Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

Chết bởi con rồng đỏ Trung cộng


image

Trong một cuộc di dân vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, Tàu đang biến cải toàn thể Phi Châu thành một thuộc địa mới. Tương tự như tây Phương đã làm trong thế kỷ 18 và 19—nhưng quyết liệt và với tầm cỡ lớn hơn nhiều—các lãnh đạo Tàu muốn Phi Châu là “chư hầu” ở xa, để vừa giải quyết vấn nạn dân số quá đông, và vừa lấy được tài nguyên.
Daily Mail Online.

Trong khi các hãng xưởng của Mỹ tiếp tục đóng bụi, trong khi các chính khách Mỹ và các nhà lãnh đạo quân sự chỉ chăm chú vào Trung Đông, và trong khi các chính trị gia ở Washington mê ngủ, Tàu cứ tiến tới. Một triệu quân Tàu di chuyển không ngừng ngang dọc Phi Châu và Nam Mỹ để chiếm các nguyên liệu chiến lược, và chiếm các thị trường mới nổi, không cho Mỹ, Âu Châu, Nhật, và các xứ khác vào. Đây là một cái đinh nữa đóng vào nắp quan tài của ngành sản xuất của Mỹ và của thế giới. Thế giới cần phải coi chừng cái đế quốc đang vươn lên này.
image

Con Rồng Đế Quốc Tàu là đứa con hoang của Con Rồng Sản Xuất vô độ—tiêu thụ nửa số lượng xi măng và gần nửa số thép của thế giới, một phần ba đồng của Tàu, một phần tư aluminum, và những số lượng vĩ đại các thứ khác như antimony, chromium, cobalt, lithium, zinc, và gỗ. Chính những tài nguyên này và các thứ khác từ nhiều nơi trên thế giới góp phần cho sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của mọi quốc gia.
Bauxite và sắt từ những nước như Guinea và Tanzania được dùng để chế biến thành aluminum và thép mà chúng ta cần để sản xuất máy bay ở Seattle , Wahington và để đóng tàu ở Bath , Maine . Đồng từ Chile để làm dây điện, cobalt từ Congo dùng trong các xưởng cơ khí ở Michigan , và niobium từ Brazil dùng trong nhiều thứ từ máy hỏa tiễn cho quốc phòng đến lò điện nguyên tử dân sự.

Lithium từ Bolivia và Nambia dùng trong bình điện xe hơi lai (hybrid), manganese từ Gabon dùng để sản xuất bình nước uống bằng nhựa, và titanium từ những nơi như Mozambique , Madagascar , và Paraguay để sản xuất thép tốt dùng trong việc chế tạo máy bay tuyệt vời Boeing 787 Dreamliner hoặc đầu gối và hông nhân tạo của Johnson & Johnson.

Nhưng Tàu muốn tất cả những tài nguyên thiên nhiên ở tất cả các nước này là của Tàu, dành riêng cho ngành sản xuất của Tàu và để tạo việc làm trong nước Tàu. Nếu chúng ta thụ động đứng nhìn để Tàu tự tung tự tác, thì chúng nên tự đào hố chôn nền kinh tế của chúng ta bằng cái xẻng mạ vàng làm ở Thượng Hải. Nhưng nếu muốn trực diện đế quốc đang lên này để bảo vệ nền kinh tế và an ninh quốc gia, chúng ta cần hiểu rõ trò “nhử mồi” của Bắc Kinh.

Trò Nhử Mồi của Đế Quốc Rồng

Dân của lục địa đẹp mê hồn này cần sự tiến bộ. Nhưng Tàu đến đây không phải để giúp, mà là để cướp. -Daily Mail Online
image

Kế hoạch nhử mồi của Tàu luôn luôn bắt đầu bằng cùng một cách: Chủ tịch nước, hoặc thủ tướng, hoặc bộ trưởng thương mại đến thủ đô của một xứ xa xôi như Djibouti hay Niger hay Somalia , mà nhiều người Mỹ chẳng biết mấy chỗ này ở đâu trên bản đồ thế giới. Ông ta giơ cao vẫy vẫy một tấm chi phiếu to và hứa hẹn cho vay rộng rãi với lãi suất thấp để xây dựng hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, hải cảng, xa lộ; hoặc phí phạm như dinh tổng thống tráng lệ, hoặc AK47 để các lãnh tụ độc tài chà đạp người dân.
Đổi lại, thuộc địa mới chỉ cần chấp nhận hai điều kiện:
Đầu tiên, muốn nhận tiền thì phải giao nộp các tài nguyên thiên nhiên—như vậy Tàu có thể chiếm trọn cho riêng mình tài nguyên thiên nhiên của thuộc địa.
Thứ nhì, phải mở cửa cho hàng đã thành phẩm từ các xưởng sản xuất của Tàu tràn vào thị trường thuộc địa—như vậy Tàu chiếm luôn thị trường mới nổi này.

image

Phương pháp để có tài nguyên của Tàu khác rất xa phương pháp của hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, trong đó mọi người dựa vào thị trường toàn cầu để điều phối năng lượng và nguyên vật liêu qua hệ thống giá cả. Phương pháp phân phối tài nguyên bằng thị trường tự do là cốt lõi của nền kinh tế thế giới để mọi người cùng có lợi. Nhưng thay vì hợp tác kiểu tư bản, đế quốc tư bản Bắc Kinh lại chỉ muốn làm đế quốc.

Cái kiểu nhử mồi của con Rồng đang được áp dụng ở Phi Châu, Nam Mỹ, và phần lớn Trung Á, là định nghĩa chính xác cho chủ nghĩa đế quốc: Cướp tài nguyên thiên nhiên của thuộc địa mà những tài nguyên này là tài sản duy nhất của thuộc địa. Mang những tài nguyên này về Tàu thay vì sử dụng tại chỗ để giúp phát triển thuộc địa. Rồi sau đó chuyển ngược những tài nguyên này lại thuộc địa dưới dạng hàng đã thành phẩm.

Phương pháp này tạo việc làm nơi đế quốc, giúp các công ty đế quốc kiếm tiền, và dĩ nhiên khiến số người thất nghiệp ở thuộc địa càng nhiềuthêm. Phần thuộc địa được hưởng là những việc khai thác nguy hiểm lương thấp, trong khi các việc sản xuất được đưa về Quảng Châu hay Thành Đô ( Chengdu ) hay Thượng Hải. Tốt Tàu hưởng, xấu thuộc địa chịu.

Ngoại Giao Bằng Tiền Kiểu Tàu

Khi quan sát thực tế tại chỗ, chúng tôi tưởng như Tàu đã chiếm Phi Châu.—Ngoại Trưởng Musa Kusa của Libya.
Thực ra trò nhử mồi của Tàu đang xảy ra khắp nơi trên địa cầu.
Angola đã trả nợ cho Tàu số lượng dầu trị giá 10 tỉ đô la và vẫn còn tiếp tục.
Cộng Hòa Dân Chủ Congo đến nay đã trả cho Tàu số lượng tài nguyên tương đương nhiều tỉ đô la.
Ghana đang trả bằng hạt ca cao,
Nigeria trả bằng khí đốt
Sudan lấy vũ khí và trả Tàu bằng dầu. Không một nước nào có lợi trong cuộc trao đổi với Tàu.
Trong khi đó ở Peru , Tàu đang làm chủ cả một ngọn núi đồng; và để mua núi Toromacho của Peru.
image

Tàu đã học từ một câu nói nổi tiếng của W. C.Field, “Không bao giờ cho kẻ khờ một cơ hội.” Thực tế là Tàu đã mua được kho đồng quý giá này chỉ với 3 tỉ đô la, kể cả tiền hối lộ, và giờ đang lời tới mức 2,000 %. Trong khi đó các vấn nạn đói khát, mù chữ, nghèo khó, tai nạn lao động, và môi trường ô nhiễm thì dân Peru lãnh đủ.

Trường hợp Peru đã tệ, việc Bắc Kinh trao đổi với lãnh tụ giết người Robert Mugabecủa xứ Zimbabwe còn tệ hơn.
Bạo chúa già nua run rẩy này đang cai trị một trong các xứ nhiều tài nguyên thiên nhất và cũng có ít việc làm nhất của thế giới, đã bán số lượng dự trữ platinum của Zimbabwe trị giá 40 tỉ đô la cho Tàu với giá chỉ 5 tỉ, rồi hắn dùng tiền này để xây lâu đài mới, sắm trực thăng vũ trang, hiến đâu cơ phản lực, và súng ống để đè đầu cưỡi cổ dân Zimbabwe .

Chỉ có Tàu mới có khả năng làm vụ kỳ thị và đàn áp người da đen (Apartheid) trước kia trở nên chuyện nhỏ khi so sánh với tình trạng hiện nay.

“Rồi sao?” Có thể bạn hỏi vậy. Tàu cũng phải được hưởng tài nguyên như Mỹ hay Âu Châu hay Nhật chứ! Và tại sao người Mỹ cần phải để ý khi Tàu bóc lột mấy xứ Phi Châu tham nhũng thối nát, hoặc mấy xứ nghèo mạt ở Nam Mỹ? Nếu lãnh đạo của mấy cái xứ tồi tệ này ngu quá hay tham quá để Tàu lừa gạt, thì kệ họ chứ! 
Làm sao mà chuyện này ảnh hưởng được đến mấy người làm cho các hãng cơ khí sản xuất đồ bằng graphite ở Bensenville, Illinois, kính màu cho nhà thờ ở Kokomo, Indiana , hoặc bàn ghế gỗ ở Asheboro , North Carolina ? Và làm sao trò nhử tiền của Tàu lại ảnh hưởng được đến hy vọng tìm việc của những người trẻ tốt nghiệp đại học UC Berkeley với bằng hóa học, hoặc tốt nghiệp Georgia Tech với bằng kỹ sư?… Rồi, ít ra sau đây là một câu trả lời.

Bằng cách thiết lập các thuộc địa ở Phi Châu, Á Châu, và sân sau của Hoa Kỳ là Nam Mỹ, Tàu càng ngày thâu tóm càng nhiều tài nguyên của thế giới. Kế hoạch này cho Tàu ở vị thế độc quyền về tài nguyên với giá thấp nhất—và như vậy Tàu có lợi thế cạnh tranh với Mỹ và với cả thế giới.

Thực ra kế hoạch thâu tóm tài nguyên thế giới của Tàu cũng tương đương với việc cấm vận tài nguyên đối với các quốc gia khác trên thế giới.
Vì khi Tàu kiểm soát bauxite ở Brazil , Equatorial Guinea , và Malawi ; đồng ở Congo , Kazakhstan , và Nambia; sắt ở Liberia và Somalia ; manganese ở Burkina Fasco, Cam Bốt, và Gabon ; chì ở Cuba và Tanzania ; zinc ở Algeria , Kennya , Nigeria , và Zambia , thì đâu còn gì cho các xưởng ở Cincinnati và Memphis và Pittsburgh —và Munich và Yokohama và Seoul .

Chuyện Tàu “cấm vận” khiến xe hơi tương lai sẽ được sản xuất ở Lan Châu ( Lanzhou ) và Vu Hồ ( Wuhu ) thay vì ở Detroit và Huntsville ; máy bay tương lai sẽ được sản xuất ở Binzhou và Thẩm Dương ( Shenyang ) thay vì ở Seattle và Wichita ; chíp máy vi tính tương lai sẽ được làm tại Đại Liên ( Dalian ) và Thiên Tân (Tianjin) thay vì tại Silicon Valley; và thép của thế kỷ 21 sẽ được sản xuất ngày càng nhiều hơn ở Đường Sơn (Tangshan) và Vũ Hán (Wuhan) thay vì ở Birmingham, Alabama, và Granite City, Illinois .

Đây chắc chắn không phải là cách thị trường tự do và sự hợp tác thương mại quốc tế hoạt động. Và tất cả chúng ta đáng lẽ phải nổi nóng với chuyện đang xảy ra này. Nhưng trong các phòng họp chính trị ở Berlin, Tokyo, và Washington, thái độ của các chính khách có vẻ ngày càng giống như Rhett Butler trong phim Cuốn Theo Chiều Gió: “Anh nói thiệ tcưng nghe, anh chẳng thèm để ý.”

Dân Con Rồng Tràn Ngập Đại Lục Đen

Không cần biết Tàu nói gì, thực tế rõ ràng là không phải chỉ có kỹ sư và khoa học gia Tàu đến Phi Châu. Nông dân cũng đến luôn. Đúng là thực dân kiểu mới. Hoàn toàn không có đạo đức, không có giá trị gì cả.—Mustafa al-Gindi, Thành viên Nghị Viện Ai Cập

Trong khi Tàu phát triển và các nước sản xuất khác có nguy cơ xuống dốc, các thuộc địa mới của Tàu như Angola và Zimbabwe vẫn trong tình trạng đói nghèo, và thường bị nội chiến. Mặc dù các thuộc địa này có nhiều tài nguyên thiên nhiên, sự đói nghèo và xung đột ở Phi Châu là kết quả trực tiếp do sự tráo trở của Tàu. Lúc đầu Tàu hứa hẹn cho vay tiền để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân địa phương. Nhưng khi khởi công thì Tàu lại xuất cảng đội quân cả triệu công nhân qua để làm. Thay vì thuê kiến trúc sư, kỹ sư, công nhân, xe tải, tại địa phương, Tàu đưa dân Tàu qua tối đa, chỉ thuê dân địa phương ở mức tối thiểu.

Tác giả của quyển sách Safari Của Tàu (China Safari) mô tả tình trạng ở Sudan như sau:
Người Tàu khoan dầu và bơm dầu vào ống dẫn của Tàu đưa lên tàu của Tàu để chở về Tàu dưới sự bảo vệ của nhân viên Tàu. Công nhân Tàu làm đường làm cầu và xây đập nước khổng lồ khiến nhiều chục ngàn dân địa phương và nhiều ngàn điền chủ phải di tản. Nông dân Tàu tự sản xuất thực phẩm cung cấp cho đội quân lao động Tàu, hoặc nhập cảng các thực phẩm khác từ Tàu. Tàu cũng trang bị vũ khí cho các lãnh tụ tồi tệ địa phương để phạm tội ác với con người, và bảo vệ cái chế độ đó trong Hội Đồng Bảo 
An Liên Hiệp Quốc.

Và đây là âm mưu của Tàu mà ít ai để ý. Ngoài mục đích thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường mới, Bắc Kinh còn có kế hoạch xuất cảng nhiều triệu dân Tàu qua các xứ thuộc địa ở Phi Châu và Nam Mỹ để giảm sức ép do dân số quá đông ở Tàu. Trong quyển China Safari, một khoa học gia Tàu đã giải thích kế hoạch đổ bộ dân Tàu như sau:

Chúng tôi có 600 con sông ở Tàu mà hết 400 sông kể như chết vì ô nhiễm trầm trọng… Chúng tôi phải dời ít nhất 300 triệu dân qua Phi Châu thì may ra mới giải quyết được tình trạng.

Và đây là một thí dụ nhỏ về việc Tàu chơi ép để xuất cảng dân qua Đại Lục Đen: Khi Nambia không thể trả nợ, mấy tay cho vay cắt cổ ở Bắc Kinh ép Nambia phải nhận nhiều ngàn gia đình Tàu qua định cư. Bí mật này được tiết lộ bởi WikiLeaks; và không cần nói cũng biết là khi tin này xì ra, dân Nambia vô cùng phẫn nộ.

Có thể bạn cũng nổi điên nếu Tàu cũng ép Mỹ phải nhận di dân như vậy. Thử nghĩ xem, nếu vài tỉ đô la có thể khiến Tàu đưa được vài ngàn gia đình qua định cư ở Nambia, thì nước Mỹ phải nhận bao nhiêu trăm ngàn dân Tàu để trừ số nợ hai ngàn tỉ? Các tiểu bang như Montana và Wyoming còn rộng lắm mà phải không?

Sau đây là sự mô tả của nhà báo có tiếng Andrew Malone về kế hoạch biến Phi Châu thành của Tàu:
Một cách âm thầm, bẩy trăm năm chục ngàn dân Tàu đã định cư ở Phi Châu trong một thập niên qua. Và vẫn còn tiếp tục. Kế hoạch này đã được các giới chức Tàu tính toán cẩn thận. Một chuyên gia ước tính là Tàu cần phải đưa ba trăm triệu dân qua Phi Châu để giải quyết nạn nhân mãn và ô nhiễm.
image

Kế hoạch có vẻ như đang tiến hành tốt đẹp. Cờ Tàu đang bay khắp nơi ở Phi Châu. Những hợp đồng béo bở đang được ký kết để mua các thương phẩm như dầu, platinum, vàng, và khoáng chất. Các tòa đại sứ mới đang được xây và các đường bay đang được thành lập. Thành phần thượng lưu Tàu ở Phi Châu hiện diện khắp nơi, đi mua sắm ở những cửa hàng đắt tiền, lái xe Mercedes và BMW, cho con học trường tư riêng biệt…

Ở khắp nơi trên đại lục đẹp đẽ này, dân Tàu đang tràn vào như cơn nước lũ… Các khu đô thị biệt lập có hàng rào bao bọc đang mọc lên khắp nơi. Người da đen không được bén mảng. Ngay cả những quần áo đặc thù Phi Châu bày ở tiệm cũng được nhập cảng từ Tàu, mang nhãn “Made in China .”

Từ lời nhận xét gay gắt trên của Malone, bạn có thể thấy được phần nào rằng Tàu không chỉ xuất cảng công nhân xây dựng qua Phi Châu, Á Châu, và Nam Mỹ, mà Tàu còn đưa qua nông dân, thương nhân, và cả gái điếm!

Để dễ cảm nhận được sự xâm chiếm đất đai của Tàu, ta hãy giả sử rằng chính phủ Mỹ tịch thu vài triệu mẫu đất canh tác tốt ở Iowa và Nebraska đem cho Tàu, đuổi nông dân ở đó đi chỗ khác chơi, rồi phân chia vùng cho Tàu ở riêng, ăn uống riêng. Bạn thử nghĩ xem dân Mỹ sẽ phẫn nộ lên tới mức nào? Đó chính là điều đang xảy ra ở Phi Châu, nơi đã có hơn một triệu nông dân Tàu. Đúng vậy, hơn một triệu nông dân Tàu đang cày đất Phi Châu sản xuất thực phẩm để xuất cảng ngược về Tàu nuôi dân Tàu—ngay trong khi dân địa phương đang đói nghèo.

image

Đây là một sự thực cay đắng trong việc chiếm đất Phi Châu của Tàu: Theo tuần báo The Economist, Tàu đã chiếm hơn 7 triệu mẫu dầu cọ (palm oil) tốt của Congo để làm xăng hữu cơ.

image

Ở Zambia các nông trại Tàu đã sản xuất một phần tư số trứng được tiêu thụ ở thủ đô Lusaka . Ở Zimbabwe , theo báo Weekly Standard thì chế độ của Mugabe đã cho không Tàu những trang trại trước kia của người da trắng. Trong khi đó Con Ngựa Thành Troy mang cái tên mai mỉa “Nông Trại Hữu Nghị” đang được xử dụng ở các xứ như Gabon , Ghana , Guinea , Mali , Mauritania , và Tanzania để chiếm những khu nhỏ hơn hầu tránh bị để ý.

Chiếm Thị Trường Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh

Cùng với cơn lũ nông dân Tàu, nhiều đợt con buôn Tàu cũng tràn vào Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Một số mang theo cơn lũ hàng Tàu vào các thành phố lớn như Kinshasa , Kampala , Lagos , Lima , và Santiago . Một số khác mạo hiểm hơn, đến lập nghiệp ở các nơi xa xôi đang có các công trình xây cất của Tàu khắp Phi Châu và Nam Mỹ.

Về chuyện gái điếm Tàu thì, giống như các công ty Tàu hạ giá thật thấp để tiêu diệt đối phương, các cô sống về đêm ở các quán rượu và nhà chứa cũng dùng cách rẻ tiền để loại đối thủ cạnh tranh. Các tác giả của quyển China Safari mô tả về tình trạng ở xứ nhiều gỗ Cameroon như sau:

“Gái điếm Tàu chỉ đòi có 2,000 CFA (4.25 đô la) trong khi các cô địa phương thì phải trên 5,000 mới chịu lên giường.”

Và đây lại thêm một chi tiết buồn cười nữa về lý do kinh tế khiến dân Tàu bỏ xứ ra đi: Khi cảnh sát giải thoát được một nhóm các cô do các tay buôn người đưa vào Congo-Brazzaville để làm điếm, những cô này lại nhất định đòi ở lại. Lý do là các cô kiếm được khá tiền hơn và được đối xử tốt hơn khi ở quê nhà Tứ Xuyên (Sichuan ). Thì ra làm điếm ở xứ Congo xa xôi còn khá hơn làm ruộng ở quê Rồng.
image

Tàu Xuất Cảng Sàn Gỗ Giết Người và Rác Độc Hại

Các công ty Tàu trả lương công nhân rất thấp và bắt họ làm việc nhiều giờ; làm sao đòi hỏi họ làm tốt hơn ở nước ngoài? Với 6,700 công nhân mỏ bị tai nạn chết mỗi năm (17 người một ngày)…làm sao trông mong được các công ty Tàu làm khá hơn ở các nơi khác trên thế giới? Tàu đã tàn phá hệ sinh thái nước Tàu trong quá trình hiện đại hóa nhanh chóng; làm sao ta có thể tin là Tàu sẽ tôn trọng môi trường như các nước Tây Phương?—Weran Jiang, Đại Học Alberta

image
Với công nhân xây dựng, lái buôn, gái điếm, nông dân, hoặc cơn lũ hàng rẻ tiền đang khiến các cơ sở thương mại địa phương phải dẹp tiệm, Tàu đang xuất cảng các vấn nạn kinh tế và môi trường của họ qua các thuộc địa mới, đồng thời đẩy người dân bản xứ sâu vào hàng ngũ những người nhận cứu trợ hoặc phải đi ăn xin. Nhưng đây không phải là những hàng xuất cảng duy nhất.

Tàu cũng đang xuất cảng sự coi thường công nhân và sự coi thường môi trường. Như giáo sư Weran Jiang đã nói rõ, không có gì phải ngạc nhiên. Bởi vì các kế hoạch gia Tàu ở Bắc Kinh còn chẳng chịu bảo vệ công nhân và môi trường của chính họ, thì làm sao trông mong là họ tử tế với mấy nơi khác như mỏ cobalt ở Congo, rừng ở Gabon, mỏ bạc ở Peru , hay mỏ đồng ở Zambia?

Sự trâng tráo của Tàu khi tàn phá đất thuộc địa có vẻ như không có giới hạn. Ta hãy xem chuyện gì đã xảy ra khi công ty quốc doanh thuộc hàng lớn nhất của Tàu là Sinopec vào Gabon để tìm dầu. Năm 2002 chính phủ Gabon đã phân định một phần tư diện tích quốc gia toàn rừng nguyên sinh là vùng thiên nhiên cần được bảo vệ. Nhưng khi Sinopec vào Gabon tìm dầu, Sinopec bắt đầu ngay giữa khu rừng, đào bới ủi đất làm đường chằng chịt ngang dọc, đặt mìn tàn phá bừa bãi—mà chỉ bị chính quyền khẻ tay nhẹ.
Cũng như “kim cương máu” để mua vũ khí Tàu tàn sát người dân vô tội ở Congo , tiền bán gỗ cho Tàu được dùng để tài trợ và mua vũ khí cho cuộc nội chiến đẫm máu.

Người Hùng Trên Yên Ngựa Đâu Rồi?

Ở Nambia khi những công nhân bị đối xử tệ lên tiếng than phiền thì bị bảo rằng “hãy cố chịu đựng để đời con cháu được khá hơn.” Ở Kenya , khi bị hạn hán trầm trọng, dân chúng chặn công nhân làm đường để đòi được lấy nước uống từ một cái giếng duy nhất trong khu vực Tàu đang thi công.—Africa News

Không khí sợ hãi và ghê tởm bao trùm các xưởng và mỏ của các ông chủ Tàu ở Phi Châu và Nam Mỹ, vì giống như ở Tàu, làm việc nhiều giờ, lương thấp, thiếu an toàn, và những ông xếp tàn ác—cùng với việc đổ bừa bãi đủ thứ chất thải độc hại vào môi trường chung quanh.
image

Chút chi tiết đẫm máu: Khi các công nhân ở mỏ than Collum Coal Mine miền Nam Zambia lên tiếng than phiền về lương thấp và điều kiện làm việc thiếu an toàn, ông xếp Tàu hung bạo dùng súng shotgun bắn gục 11 người. Người hùng trên yên ngựa của Clint Eastwood đâu rồi?
Vụ bắn này không phải là riêng lẻ. Chỉ vài tháng trước đó ở một mỏ khác ở Zambia, cuộc đình công trở thành cuộc bạo động khi một xếp Tàu bắn vào đám đông. Dĩ nhiên Bộ Ngoại Giao ở Bắc Kinh gọi cuộc thảm sát chỉ là “sự sai lầm.” Bạn nghĩ sao?

Sự Vô Đạo Đức Của Tàu Làm Hại Tây Phương

Trong 640 triệu vũ khí nhẹ đang lưu hành trên thế giới, khoảng 100 triệu ở Phi Châu.-Baffour Dokyi Amoa, Pambuzaka News

Dù bị thiệt hại đủ thứ, câu hỏi là tại sao nhiều nước Phi Châu, Á Châu, và Châu Mỹ La Tinh lại mở rộng vòng tay với Tàu? Có nhiều câu trả lời, và câu trả lời tùy vào cái xứ đó thuộc loại nào.

Loại địa ngục Phi Châu nơi lãnh tụ là những kẻ vũ trang, sát nhân, hoặc những lãnh tụ “dân chủ” trá hình với thùng phiếu bị tráo và dân bị bầu dưới họng súng. Những chế độ đểu cáng như Angola , Sudan , và Zimbabwe luôn luôn ở đầu bảng.

Ở những xứ này và nhiều xứ Phi Châu và Nam Mỹ khác, nơi nền dân chủ yếu và lãnh tụ quân sự mạnh, thực dân Tàu áp dụng khẩu hiệu lạnh xương sống do chính Thủ Tướng Tàu Ôn Gia Bảo thốt ra ở nghị viện Gabon : “Chỉ buôn bán thôi, không có điều kiện chính trị gì cả.”

image

Với chủ trương này, Tàu làm ăn với bất cứ một chính quyền ngoại quốc nào mà không cần biết chính quyền ấy tàn ác bạo ngược hoặc thối nát đến đâu. Tàu hoàn toàn không hề chỉ trích hay không hề đặt ra một điều kiện nào về nhân quyền hoặc sổ sách minh bạch.

Vậy ta có thể thấy ngay rằng chủ trương vô đạo đức của Tàu trong lãnh vực ngoại giao cho Tàu một lợi thế rất lớn so với các nước văn minh như Mỹ, Anh, Pháp, và Nhật. Những nước văn minh hành động riêng lẻ hoặc qua một cơ chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc, dùng các vũ khí ngoại giao như cấm vận kinh tế, phong tỏa tài khoản, và cắt viên trợ, để buộc các bạo chúa phải bớt hung hăng. Nhưng trong khi các nước văn minh tạo sức ép lên các bạo chúa thì Tàu lén luồn vào bằng cửa sau.

Khi Mỹ ngưng giao thương với Sudan vì quân đội Ả Rập của nước này đang giết người da đen ở Darfur ; khi Liên Hiệp Quốc cấm vận vũ khí đối với Ivory Coast hay Sierra Leone ; khi Âu Châu cố gắng tạo sức ép lên Eritrea hay Somalia ; ngay cả khi gần như toàn thế giới đang đòi lãnh tụ độc tài Robert Mugabe của Zimbabwe phải tôn trọng kết quả cuộc bầu cử, thì Bắc Kinh lợi dụng cơ hội nhẩy vào, cung cấp cho các bạo chúa này đủ thứ, từ vũ khí cá nhân và chiến đấu cơ phản lực đến máy vi tính và các phương tiện truyền thông.

Đây là một thí dụ cụ thể về việc “đổi máu lấy dầu” ở Dafur, trong đó vũ khí dùng để tàn sát dân là do Tàu cung cấp. BBC mô tả trong tài liệu “Cánh Đồng Thảm Sát Mới” như sau:

Nhiều ngàn phụ nữ và trẻ em bị hiếp dâm một cách có tổ chức ở Dafur trong khi các người chồng, người anh, và con trai của họ bị giết thê
thảm… Chính quyền thả bom trước rồi lính tràn vào làng mạc Phi Châu trên lưng lạc đà, ngựa, và xe tải… Nhiều làng bị tấn công tới năm lần.

Một phụ nữ tên Kalima… khóc than gọi chồng khi chồng cô bị đám lính giết, còn đứa con nhỏ 3 tuổi trên tay cô thì bị đám lính giật ra rồi thiêu sống tại chỗ. Bản thân cô bị đè ra hiếp dâm tập thể.
image
Như vậy, trong khi chúng ta ở các nước tự do dân chủ tôn trọng đạo đức thì Tàu lợi dụng cơ hội để thu hoạch kinh tế, bằng cách cung cấp AK47 cho nhiều ngàn lính trẻ con Phi Châu ở Liberia , Nigeria và Sierra Leone—trong khi máy ủi đất của Tàu vùi nhiều ngàn tử thi dưới những cánh đồng thảm sát ở Dafur.

Còn Nước Úc? Thế Giới Sụp Đổ

Công ty China Guangdong Nuclear Power Holding Co… muốn mua quyền kiểm soát công ty Energy Metals Ltd. của Úc với giá 83.6 triệu đô la Úc.
Đây là một phần làn sóng đầu tư của Tàu vào tài nguyên thiên nhiên của Úc. Việc công ty quốc doanh CGNPH muốn mua 70% chương trình khai thác uranium của Bigrlyi ở khu vực phía bắc nước Úc là dấu hiệu đầu tiên cho thấy Tàu muốn lấn vào nước sản xuất uranium lớn nhất thế giới.

Tàu tỏ ý muốn mua công ty Úc giữa lúc liên hệ Úc-Tàu xuống mức thấp. Tháng vừa rồi Tàu giam giữ bốn nhân viên Anh-Úc của công ty Rio Tinto Ltd., trong đó có công dân Úc Stern Hu, với tội hối lộ và vi phạm bí mật quốc gia. Nhiều chính trị gia và bình luận gia không an tâm với việc Tàu muốn đầu tư lớn vào khu vực khai thác mỏ của Úc. 
—The Wall Strett Journal

image

Điều ngạc nhiên về kế hoạch thực dân của Tàu là làm sao ngay cả các nền kinh tế phát triển và có cơ cấu dân chủ vững mạnh như Úc , Brazil , và Nam Phi, cũng bị đồng tiền Tàu lôi kéo.

Ta hãy xem nước Úc. Dân Úc có trình độ giáo dục cao, tay nghề vững, và gần như có đủ loại tài nguyên thiên nhiên cần thiết để trở thành một trung tâm kỹ nghệ mạnh. Nhưng thay vì phát triển các ngành kỹ nghệ xử dụng tài nguyên sẵn có để sản xuất hàng tiêu dùng, các lãnh đạo thiển cận lại cho Tàu vào mua tài nguyên, đào những kho tàng khổng lồ để đem về các xưởng của Tàu.

Chỉ trong vài năm qua, các công ty Tàu như Yangzhou Coal Mining, China Minmetals, Hunan Valin Steel & Iron, China Metalurgical, và Shanghai Baosteel, đã được những hợp đồng khai thác tài nguyên vĩ đại. Dù trong ngắn hạn vài trăm gia đình thượng lưu Úc bỗng giàu to, nhưng về đường dài nước Úc sẽ lâm cảnh nghèo khó khi các mỏ bị vét sạch.

Ngay cả trong ngắn hạn nước Úc cũng đang bị thiệt thòi. Bởi vì sau khi Tàu dùng nguyên liệu của Úc sản xuất thành hàng hóa rồi đem ngược trở qua Úc bán, Úc bị thâm thủng mậu dịch với Tàu—mặc dù Úc có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú.

Cả hai nước Brazil và Nam Phi cũng tương tự–nhưng yếu hơn. Cả hai đều ngồi trên những kho tàng phong phú. Cả hai đều có giới trung lưu và đều có nhiều cơ hội gia nhập hàng ngũ những nước kỹ nghệ. Nhưng cả hai lại cho Tàu lấy quá nhiều tài nguyên thiên nhiên và vì vậy bị thâm thủng mậu dịch với Tàu.

Chẳng hạn như ở Brazil và chỉ trong ngành dầu lửa, công ty quốc doanh Sinopec của Tàu đã đổ vào 7 tỉ đô la để mua phần lớn số dầu dự trữ khổng lồ ở Santos Basin. Và đó không phải là điều duy nhất: Sinopec còn cho công ty Petrobras của chính phủ Brazil vay 10 tỉ dô la để đổi lại, Sinopec được quyền mua 10,000 thùng dầu thô mỗi ngày trong 10 năm với giá thấp, dưới mức đáy. John Pomfret của báo The Washington Post đã vẽ bức tranh toàn cảnh “Chinamax” như sau:

image

Dọc theo dải cát vàng dài 175 dặm ở bờ biển Dại Tây Dương phía bắc Rio de Janeiro, Tàu đang xây dựng một thực thể kinh tế mới. Đi qua khỏi những hải cảng lớn nơi những tàu khổng lồ của Tàu đang lấy quặng sắt hoặc lấy dầu chở về Bắc Kinh, là một thành phố lớn gấp đôi Manhattan với các hãng xưởng đang mọc lên. Nhiều công trình này được xây dựng với tiền đầu tư của Tàu: xưởng luyện thép, công ty vận chuyển, xưởng xe hơi, xưởng sản xuất dụng cụ khai thác dầu và khí đốt… Sự đầu tư vào Brazil cho thấy kế hoạch “hướng ngoại” của Tàu để bảo đảm nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên và để làm chậm sự phát triển của các công ty thuộc chính quyền địa phương.
image
Tổng Thống Nam P Thabo Mbeki tỏ ý lo ngại về sự xâm lấn của thực dân Tàu: “Nếu Nam Phi chỉ xuất cảng nguyên liệu thô qua Tàu và nhập cảng hàng đã thành phẩm từ Tàu, Phi Châu sẽ bị kẹt mãi mãi trong điều kiện kém phát triển.”
Dù là nước Úc văn minh, Congo loạn lạc, Nam Phi đang phát triển, hay là Zimbabwe độc tài, tất cả các nước này cùng giống nhau ở một điểm: Tàu đang bóc lột có kế hoạch các kho báu của họ.
Và sau khi các kho báu bị cưa, bị xúc, và bị hốt sạch, những thuộc địa này chỉ còn là những cái vỏ rỗng, không còn cơ hội để trở thành quốc gia kỹ nghệ với khả năng tạo nhiều việc làm mà đúng ra họ đã có thể được hưởng nếu họ không là thuộc địa của Tàu.

Đại Bàng Mỹ Biến Thành Chim Bồ Câu Lớn Nhất Thế Giới

Con Rồng sản xuất rất tham ăn. Con Rồng thuộc địa không ngưng nghỉ. Đại Bàng Mỹ thì ngủ quên.
—Ron Vara

image
Kết quả sau cùng là Tàu có kế hoạch chiếm đủ nguyên liệu cho các nhà máy Tàu chạy đều. Còn thế giới thì không. 
Trong khi đội quân triệu người của Tàu tràn đi khắp Phi Châu, Á Châu, và Châu Mỹ La Tinh để thực hiện kế hoạch thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường, 
Đại Bàng Mỹ vẫn còn đậu dưới đất, Âu Châu không dám đối diện sự thật, và Nhật Bản thì bất lực vì quá sợ hãi. Nhưng trước kia đâu đến nỗi như vậy — ít ra là với nước Mỹ.
Nước Mỹ đã từng là bậc thầy trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trên thế giới qua các công tác cứu trợ, ngoại giao, và viện trợ quân sự. 
Nhưng giờ thì Đại Bàng Mỹ đã biến thành chim bồ câu; chúng ta đang gửi Peace Corps đến giúp những quốc gia mắc nợ ít hơn chúng ta, và chúng ta đang núp trong những trại lính ở những xứ mà chúng ta không nên đến. 
Đã đến lúc chúng ta và thế giới phải tỉnh dậy—và đứng lên chống lại—cái đế quốc thực dân đang hiện diện ngay giữa chúng ta. 
Một lần nữa, như Peter Finch đã nói một cách hùng hồn rằng, thế giới văn minh phải mở tung cánh cửa phía Đông mà gào to lên rằng, “Giận lắm rồi, không thể nào chịu nổi nữa.”
Bởi vì nếu chúng ta không vùng lên, “việc cấm vận” tài nguyên thiên nhiên mà Tàu đang áp dụng trên thế giới qua kế hoạch thực dân sẽ là dây thòng lọng siết cổ tất cả các nền kinh tế thế giới.

image
Với thời gian, khi đế quốc Tàu ngày càng thâu tóm được nhiều hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm để thỏa mãn cơn thèm khát của Tàu, dây thòng lọng sẽ càng siết chặt vào cổ của Mỹ, Âu Châu, Nhật , Nam Hàn, và các nước khác.

Peter W. Navarro & Greg W. Autry (2012)

http://www.xn--bomai-xqa.com/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia nhận định từ bài phát biểu nghiêm trọng của ông Tập: Trung Quốc đang lo sợ!




Chuyên gia nhận định từ bài phát biểu nghiêm trọng của ông Tập: Trung Quốc đang lo sợ!
Ảnh: EPA

Chuyên gia Trung Quốc cho rằng đây là một trong những phát ngôn nghiêm trọng nhất của ông Tập Cận Bình.
Trong phiên thảo luận 4 ngày của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có bài phát biểu "rất trang nghiêm với cách dùng từ cứng rắn" trước các lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc nhằm tăng cường sự thận trọng trước những thách thức ảnh hưởng tới sự ổn định và quá trình cải cách của đất nước.
Theo hãng thông tấn Tân Hoa Xã, khi bế mạc phiên họp, ông Vương Hỗ Ninh - được coi là một nhà tư tưởng của Bắc Kinh, đồng thời là một trong những nhân vật quyền lực nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc - đã thúc giục các cán bộ nước này phải đương đầu với "một cuộc chiến khó khăn" để ngăn chặn rủi ro.
Ngoài ra, cả ông Tập và ông Vương đều khuyến khích các cán bộ Trung Quốc phát triển "lối suy nghĩ mấu chốt" để chuẩn bị cho "tình huống tồi tệ nhất".
Theo Sputnik, trong phiên họp, ông Tập Cận Bình đã đề cập tới "những diễn biến quốc tế khó lường và một môi trường bên ngoài vừa phức tạp, vừa nhạy cảm", ám chỉ tới cuộc chiến thương mại của Bắc Kinh và Washington.
Phát ngôn viên Học viện Quản lý Trung Quốc Zhu Lijia nhận định: Các phát ngôn mà ông Tập Cận Bình và ông Vương Hỗ Ninh đưa ra cho thấy Bắc Kinh đang có mối lo ngại sâu sắc về cuộc chiến thương mại giữa hai siêu cường.
"Bài phát biểu của ông Tập rất nghiêm trọng, với những từ ngữ cứng rắn", Zhu nói với SCMP, "Ảnh hưởng của chiến tranh thương mại đối với nền kinh tế Trung Quốc nhiều khả năng sẽ hiển hiện trong năm 2019".
"Không phải chỉ có nước Mỹ, mà cả Liên minh Châu Âu, Australia và các nước phương Tây khác đều tham gia vào cuộc đối đầu về tư tưởng này", Zhu nói thêm.
Trong khi đó, nhà bình luận chính trị Zhang Lifan đồng ý rằng cuộc chiến thương mại đã khiến quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên tồi tệ hơn.
"Cuộc chiến thương mại có thể sẽ không kết thúc vào năm nay và kể cả có đi chăng nữa thì những thay đổi mang tính cấu trúc đối với nền kinh tế của Trung Quốc [theo yêu cầu của Mỹ] sẽ đặt ra thách thức cho Trung Quốc", ông Zhang nói.
"Và những thay đổi ấy sẽ không đủ để chấm dứt tình trạng đối đầu dài hạn và thực tế rằng Mỹ coi Trung Quốc là một đối thủ".
"Ông Tập đã xác định 7 khu vực rủi ro - về cơ bản thì chẳng có khu vực nào không rủi ro cả", Zhang khẳng định, "Đây là phát ngôn nghiêm trọng nhất từ ông Tập và thường được đưa ra khi ông cần các lãnh đạo đoàn kết hơn".
Mỹ và Trung Quốc đã mắc kẹt trong một cuộc chiến thương mại sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố áp mức thuế 25% lên 50 tỉ USD hàng hóa Trung Quốc. Kể từ thời điểm đó, hai nước đã thay nhau áp các loạt thuế mới lên hàng trăm tỉ USD hàng hóa nhập khẩu.
Các phái đoàn Mỹ và Trung Quốc hiện đang tham gia đàm phán thương mại, trong khi Washington cảnh báo rằng nước này sẽ tăng cường áp thuế nếu không đạt được thỏa thuận thương mại vào 1/3 tới.
Chính quyền ông Trump đã nhiều lần cáo buộc Bắc Kinh có những động thái thương mại không công bằng, đặc biệt là hành động đánh cắp công nghệ Mỹ và tài sản trí tuệ của các công ty Mỹ.
Theo Trithuctre

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc chạy trốn âm thầm tới Hungary


baomai.blogspot.com
Hành trình tới Budapest chỉ mở cửa cho những người Venezuela có cội rễ Hungary

Có lẽ đây là một tin gây ngạc nhiên - người tị nạn từ Venezuela đang được đón nhận nồng ấm tại Hungary, đón nhận một cách chính thức bởi một chính phủ vốn nổi tiếng là thù nghịch với người nhập cư và người xin tị nạn.

Khoảng 350 người đã đến Hungary bằng vé máy bay do nhà nước Hungary chi trả. Còn 750 người nữa đang trong danh sách chờ ở Caracas, và sẽ còn thêm nữa.

Nhưng có một yêu cầu họ phải đáp ứng.

Đó là tất cả những ai muốn xin đi đều phải chứng minh được rằng họ có gốc gác Hungary, cho dù chỉ dây mơ rễ má xa xôi tới mức nào cũng được.

Các phát ngôn viên của chính phủ đã phải rất vất vả giải thích rằng họ là những người Hungary thực sự "đang trở về nhà", tuy không mấy ai được sinh ra ở Hungary chứ đừng nói gì tới chuyện biết tiếng Hung.

Họ là ai?

baomai.blogspot.com
  
Hầu hết những người Venezuela có gốc gác Hungary rời khỏi Hung trong hai đợt di cư.

Đợt đầu tiên là sau thời Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong đó có nhiều người có liên quan tới chế độ Miklos Horthy, vốn theo phe Phát xít Đức. Một số người có liên quan tới việc đưa người Hung gốc Do Thái tới các trại tập trung của Phát xít Đức.

Có một nhóm khác gồm 400 người ra đi sau cuộc cách mạng bất thành hồi 1956 chống lại quân đội Xô-viết tại Budapest.

baomai.blogspot.com
  
Cộng đồng này kể từ đó đã phát triển lên thành cả ngàn người.

Nhiều người Venezuela trẻ không có gốc gác gì liên quan tới Hungary đã bị hấp dẫn bởi đời sống văn hóa sôi động của cộng đồng này tại Caracas, nơi có các nhóm khiêu vũ và các nhóm hướng đạo sinh hoạt động.

baomai.blogspot.com
Sau cuộc cách mạng bất thành hồi 1956 chống lại Liên Xô, hàng trăm người Hungary đã bỏ chạy sang Nam Mỹ

Chỉ khi tình hình trở nên xấu đi nhanh chóng vào năm 2017, khi tình trạng thiếu đói đi kèm với nạn bạo lực thất thường, những người tổ chức hoạt động của cộng đồng này mới quay sang tìm sự trợ giúp của chính phủ Hungary.

Nhóm 350 người đã tới Hungary được đón nhận một cách hào phóng. Họ được cho đi học tiếng, được cung cấp chỗ ở và tạo điều kiện để hòa nhập trong 12 tháng đầu tiên.

Orban và chiến dịch chống người nhập cư

Điều trớ trêu ở đây là chương trình đón người từ Venezuela lại được xây dựng bởi một nhóm liên bộ ngành của chính phủ Fidesz, vốn phản đối quyết liệt việc nhập cư từ suốt bốn năm qua.

baomai.blogspot.com
  
Thủ tướng theo chủ nghĩa dân túy Viktor Orban đã có chiến dịch vận động tranh cử Nghị viện châu Âu vào tháng Năm, theo đó hoàn toàn phản đối việc cho người nhập cư vào Liên hiệp châu Âu.

Nội dung vận động đăng trên các biển quảng cáo, trong các nội dung quảng cáo trên báo chí đã bị EU lên án là bóp méo sự thực và nhằm "vẽ nên bức tranh u ám về một âm mưu bí mật nhằm đưa thêm di dân vào châu Âu".

Hầu hết các chương trình hội nhập dành cho người tị nạn tại đây đã bị chính phủ bãi bỏ hồi 2016 và 2017. Chỉ có 94 người được cấp quy chế tị nạn tại Hungary trong chín tháng đầu năm 2018. Có 290 người khác được trao quy chế bảo hộ ở cấp thấp hơn.

baomai.blogspot.com
Một tấm poster của chính phủ tại Budapest công kích cả EU và tỷ phú George Soros

Sự nhập cư của người Venezuela được trang web tin tức độc lập Index công bố, và giới chức Hungary đã yêu cầu những người tham gia chương trình nhập cư này không trả lời truyền thông.

"Chính phủ nói rõ với chúng tôi rằng việc này rất khó để nói ra - bởi chiến dịch vận động chống nhập cư của chính họ," một người Venezuela đã được an toàn tại Hungary và yêu cầu được giữ kín danh tính nói.

"Họ yêu cầu dùng chữ "hồi hương", nhưng chữ này được áp dụng một cách rất lỏng lẻo ngay từ ban đầu. Nay thì các điều kiện đã được thắt chặt lại."

Nhiệm vụ khó khăn: thuyết phục dân địa phương

baomai.blogspot.com
  
Động cơ thực hiện rốt cuộc đã được Phó thủ tướng Zsolt Semjen hậu thuẫn.

"Lúc ban đầu, rất khó mà thuyết phục được chính phủ là tình hình ở đó đã xấu tới đâu," nguồn tin của tôi nói. "Một tháng lương của tôi chỉ đủ cho một bữa ăn."

"Chúng tôi không dễ dàng trở thành người tị nạn. Đặc biệt là với những người trong chúng tôi từng là người tị nạn đi từ Hungary từ hồi đầu. Chúng tôi biết rằng mình có thể mất đi công việc cả đời, mất đi căn hộ, mất đi mọi thứ chúng tôi có ở Venezuela."

Vé máy bay và thậm chí cả phương tiện di chuyển giúp họ tới sân bay đã được Tòa Đại sứ Hungary tại Ecuador và tổ chức thiện nguyện Người Malta Gốc Hungary thu xếp.

Những người Venezuela đầu tiên đã tới vào tháng 4/2018 và tất cả đều rất biết ơn sự giúp đỡ mà chính phủ Hungary dành cho họ.

Nhưng bầu không khí chống người nhập cư mà chính phủ ông Orban gieo rắc đã dẫn tới một số cảnh vừa đáng thương vừa buồn cười.

Khi những người mới tới được đưa vào ở tạm tại khu du lịch nghỉ dưỡng Balatonoszod, dân địa phương đã đóng chặt cửa sổ và hoảng sợ gọi điện thoại cho cảnh sát khi nhận ra điều mà họ gọi là "dân da đen" trên đường phố.

baomai.blogspot.com
  
"Đúng là một số người trong chúng tôi có làn da sẫm màu," người Venezuela mà tôi tiếp xúc với cười lớn. "Nhưng mà một số người khác trong chúng tôi thì lại còn Hungary hơn cả người Hungary."

Điều gì tiếp theo đối với người nhập cư vào Hungary?

Sau một năm, trẻ em đã bắt đầu thạo tiếng, và hòa nhập rất tốt nơi trường học địa phương.

"Chúng thích việc được tự do đi lại trên đường phố mà vẫn an toàn. Được tự do học hành, được là chính mình ở nơi đây, quả là một điều tuyệt vời," một phụ huynh nói.

Nhưng những lo lắng vẫn còn trong lòng người lớn.

baomai.blogspot.com
Khách sạn này ở tây Budapest là nơi trú ngụ cho người Venezuela 'hồi hương' về Hungary

"Chúng tôi sẽ làm sao đây khi hết một năm, khi mà sự giúp đỡ dành cho chúng tôi sẽ chấm dứt? Chúng tôi không được hưởng chính sách hưu bổng ở đây," một người nói với tôi.

Đó chỉ là một trong những vấn đề mà Bộ Xã hội Hungary đang tìm cách xử l‎ý.

Các đảng đối lập cáo buộc chính phủ là giả dối khi nhận người Venezuela nhưng lại từ chối người Syria, Iraq và Afghanistan.

Những người Venezuela sợ rằng những cuộc công kích như thế sẽ làm giảm bớt sự sẵn lòng của chính phủ đối với những người đang chờ đến lượt được đưa ra khỏi nước.

baomai.blogspot.com
  
Họ nhận thấy đã có sự giảm bớt sốt sắng đối với người mới đến, trong lúc chính phủ Hungary đang đánh giá lại tình hình xem liệu chính phủ hiện thời của Venezuela có tồn tại được hay không.

Theo luật được thông qua ở Hungary hồi 2018, các tổ chức và cá nhân giúp đỡ di dân có thể bị phạt, thậm chí bị tù và bị nhà nước tịch thu 25% thu nhập sung quỹ bảo vệ biên giới.

Phe đối lập Hungary nói giễu rằng nhà nước cần phải tự phạt mình.

Tôi hỏi người Venezuela mà tôi liên hệ được: nếu như chính phủ Maduro sụp đổ, liệu anh ấy có trở về Venezuela hay không.

"Đương nhiên rồi. Đó là nhà của tôi."



Nick Thorpe

baomai.blogspot.com


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hồi tưởng của nhà báo Hungary nhân 40 năm cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược 1979


Lai Châu bị tàn phá - Ảnh: Dunai Péter
(NCTG) “Hà Nội là chuyến tác nghiệp dài đầu tiên ở nước ngoài của tôi, và Việt Nam từ ấy vẫn có vị trí đặc biệt trong trái tim tôi” – ký giả cựu trào Hungary, ông Dunai Péter chia sẻ trong bài viết dành riêng cho NCTG nhân 40 năm sự kiện 17-2-1979. Ông là một trong số ít ỏi các nhân chứng quốc tế có dịp chứng kiến những hậu quả của cuộc chiến biên giới 1979.
Chưa bao giờ tôi đến được Hữu Nghị Quan, địa điểm có lẽ nổi tiếng nhất của biên giới Việt – Trung, nằm cách thị trấn Đồng Đăng chưa đầy 5km. Một thời, đây là cửa khẩu đường bộ đông đúc nhất, nhưng sau cuộc chiến biên giới Việt – Trung năm 1979, như sau này tôi mới biết, Trung Quốc đã chiếm làm sở hữu cả cửa khẩu này lẫn khu vực lân cận. Theo các nguồn của Trung Quốc, năm 1999, chính thức đã có 60km2 lãnh thổ Việt Nam bị sáp nhập vào Trung Quốc. Hiện tại, từ Hữu Nghị Quan tới cửa khẩu phía bên Việt Nam, cần phải đi bộ vài trăm mét.
Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam và sự kiện này khởi đầu cho một cuộc chiến ác liệt kéo dài một tháng, sau đó còn dai dẳng chừng một thập niên và như sự khép lại của Chiến tranh Đông Dương thứ ba, Hữu Nghị Quan hoàn toàn thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Sau những trận chiến khốc liệt diễn ra trong vòng một tháng trên lãnh thổ Việt Nam, chiến tranh không kết thúc, mà chuyển sang một giai đoạn kéo dài nhiều năm mà ngày nay, chúng ta gọi bằng cụm từ chuyên môn trong tiếng Anh “low intensity conflict” (LIC, tức xung đột cường độ thấp). Phía Trung Quốc theo một số giả thiết đã tiến hành cuộc chiến mở màn ngày 17-2 như một sự trừng phạt, nhưng họ đã không đạt được mục đích, cho dù thiệt hại về vật chất cho Bắc – Việt Nam là hết sức nặng nề.
Để lật đổ thể chế độc tài Polpot được Trung Quốc chống lưng, Việt Nam đã giúp đỡ lực lượng ái quốc Cam Bốt và điều này có thể đã khiến Bắc Kinh nổi khùng. Theo một bộ phim tài liệu năm 2016 của “Vietnam News”, chế độ Polpot đã trục xuất dân nhập cư Việt Nam khỏi đất nước và tấn công Việt Nam một cách hung hãn. Ngày 2-1-1979, phía Việt Nam huy động không quân cùng các lực lượng thiết giáp và giáng một đòn nặng xuống đầu Khmer Đỏ – chỉ trong vòng 5 ngày, quân đội Việt Nam đã tiến tới thủ đô Phnom Penh. Chế độ Polpot sụp đổ trong thực tế, chừng 10 ngàn cố vấn (quân sự) Trung Quốc bị phía Việt Nam bắt giữ.
Với cuộc chiến này, Việt Nam muốn tránh việc chạm trán với hai địch thủ cùng một lúc: cuộc chiến ở biên giới Tây Nam với Khmer Đỏ, và sự đối đầu tại biên giới phía Bắc với Trung Quốc, khi đó ngày một trở nên thù địch. Ngày 17-2-1979, các đạo quân Trung Quốc đã khởi chiến với Việt Nam từ bốn hướng. Trận chiến chính diễn ra ở tỉnh Lạng Sơn, dọc đường quốc lộ số 1 (QL1A).
Một giả thiết khác cho rằng trong giới lãnh đạo Trung Quốc lúc đó đã diễn ra một số thay đổi: Đặng Tiểu Bình, người được coi là một mưu sĩ dày dạn, lúc đó lên nắm quyền và muốn loại trừ những nhóm Maoist trong quân đội Trung Quốc, và cuộc chiến chống Việt Nam là công cụ cho kế hoạch này. Bắc Kinh khả năng cũng tính đến việc khi khởi động cuộc tấn công, các đạo quân Việt Nam đang tiến nhanh ở Cam Bốt sẽ phải chững lại và như thế, Khmer Đỏ được “rảnh rang” hơn trong quá trình phòng ngự. (Tính đến thời điểm đó, sự kháng cự của Khmer Đỏ tại Cam Bốt đã tan rã trong thực tế, chỉ còn lại những đơn vị nhỏ và biệt lập tiến hành “chiến tranh du kích”). Những mối quan hệ ngày một khăng khít giữa Việt Nam và Liên Xô cố nhiên cũng khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh lo ngại: ở phía Bắc, Trung Nam Hải phải đối đầu với một quân đội lớn mạnh, và phía nam cũng có những lực lượng quân sự giàu kinh nghiệm, có khả năng tác chiến và bảo vệ nước CHXHCN Việt Nam mới được thống nhất).
Từ Hữu Nghị Quan, chỉ mấy trăm mét thôi là khởi đầu của QL1A, quốc lộ số 1 nổi tiếng gần như xuyên suốt toàn lãnh tổ nước Việt. Đầu thập niên 80 thế kỷ trước, khi tới đó, những khu vực gần ranh giới của QL1A bị ngăn lại theo trí nhớ của tôi. Những cuộc giao tranh, lựu đạn và những bãi mìn do quân Trung Quốc để lại khi rút lui khiến việc đi lại không lấy gì làm an toàn. Tôi nhớ, để tới được địa điểm trao đổi tù binh – đoạn biên giới Việt – Trung -, chúng tôi đã phải đi bộ nhiều cây số theo con đường mòn hiểm trở mà cả hai bên đường là những bãi bom mìn. Bản thân việc trao trả tù binh thì được tiến hành trên con đường lát bê-tông hẹp nối liền hai nước với bề rộng chừng 5m và nham nhở bởi tạc đạn oanh tạc.
Điều gì đã xảy ra 40 năm trước? Khi đó, chúng tôi có rất ít thông tin về cuộc chiến kéo dài khoảng một tháng của Việt Nam để chống lại quân Trung Quốc. Như đã từng nói, lúc ấy chúng tôi – mặc dù là những phóng viên ngoại quốc ở Hà Nội – cũng không có được thông tin chính xác, chân thực về những tổn thất chiến tranh (hoặc nếu có thì cũng chỉ rất hạn chế). Chẳng hạn, chỉ sau đó nhiều thập niên tôi mới hay, khoảng 10 ngàn người Việt và tối thiểu 30 ngàn người Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến. Nhưng như tôi được biết, những con số này cũng xuất phát từ các nguồn thứ cấp, theo ước tính của Phương Tây. Những nguồn tin bậc một, thời ấy và cả bây giờ cũng vẫn còn khá hạn chế.
Trung Quốc không có kinh nghiệm trực tiếp về tác chiến vì trận chiến lớn cuối cùng mà binh lính nước này tham dự là vào đầu thập niên 50, khi chừng nửa triệu quân nhân được tung sang Bắc Hàn để bảo vệ chính thể ở đó, trong Lực lượng Chí nguyện quân Nhân dân Trung Hoa.
Theo khẳng định của những nguồn tin Phương Tây, ví dụ Gerald Chan (NXB Oxford University Press, năm 1989) và tờ tạp chí Mỹ “Military Law Review” (số 119-122), những cuộc trao trả tù binh diễn ra vào tháng 5-6 năm 1979. Từng tham gia không ít cuộc trao đổi tù binh tại biên giới Việt – Trung, kinh nghiệm cá nhân của tôi là tới những năm 1982-1983 cũng còn nhiều đợt trao trả tù binh được tổ chức. Dĩ nhiên, một số tù binh được gọi là biệt kích, đột nhập vào lãnh thổ Việt Nam trong thời kỳ xung đột cường độ thấp, tức là sau những trận chiến ác liệt tháng 2-3 năm 1979. Một vài người còn bị đưa ra tòa ở Hà Nội vì những hành động biệt kích phá hoại. Những vụ án đó có được giới truyền thông Việt Nam tường thuật, vài vụ phóng viên nước ngoài cũng được dự, chí ít là ở phần công khai của phiên xử. Có trường hợp các tù binh Trung Quốc bị kết tội biệt kích phá hoại được giới thiệu riêng cho giới ký giả và các nhân viên ngoại giao nước ngoài.
Đầu thập niên 80 thế kỷ trước, những cuộc chiến ở biên giới hai nước vẫn tiếp diễn, cho dù tháng 3-1979 quân đội Trung Quốc chính thức rút khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tại Hà Nội, Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao kết hợp cùng Bộ Tư lệnh quân sự các vùng biên giới thường xuyên tổ chức những chuyến đi làm phóng sự cho nhóm ký giả ngoại quốc làm việc tại thủ đô và các nhà báo địa phương cũng đi cùng.
Vào thời điểm đó, chỉ có khoảng chục phóng viên nước ngoài làm việc ở Hà Nội, chủ yếu là đến từ các nước XHCN. Duy nhất một phóng viên thường trú Phương Tây được phép tác nghiệp, đó là nhân viên của hãng AFP (Pháp). Đông đảo nhất là các nhà báo Liên Xô. Nhiều phóng viên thường trú của các cơ quan truyền thông như hãng thông tấn TASS, tờ “Sự thật” (Pravda), tờ “Tin Tức” (Izvestia), của hãng thông tấn APN (Novosti)… đều có mặt khi đó.
Đã có bận tôi ngủ tại một căn cứ của Việt Nam ở vùng biên giới, và đắp lên người bằng tấm đệm nhàu nát, cũ kỹ và không lấy gì làm mềm mại, hệt như các chàng “bộ đội” (tác giả viết bằng tiếng Việt – ND). Từ đó, chúng tôi đi bằng xe quân sự, khi tới gần biên giới thì xuống đi bộ xem tình hình thế nào. Người dẫn đoàn chỉ cho chúng tôi thấy những hố sâu trên đồng ruộng hoặc vườn cây do tạc đạn gây ra bởi pháo binh Trung Quốc bắn từ bên kia biên giới.
Bản thân tôi cũng đã từng phục vụ trong binh chủng pháo binh thập niên 50 tại Hungary, do đó tôi có biết về các loại lựu đạn, các vũ khí của pháo binh và tác động của chúng. Tạc đạn công phá tạo thành những hố, có chỗ sâu tới nửa thước, thành hố ám khói xám. Có những hố còn bốc khói khi chúng tôi tới gần.
Họ thường bắn từ bên kia biên giới, người dẫn đoàn cho chúng tôi hay, bằng loại đại liên 12,7mm của Liên Xô mà cả quân đội Trung Quốc lẫn Việt Nam đều sử dụng với cái tên được ưa chuộng là DShK. Tôi được biết là trong mọi trường hợp, biên phòng Việt Nam đều có “hồi âm” thích hợp và “tương xứng” sang phía bên kia. Trong thực tế, mục đích duy nhất của việc pháo binh Trung Quốc nã súng từ bên kia biên giới sang lãnh thổ Việt Nam là để quấy nông dân Việt làm việc ở vùng biên, trên những cánh đồng trồng lúa.
Thời gian 1981-1984 tôi làm việc ở Việt Nam trên cương vị phóng viên thường trú tại Hà Nội của Hãng Thông tấn Hungary MTI và nhật báo “Tự do Nhân dân” (Népszabadság). Nhiều lần tôi đã đi suốt QL1A, đa phần là đoạn từ Hà Nội tới TP. Hồ Chí Minh (tức Sài Gòn). Khi đó còn chưa có các chuyến bay thường kỳ giữa Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, do vậy thông thường tôi hay đi xe trên con đường này (thời kỳ đầu là một chiếc Zhiguli 1200 của Liên Xô, sau đó, khi Trung tâm ở Budapest cho thêm tiền, tôi có thêm một chiếc Toyota Corona). Đi mất hai ngày, thường tôi ngủ đêm lại Đà Nẵng. Có lẽ tôi là phóng viên Hung đi lại nhiều nhất ở Việt Nam bằng xe hơi. Do đó, tôi đã đặt tên cho cuốn sách của mình là “Một trăm ngàn cây số tại Việt Nam” (“Százezer kilométer Vietnamban”, sách do NXB Kossuth ấn hành năm 1985).
Sau cuộc chiến biên giới thắng lợi, Việt Nam trải qua những năm tháng yên bình hơn, dân tộc phải chịu quá nhiều khổ đau này xứng đáng được hưởng điều đó. Thời kỳ tôi ở Việt Nam, đất nước này đang tìm đường trong kinh tế: làm sao xây dựng được một thứ CNXH nào cho phù hợp với những hoàn cảnh đã đổi thay, Đảng Cộng sản làm sao lãnh đạo trong tình cảnh mới, phải nhường bước đến đâu cho những lợi ích (lợi nhuận) cá nhân, làm sao tổ chức lại nền nông nghiệp mà khi đó có lẽ là ngạch kinh tế quan trọng nhất.
Từ dạo đó, tôi vẫn chú tâm tới sự phát triển của Việt Nam và rất vui mừng với sự phát triển ngoạn mục mà nước này đã đạt được. Hồi đầu thập niên 80, sau cuộc chiến với người Mỹ và Trung Quốc, có thể nhận thấy Việt Nam kiệt quệ ghê gớm. Đất nước nghèo khó khủng khiếp! Người dân gày gò vô cùng, ngay tại thủ đô cũng có nhiều người chết vì đói khổ thiếu thốn. Thuốc men cũng hiếm, người dân bị nhiều căn bệnh do chế độ dinh dưỡng ít ỏi và thiếu đa dạng, ví dụ bệnh tê phù Beriberi do thiếu vitamin B1 vì khẩu phần ăn vô cùng ít, chủ yếu chỉ có cơm. Thịt rất hiếm và rất đắt đỏ so với mức lương thời đó.
Tôi cảm thấy hổ thẹn trước người dân Việt chịu nhiều khổ đau vì tôi có nhà, có ăn và có xe cộ để đi lại. Hồi ấy có hai khách sạn lớn ở Hà Nội, cả hai đều dành cho người nước ngoài ở thường xuyên (chủ yếu là giới ký giả và nhân viên các đại diện thương mại). Tôi được ở tầng trên cùng (tầng ba) của khách sạn Thống Nhất nằm ở ngay trung tâm Hà Nội, trong một căn hộ hai phòng và có cả nhà bếp. Khách sạn ấy, giờ đây đã trở nên rất được ưa chuộng trong một nhóm nhỏ, ở địa chỉ 15 phố Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm.
Ở ngã tư nơi giao lộ giữa Hai Bà Trưng và Ngô Quyền, chúng tôi mua bánh mỳ Pháp loại dài một gang tay tại hàng bánh thắp đèn dầu của một phụ nữ luôn ngồi xổm cạnh bờ tường. Dạo đó bột làm bánh cũng tệ, đầy bọ và tất nhiên khi nướng lên thành chiếc bánh thơm ngon rồi thì vẫn thấy những con bọ đó. Khách từ Châu Âu hay Budapest qua, chúng tôi thường mời họ ăn loại bánh này, nhìn chung là rất ngon và hơi có vị dầu hỏa, chúng tôi trấn an khách rằng hạt thì là Tây đấy…
Tôi có được nghe rằng giờ ở nơi từng là khách sạn Thống Nhất, đã có một khách sạn hoàn toàn mới được xây, nhưng vào thời tôi ở thì Thống Nhất còn giữ được vẻ bề ngoài ban đầu, cho dù nó đã rất tồi tàn và ở trạng thái cần tu sửa. Chúng tôi luôn lo ngại rằng những xà gỗ một lúc nào đó sẽ bốc cháy. Cũng tại đây, phóng viên AFP đã ở cùng vợ, anh ta là nhà báo Phương Tây duy nhất mà Việt nam cho phép tác nghiệp thời đầu thập niên 80. Cho dù khách sạn này đã trở thành một phần của lịch sử. Charlie Chaplin đã cùng Paulette Goddard hưởng tuần trăng mật tại đây. Somerset Maugham cho ra đời “Quý ông trong phòng trọ” (The Gentleman in the Parlour) giữa bốn bức tường của tòa nhà này. Năm 1951, Graham Greene khi viết “Một người Mỹ trầm lặng”, cũng ở khách sạn này. Và cũng ở một phòng nào đó của Thống Nhất, thời kỳ diễn ra cuộc chiến Việt – Mỹ, Jane Fonda khi đó bị phe cánh hữu bảo thủ gọi bằng cái tên châm chọc là “Hà Nội – Fonda” đã từng nghỉ chân ở đây. Chúng tôi, như đã nói, ở tầng 3 trong một căn hộ 2 phòng và có nhà bếp riêng, thời đó như thế là rất sang trọng. Dạo ấy, khách sạn Thống Nhất vẫn có điện khi tại các con phố lân cận, điện bị cắt một thời gian để tiết kiệm hoặc do thiết bị quá tải.
Văn phòng ký giả của tôi ở tầng trệt phía cánh phải của khách sạn Thống Nhất. Tôi có một chiếc máy telex cũ rích của Mỹ, nếu tôi nhớ không nhầm thì là nhãn hiệu Westinghouse, và gửi các phóng sự về Budapest qua chiếc máy đó. Bao giờ tôi cũng phải liên lạc trước với trung tâm telex để họ cho tôi “đường dây” về Budapest. “Dear, pls give me a line to Budapest”, tôi viết như vậy với người thường trực đáng mến người Việt ở đường dây bên kia, mà tôi cho là phụ nữ. Vài phút sau, khi có “đường dây”, máy bắt đầu vận hành, tôi cài bài viết đã được ghi ra băng (chính xác hơn là đã được đục lỗ) và ở bên kia, tại Budapest, các bản tin của tôi đã được đọc.
Tôi học được hai câu ngắn tiếng Việt đầu tiên. Câu đầu được các bạn Việt Nam dạy cho tôi trong những chuyến đi ven biên giới phía Bắc: “Có mìn” (tác giả viết bằng tiếng Việt – ND). Hai từ đó được viết bằng phấn lên những tấm bảng con đặt ở nhiều nơi, cảnh báo về một nguy hiểm chết người. Điều đó có nghĩa là tôi chỉ được đi trên con đường đất hẹp đã được vạch ra, vì nếu rời khỏi đó, có thể dẫm phải mìn của Trung Quốc thời 1979, hoặc thậm chí do người Mỹ ném từ máy bay thời kỳ trước đó.
Câu thứ hai mà tôi học thuộc là “Không có điện”. Thời gian đó, đây có lẽ là câu nói được nhắc tới nhiều nhất mà tôi nghe từ Kiêm, người phiên dịch xuất sắc, người bạn của tôi mà từ ấy, tôi vẫn nghĩ đến anh với tình cảm thương mến. Anh đã giúp tôi rất nhiều, về mặt con người và chuyên môn. Sau này Kiêm chuyển sang Budapest sinh sống, gia đình anh một phần ở lại Việt Nam, tình bạn của chúng tôi sau nhiều thập niên vẫn được giữ gìn. Ở Budapest, tôi có dịp tham dự lễ cưới của con gái anh tại một nhà hàng Việt, cô dâu kết hôn với một chàng trai Hung.
Ở Budapest và Hungary trong vòng 5 năm gần đây, ẩm thực Việt Nam trở nên rất được ưa chuộng. Tôi biết hàng tá quán ăn Việt, nơi có thể thưởng thức các món phở bò, phở gà, bò xào… (tác giả viết bằng tiếng Việt – ND) rất ngon. Trong những năm tháng làm việc ở Việt Nam, phở là món ăn chính của tôi, đặc biệt là khi tôi đi xe hơi khắp đất nước, làm các phóng sự dọc theo quốc lộ số 1. Tôi còn nhớ khi vừa ra khỏi miền Nam, từ Đông Hà ra phía Bắc qua con sông Bến Hải ngăn cách hai miền Nam – Bắc một thời ở vĩ tuyến số 17, trước khi tới Đồng Hới, sau khoảng 20 cây số tính từ con sông biên giới, phía bên trái đường có dãy quán nhỏ làm bằng lá dừa, tại đó phở được nấu nóng bỏng ngày đêm trong những chiếc nồi đen khổng lồ. Giới tài xế xe tải lai vãng chặng Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh bình chọn phở ở đây ngon nhất Việt Nam!
Những tài xế đó làm việc nhiều không thể tả nổi. Khi tôi đi xe Zhiguli từ Bắc vào Nam và tới thị trấn Cửa Việt tại phía Nam của vĩ tuyến 17, khi ấy cây cầu bị bom oach tạc vẫn chưa được phục hồi, tôi luôn phải chờ đợi nhiều tiếng đồng hồ cho tới khi chưa tìm thấy một tài xế xe tải nào cho chiếc Zhiguli của tôi lên khoang phía sau, tất nhiên là cần trả tiền thích đáng. Bởi lẽ xe nhỏ, không thể qua con sông sóng cuộn, đôi khi sâu tới mét rưỡi bởi những cơn lũ mùa xuân.
Tôi không phải là người duy nhất làm như thế. Khoảng thời gian ấy, những người đi ôtô chặng Hà Nội – Sài Gòn (viên chức nhà nước, nhân viên các công ty, vì dạo đó hầu như không có xe hơi cá nhân) đều chọn cách đó cả. Xe tải đậu cạnh một gò đất nhỏ và chiếc Zhiguli bò lên phần sau của nó vốn được dùng để chở hàng. Khi sang tới bên kia sông thì quá trình này lại diễn ra theo chiều ngược lại. Ngay cả những nông dân đi bộ – trong số đó nhiều người mặc áo tơi và đội nón để chống mưa – cũng bám vào và trèo lên xe tải để vượt sông.
Không bao giờ tôi quên được 4 năm ở Việt Nam, cho dù điều kiện sống ở đó là khắc nghiệt nhất. Về sau, tôi còn làm phóng viên thường trú ở nhiều nơi khác, trong số đó có Moscow, Bắc Kinh, Berlin và vài chục nước trên thế giới như ở Mỹ, Cận Đông… nhưng Việt Nam vẫn đóng vai trò đặc biệt trong đời tôi và sự nghiệp chuyên môn của tôi. Hà Nội là chuyến tác nghiệp dài đầu tiên ở nước ngoài của tôi, và Việt Nam từ ấy vẫn có vị trí đặc biệt trong trái tim tôi.
Nguyễn Hoàng Linh giới thiệu và dịch từ nguyên bản tiếng Hungary
Nguồn:Đăng lại từ Nhịp Cầu Thế giới.
(Xin phép tác giả Nguyễn Hoàng Linh và Nhịp Cầu Thế Giới. Chúng tôi có thay tựa từ “HỒI TƯỞNG CỦA NHÀ BÁO HUNGARY NHÂN 40 NĂM CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI 1979” thành “Hồi tưởng của nhà báo Hungary nhân 40 năm Cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược 1979”)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cảnh sát Thái Lan thẩm vấn ông Cao Lâm điều gì?

Sự kiện cảnh sát Thái Lan thẩm vấn một công dân Việt Nam đã tiếp tục hâm nóng sự chú ý của dư luận về trường hợp mất tích của nhà báo Trương Duy Nhất hồi cuối tháng 1.

Người đầu tiên bị thẩm vấn là ông Phạm Cao Lâm, 44 tuổi, quê Thanh Hóa, đã ở Thái Lan 16 năm, làm nghề thợ may. Ông Lâm cũng là người khá nổi tiếng trong cộng đồng người Việt tại Bangkok qua các hoạt động từ thiện và giúp đỡ người tị nạn.


Ông Cao Lâm (áo đen) phát quà lì xì Tết Nguyên Đán cho trẻ em người Thượng theo gia đình sang tị nạn ở Thái Lan. Nguồn: Hội từ thiện Ray of Hope

Tối ngày 3/3, từ trại tạm giam đồn cảnh sát Khu Khot (quận Lam Luk Ka, tỉnh Pathum Thani), ông Lâm đã đồng ý tường thuật lại câu chuyện với CTV báo Tiếng Dân như sau:

“Hôm đó là ngày 1/3, lúc 4 giờ chiều, tôi vừa đi giao hàng về thì cảnh sát di trú Thái đến kiểm tra xưởng may của vợ chồng tôi. Họ nói chúng tôi lao động không có giấy phép, bắt tôi ngồi im một chỗ để họ kiểm tra nhà, rồi sau đó đưa hai vợ chồng tôi lên xe chở về Bangkok”.

Ông Lâm nhận ra nơi thẩm vấn là Cục Di trú, nằm trên đường Suan Phlu ở Bangkok, gần IDC – nơi giam giữ những người nước ngoài sống bất hợp pháp ở Thái Lan.

“Mới vào thì họ lấy hết điện thoại của vợ chồng tôi rồi cắm dây vào máy tính. Họ cũng kiểm tra các số điện thoại, tin nhắn và hình ảnh trong máy”, ông nói.

Thấy cảnh sát làm “ghê gớm” vậy, lúc đầu ông Lâm nghĩ rằng họ đang điều tra về vụ Trương Duy Nhất, nhưng khi thẩm vấn thì họ chỉ hỏi ông về ông Bạch Hồng Quyền – một nhà đấu tranh dân chủ đang bị công an Việt Nam truy nã, hiện đã được Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc (UNHCR) ở Thái Lan cấp quy chế tị nạn chính trị.

“Họ hỏi tôi có biết Bạch Hồng Quyền đang ở đâu không? Tôi bảo là không biết, vì mấy ngày trước Quyền có sang chào tôi và nói chuyển nhà”.

“Cảnh sát nói tôi biết mà giấu họ. Tôi thề là tôi không biết, tôi nói bây giờ các ông có bỏ tù hay bắn chết thì tôi cũng không biết Bạch Hồng Quyền ở đâu mà nói cho các ông”.

“Họ nói là không tin tôi, họ dọa sẽ trục xuất và cấm tôi quay trở lại Thái Lan vì không chịu hợp tác”, ông Lâm nói.

Ông Cao Lâm thăm cụ bà người Việt, bị con đánh thâm cả cánh tay. Ảnh chụp ngày 31/12/2017.

Cuộc thẩm vấn kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ. Đến 20 giờ tối cùng ngày, vợ chồng ông Lâm được đưa về đồn cảnh sát gần nhà. Ông Lâm tiếp tục bị câu lưu theo đúng thủ tục, còn vợ ông được cho về chăm sóc con gái 3 tuổi rưỡi.

Theo lời ông Lâm, những người hàng xóm khi vào thăm kể rằng, trước đó cảnh sát đã đến nhà tìm ông Bạch Hồng Quyền nhưng không gặp vì ông Quyền đã trả nhà và chuyển đi. Nhà ông Lâm và ông Quyền ở gần nhau, cùng là người Việt, lại chơi thân với nhau, có lẽ vì thế mà cảnh sát đã đến tìm ông Lâm.

 Ảnh chụp ngày 31/12/2017.

Ông Lâm cũng nói thêm rằng, sau khi chuyển đi nơi khác, ông Quyền đã đổi số điện thoại và cắt mọi liên lạc.

Trả lời câu hỏi, liệu vụ việc có liên quan đến trường hợp mất tích của nhà báo Trương Duy Nhất hay không, ông Lâm nói:

“Tôi không chắc về điều này nên không thể trả lời. Nhưng hôm thẩm vấn thì tôi không thấy họ hỏi hay nhắc gì đến vụ anh Trương Duy Nhất. Từ đầu đến cuối họ chỉ hỏi tôi về Bạch Hồng Quyền”.

“Nhân đây tôi cũng nói luôn, trên mạng có người đưa cả hình vợ con tôi lên, nói tôi là đặc tình của công an, rồi tố tôi bắt cóc Trương Duy Nhất này nọ. Tôi xin khẳng định là tôi không liên quan gì đến việc này, tôi cũng không phải là đặc tình hay tình báo gì cả. Gia đình tôi đã rất khổ sở và phiền phức vì chuyện này rồi, mong mọi người hãy tìm hiểu kỹ trước khi đưa tin”, ông nói.

Ngày 2/3, tòa án quận Lam Luk Ka, tỉnh Pathum Thani đã tuyên ông Phạm Cao Lâm vi phạm luật lao động của Thái Lan và chịu án phạt 2.500 Baht (tương đương 78 USD), một tội danh mà hầu hết lao động di dân người Việt đều mắc phải. Tuy nhiên, ông Lâm sẽ tiếp tục bị tạm giam cho đến ngày trục xuất về Việt Nam.

Được biết, người chủ xưởng may nơi ông Lâm làm việc đang tìm cách bảo lãnh cho ông tại ngoại để giải quyết những đơn hàng đã nhận, nhưng việc này hiện nay là rất khó vì Thái Lan đang trong thời kỳ cao điểm của chiến dịch truy quét lao động bất hợp pháp.


(CTV Tiếng Dân)


Phần nhận xét hiển thị trên trang