Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

KHI TOÀN DÂN BỊ NGÁO ĐÁ



FB Chu Mộng Long - Thời tiết không có bão, nhưng bóng đá đã gây bão chết người đến con số trăm. Một sự hy sinh được cho là có ý nghĩa. Hàng ngàn, hàng triệu người xuống đường, đến bà cụ già trên 80 cũng xuống đường góp bão. Vận nước đang lên ầm ầm.



Đến mức một nhà nọ hắt nước xuống đường trúng dòng người đi bão đã làm cho những thanh niên yêu nước tức giận đập phá cửa vì chủ gia ấy đã xúc phạm lòng yêu nước. Một fan hâm mộ bóng đá livetream tuyên bố Park Hang Seo là vị cha già của dân tộc. Đài truyền hình quốc gia ngày nào cũng tự hào quá Việt Nam ới Việt Nam ơi.

Một sở giáo dục nọ phát động tinh thần bóng đá vào trong trường học. Đến một ông to nhất cũng tuyên bố "phát huy tinh thần Park Hang Seo vào phát triển kinh tế". Vui quá! Không chừng nay mai ta thuê luôn quan chức ngoại điều hành kinh tế, giáo dục Việt Nam với giá trên 700 triệu đồng/một tháng lương!
Nhưng tôi e rằng, trong các thực phẩm độc hại được cho là hóa chất có nguồn gốc Trung Quốc đang có hàm lương ma túy đá rất lớn?


Nguyễn Lân Trung, nguyên Phó chủ tịch VFF 

quấn quốc kỳ che đít khi vào sân vận động Malaysia

Phần nhận xét hiển thị trên trang

LUẬT AN NINH MẠNG - BẠN CÓ SỢ KHÔNG?


Ku Búa - Thằng Xe Ôm: Chỉ còn hơn một tuần nữa, Luật An Ninh Mạng (ANM) Việt Nam sẽ có hiệu lực. Đây là một bước ngoặt trong chính trị và kinh tế Việt Nam. Từ một không gian internet mở rộng, nó sẽ bắt đầu khép kín dưới sự giám sát của chính quyền. Tuy chưa ai biết khi áp dụng sẽ ra sao nhưng hiện tại dưới quy định được thông qua thì các công ty internet phải đồng ý cung cấp thông tin người dùng cũng như dữ liệu cho chính quyền kiểm tra khi có yêu cầu. Nghĩa là không ai được bảo mật hoàn toàn.

Vậy bạn có nên sợ không? Nên nhưng đừng quá sợ. Vì:
1. Việt Nam không có sức mạnh kinh tế như Trung Quốc cho nên khó mà ép các doanh nghiệp nước ngoài chấp hành.
2. Việc bắt bớ người bất đồng chính kiến đã xảy ra từ lâu. Bộ luật này chỉ hợp thức hóa.
3. Việt Nam có vô số luật lệ vô lý chỉ nằm trên giấy chứ không áp dụng.
4. Và Việt Nam theo mô hình nửa kín nửa mở, vừa theo CNXH vừa theo Tư Bản. Cho nên khó có chuyện kiểm duyệt toàn bộ.
Riêng tôi, Ku Búa - Thằng Xe Ôm, thì không sợ vì những lý do sau:

1. Ku Búa là một người vô sản. Của cải chỉ là chiếc xe ôm để chở khách đường Nguyễn Chí Thanh và Sư Vạn Hạnh. Nghèo rớt mồng tơi thì có gì mà mất. Vậy sợ được gì?
2. Ku Búa là một người vô giá trị, nửa điên nửa khùng. Cho nên rất tự tin rằng nếu có bị bắt thì sẽ được thả. Mà đâu ai rảnh bắt chi cho mệt. Rất phiền phức.
3. Ku Búa chỉ chém gió trên mạng như 99% tay phản động khác. Không đe dọa đến an ninh quốc gia. Vậy có gì mà sợ?
4. Và cuối cùng, Ku Búa cực kỳ dễ thương. Cho nên sẽ không có ai nỡ lòng làm Búa đau lòng đâu. Gõ cũng 4 năm rồi, dễ thương, nghèo và vô sản thì ai làm gì được.

Tuy nhiên, không có nghĩa là các bạn có thể nói gì thì nói trên mạng. Nếu các bạn gõ phím đe dọa kiểu: ''ĐM tao sẽ tìm ra mày và *****'' hay ''Tao sẽ lật đổ ABC nào đó" thì quá bậy rồi. Bạn đang cho người ta cơ hội và cái cớ để làm khó bạn. Cái đó không phải là anh hùng mà là ngu. 

Cho nên hãy sống bình thường, đừng bận tâm tới những thằng mất dạy trên mạng làm gì. Tụi nó đa số nghèo, thất học và thất nghiệp. Vì không có cái gì để phô trương cho nên lên mạng mạnh miệng chứ còn bên ngoài đời thì câm nín. Cho nên nếu có ai troll hay chọc tức bạn thì hãy phớt lờ, lũ nghèo hèn thất học mà, quan tâm chi.

Bạn không nên sợ Luật An Ninh Mạng, hãy sống bình thường nhưng đừng làm gì quá bất thường hay tỏ vẻ phi thường.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2018

Nhìn từ xa... Tổ Quốc! - Nhà thơ Nguyễn Duy, NSND Minh Gái, NSND Xuân Ho...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế nào là trở cờ, thế nào là thay đổi niềm tin chính trị ? Trường hợp L. Aragon (1897 – 1982)



Bài đưa lần đầu trên blog này ngày 19 thg 12, 2017
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/12/the-nao-la-tro-co-nao-la-thay-oi-niem.html


Khi gõ mấy chữ “nhà thơ  Louis Aragon“, vào mục Wikipeda tiếng Việt tôi đọc được một phác thảo tiểu sử quá sơ lược, và lại thiên lệch nữa.  Đại khái như mấy dòng sau đây:

...Thời kỳ Thế chiến II, Aragon   tham gia phong trào Kháng chiến, là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào này.

    Các tập thơ Le Crève-Cœur, (Dao trong tim, -- [hồi 1960,  được dịch là Nát lòng VTN ] in1941); Les Yeux d'Elsa, (Đôi mắt Elsa, 1942); thể hiện lòng yêu nước và sự quay về với những đề tài tình yêu cổ điển.


Ngoài thơ ca, Aragon còn là một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị về những vấn đề của văn học hiện đại. Louis Aragon mất ở Paris năm 1982.

 Trong khi đó vào Wipedia bằng tiếng Anh, rồi đọc bản dịch tự động bài viết này, tôi thấy được bổ sung rất nhiều, trong đó nổi bật cái ý là sự thay đổi niềm tin chính trị nơi Louis Aragon, thể hiện đầy đủ qua các sáng tác.

 Muốn dọc bản tiếng Anh này xin xem

/translate.google.com.vn/translate?hl=vi&sl=en&u=https://en.wikipedia.org/wiki/Louis_Aragon&prev=search

  Sau đây là đoạn quan trọng nhất trong bản dịch bài viết trên đã được tôi chỉnh lại cho sát với văn phong tiếng Việt


Sau chiến tranh, Aragon trở thành một trong những trí thức Cộng sản hàng đầu, đảm nhận những trách nhiệm chính trị trong Uỷ ban Quốc gia về các nhà văn (Comité national des ecrivains ).

Năm 1950  được bảo trợ bởi  M.Thorez, Aragon được bầu vào ủy ban trung ương của Đảng Cộng sản  Pháp. Tuy nhiên, vị trí đó không bảo vệ ông  khỏi mọi hình thức chỉ trích.

 Vì vậy, khi tạp chí Les Lettres françaises  cho in một bản vẽ của Pablo Picasso vào dịp Stalin chết vào tháng 3 năm 1953, Aragon không tránh khỏi bị  công kích. Qua nhiều năm, ông đã được thông báo về cuộc đàn áp đối với những phần tử phi Stalinist từ người vợ gốc Nga của ông; dần dà đường lối chính trị của ông thay đổi hẳn.

 Từ tháng ba 1953, Aragon trở thành giám đốc phụ trách văn học của L'Humanité , tức Les Lettres françaises .

Với sự trợ giúp của trưởng biên tập, Pierre Daix , Aragon bắt đầu vào những năm 1960, một cuộc đấu tranh chống Stalin và những hậu quả của nó ở Đông Âu .

Năm 1956, Aragon ủng hộ cuộc nổi dậy ở Budapest , sự kiện này  dẫn tới sự tan rã của Comité national des écrivains , tuy cùng năm đó, ông vẫn được trao giải thưởng Hòa Bình Lenin .

 Tiếp đó, tờ báo mà  ông là linh hồn liên tục lên án  chủ nghĩa độc tài  Xô viết, bằng cách đăng bài vở của các nhà bất đồng chính kiến, và lên án các phiên tòa xét xử đối với các nhà trí thức (đặc biệt là phiên tòa Sinyavsky-Daniel năm 1966).

Ông đã ủng hộ mạnh mẽ phong trào được gọi  là mùa xuân Praha vào tháng 5 năm 68.  Những phát   biểu của ông được  Milan Kundera  dẫn lại như một lời cổ vũ, một sự hướng dẫn đầy thuyết phục ( xem  La Plaisanterie tức Trò đùa).

Mặc dù bị chỉ trích, Aragon vẫn là thành viên chính thức của ủy ban trung ương của ĐCSP cho đến khi ông qua đời.

 Cái ý rõ nhất trong bài viết trên mà tôi tiếp nhận được: trước mắt chúng ta không phải là một con người cơ hội mà là một Aragon thay đổi niềm tin chính trị một cách chính đáng.  Nó cũng trùng hợp với các ý tưởng chủ đạo trong các tài liệu  bằng tiếng Nga và tiếng  Việt  mà tôi đọc được ( kể cả bản dịch cuốn Thơ Aragon bằng tiếng Việt in ở Hà Nội 1960), cũng như qua các mẩu chuyện mà Tế Hanh, Nguyễn Thành Long,  Phong Hiền, Trần Đĩnh ...thường nói với tôi.
Cũng như  nhiều trí thức đương thời L.Aragon lúc trẻ say đắm những tư tưởng cộng sản bao nhiêu thì  từ 1956 lại cuồng nhiệt làm công việc phê phán niềm tin đó bấy nhiêu.

Khi thấy ông  làm cái công việc đó, nhiều bè bạn của ông, nhiều người hôm qua khâm phục ông nay  quay ra phê phán ông đôi khi bằng những lời lẽ rất tệ.
 Do đọc qúa ít, lại bởi sự non nớt của mình lúc đầu tôi rất hoang mang.
 Chỉ đến khi thấy ông  làm cái việc đó một cách  vừa đầy lý  trí vừa đầy đau xót tôi mới nhận thấy sự có lý của ông .
  Trong những bài phản bác  lại những người chê trách mình, ông  nói đại ý
-- có những người mà người ta có thể đề ở trên mồ dòng chữ : người này không bao giờ sai lầm
--  tôi không phải loại người đó.
Cái ý đó đã được chuyển tải khá đầy đủ trong bài viết mang tên Phải gọi sự vật bằng tên của nó.  Người dịch bài này ra tiếng Việt là một trí thức nổi tiếng từ trước 1945,  Đinh Gia Trinh. Bài dịch được in trên  trên Tạp chí Văn Nghệ ra ở Hà Nội khoảng 1960-61.
Ở Việt Nam hồi đó cũng có những người như Aragon.
Đây tôi không nói về cái sự ấp úng dè dặt trong biểu hiện tư tưởng của những nhà văn nhà thơ Việt  Nam.
Chúng ta  ở vào một xã hội khác với L. Aragon, chúng ta chẳng biết cái gì đến nơi đến chốn, nên sự dè dặt lại chính ra là lương thiện.
Tôi muốn nói tới những người  đồng nghiệp của tôi mà lúc đầu rất ít, nhưng vào những năm tháng cuối thế kỷ XX đầu XXI này ngày một nhiều thêm.
Đó là những người bề ngoài cũng như ông,  có khi họ còn dùng những lời lẽ quá đáng hơn ông  để nói về những điều mà hôm qua họ tin tưởng, nhưng tuyệt đối ở họ không có một chút xót xa tiếc nuối.
 Ho làm việc  phủ nhận mình một cách cuồng nhiệt và cả vui vẻ nữa.
 Tức là không có cuộc tìm tòi chân lý nào ở đây. Họ chỉ cốt làm nổi con người của họ, thế thôi.
 Có người gọi những người này là trở cờ -- trở cờ chứ không phải hối hận và tôi thấy đây chính là một cách nói có lý.
 Trở lại với tình hình những năm sau 1956 cho tới cuối thế kỷ XX khi Liên xô sụp đổ, tôi thấy L. Aragon thành tâm hơn đáng tin hơn, do đó khi có dịp tìm hiểu thêm về ông tôi không bỏ qua.
Bởi tôi muốn lấy ông làm chuẩn để xem xét bước đi của một số trí thức và nhà văn Việt Nam đương thời.
  Như tháng 12-2017 này là  dịp kỷ niệm 35 năm ngày mất của ông và tính theo năm là 120 năm ngày sinh của ông, tôi xin phép giới thiệu lại hai bài viết đã đưa trên blog của tôi từ 15-8-2012 và 29-1-2015


1/
Louis Aragon , con người của những đam mê và lầm lạc

Ngay cả trong thời kỳ kháng chiến 1946-54, nhiều văn nghệ sĩ Việt Nam theo tiếng gọi của kháng chiến vẫn chuyền tay nhau báo chí sách vở viết bằng tiếng Pháp, để tiếp thêm cho mình hiểu biết  và nghị lực.

Và trong những ngày đó, bên cạnh những Maurice Thorez, Jolio Curie, Paul Eluard v.v... có tên một người Pháp nữa, trở đi trở lại trong tâm trí nhiều văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam, đó là Louis Aragon: một Aragon từng nát lòng vì Paris đang rên xiết dưới gót giày phát xít khi "suối đã đục dòng chỉ lệ còn trong"; một Aragon có thơ được in bí mật, được người dân trong vùng địch hậu chuyền tay nhau và một Aragon ca ngợi Đảng của mình bằng những lời đẹp nhất:

Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng

Trước như tuổi thơ tôi nào biết được

.,.

Đảng đã cho tôi màu sắc nước non nhà..
                                                              Tố Hữu dịch.

Lời thơ có gì gần gũi, như chính nó được viết bằng tiếng Việt.

Nhưng đó không phải là hình ảnh duy nhất về Aragon mà chúng tôi được biết. Từ sau 1956, khi mà nhiều trí thức châu Âu trải qua những xao động lớn lao về tư tưởng, hoặc nói như chính Aragon, khi mà gió đã xoay chiều, thì một Aragon khác lại hiện ra với những người cầm bút nơi đây, Aragon của tiểu thuyết Tuần lễ thánh, những tiểu luận như Tôi lật con bài của tôi, Phải gọi sự vật bằng cái tên của nó, và tập thơ Quyển truyện bỏ dở với bao đớn đau day dứt:

- Tôi chờ đợi một trùng dương hạnh phúc

Một tình ái không vướng dây trần tục

Suốt bình minh đến chiều xẩm mơ hồ

Nhưng cuộc đời thực tại chẳng nghe cho

Đời tạo những diệu kỳ theo kiểu khác

                                                      Đào Xuân Quý dịch

hay:

- Hạnh phúc là một tiếng vô cùng chua chát

Ma quái nào che giấu nghĩa làm chi

Tóc ảo mộng và bàn tay huyền hoặc

Những cặp tình nhân ngày xưa đã mất

Hạnh phúc như vàng kia ôi tiếng dị kỳ

Nó lăn trên sàn như chiếc nhẫn lăn đi

Ai nói đến hạnh phúc mắt thường buồn da diết

Như tiếng than dài nỗi tuyệt vọng chua cay

Dây đàn dứt trong tay người đánh nhịp

Nhưng tôi cho hạnh phúc con người là có thật

Không phải trong mơ không phải trong mây

Mà nơi bến lạ bờ xa trên quả đất này

                                                         Tế Hanh dịch

Cũng may là ngay từ 1960, một tập thơ riêng của Aragon, đã được in ra với sự đóng góp của một lớp nhà thơ Việt Nam có những tâm trạng ít nhiều gần gũi với L. Aragon. Đó là những Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Đào Xuân Quý, Nguyễn Viết Lãm...

Nói may vì từ đó trở đi, nhất là từ sau 1965, ở Hà Nội chúng tôi, Aragon chỉ được nhắc tới một cách nhỏ giọt, và so với con người thật, và khối lượng tác phẩm đồ sộ của Aragon, thì chúng tôi được biết là rất ít, quá ít nữa.

Song cái lạ là ở chỗ ấy, có khi cái mà người ta không biết lại gần gũi hơn cái mà hàng ngày người ta vẫn thấy: từ đó cho đến khi nhà thơ qua đời, và ngay cả những năm về sau, Aragon trong một người như tôi đồng nghĩa với cả sự kiên trì làm người chiến sĩ lẫn sự dằn vặt trăn trở tìm đường mà bất cứ ai, sống với nghề cầm bút, từng có lúc trải nghiệm.
Nhà thơ từng nói về mình, qua sự phân biệt với những người khác ở việc đi tìm chân lý.

"Tôi biết có những người sinh ra với chân lý, từ trong nôi họ đã không bao giờ lầm lạc, vì họ đã đến nơi rồi từ lúc còn thò lò mũi xanh. Họ biết điều gì là tốt, từ trước đã luôn luôn biết như thế... Tôi không giống họ. Chân lý không được phát hiện với tôi vào lúc chào đời. Tôi không được cha tôi, cũng chẳng được giai cấp của gia đình tôi chỉ bảo cho. Tôi học hỏi được điều gì đều phải do lao tâm tổn trí, tôi biết được điều gì đều từ kinh nghiệm xương máu mà ra. Không có một niềm tin chắc chắn nào đến với tôi mà không phải qua con đường hoài nghi lo âu, đau đớn của từng trải".

Thêm vào đấy, một Aragon hào hoa phong nhã, Aragon trong mối tình điên dại với Elsa Triolet, Aragon và cuộc tìm tòi một thứ văn xuôi ảo, trong những tiểu thuyết Giết chết, Blanche hay lãng quên, bấy nhiêu hình ảnh nối tiếp nhau để làm nên Aragon của một tình yêu không dễ dãi.

             Có một mẩu chuyện tuy nhỏ mà khiến tôi nhớ mãi, mỗi khi nhắc đến cái tên Aragon. Đây là câu chuyện liên quan đến nhà văn Nguyên Ngọc. Tác giả Đất nước đứng lên thuộc loại cán bộ quân đội được điều động trở lại chiến trường miền Nam rất sớm, từ 1962, và ông cũng thuộc loại ở đó kiên trì bậc nhất. Từ trước 1975, nhiều lần cấp trên tỏ ý sẵn sàng để ông ra Bắc chữa bệnh, Nguyên Ngọc vẫn xin phép được ở lại, chỉ yêu cầu thỉnh thoảng gửi vào cho ít sách. Trong số những cuốn sách mà Nguyên Ngọc nhờ người bạn mình ở tạp chí Văn nghệ quân đội  là Hà Trì gửi vào năm ấy (trước khi đi chiến trường, có gì Nguyên Ngọc bó lại đem gửi Hà Trì cả), có một cuốn sách tiếng Pháp. Cuốn này Nguyên Ngọc mua được ở Moskva trong một chuyến thăm Liên Xô khoảng 1957-58 gì đó. Ấy là cuốn Le Roman innachevé (Quyển truyện bỏ dở) trong đó có cả những câu mà ở trên tôi vừa trích, và những câu khác, đại loại:

Tôi nghe tiếng gà trong cùng tận đau thương

Trong đổ nát tôi vẫn mang chiến thắng

Dù xé rách những vì sao xa vắng

Trong đêm dài tôi vẫn chói vừng dương

Aragon trong chúng tôi là thế. Có lẽ chính vì những vết thương mà thế kỷ đã để lại trong tâm hồn ông và cả những vết thương ông gây ra cho chúng tôi - từ chỗ là một con người cuồng nhiệt, đã có lúc ông trở thành tượng trưng cho một Juda phản bội (người ta cố nhét vào đầu chúng tôi như vậy), -- mà Aragon càng trở nên gần gũi.

Sau này tôi còn được biết thêm một vài nhà văn nhà thơ Pháp khác cũng sống trong thế kỷ XX lớn lao và đau đớn này.

 Có người tỉnh táo hơn, chắc chắn là nhiều người sâu sắc hơn, một số khác trong sáng và thuần nhất hơn Aragon.

Nhưng đối với riêng tôi, tác giả Quyển truyện bỏ dở vẫn là nhà văn Pháp thân thiết bậc nhất.
 Hơn cả một giá trị tự thân, ông đã trở thành một điểm đối chiếu.

Khi giở các trang bách khoa toàn thư văn học hoặc các bộ lịch sử văn học Pháp, thường tôi tìm ngay xem trong cuốn sách ấy người ta viết về Aragon như thế nào, dài hay ngắn và lấy đó làm thước đo để xác định những chuẩn mực mà tác giả cuốn sách tra cứu ấy theo đuổi.

Trong sinh hoạt văn học, đôi khi tôi cũng hùa theo mọi người để tìm tới những nhà văn được coi là mốt, để khỏi mang tiếng tụt hậu. Nhưng lúc cần suy xét về đường dài, tôi thường chỉ đọc đi đọc lại những người mà tôi cảm thấy gần gũi, họ ở phía trước của tôi và có vẻ như cách tôi không xa, nếu cố gắng tôi có thể theo họ, đó cũng là con đường để tôi tìm ra chính mình.


2/

Những đau xót của một nhà thơ

khi buộc phải thay đổi niềm tin chính trị

Số phận của phần lớn các nhà thơ hiện đại là phải dính tới chính trị. Aragon lại có cả một mảng thơ lớn  liên quan đến sự dấn thân của ông trong chính trị.

Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng –để ca ngợi cái tổ chức mà mình có mặt, còn câu thơ nào hay hơn câu ấy.

Nhưng rồi, như rất nhiều người cùng chí hướng của mình trong thế kỷ XX, sau đó, niềm tin của ông đã thay đổi.

Luôn luôn ông là người của sự quá đáng. Lúc tin ông cũng tin quá đáng,  mà sau đó không tin cũng quá đáng.

Về lý trí, ông chấp nhận mọi sự thay đổi, trong khi  về tình cảm, ông như  muốn kêu trời, ông như chết lặng đi vì  sự thay đổi đó với ông là quá sức.

Tôi vốn thích các nhân vật đương thời coi là phức tạp, nên cứ để ý theo dõi ông mãi.

 Từ thời điểm của thế kỷ XXI này nhìn lại, chúng ta có thể bảo là ông đã rất dũng  cảm.

Con tim của ông đã được một trí tuệ sáng suốt mách bảo để dám vượt qua lòng tin của mình thời trẻ, mà làm một cuộc đảo ngược thiết yếu.

Nhưng hồi ấy, người ta đã gán cho các ông đủ thứ tội lỗi, nào là suy đồi nào là phản bội,toàn  những cái tội tầy đình  mà một người yếu bóng vía không chịu đựng nổi .

  Run rẩy đớn đau, nhưng Aragon đã thay đổi. Quá trình dằn vặt của ông được miêu tả  trong cái công thức sau đây  mà tôi nghe được qua  lời kể của Nguyễn Thành Long một nhà văn đàn anh hay đọc văn học Pháp đương đại “tối nào cũng tính tới chuyện ra đảng, mà sáng nào lại cũng phải nghĩ lại là phải ở lại đảng để đấu tranh cho niềm tin mới của mình”.

Từ trước 1975, đọc thơ Aragon  trong giai đoạn ông có những chuyển biến trong niềm tin chính trị mà bài thơ trên diễn tả, quả thật là tôi -- với tư cách một con người đang sống ở Hà Nội,  cái xứ sở bị bịt kín mọi thông tin đa chiều  -- cũng không biết là ông đúng hay những người chê trách ông đúng nữa.

Nhưng, những năm đó tôi đã mang máng cảm thấy có lẽ chuyện chính trị ở một nhà thơ chẳng mấy quan trọng như chúng tôi hằng nghĩ. Mà cái  cần được chia sẻ đặc biệt là người nghệ sĩ đã thể nghiệm sự thay đổi ra sao. Tức là tôi  thích  tìm trong những vần thơ  ấy ở cái khía cạnh tâm trạng của người đã tiêu hóa  sự thay đổi của mình, cái dấu ấn nó để lại trong tâm trí nhà thơ. Đây mới  chính là những bài học.

 Được viết ngay từ 1942, vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng được đặt sau một câu đề từ:

Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.

Câu nói nổi tiếng tới mức nhiều người không đọc và không thích vở kịch nữa vẫn cứ hay đọc lại nó.

Vả chăng sinh thời Nguyễn Huy Tưởng, ông là một người phụ trách chủ yếu của Hội văn nghệ VN, thời kháng chiến chống Pháp nên người ta cũng không bới ra làm gì.

 Chứ thử nghĩ kỹ sẽ thấy, đây là một thứ tuyên ngôn nhấn mạnh tính chất phi tư tưởng của văn chương.

Nhà nghệ sĩ không buộc phải bao giờ cũng đúng; nhiều khi họ đáng yêu đáng đọc lại ngay ở chính cái phần lơ mơ, kể cả cái gọi là sai lầm của họ.

Họ vẫn đáng trọng hơn những kẻ đúng, trung thành, nhất quán nhưng không có một thứ mùi vị gì .
Trong một lần trò chuyện với nhà nghiên cứu thông thạo văn học phương Tây hiện đại Đặng Anh Đào, tôi nghe chị nói khẽ, nhưng  tha thiết như một lời tâm niệm:

-- Với các nhân vật lớn, chính nhân cách lại quan trọng hơn tư tưởng rất nhiều.

Đối chiếu với những vận động trong tư tưởng của những người trong giới cầm bút chung quanh, tôi chỉ thấy người ta hoặc là ù lì trơ tráo, bị ép chết trong những niềm tin hồi trẻ, hoặc là chuyển sang cái trận thế đối ngược một cách quá dễ dàng, dễ dàng như người ta quay ngoắt một chiếc xe đạp.

 Aragon, như trong bài thơ trên đã  bộc lộ ông cho thấy một tâm thế khác.

Rồi ông cũng vượt lên trên cái sức ép bão bùng cuả chung quanh đối với một người thay đổi.  Ông tìm thấy một chỗ dựa cuối cùng ở tình yêu. Ông bảo tình yêu sẽ cứu rỗi tất cả. Trong khi bảo mình như kiệt sức như tuyệt vọng, thì ông lại cảm thấy mình mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Con người nhân bản trong ông đã thay thế con người chiến sĩ. Mà cái phần nhân bản ấy mới là tinh chất làm nên một nhà thơ.

1-2015

Một bài thơ Aragon
  Có một điều lẽ ra phải nói từ đầu:
-- có những người cũng như ông, không phải trở cờ không phải xếp hàng hai cửa. Sự thay đổi của họ chẳng những có lý mà  còn rất chân thành.
-- Nhưng họ dừng lại ở những phát biểu chính luận. Lúc này họ chỉ còn con người chính trị.
-- Aragon vượt lên trên họ ở chỗ tất cả những thay đổi niềm tin nơi ông đều chuyển vào thành thơ và văn xuôi, nhất là thơ. Ông vẫn là con người văn học.
 Bởi vậy phải đọc lại chính các sáng tác của Aragon.
 Nhờ được phóng chiếu niềm tin vào thơ văn, sự thay đổi của ông còn mang tính khái quát.
 Con người  có thể và cần phải thay đổi, miễn là họ thành thực và miễn là họ đã vận dụng tất cả tri thức và tình cảm của mình để suy xét để đánh giá.
Họ rất yêu sự lựa chọn của mình thời trẻ, nhưng họ là những con người độc lập, họ phải là chính họ trước đã.
Có những lúc nào đó họ đã đóng vai người chiến sĩ tử vì đạo, nhưng cả cuộc đời họ thì không.
Tôi không biết tiếng Pháp,  còn trình độ tiếng Nga của tôi chủ yếu dùng để đọc văn xuôi, nhất là văn nghị luận chứ với thơ thì e chưa đủ. Nhưng tình yêu với Aragon vẫn khiến tôi tìm đọc các bài thơ Aragon dịch  ra tiếng Nga  rồi thử ghi ra tiếng Việt  để bản thân  minh đọc lại.
 Bởi vậy tôi  không dám đặt bài thơ tôi dịch dưới đây ở phần đầu bài này, mà chỉ đặt ở cuối, hy vọng rằng có một ít bạn nào đó  muốn chỉa sẻ với tôi sẽ đọc tới cùng.
Lưu ý là một số  bản tiếng Nga tôi đọc - như bản dưới đây - là của nhà thơ xô viết M. Aliguier. Bà dịch những bài thơ này sau các tai nạn chính trị mà những người như bà phải chịu hồi "hậu tan băng".  Có lần bà đã bảo do đau quá mà không  được viết nên tìm cách tự bộc lộ qua bản dịch.

 [Không đề ].
Cuộc sống tôi trôi qua  như những luống cày  bốc lửa trên bầu trời
Tôi nghe tận đáy sâu tiếng bước chân mình vọng vang xa ngái
 Tiếng hát tôi tưởng đã hỏng rồi đã xếp xó rồi  lại ngân lên lần nữa
Trên đầu ngón tay tôi lặng lẽ tính những ngày những tháng những năm

Đối với tôi vượt lên sự dối gian tràn đầy cuộc sống
Chỉ có tình yêu tôi như một cây sồi đơn độc
Chỉ có tình yêu tôi run rẩy một trò chơi
 Trên đời này, ngoài nó ra chẳng còn gì, chỉ có nó mà thôi

 Tất cả những gì tôi làm hướng tới em, là để cho em
Người làm vườn mỹ lệ đây lá cuốn cả vào phòng
Những bài thơ tôi viết, vẻ dại điên mỗi ngày lại hiện ra khuôn mặt mới
Tất cả để em yêu và mãi mãi  yêu em.

Từ sự tồn tại của tôi, như một chiếc gai cây, sự thất vọng lớn bật lên
Em làm quà cho tôi một mặt trời ngữ ngôn sáng chói
Tất cả những gì tôi gọi lên, có em trong từng bước
Em hồi phục trái tim tôi, em nặn lại nó rồi

 Chuyện thật lạ lùng hãy nhớ lại xem
Hầu như vào những năm lớn khôn ai cũng ra đi lần nữa
Để  ghi lại những chuyến đi, có thể vẽ cây vẽ cỏ
 Nhưng cần vẽ hơn cả  chính là thế  giới bên trong của mỗi con người

Tất cả sự  ví von đều vô hiệu, hình ảnh cần thiết chẳng tìm ra
Nung nóng mọi chữ nghĩa lên vẫn không đủ nói về ngọn lửa
Trong những đôi mắt thẳm sâu, hạnh phúc và ngọn lửa chập chờn nhảy múa
 Có thể kể làm sao với ai chưa thấy nó bao giờ

Hình như nhiều lúc tôi quên mình nhiều đau khổ
 Thật đau điếng đi, khi bẻ gẫy tay mình
Tôi ruồng rẫy thơ, như với bạn bè dứt  mọi mối quan hệ
Nhưng con đường rồ dại đời nào tôi chịu là chẳng có em

Tôi đã nói rằng thế giới này chẳng có gì kỳ diệu
Cái đích mà tôi đi tới thì không có tôi mọi người khác cũng đủ lo toan và công việc
Mỗi người trong họ nhìn tôi như một kẻ bề trên
 Vâng tôi đã khóc vì không có gì khác họ nhưng là khóc trong tay em

Người ta nói với tôi khi không có bánh mì câu chuyện về hạnh phúc chỉ chuyện huyên thiên
Bầu trời thấp xuống kia buồn bã trong những giờ u ám
Và mỗi chúng ta sẽ sống sao trong những năm cay đắng
Thế đấy
Nhưng tôi  nhìn thấy một bầu trời khác rồi khi ở giữa tay em
VTN


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những linh hồn phiêu bạt trời Tây bởi chiến tranh, muốn trở về nhà


22/12/2018 TTO - Chiến trường không chỉ có bom đạn tàn khốc, chiến trường còn có những là thư thấm đẫm yêu thương, những cuốn nhật ký chép đầy thơ, nhạc và những nỗi niềm rất người; bức ảnh người thương và cả những bức tranh rất đẹp của những nghệ sĩ tài hoa.

Bức ảnh này được ông Ian Atkinson lượm được bên thi thể của 1 trong 3 liệt sĩ hi sinh ngày 1-2-1968 tại Biên Hòa mà ông đã gặp, nay ông rất muốn trao lại cho thân nhân của người trong bức ảnh.

Những kỷ vật thiêng liêng phải phiêu bạt trời Tây hơn nửa
 thế kỷ đang mong ngóng được trở lại quê nhà Việt Nam
Những những hiện vật mang câu chuyện cảm động về người chiến sĩ Việt Nam, về cuộc chiến tranh cứu nước của người Việt lại đang phiêu bạt trời Tây, tha thiết mong tìm về nhà trong một sự án mang tên Những linh hồn phiêu bạt, thuộc Trường đại học New South Wales, chi nhánh Canberra, nước Úc. Dự án do tiến sĩ Bob Hall, tiến sĩ Andrew Ross, tiến sĩ Amy Griffin và thạc sĩ Derrill de Heer (trong đó hai người là cựu binh từng tham gia chiến tranh tại Việt Nam) đã lầm lũi làm từ hơn 10 năm qua.

Nhìn vào những tận tâm, kiên nhẫn của họ với những người liệt sĩ quân đội Việt Nam, mới hay,chiến trường không chỉ có hận thù, giết chóc. Chiến trường còn có những day dứt, ám ảnh khôn nguôi, có những nâng niu cất giữ.

Và những người lính trở về từ bên kia chiến tuyến, sau nửa thế kỷ mang theo kỷ vật của những người mình từng chĩa họng súng, nay đang tha thiết mong được đưa những di vật mà họ gọi là "những linh hồn phiêu bạt" vượt nghìn trùng xa cách về lại với đất mẹ thương nhớ.

Từ nỗi ám ảnh bàn tay tứa máu của người cha bới xác con

Trong hơn 10 năm "ăn ngủ" với dự án Những linh hồn phiêu bạt, người cựu binh già Derrill De Heer không biết đã đi bao cây số trên nước Úc để tìm lại di vật của chiến sĩ Việt Nam còn phiêu bạt cùng bước chân những cựu binh Úc từng tham chiến ở Việt Nam nửa thế kỷ trước hay trong các trung tâm lưu trữ.

Tất cả những việc ông làm suốt hàng chục năm qua cho những liệt sĩ Việt Nam và cả những người thân của họ xuất phát từ một nỗi ám ảnh khôn nguôi, đeo bám tâm trí ông từ hơn nửa thế kỷ trước.

Năm 1970, Derrill De Heer đã đến Việt Nam với tư cách là một người lính chuyên nghiệp, làm việc ở căn cứ chính của quân đội Úc ở miền Nam Việt Nam, tham gia vào hoạt động chiến tranh tâm lý. Ông và đồng đội giải thích cho người dân hiểu cái gọi là "quyền lợi" mà họ nhận được nếu quay lại ủng hộ chính quyền Sài Gòn lúc ấy.

Derrill De Heer đã tham gia nhiều cuộc hành quân và trong một trận chiến ở Bình Ba, Bà Rịa Vũng Tàu, ông gặp người cha của một người lính vừa bị quân Úc giết ở làng chài Phước Hải. Đó là cuộc gặp gỡ làm rung chuyển tâm trí Derrill De Heer một cách dữ dội.

Người cha ấy đã đến làng chài Phước Hải chỉ mong nhận được thi thể con trai mình. Trước nỗi mất mát tình thân lớn lao ấy, Derrill và người cha Việt Nam không còn chia chiến tuyến địch - ta.

Giữa đất cát đang bị cày xới, Derrill và người cha đã dùng tay không của mình đào bới để tìm xác những người lính. Đào bới đến tóe máu thì thi thể đầu tiên được tìm thấy chính là xác con trai của người cha ấy.

Đó là một ngày quá đỗi căng thẳng cảm xúc không chỉ với người cha mà cả với Derrill. Kể từ đó, ông không thể nào quên được nét đau buồn trên gương mặt người cha. Có lẽ chính nỗi ám ảnh đó đã thôi thúc Derrill De Heer tình nguyện làm việc ở nhóm dự án Những linh hồn phiêu bạt kể từ năm 2006 tới nay.

Đặc biệt, từ năm 2012, với sự hỗ trợ của Trung tâm tư vấn và trợ giúp pháp lý cho gia đình liệt sĩ Marin, dự án còn "choàng" thêm công việc tìm cách trả lại những di vật cá nhân đã được các cựu chiến binh Úc và New Zealand lưu giữ mấy chục năm trời kể từ khi họ rời khỏi cuộc chiến tại Việt Nam.

Qua hơn chục năm miệt mài, dự án Những linh hồn phiêu bạt đã cung cấp tên họ của hơn 450 chiến sĩ Việt Nam đã chết trong các cuộc giao tranh với quân đội Úc và New Zealand cùng danh sách này với các địa điểm chôn cất tại chiến trường để phía Việt Nam có thể dễ dàng tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Dự án cũng đã trao trả được một số bức thư, một số bức ảnh, sổ nhật ký… về lại với thân nhân của chủ nhân những di vật đó. Những cựu binh Úc gọi đây là "Chuyến đi trở lại quê hương" của những kỷ vật chiến tranh.

Sau mấy năm nỗ lực, dự án đã có được một bộ sưu tập khá đồ sộ các tài liệu và hiện vật cá nhân có nguồn gốc từ các trận giao tranh giữa hai bên như chiếc võng và la bàn của một người lính đã hi sinh, đồng hồ đeo tay, những cuốn nhật ký, hàng trăm bức thư, tranh, ảnh…

Những người thực hiện dự án đặc biệt mong muốn có thể trao trả được cho người thân hoặc chính chủ nhân của bộ tranh màu nước rất đẹp và một bộ ký họa bằng chì than với hình họa rất vững, cho thấy tác giả của nó chắc chắn phải được đào tạo bài bản về mỹ thuật; 4 bức tranh thờ, và những bức ảnh anh bộ đội, ảnh người phụ nữ trẻ chụp cùng em bé…

Trong trường hợp khó khăn tìm trao trả trực tiếp cho chủ nhân hoặc người nhà, dự án mong muốn được trao tặng bộ sưu tập này cho "một địa chỉ thích hợp" ở Việt Nam.

Đại diện Trung tâm Marin cho biết, ông Derrill de Heer - người tâm huyết nhất với dự án này - hiện đã gần 80 tuổi, sức khỏe không còn tốt nên ông tha thiết mong sớm có thể hoàn thành được tâm nguyện của mình cũng như của cả nhóm, đó là đưa bộ sưu tập các di vật - những linh hồn phiêu bạt được trở lại quê hương Việt Nam.

Những bức ảnh này mong tìm lại chủ nhân.

Đến chiếc võng và chiếc la bàn muốn về đất mẹ

Ngày 13-6-1971, binh nhì Ian Williamson làm nhiệm vụ trinh sát cho tiểu đội 9, trung đội 9, đại đội C, tiểu đoàn 4RAR/NZ (ANZAC). Trung đội của Ian đã tuần tra và mai phục tại tọa độ YS424856 gần một con sông cách Xã Cẩm Mỹ khoảng 5km về phía tây.

Phiên gác của Ian Williamson bắt đầu từ 5h30 chiều thì một người lính Việt Nam tiếp cận gần vị trí mai phục. Người lính này mang theo một khẩu AK47. Ian Williamson nổ súng bắn hạ người lính.

Theo quy định của quân đội Úc, xác người lính được lục soát lấy thông tin tình báo. Các tài liệu tìm thấy cho thấy người lính mới được thăng chức tiểu đội phó thuộc đại đội C24, trung đoàn 274. Ngoài khẩu AK47, người lính còn mang theo 3 băng đạn với 91 viên đạn, 1 túi gạo, 1 cái võng và 1 la bàn. Xác người lính được chôn ngay tại hiện trường. Ian Williamson đoán chừng người lính khoảng 15 tuổi.
Các tài liệu và di vật sau đó được chuyển cho Lực lượng đặc nhiệm số 1 của Úc đóng tại Núi Đất - Phước Tuy và được phân tích bởi biệt đội thuộc phân đội 1 đơn vị tình báo đóng tại tổng hành dinh Lực lượng đặc nhiệm số 1 Úc (1ATF).

Một trong số các tài liệu là một lá thư người lính gửi cho cấp trên than phiền việc anh chưa từng được nghỉ phép suốt 2 năm qua. Bức thư đã không được gửi đi nhưng có đề tên của người lính là Nguyen Sy Huy. Bức thư cũng khẳng định rằng anh thuộc đại đội C24, trung đoàn 274.

Ian đã được tặng chiếc võng và chiếc la bàn của Nguyen Sy Huy sau khi ông quay lại Núi Đất ngày 27-7-1971. Ian Williamson giữ chiếc võng và chiếc la bàn đến ngày hôm nay với hy vọng sẽ trả lại những di vật này cho gia đình người lính.



Một trong những di vật ấn tượng là 38 bức ký họa chì than mà một người lính Úc đã thu được ở Long Tân (Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay). Tập phác thảo trên giấy đã hơi ngả màu vì thời gian nhưng nét bút vẫn còn rõ đến từng chi tiết.

Hồ sơ về tập ký họa này cho biết, ngày 18-8-1966, bộ đội Việt Nam và một đại đội lính Úc đối đầu tại đồn điền cao su Long Tân, sau trận chiến, lúc thu dọn chiến trường, một sĩ quan Úc đã phát hiện các bức ký họa trên của một người lính Việt Nam hy sinh tại đây. Năm 2012, ông đã tặng lại Dự án với hy vọng kỷ vật sẽ trở về với người thân của liệt sĩ ở Việt Nam.



Ngày 29-6-1966, Gary Phillips thuộc đại đội trợ chiến, tiểu đoàn 6RAR, đang rà phá mìn dọc con đường chính chạy qua Long Phước. Gary trú mưa trong một ngôi đền đã bị phá hủy ở gần đó và phát hiện 2 bức tranh nằm trong đống đổ nát. Sau khi ngừng tham chiến ở Việt Nam, Gary mang các bức tranh về Úc.

Gary tặng cho mẹ của ông 2 bức tranh này và bà đã đóng khu hai bức tranh. Năm 2011, bà tặng lại hai bức tranh cho Gary vì ông có ý tưởng trả lại các kỷ vật cho cộng đồng người dân ở Long Phước thông qua dự án Những linh hồn phiêu bạt.

Những bức tranh màu nước phiêu bạt:






Bạn đọc muốn liên hệ với những người thực hiện dự án Những linh hồn phiêu bạt có thể gửi thông tin về: Tiến sĩ Bob Hall Nghiên cứu sinh trao đổi Trường Khoa học xã hội và Nhân văn UNSW Canberra at the Australian Defence Force Academy. PO Box 7916, Canberra BC, ACT 2610, Australia. Điện thoại cơ quan: +61 2 6268 8848; Di động: 0439 887 580; Email: b.hall@adfa.edu.au



TT - Những linh hồn phiêu bạt (đạo diễn Boris Lojkine) nằm trong chùm phim tài liệu được giới thiệu trong tháng mười một của IDECAF. Phim về VN, 30 năm sau chiến tranh, những hồn ma của quá khứ luôn ám ảnh những người còn sống.
THIÊN ĐIỂU
https://tuoitre.vn/nhung-linh-hon-phieu-bat-troi-tay-boi-chien-tranh-muon-tro-ve-nha-20181222113654153.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn học là nhân học


Khi còn là học sinh phổ thông tôi được dạy như vậy, tuy nhiên khi ấy tôi cũng chưa rõ “nhân học” là gì? Ngày nay, càng ngày tôi càng hiểu ra “Quả đúng là văn học là nhân học!”. Văn học nói lên tư chất và nhận thức,… nó nói lên tất cả về bản thân người viết nói lên bối cảnh xã hội, về nội dung muốn truyền đạt, đối tượng người cần truyền đạt…
Tóm lại nói về hết tất cả mọi thứ. Vậy nhưng chúng ta không quan tâm, hay nói đúng hơn mấy cái bộ Thông Tin Truyền Thông, mấy cái hội Nhà Văn, mấy cái bộ Giáo Dục,.. các trường phổ thông , đại học từ thấp đến cao… đều không đả động đến việc nghiên cứu và dạy văn.
Những bạn không tin điều trên thì hãy tự đặt câu hỏi cho mình:
– Thế nào là một đoạn văn? Thế nào là nội dung truyền đạt, tức một ý?
– “Dùng dấu “,” (dấu phảy) thế nào? “; dùng các loại dấu câu thế nào?
– Hành văn là gì? Giá trị “nhân học” trong việc phân tích một câu văn, một tác phẩm bao gồm những gì?
– Thế nào là ngữ pháp, thế nào là chức năng của từ?
Chúng ta thử bắt đầu bằng đoạn văn là gì? Tôi cũng đang phải sử dụng công cụ ngôn ngữ để truyền đạt, vậy các bạn tự theo dõi cách tôi sử dụng các dấu câu, cách tôi phân đoạn văn, để phản bác lại ngay thứ mà tôi đang viết ra.
Rất nhiều sinh viên khi được hỏi về đoạn văn là gì thì trả lời “đoạn văn là xuống dòng, hết một ý”. Vậy khi hỏi ý là gì thì thường là không thể trả lời được. Các vị đang đọc tút này cũng thế thôi, chắc chắn các vị tự cho rằng mình biết tiếng Việt. Chả nhẽ không biết đến đoạn văn là gì mà “nói liên tục suốt ngày, viết lăng nhăng hết dự án này đến dự án kia … Đọc hết tút này, các bạn có thể tự tiến hành kiểm tra và hiểu ra rằng rất nhiều người chưa bao giờ đặt vấn đề hiểu rõ công cụ ngôn ngữ thế nào trước khi sử dụng!”. Hãy tạm chỉ nói về thế nào là một đoạn văn!
Hẳn ai từng học toán, chắc còn nhớ toán thì có các chứng minh. Chứng minh toán học là để khẳng định sự đúng sai, dựa trên việc công nhận một số thứ đã được cho là đúng. Văn thì cũng như vậy, nó thuyết phục người đọc tin và làm theo trên những điều đã được cho là đúng. Như vậy văn học là thứ khoa học bao trùm mà toán học chỉ là một phần. Mỗi một thuyết phục, được coi là một đoạn văn và chúng được phân tách bởi dấu xuống dòng. Cấu trúc của mỗi đoạn văn bao gồm các yếu tố cần để thuyết phục “A”, quy tắc thuyết phục “A=>B” và điều cần thuyết phục “B”.
Có thể phải nhắc lại một ít về từ loại, tức chức năng của nó trong câu. Nếu chúng ta vì một cái gì đó để viết ra thì cái đó là chủ ngữ. Chủ ngữ có thể là danh từ như “Đinh La Thăng” và nếu có thể đoán ra được thì danh từ có thể được thay thế bằng đại từ như “anh, tôi, ông ấy, nó….” . Các thay thế này chỉ có tác dụng trong đoạn văn mà nó được sinh ra mà thôi. Văn học cũng chính xác như toán học, mỗi đoạn văn là một khẳng định độc lập. Ở đoạn văn mới các đại từ ngầm định phải được tái gán nội dung.
Thuyết phục một người tức là chuyển trạng thái tâm sinh lý của họ từ trang thái này sang trang thái khác. Như thế một bài viết na ná như một thang thuốc bắc, mà các đoạn văn là các vị thuốc. Trong thang thuốc đó có vị là chủ đạo, có vị bổ trợ, vị dẫn thuốc… Như thế các đoạn văn được phân vai, có đoạn để minh chứng cho yếu tố nào đó cần cho suy diễn là đúng, có đoạn thuyết phục nên sử dụng quy tắc suy diễn nào là đúng.. có đoạn đóng vai trò trạng để nói lên thời gian địa điểm hay nguyên nhân, cứ như thế mà hình thành ra bài viết.
Thường thì các đoạn văn thành phần xuất hiện một cách liên tục, đoạn nọ sau đoạn kia theo trình tự thời gian hoặc không gian. Trình tự này phản ảnh kết nối hệ lụy giữa các sự kiện. Giữa các đoạn có thể có một câu dẫn dắt thể hiện sự liên kế nghĩa nào đó để người đọc không bị bất ngờ. Cũng có thể xuất hiện sự liên kết đoạn mới không theo trình tự thời gian hay không gian mà theo trình tự thuyết phục. Khi đó tính liên tục của thời gian và không gian bị phá vỡ. Hình thức này được gọi là lập thể. Picaso là người đầu tiên đưa lập thể vào hội họa và vào năm 1925 Эйзенштейн đưa khái niệm về tính lập thể vào điện ảnh trong bộ phim Chiến Hạm Pochomkin.
Nếu bài viết quá lớn người ta phân ra chương hồi, mỗi chương hồi có một tác dụng na ná như đoạn văn, nhưng phức tạp hơn.
Một đoạn văn là một quá trình lập luận để thuyết phục người đọc dựa trên các quy tắc suy diễn. Các quy tắc suy diễn đôi khi là ngầm định đã được mọi người chấp nhận. Ví dụ như “con mèo thì tất nhiên là bắt con chuột”; “chuồn chồn bay thấp thì mưa”, “cho cả lớp tát một học sinh phổ thông 200 cái thì là tội ác”…. Những quy tắc suy diễn ngầm định ấy không cần chúng ta phải viết ra mà người đọc tự hiểu. Tập hợp tất cả các ngầm định tự hiểu được ra đó được gọi là văn hóa. Vậy chúng ta chỉ có thể hiểu tốt một tác phẩm văn học, hay thậm chí chỉ là một câu nói — nếu chúng ta có cùng văn hóa với người viết. Nói một cách khác chúng ta chỉ có thể viết ra một tác phẩm văn học nếu chúng ta hiểu được văn hóa của người đọc. Điều này hàm ý chúng ta phải xác định đối tượng người đọc trước khi viết. Và trước đó chúng ta cần phải hiểu văn hóa là gì? Khi tôi đang viết cho các vị đọc đây, tôi hình dung các vị đang bị choáng vì chợt nhận ra nhiều thứ quá quan trọng mà mình hầu như không để ý. Nếu tôi bảo các vị là một lũ “vô văn hóa” thì thật là bất tiện (tôi đành phải sử dụng dấu nháy — dấu nháy, viết nghiêng, là các thủ thuật được dùng khi muốn nói ý khác với ngầm định ngữ nghĩa, hay khác với ngầm định ngữ pháp).
Rất có thể ai đó trong số các bạn mong muốn tôi giải thích văn hóa là gì? Chúng ta sẽ nói về việc này sau, nó cũng hơi dài. Vậy chúng ta sẽ chỉ nói về một góc cạnh nhỏ của khái niệm văn hóa đủ để hiểu những gì tôi trình bày ở trên. Văn hóa là các quy tắc định hướng suy diễn. Có 3 quy tắc chính. Quy tắc mà chúng ta hay dùng và hay gây ra các chuyện kinh thiên động địa khi bị ai đó đưa ra nhận xét “vô văn hóa” là thứ văn hóa hàm ý “hệ thống các ngầm định không giống với đa số những người xung quanh”. Những bạn ở quê thì biết ông bà thường nhắc nhở “chó đẻ thì đừng nghịch con của nó, mùi khác đi là chó mẹ nó cắn chết con”. Con chó con bị cắn chết là bởi mùi của nó khác với các con còn lại — đó là không cùng chung văn hóa. Nếu một cô gái “trần như nhộng” đi dạo Hồ Gươm thì sẽ bị coi và vô văn hóa, và sẽ bị bắt nhốt (có bị đánh hay không còn tùy thuộc văn hóa của các quan Phụ Mẫu!). Chân củ lạc muốn che dấu bằng áo quần, cô gái cân đối xinh đẹp muốn phô ra. Đơn giản là, cô gái không “giống” như mọi người. Văn hóa là thứ để cộng đồng tự bảo vệ mình, nó sẽ đào thải các mầm mống văn hóa khác lạ. Chó thuộc loại mù màu đừng giải thích cho chó. Người thuộc văn hóa này sẽ khó có thể hiểu được văn hóa khác. Vì vậy để tránh các cuộc chiến tương tàn, chúng ta cần phải học văn học, cần phải giao lưu, để hiểu các hình thái văn hóa khác nhau. Hiểu được cách suy diễn của nhau.
Viết bởi Nhà toán học Nguyễn Lê Anh,

Trump chọn ai thay thế James Mattis


baomai.blogspot.com

Vậy là "chiến binh thầy tu", một người đàn ông có trí tuệ và liêm chính, người đã chiến đấu chống lại chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan trong nhiều thập kỷ và mang lại nhiều lời khuyên quân sự hữu ích cho ông Trump đã gửi đơn từ chức đến tổng thống Trump với lộ trình chính thức rời Ngũ Giác Đài vào tháng 02/2019.

Trong bối cảnh hiện tại, khi chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan đã bị tiêu diệt như tuyên bố của Trump thì quyết định về hưu của ông James Mattis cũng là hợp lẽ bởi sở trường của ông là "am hiểu Trung Đông" đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang. Giờ đây điều Trump cần tập trung đó là vấn đề Ấn Độ - Thái Bình Dương bởi nơi đây mới là điểm nóng thật sự, là mối an nguy đến tồn vong nước Mỹ khi Trung cộng - Bắc Hàn luôn hăm he chĩa hỏa tiễn tầm xa mang đầu đạn hạt nhân nhắm vào nước Mỹ và tướng tá Trung cộng luôn mạnh họng dọa đánh chìm tàu chiến Mỹ, bắn hạ máy bay Mỹ khi vào Biển Đông và eo biển Đài Loan mà Mỹ luôn làm theo đúng luật pháp của Quốc tế. 

baomai.blogspot.com
  
Ai sẽ thay thế ông James Mattis để làm chủ Ngũ Giác Đài ? Nếu thực sự Trump dốc toàn binh lực về khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương để siết cổ Trung cộng, theo nhận định của cá nhân thì ông Trump nên chọn cựu Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Đô đốc Mike Mullen, người đã từng làm chức vụ này thời tổng thống Bush con và nhiệm kỳ đầu của tổng thống Obama. 

baomai.blogspot.com
  
Ở vị trí Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ giai đoạn năm 2007 - 2011, Đô đốc Mike Mullen là một hòn đảo lớn áng ngữ Trung cộng ở Biển Đông và eo biển Đài Loan. Khi Trung cộng la làng về những cuộc tập trận trước đó của Mỹ với Phillipines ở Biển Đông cũng như trong lúc diễn ra cuộc tập trận ngoài khơi Bruney tại Biển Đông cùng với các đồng minh Nhật Bản và Australia với tên gọi BRIDEX2011, có sự tham gia của tàu khu trục Mỹ USS Preble, tàu khu trục Shimazake của Nhật Bản và tàu tuần tra của Hải quân Australia vào tháng 7/2011 thì ngày 09/7/2011, Đô đốc Mike Mullen bắt đầu chuyến công du Trung cộng 04 ngày để dằn mặt Trung cộng. 

baomai.blogspot.com
  
Chuyến đi Bắc Kinh của ông Mike Mullen với cương vị Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ được xem là chuyến đi đầu tiên đến Trung cộng từ năm 2004 và là quan chức quân sự hàng đầu đến Bắc Kinh kể từ sau chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates hồi tháng 01/2011 - vào đúng thời điểm Trung cộng công khai chuyến bay đầu tiên của chiếc máy bay do thám đầu tiên J-20 của Trung cộng. 

Khi ở Bắc Kinh, Đô đốc Mike Mullen đã khẳng định "Mỹ cam kết duy trì sự hiện diện ở Biển Đông. Chúng tôi đang kéo dài sự hiện diện tại đây, chúng tôi đang kéo dài trách nhiệm. Chúng tôi theo đuổi sự hỗ trợ mạnh mẽ về một giải pháp hoà bình cho những bất đồng hiện nay".

baomai.blogspot.com
  
Khi nói về Trung cộng trong cuốn sách "Donald Trump – Đã đến lúc phải cứng rắn” đã xuất bản vào tháng 7/2016, tác giả tỷ phú Donald Trump đã nhắc tên Đô đốc Mike Mullen khi ông này nói đến Trung cộng là "Người Trung cộng có mọi quyền phát triển quân sự họ muốn. Chỉ là tôi không thể hiểu nổi tại sao một số năng lực này, dù là máy bay tàng hình J-20 hay thiết bị chống vệ tinh, hay vũ khí chống tàu chiến, thì phần nhiều lại có vẻ nhắm thẳng vào Mỹ".

baomai.blogspot.com
  
Nếu Trump muốn thực hiện lời hứa như đã tuyên trước Đại hội đồng LHQ là sẽ xóa sổ cnxh thì việc chọn ông Cựu chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ - Đô đốc Mike Mullen kế nhiệm ông James Mattis làm chủ Ngũ Giác Đài sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo để hướng tâm về Ấn Độ - Thái Bình Dương siết cổ con cọp giấy Trung cộng, để lưu danh sử sách.



Tran Hung

baomai.blogspot.com

Phần nhận xét hiển thị trên trang