mà từ lâu chính quyền Việt Nam đã luôn gán ghép nó với tổ chức Công đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan vào những năm 80 của thế kỷ XX, để từ đó quy kết cho công đoàn độc lập là nhằm thu hút, tập hợp số đông công nhân để lật đổ chính quyền.

Một khi cả 3 công ước quốc tế còn lại về lao động sẽ được Việt Nam ký, và đó là điều kiện mà chế độ Việt Nam xem là sinh tử nhất, có hy vọng rằng một phần nào đó trong gói yêu cầu cải thiện nhân quyền mà Nghị viện châu Âu đã chuyển tới Việt Nam - bằng hình thức bản nghị quyết nhân quyền công bố vào giữa tháng 11 năm 2018 - sẽ có tác dụng theo cách Việt Nam phải thỏa mãn gói nhân quyền này để đổi lấy Hiệp định EVFTA.

Và nếu thời điểm tháng 6 - 7 năm 2019 mà Bernd Lange nêu liên quan đến việc ký kết và phê chuẩn EVFTA là đúng, khoảng thời gian trước đó sẽ là lúc mà chính quyền Việt Nam phải thực hiện một số động tác ‘cải thiện nhân quyền’.

Đó sẽ là những cải thiện nào?

Có lẽ kỳ họp quốc hội Việt Nam vào tháng 5 năm 2018 sẽ có câu trả lời đầu tiên.

Minh Quân


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2019

Mike Pompeo để Kim nhìn thấy bài



Ngoại Trưởng Mike Pompeo còn nói vẫn tin tưởng sẽ có cuộc gặp gỡ lần thứ ba, thì ông rất dại. Trong hình, một nhà hàng Nam Hàn ở Từ Liêm, Hà Nội, dán poster chào đón hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng Thống Mỹ Donald Trump và Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un hôm 20 Tháng Hai, 2019. (Hình: Linh Phạm/Getty Images)

(NgườiViệt 05/04/2019) Sáng Thứ Sáu, 5 Tháng Tư, ngoại trưởng Mỹ nói rằng ông tin tưởng sẽ có cuộc gặp gỡ thứ ba giữa Tổng Thống Donald Trump và Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un. Theo ông Mike Pompeo, cuộc họp thứ nhì hồi Tháng Hai, đã đạt được tiến bộ, vì hai nhà lãnh đạo hiểu nhau sâu xa hơn.

Mang cả một phái đoàn chính phủ bay nửa vòng trái đất để có dịp hiểu Kim Jong Un sâu xa hơn, ông Pompeo coi như vậy là tiến bộ. Một điều Tổng Thống Donald Trump hiểu thêm về Chủ Tịch Kim Jong Un là, theo lời ông Trump kể, cậu này đòi Mỹ phải bỏ hết các biện pháp cấm vận kinh tế; để đổi lại, cậu chỉ đóng cửa một cơ sở nguyên tử.

Lỗi ở các cơ quan tình báo Mỹ! Họ đã theo dõi Bắc Hàn từ hơn nửa thế kỷ, đã sơ suất không cho tổng thống biết các người cầm đầu Bắc Hàn là loại người như thế nào, để ông phải tự tìm hiểu lấy.

Những ai đã đọc tin tức về Bắc Hàn trong hơn nửa thế kỷ qua đều biếtkhông thể tin vào lời nói của ba đời họ Kim.

Đời ông nội, Kim Il Sung (Kim Nhật Thành) đã không ngần ngại giảo hoạt và trâng tráo.

Năm 1950, Kim Il Sung đưa ra một đề nghị hai miền Nam Bắc thành lập một Quốc hội chung, sẽ khai mạc vào ngày 15 Tháng Tám, để kỷ niệm 5 năm sau khi quân Nhật thất trận phải rút ra khỏi bán đảo Triều Tiên. Lúc đó ông 38 tuổi, cũng trẻ như cậu cháu nội bây giờ. Kim Il Sung cung cấp đầy đủ chi tiết việc bầu cử nên làm như thế nào cho hai miền đều chấp nhận được.

Ba tuần lễ sau, quân đội Bắc Hàn ào ạt tấn công, chiếm thủ đô miền Namtrong nháy mắt. Nếu không có quân đội Mỹ phản công, hai lần, thì cả nước Cao Ly đã phải sống dưới chế độ Cộng Sản từ năm đó; và thế giới sẽ không bao giờ thấy những nhãn hiệu Sam Sung hay Hyundai.

Năm 1972, Kim Il Sung lại “tấn công ngoại giao,” cho thế giới thấy mình là con người yêu hòa bình. Ông ta mở cửa, cho các nhà báo Mỹ và Nhật đến phỏng vấn; trò chuyện một giáo sư Đại học Havard. Và, lần đầu tiên, ông cho quan chức miền Bắc tiếp xúc với giới lãnh đạo miền Nam. Tổng Thống Nam Hàn Park Chung Hee (Phác Chánh Hy) đã chuyển hướng ngoại giao, muốn hai miền nói chuyện trực tiếp. Cuộc ve vãn kéo dài tới hai năm, đến khi mật vụ miền Bắc tổ chức ám sát Park Chung Hee. Ông may mắn thoát chết, nhưng cũng vỡ mộng hòa hợp hòa giải.

Trước vụ Kim Jong Un đạo diễn vụ giết anh ruột ở Malaysia, họ Kim từng gửi “sát thủ” ra ngoại quốc thanh toán các mục tiêu. Năm 1983, một phái đoàn lãnh đạo Nam Hàn ghé qua Rangoon, thủ đô Miến Điện; họ đến viếng đài tử sĩ. Gián điệp Bắc Hàn đã đặt bom nổ làm nhiều người thiệt mạng. Vụ mưu sát này xảy ra sau khi Kim Il Sung nhờ Đặng Tiểu Bình ngỏ ý với Tổng Thống Reagan muốn hai bên “họp thượng đỉnh.” Ông Reagan không mắc bẫy.

Khi Kim Nhật Thành chết năm 1994, nhiều người hy vọng thế hệ sau, lớn lên trong hòa bình, sẽ có những thói quen khác. Nhưng các con và cháu đã được “truyền nghề” đầy đủ, họ biết rằng cả triều đại muốn sống còn thì phải tàn bạo và gian trá, củng cố chế độ độc tài toàn trị. Vả lại, cái máu di truyền không thể đổi được.

Kim Jong II (Kim Chính Nhật) đã từng hứa với các vị tổng thống Mỹ đời trước, rằng Bắc Hàn sẽ ngưng tìm cách làm bom nguyên tử. Đổi lại, Mỹ cung cấp thực phẩm và nhiên liệu. Guồng máy quân đội và công an của chế độ Bình Nhưỡng lại có xăng chạy xe và gạo để đem bán chợ đen. Sau đó,Kim lại tiếp tục nghiên cứu chế tạo bom. Mỹ ngưng cung cấp, sau khi tốn cả tỉ đô la mà chẳng nên tích sự gì.

Trước khi Kim Jong Un được chỉ định lên kế vị, Tháng Ba, 2010, ông bố đã đề nghị Nam Hàn cùng bàn chuyện giảm bớt căng thẳng quân sự. Cuối tháng đó, một chiến Hạm Nam Hàn bị trúng thủy lôi. Tới Tháng Mười Một, Bình Nhưỡng lại đề nghị Nam Hàn hợp tác để mở cửa lại khu du lịch núi Kim Cương (Kumgang) cho dân miền Nam đến chơi. Cuối tháng, lại nã đại bác lên một hòn đảo nhỏ của miền Nam.

Kim Jong Un trông rất giống ông nội lúc còn trẻ. Và có lẽ còn tàn ác, thông minh hơn, và giảo hoạt không kém. Cậu Un tính toán các nước đi rất kỹ, thường bắn một mũi tên là nhắm vào hai ba con mồi. Mỗi hành động gây hấn đều cố gây ảnh hưởng cao nhất và tao phản ứng thấp nhất.

Bị Mỹ chống vì tham vọng bom hạch tâm, mà Trung Cộng cũng coi là một thứ gai nhọn bên sườn, Kim Jong Un cho thử bom vào những ngày lễ, của nước Mỹ hay nước Tàu. Có lúc thử hỏa tiễn đúng lúc Donald Trump đang đãi tiệc Tập Cận Bình!

Kim Jong Un biết rằng người lãnh đạo các nước dân chủ thường hành động theo chương trình ngắn hạn, vì họ phải lo tái tranh cử. Trong khi đó thì các lãnh tụ độc tài có thể mưu đồ những kế hoạch trường kỳ. Ông Trump, ông Moon quan tâm nhất đến những gì xảy ra một trong năm, trước ngày dân bỏ phiếu. Kim Jong Un có thể chờ, hàng chục năm cũng không sao.

Kim đã dụ tổng thống Nam Hàn trước, cho lực sĩ vào Nam dự Thế vận hội, rồi tỏ ý hòa đàm. Ông tổng thống Nam Hàn thấy đây có thể là một thành tích đem khoe trong kỳ bầu cử tới. Kim cũng đưa ra cái mồi giải giới vũ khí nguyên tử, ký hiệp ước hòa bình, để Tổng Thống Trump thấy triển vọng một thành công ngoại giao lớn, biết đâu còn một cái giải Nobel nữa!

Kim Jong Un được lời lớn nhờ cuộc gặp gỡ ở Singapore năm ngoái. Un đã trả hận cho ông nội, người đã bị Tổng Thống Reagan từ chối. Từ vai một côn đồ bị cả thế giới chửi, nhà độc tài trẻ tuổi trở thành một chính khách lớn, được ông tổng thống Mỹ gọi là bạn và khen con người hết lòng vì nước vì dân. Còn nước Mỹ được lợi những gì? Những lời hứa hẹn mơ hồ!

Ông Donald Trump đã đem “vốn chính trị” của mình đầu tư vào mối giao hảo với Kim Jong Un. Ông không muốn bỏ cuộc. Nhưng mới một tháng sau khi gặp Kim mà chẳng ích lợi gì, lại nghe các viên chức Bắc Hàn dọa sẽ lại thử bom nguyên tử và hỏa tiễn, mà Ngoại Trưởng Mike Pompeo còn nói vẫn tin tưởng sẽ có cuộc gặp gỡ lần thứ ba, thì ông rất dại. Lời nói đó chứng tỏ Mỹ rất mong đạt một thỏa hiệp nào đó, dù chưa biết nó như thế nào.

Không nên để lộ quân bài của mình như thế. Trong những cuộc mặc cả gay go, không nên tỏ cho đối thủ biết mình cần đạt kết quả sớm hơn họ. Đối thủ sẽ đòi hỏi nhiều hơn.

Trong những ngày tới, chắc Kim Jong Un sẽ giúp chính quyền Mỹ nuôi thêm hy vọng. Kim Jong Un biết rằng Donald Trump rất muốn tạo một thành tích ngoại giao ngoạn mục trước kỳ bầu cử sang năm. Kim sẽ tặng Donald Trump một món quà để tranh cử, nếu được trả giá đúng như ý muốn. Miễn sao triều đại họ Kim vẫn muôn năm trường trị!

NGÔ NHÂN DỤNG
Phần nhận xét hiển thị trên trang

VĂN NGHỆ CUỐI TUẦN:

LÃO HẠC
(Chu Mộng Long phỏng truyện của Nam Cao)
Thấy tôi đi dạy về, lão Hạc chạy sang. Chắc là lão chờ đã lâu vì muốn tôi giúp lão điều gì đó. Tôi pha trà, châm đóm mời lão.
- Ông giáo dùng trước đi.
Lão đưa đóm cho tôi, còn trà thì ông dùng trước...
- Tôi xin cụ...
Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. Lão nhồi thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo:
- Có lẽ tôi phải tống con Linh Cẩu vào lò thôi, ông giáo ạ!
Lão đặt xe điếu và hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng, lão nói là nói để xoa dịu dư luận đấy thôi, chẳng bao giờ lão tống con chó ấy vào lò đâu. Trước đây đàn chó của lão đã từng phạm tội tày đình, hàng trăm trẻ em đã bị chúng hiếp, nạn nhân kêu thấu đến tận trời, nhưng có mấy con bị tống vào lò? Có con nặng lắm thì bị phạt án treo, có con chỉ bị phạt 200 tiền Đông Lào. Vả lại, có tống chúng vào lò thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế...
Lão hút xong, đặt xe điếu xuống, quay ra ngoài, thở khói. Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấy. Tôi cũng ngồi lặng lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi. Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyển. Ốm dậy, tôi về quê, hành lý chỉ vẻn vẹn có một cái va ly đựng toàn những sách. Ôi những quyển sách rất nâng niu! Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỷ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng: mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét... Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần. Mỗi lần cùng đường sinh nhai, và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi. Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định, dù có phải chết cũng không chịu bán. Ấy thế mà tôi cũng bán! Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lỵ gần kiệt sức... Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con Linh Cẩu của lão đã thấm vào đâu so với tôi quý năm quyển sách của tôi...
Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên lão bảo tôi:
- Này! Tôi sống yên ổn và hưởng lạc 75 năm nay là nhờ mấy con chó đó, ông giáo ạ!
À! Thì ra lão đang nghĩ đến cơ nghiệp của lão. Lão gốc bần hàn, từ khi nuôi được đàn chó, lão có tất cả, đất đai, nhà lầu, ô tô… Mấy con chó của lão rất khôn. Lão chỉ cần ngồi một chỗ ra hiệu lệnh là mấy con chó của lão xông lên cắn người, giết người, cướp của. Nhiều người kiện lão nhưng chẳng ăn thua, vì lão đổ lỗi hết cho đàn chó. Một người phòng vệ quá mức đã bắn chết một con chó của lão mà bị án tử hình. Vậy là không ai dám phản kháng. Bây giờ đất nhà dân xung quanh bị cướp hết thì đàn chó ấy lại đi hiếp dâm trẻ em. Hôm tôi mới về thấy con Linh Cẩu yêu quý nhất của lão hiếp một em bé mà sởn da gà. Nó đè em bé xuống và làm động tác… rất chó. Và thế là giọt nước tràn ly, dư luận ồn ào đòi làm thịt con Linh Cẩu của lão.
Thấy tôi không mặn mà với chuyện của lão, lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão lại tỏ ra hết mực đau khổ với con chó:
- Con Linh Cẩu này là cả sản nghiệp của tôi đấy chứ!... Nó đã cống hiến cả đời nó cho tôi, là niềm tự hào của tôi. Định chờ khi nó chết tôi sẽ làm cho nó một tang lễ cấp cao…
Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta đã định rồi chẳng bao giờ người ta làm được. Lão thương con chó lắm. Biết nó hư hỏng nhưng giết nó thì không nỡ. Nó ấu dâm cũng bởi vì nó từng dính lẹo với đủ loại chó cái đến kỳ động dục. Mỗi lần dính lẹo như vậy chắc là đau lắm nên nó kêu ẳng ẳng đến thê thiết. Nó chán mớ đời nên mới ấu dâm. Mà sự thực ấu dâm ít nguy hiểm hơn lão dâm. Không ngờ…
Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi:
- Trước khi đi ấu dâm, nó tha về cho tôi một túi tiền, ông giáo ạ! Chả biết nó tha ở đâu ra. Khi đưa túi tiền cho tôi, nó liếm tôi từ chân đến đầu, chừng như nó bảo: “Con biếu bố tiền để bố đi chợ; xưa nay bố được tiếng liêm khiết, ăn toàn mắm muối dưa cà, xem chừng không đủ sức mà nuôi đàn chó...”. Tôi chỉ còn biết khóc, chứ còn biết làm sao được nữa? Nó là con chó trung thành. Nó có nịnh tôi cũng là nịnh trong sáng chứ đâu phải như người ta bôi nhọ, chế giễu?...
***
Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn tống con Linh Cẩu của lão vào lò. Lão chỉ còn một mình nó để giải khuây. Bây giờ thì nếu tống nó vào lò lão sẽ sống với ai? Già rồi đi đâu làm gì cũng phải có chó săn đón, hầu hạ, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút. Lão gọi nó là Linh Cẩu như một bà hiếm muộn gọi tên đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra bể tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát bằng vàng. Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những khi lão nói chuyện với dân làng thì nó ngồi ở dưới hếch mõm lên nghe như nuốt từng lời rồi sủa gâu gâu tán thưởng. Tới bữa tiệc thì lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với chó như nói với một đứa cháu bé. Lão bảo nó thế này:
- Cậu có thương bố cậu không? Hả cậu Linh Cẩu? Bố cậu là ta đây. Ta đẻ ra cậu được ba năm rồi đấy... Hơn ba năm... Có đến ngót bốn năm... Không biết đến bao giờ ta lại đẻ được con chó trung thành như cậu. Không trung thành với ta thì liệu hồn cậu đấy!
Con Linh Cẩu vẫn hếch mõm lên nhìn, chẳng lộ một vẻ gì; lão lừ mắt nhìn trừng trừng vào mắt nó, to tiếng dọa:
- Người ta đòi giết mày đấy! Mày có biết không? Nếu bố đồng ý cho vào lò thì... bỏ bố!
Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng, để lấy lại lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa:
- Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết!
Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi, vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dấu dí:
- À không! À không! Không giết Linh Cẩu đâu nhỉ!... Linh Cẩu của bố ngoan lắm! Bố không cho giết... Bố để Linh Cẩu bố nuôi...
Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uống. Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài. Rồi lão lẩm bẩm tính. Đấy là lão tính cách xử êm cho cậu Linh Cẩu…
Sau vụ ấu dâm, con Linh Cẩu của lão trốn biệt trong buồng. Mặc dù lão đã sang thương lượng với người nhà nạn nhân để không bị tố giác, nhưng dân làng thì ầm ĩ lên. Nhiều người đã treo cả cái đầu chó trước nhà lão để bôi nhọ. Có đứa còn treo cả sì líp đỏ chót trước cổng để hạ nhục cả nhà lão. Lão lén ra gỡ hết thì lại bị xịt sơn lên cổng dòng chữ đen ngòm: "Địa điểm du lịch ấu dâm". Con chó ấu dâm mà họ làm như chủ gia của nó ấu dâm vậy.
Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi:
- Ấy thế mà bây giờ thì không thể giấu con Linh Cẩu được nữa, ông giáo ạ! Tôi ốm mất về vụ tai tiếng này. Chưa bao giờ tôi thấy tệ hại như bây giờ…
Sau sự vụ này người lão Hạc gầy rọp đi, mi mắt đã sụp xuống nay càng sụp hẳn. Lão cố mở to mắt ra nói:
- Thì ra cậu Linh Cẩu khỏe hơn cả tôi ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu ấy ăn toàn cao lương mĩ vị. Trước kia còn phải đi cướp nhà cướp đất cướp tiền của người khác nên nó có dâm thì dâm vừa vừa thôi. Nay nó được nghỉ, no cơm ấm cật nên rậm rật suốt ngày, không cho nó ấu dâm liệu có được phỏng? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gầy đi, mà mình thì lại mang tiếng đối xử với chó thiếu nhân văn...
Lão ngắt lại một chút, rồi tắc lưỡi:
- Thôi thì tống phắt nó vào lò đi! Hạ nhiệt được cơn nóng giận của dân làng chút nào hay chút ấy. Bây giờ dân không ngu và hèn như ngày xưa nữa nên khó mà dày mặt với dân. Cứ lạnh lùng tống nó vào lò xong thì sẽ cho cả đàn chó ra cắn đứa nào làm loạn trước cổng. Ông giáo thấy tôi làm vậy có được không?
***
Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu Linh Cẩu đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Tống vào lò thật à?
- Tống rồi? Vừa cho người bắt xong.
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện:
- Thế nó chịu bị bắt à?
Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và đôi mắt sầm sập của lão như tối hắn lại. Lão hu hu khóc...
- Khốn nạn... Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Mấy hôm nay nó tưởng yên chuyện nên trốn ra khỏi buồng để tìm các bé gái đi lạc mẹ. Nó thấy tôi gọi thì chạy như bay về, vẫy đuôi mừng. Tôi đãi cho nó một bữa tiệc. Nó đang ăn thì thằng An nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng An với thằng Côn, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại rồi lôi tuột đi. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Chim dái to tướng vậy mà ỉu xìu hết. Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó...
nhận xét hiển thị trên trang

Max Weber Chính trị - Nghề nghiệp và sứ mệnh


Phạm Nguyên Trường

Vài dòng tiểu sử 

Tư tưởng gia người Đức, Max Weber, có vai vai trò nổi bật trong quá trình phát triển môn xã hội học hồi cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
Max Weber (1864-1920)
Max Weber sinh ngày 21 tháng 4 năm 1864 trong một gia đình quan chức cao cấp của hệ thống chính quyền nước Đức thời bấy giờ, một địa vị có thể giúp người ta hưởng thụ mọi thú vui ở trên đời. Nhưng, ngược lại, mẹ ông là một người phụ nữ tuân thủ những quy tắc của một đời sống khổ hạnh khắt khe, suốt ngày chìm đắm trong những giáo điều tôn giáo của Calvin, luôn luôn lo lắng về khả năng được Chúa chọn và cứu rỗi linh hồn sau khi chết. Những khác biệt sâu sắc giữa cha và mẹ thường xuyên làm cho gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng, đồng thời có tác động đáng kể đến thế giới quan, cách sống, tính chất công việc của Weber, trong đó có sự kết hợp khá kì quặc giữa mối quan tâm tới bộ máy quan liêu và đời sống khổ hạnh của tôn giáo.

Max Weber được đào tạo tại những trường đại học tốt nhất nước Đức và cuối cùng đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về luật học. Weber từng tham gia quân đội, ban đầu là lính nghĩa vụ, sau đó trở thành sĩ quan trong quân đội của đế chế Đức. Nhưng những mối quan tâm về kinh tế học, lịch sử và xã hội học đã đã đưa ông ra khỏi con đường hoạn lộ. Weber quyết định sống theo lối khổ hạnh, tương tư như mẹ mình, mặc dù ông không phải là người theo đạo và dành trọn đời mình cho khoa học. Weber dạy xã hội học ở Đức và Mỹ, ông từng tham gia một số đại hội quốc tế về khoa học xã hội, là tổng biên tập tạp chi Văn khố Khoa học Xã hội và Phúc lợi Xã hội (Archives for Social Science and Social Welfare). Năm 1910, ông thành lập Hiệp hội Xã hội học Đức (Deutsche Gesellschaft für Soziologie). Ông kết hợp các hoạt động giảng dạy và hoạt động chính trị - thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau trong Thế chiến I, là chuyên viên của phái đoàn Đức ở Hội nghị Versailles và tham gia soạn thảo bản Hiến pháp Weimar. Tuy nhiên, chính trị không phải là mục đích tự thân, mà là kiến thức thực tế. Quan trọng nhất đối với ông là kiến thức về đời sống của con người.

Chính trị - Nghề nghiệp và Sứ mệnh , Domino Books

Các tác phẩm chính của Weber: Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, Kinh tế và xã hội, Chính trị - Nghề nghiệp và sứ mệnh, Khoa học – Nghề nghiệp và sứ mệnh, và nhiều tác phẩm khác.

Max Weber từ trần ngày 14 tháng 6 năm 1920.

Max Weber - Nghề nghiệp và Sứ mệnh, Domino Books

Chính trị - Nghề nghiệp và sứ mệnh
Trong những năm cuối thập kỉ đầu tiên của thế kỷ XX, Max Weber, một nhà xã hội học và học giả được mọi người kính trọng, đã được Đại học Munich mời nói chuyện hai lần. Bài đầu tiên là Khoa học – Nghề nghiệp và sứ mệnh (tháng 11 năm 1917) và sau đó là Chính trị - Nghề nghiệp và sứ mệnh (tháng 1 năm 1919). Trước sự kiện là nước Đức vừa bị đại bại trong Thế chiến I và đang có những rắc rối về chính trị trong giai đoạn thành lập nước Cộng hòa Weimar, nhiều người, trong đó có Weber như ông thừa nhận trong phần mở đầu bài nói, là ông “sẽ trình bày quan điểm của mình về những vấn đề thời sự hiện nay”. Nhiều người kỳ vọng như thế vì lúc đó Max Weber đang là học giả được kính trọng nhất ở Đức. Nhưng Weber đã nói tới những câu hỏi triết học rộng lớn hơn: Chính trị là gì và đặc điểm chung của những người coi chính trị là nghề nghiệp và sứ mệnh.

Chính trị và quyền lực 


Weber nhấn mạnh chính trị có nghĩa là “lãnh đạo hoặc gây ảnh hưởng lên phương thức lãnh đạo nhà nước”. Định nghĩa rộng như thế lại đưa ông đến một câu hỏi trung tâm khác: Nhà nước là gì? Weber định nghĩa nhà nước là “cộng đồng người khẳng định (một cách thành công) độc quyền sử dụng bạo lực thể chất một cách hợp pháp trong một khu vực lãnh thổ nhất định”.

Như vậy, có thể định nghĩa chính trị “đấu tranh để chia sẻ quyền lực hoặc để gây ảnh hưởng lên quá trình phân bố quyền lực giữa các nước hoặc giữa các nhóm người trong một nước”. Do đó, “người làm chính trị tìm cách giành quyền lực để làm phương tiện nhằm phục vụ các mục đích khác, có thể là mục đích lý tưởng hay ích kỷ, hoặc giành “quyền lực chỉ vì quyền lực”. Weber sau đó chuyển sang những hình thức hợp pháp hóa quyền lực. Theo Weber, có ba cách hợp pháp hóa quyền lực. Một nhà lãnh đạo có thể hợp pháp quyền lực của mình nhờ truyền thống, ân sủng, hay luật pháp. Theo Weber, nhà lãnh đạo được hợp pháp hóa nhờ khả năng lôi cuốn quần chúng là hình mẫu của một người coi chính trị là nghề nghiệp và sứ mệnh, vì “đây là nguồn gốc của tư tưởng về thiên chức, theo nghĩa cao cả nhất của từ này”.

Vấn đề tập trung quyền lực trong nhà nước hiện đại

Một chủ đề nữa được Weber xem xét là quá trình chuyển hóa xã hội từ hệ thống, trong đó các nhân viên quản lí “sở hữu các phương tiện hành chính” thành xã hội mà người quản lí bị “tách” ra khỏi những phương tiện quản lí hành chính. Các phương tiện của chính phủ tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan. Weber lấy ví dụ, hệ thống chư hầu với thái lấp kiểu cũ và nhà nước quan liêu hiện đại, trong đó những người quản lí nằm dưới quyền nhà lãnh đạo bị tách ra khỏi phương tiện quản lí (không sở hữu phương tiện quản lí). Cùng với quá trình chuyển sang chính phủ tập quyền hơn, người đứng đầu hệ thống ban hành nhiều quyết định hơn, còn hầu hết các những người quản lí cấp thấp chỉ thực hiện các quyết định đã được ban hành, vì họ không có sở hữu. Sau đó, Weber đưa ra những ví dụ: Cách thức hoạt động của những xã hội khác nhau, mà cụ thể là Anh, Mỹ và Đức.

Đặc điểm của chính trị gia


Chủ đề cuối cùng là đạo đức mà chính trị gia, đặc biệt là người lãnh đạo, phải có để có thể cai trị hiệu quả. Ba phẩm chất mà chính trị gia phải có là “Đam mê, ý thức trách nhiệm và ý thức về khoảng cách”. Weber giải thích đam mê là “lòng hăng say, tận tình với sự nghiệp”. Nhưng ông cũng nói rõ rằng chỉ có đam mê thôi thì chưa đủ. Để trở thành chính trị gia, người ta cần có ý thức về trách nhiệm thì mới trở thành lực lượng hướng dẫn hành động; chính trị gia phải có ý thức trách nhiệm về việc thực hiện những mục tiêu mà họ đam mê. Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng nhất là ý thức về khoảng cách kết hợp với đam mê. Ý thức về khoảng cách là “Bình tĩnh và định tâm trước tác động của ngoại cảnh, nói cách khác, giữ được khoảng cách với con người và sự kiện”.

Nói cách khác, chính trị gia cần giữ khoảng cách với dân chúng và bộ máy của mình. Chính trị gia không thể vì quá đam mê trước mục tiêu mà đánh mất ý thức về phạm vi công việc hay những vấn đề thực sự quan trọng. Weber nói rằng phải cân bằng giữa đam mê và khoảng cách. Không có đam mê, chính trị chỉ đơn thuần là “trò chơi trí tuệ phù phiếm”, nhưng, không giữ được khoảng cách, chính trị gia sẽ “bất lực về chính trị”. Một đặc điểm khác mà chính trị gia phải có liên quan đến hai khái niệm khác nhau về đạo đức: đạo đức của đức tin và đạo của trách nhiệm. Đạo đức của đức tin đánh gía theo ý định và hành động thiện hay ác, mà không cần biết tới hậu quả. Đạo đức của trách nhiệm quan tâm tới hậu quả của bất kỳ hành động nào. Đối với Weber, lý tưởng là cân bằng được giữa hai quan điểm này.

Nghề nghiệp và sứ mệnh trong thời hiện đại 


Một tư tưởng quan trọng nữa trong Chính trị - Nghề nghiệp và sứ mệnh (và cả trong Khoa học – Nghề nghiệp và sứ mệnh) là tư tưởng về sứ mệnh, về ơn phước. Weber sử dụng từ “beruf” trong tiếng Đức, thường được dịch là “nghề nghiệp và sứ mệnh”. Hiện nay người ta cũng thường nhắc tới Weber vì quan điểm này của ông. Chúng ta đang sống trong giai đoạn khi mà dân chúng thờ ơ với chính trị và vỡ mộng trước các chính sách; khi người dân trên toàn thế giới đang tỏ ra thất vọng trước các ban lãnh đạo và nạn tham nhũng. Chính bối cảnh hiện nay đã giúp cho tư tưởng của Max Weber tiếp tục có giá trị đối với toàn thế giới. Coi công việc (chính trị, khoa học hay bất cứ công việc gì khác) không chỉ là một nghề mà còn là một sứ mệnh, một ơn phước chính là sống cuộc đời có ý nghĩa trong giai đoạn khi mà nhiều lý tưởng xã hội đã và đang sụp đổ, mất phương hướng về văn hóa và tuyệt vọng hiện nay. Chính trị - nghề nghiệp và sứ mệnh, cùng với Khoa học – Nghề nghiệp và sứ mệnh là những ví dụ điển hình về biện pháp giải quyết những vấn đề của đời sống hiện đại thông qua khái niệm sứ mệnh và ơn phước.

PNT.

Phần nhận xét hiển thị trên trang