Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

Cơ khổ!

Nhà văn nhà veo: Ăn dơ ở bẩn quen rồi…

Chu Mộng Long: Sau vụ bảo vệ “vẻ đẹp” thi ca rác thúi tưới nước hoa của Phan Hoàng, nhóm (thiên hạ đồn là AN văn hóa?) Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Quang Thiều rồi đến lượt các nhà văn nhà veo Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Xuân Hưng,… đồng loạt chửi dân mạng là “hội chứng xác sống”, “du côn văn hóa”…, đồng thời chính thức lên tiếng bảo vệ sách sex đen của Bùi Việt Sỹ.
Cách bênh vực của những người này dựa vào hai cái lý:
  1. Trần Khánh Dư vốn được sử ghi lại là kẻ dâm ô. Nhân vật đã dâm ô thì phải tả sex, tả càng “máu” càng tốt (“máu” là chữ dùng của “nhà văn” Nguyễn Văn Thọ, chắc là mang nghĩa “máu dâm, dê” được bà Nguyễn Thúy Quỳnh hưởng ứng… rất máu!).
Vậy thì thưa quý ông, quý bà, trên đời này từ khi có loài người, ai cũng dâm (vì không dâm không thể sinh con đẻ cái), cho nên khi miêu tả loài người, hiển nhiên nhà văn phải miêu tả sex chứ không cần phải là nhân vật Trần Khánh Dư? Sex là một phần tất yếu của cuộc sống (ăn ngủ ụ ỉa) nên nhà văn hãy miêu tả ra hết những gì mình đã làm cho thiên hạ chiêm ngưỡng! Có dám không hay chỉ ăn hiếp một người đã chết từ gần ngàn năm trước?
Nếu không thì nay mai chính tôi sẽ viết một truyện mà các nhân vật chính là những vị có tên trên với đủ cả hoạt động ăn ngủ ụ ỉa hàng ngày, các vị có kêu làng không hay sẽ bảo đó là một phần tất yếu của cuộc sống?
Xin thưa các vị, từ khi con người có văn hóa, cụ thể là biết mặc quần, sex vẫn đúng là một phần tất yếu của cuộc sống, nhưng người ta đã biết “ăn có nơi chơi có chỗ” chứ không phơi trần truồng ra cho thiên hạ ngắm. Nếu bà Quỳnh, ông Thọ, ông Hưng muốn thì cứ đóng cứa “live chim” với nhau giữa văn phòng Hội Nhà văn, cơn cớ gì phải in sách, trao giải và quảng bá rùm beng để bắt thiên hạ phải nhìn?
Văn học không loại trừ tả sex. Nhưng tả sex người mà như tả gà, tả chó chịch nhau thì cần gì nhà văn, trừ phi nhà văn muốn biến nhân vật thành gà thành chó?
  1. Dựa vào lời phán truyền vô tội vạ của bọ Lập, rằng không thể vì một vài trang sách đen mà phủ nhận cả quyển sách, cho nên hãy gạt trang sex đen ấy đi mà thưởng thức nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm! Nói như vậy khác nào có lần tôi kể chuyện về một anh trí thức, rằng anh ta phê bình tôi tại sao trong nồi canh lỡ có cục cứt, anh không lặng lẽ vớt ra mà lại khuấy lên. Tôi hỏi làm vậy tức là vớt cục cứt ném đi rồi thưởng thức hết nồi canh kia à?
Có loại văn hóa ăn dơ ở bẩn vậy sao? Thảo nào đất nước của cường quốc nhà văn nhà thơ mà bị ô nhiễm toàn diện từ thực phẩm để môi trường tự nhiên lẫn môi trường văn hóa.
Thà là rác cho ra rác, nước hoa cho ra nước hoa, loại nào ra loại nấy. Có nghĩa là từ đầu đến cuối truyện, các vị cứ miêu tả sex như một đối tượng cần miêu tả như sex đen vẫn làm, tôi tin chắc sách các vị vẫn có nhiều bạn đọc hiếu dâm chạy theo các vị. Còn lập lờ đánh lận một sex đen vào “sách đỏ” của nhà nước như vậy khác nào trò bịp bợm, đầu độc trẻ con?
Nên nhớ sex đen, phim đen của nước văn minh thường chỉ phục vụ cho những kẻ liệt dương liệt âm và luôn có biển cảnh báo hoặc barrier cấm trẻ em dưới 18 tuổi. Nếu thả bậy bạ tràn lan, phô diễn tùy tiện đầu độc người khác thì bị phạt hoặc bị tù rục xương đấy!
Bà Quỳnh còn kêu ca rằng, sao nỡ “xử tệ” với “lao động chữ nghĩa” của nhà văn nhà thơ như vậy? Ý của bà ấy là nhà văn nhà thơ sáng tạo để cống hiến cho dân cho nước thì viết thế nào cũng phải được tôn vinh. Tôi lạy bà CA văn hóa, rằng dân tôi è cổ ra đóng thuế để lấy tiền tài trợ cho nhà văn, nhà thơ sáng tác, in ấn tác phẩm đàng hoàng tử tế để giúp cho dân tộc phát triển, đưa cộng đồng vươn đến văn minh chứ không cần loại văn chương rác thúi tưới nước hoa ấy!
Những nhà văn nhà veo mà bà Quỳnh đòi trân trọng ấy đã từng viết được những tác phẩm gì hay ho có ích cho dân cho nước đâu mà hô hoán ầm ĩ, rằng phải tôn trọng “lao động chữ nghĩa” của họ, trừ phi chỉ số ít các ông các bà trong hội tự ca nhau?
Chữ nghĩa như ông Bùi Việt Sỹ, ông Nguyễn Văn Thọ… viết chưa sạch chính tả, cú pháp rối rắm, từ ngữ tùy tiện, lại còn mang nội dung tri trét bôi bẩn đến ô nhiễm môi trường thì cái thứ lao động chữ nghĩa ấy khác nào phá hoại đời sống cộng đồng mà đòi cộng đồng phải tôn trọng?
Các vị thử giải thích cho tôi cái câu văn quảng bá sách và giải của cái Hội đồng trao giải với cách chấm phảy như gà què kia có ý nghĩa gì: “Cuốn sách gọn gàng, sinh động, không sa đà vào tư liệu, mà khá thanh thoát, bay bổng, thành một hình thượng, lưu lại trong lòng người đọc.” Thuật ngữ “hình thượng” lấy ở đâu ra, ai dùng khi nào, hay lần đầu tiên được sáng chế? Nghe nói cái Hội đồng ấy toàn những giáo sư tiến sĩ mà sao lại viết cái câu văn ruồi bâu vậy?
Xin lỗi, các vị quen ăn dơ ở bẩn theo lối sống động vật mới bênh vực loại sách như vậy chứ đa số người dân tôi cần đồ sạch, từ thực phẩm đến môi trường tự nhiên lẫn môi trường văn hóa để sống lành mạnh ạ!
—————
Warning: Các vị có giỏi biện hộ thì bám vào từng luận điểm trong cả hai bài viết của tôi mà phản biện. Còn lu loa chửi đổng những người chống văn hóa đầu độc là những kẻ “ngu dốt”, “đọc không thủng văn bản”, “du côn văn hóa”, “gã khùng”… thì tôi sẽ còn tiếp tục lôi cổ ra công luận nhiều lần nữa! Thậm chí dĩ độc trị độc, tôi đưa tên các vị vào truyện sex đen, miêu tả đúng như các vị từng quan hệ tình dục với vợ chồng mình (chứ không cần với người khác) thử xem các vị có cho đó là tất yếu của hiện thực cần phản ánh không?
—————–
Bài liên quan:

Lời biện minh của các nhà văn nhà veo trên FB Thuy Quynh Nguyen:



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khả năng thay đổi nhân sự tại Hội nghị TƯ 7 sẽ như thế nào?


Một vấn đề quan trọng khác sẽ được quyết định là việc tìm người thay thế Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Ông Nguyễn Thiện Nhân, hiện là ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, được cho là người nhiều khả năng nhất sẽ đảm nhiệm vị trí này.

Đánh giá khả năng thay đổi nhân sự tại Hội nghị TƯ 7
Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khóa 12 dự kiến ​​sẽ được triệu tập vào tháng 5 năm 2018. Hội nghị được cho là sẽ đưa ra các quyết định nhân sự lớn có tác động quan trọng tới triển vọng chính trị của Việt Nam, đặc biệt là Đại hội lần thứ 13 của Đảng được tổ chức vào năm 2021.

Một trong số các vấn đề nhân sự quan trọng nhất được quyết định tại Hội nghị TW 7 sẽ là sự thay đổi thành phần của Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết định hàng đầu của Đảng. Đại hội lần thứ 12 của Đảng năm 2016 đã bầu ra một Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên, nhưng kể từ đó 3 ủy viên đã phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe hoặc pháp lý khiến họ không thể hoàn thành trọn vẹn nhiệm kỳ năm năm của mình.

Vào tháng 5 năm 2017, ông Đinh La Thăng, lúc đó là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đã bị loại khỏi Bộ Chính trị do các cáo buộc về tham nhũng và sai phạm trong quản lý kinh tế. Ông Thăng sau đó đã bị truy tố và xét xử. Vào tháng 8 năm 2017, Đảng cũng thông báo rằng một ủy viên cao cấp khác của Bộ Chính trị, ông Đinh Thế Huynh, lúc đó là Thường trực Ban Bí thư, đã phải ngừng đảm nhiệm vị trí do sức khỏe kém. 


Cùng thời điểm đó, các báo cáo về tình trạng sức khỏe kém của Chủ tịch nước Trần Đại Quang cũng nổi lên. Ông Quang đã biến mất khỏi chính trường trong một thời gian kéo dài, được cho là để đi điều trị y tế tại Nhật Bản, trước khi xuất hiện trở lại trước thềm Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC vào tháng 11 năm 2017. Do vấn đề sức khỏe, nhiều khả năng vị trí của ông Quang sẽ được thay thế tại hội nghị sắp tới.

Như vậy, ít nhất ba thành viên mới có thể được bổ sung vào Bộ Chính trị vào tháng tới. Hiện tại, các ứng viên nổi bật nhất là năm thành viên Ban Bí thư mà chưa phải là ủy viên Bộ Chính trị. Những người này bao gồm Trung tướng Lương Cường (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam), ông Nguyễn Văn Nên (Chánh Văn phòng Trung ương Đảng), ông Nguyễn Hòa Bình (Chánh án Tòa án Tối cao), Ông Phan Đình Trạc (Trưởng Ban Nội chính) và ông Nguyễn Xuân Thắng (Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Trong số năm người này, ông Nguyễn Văn Nên và ông Phan Đình Trạc, với tư cách là chánh văn phòng trung ương hoặc trưởng ban trung ương đảng, có thể có nhiều cơ hội được bầu vào Bộ Chính trị nhất.

Một vấn đề quan trọng khác sẽ được quyết định là việc tìm người thay thế Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Ông Nguyễn Thiện Nhân, hiện là ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, được cho là người nhiều khả năng nhất sẽ đảm nhiệm vị trí này. Nếu ông Nhân được thăng chức, ông Võ Văn Thưởng, từng là Phó Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, có thể rời vị trí Trưởng Ban Tuyên Giáo hiện tại của mình để thay ông Nhân làm Bí thư TP Hồ Chí Minh. Nếu vậy, điều này sẽ mở ra cơ hội cho ông Nguyễn Xuân Thắng được bầu vào Bộ Chính trị và tiếp quản vị trí Trưởng ban Tuyên giáo mà ông Thưởng để lại.

Việc ông Nhân được thăng chức lên vị trí Chủ tịch nước nếu diễn ra cũng có thể có những tác động tới triển vọng chính trị của ĐCSVN. Hiện nay, ông Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư và là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, đang được xem là ứng cử viên nặng ký nhất thay thế ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư vào năm 2021. Tuy nhiên, việc ông Nhân thăng chức Chủ tịch nước đồng nghĩa với việc ông Nhân có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh tiềm năng của ông Vượng, đặc biệt nếu xét đến truyền thống của Đảng trong việc bầu một người trong “Tứ trụ” của nhiệm kỳ trước vào vị trí Tổng bí thư của nhiệm kỳ sau.

Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để đánh giá đầy đủ các tác động của những thay đổi nhân sự cấp cao có thể diễn ra tại Hội nghị Trung ương 7 tới triển vọng chính trị Việt Nam. Nhưng có một điều chắc chắn, đó là Hội nghị Trung ương 7 lần này sẽ là một sự kiện quan trọng và thú vị đáng được giới phân tích và bình luận về Việt Nam theo dõi sát sao.

Lê Hồng Hiệp
* Lê Hồng Hiệp là Nghiên cứu viên chính tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS – Yusof Ishak Institute), Singapore. Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên ISEAS Commentaries.
(Nghiên cứu Quốc tế)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Toàn văn Tuyên bố chung Thượng đỉnh liên Triều


https://baomai.blogspot.com/
Kim Jong-un đọc diễn văn cam kết hòa bình với Hàn Quốc: Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un nắm tay nhau đưa lên cao sau khi ký Tuyên bố chung Thượng đỉnh liên Triều ngày 27/4/2018 tại Bản Môn Ðiếm ở khu phi quân sự chia cắt hai miền Nam-Bắc Triều Tiên.

Trong thời khắc chuyển giao lịch sử quan trọng trên bán đảo Triều Tiên, phản ánh khát vọng lâu dài về hòa bình, thịnh vượng và thống nhất của người dân Triều Tiên, Tổng thống Cộng hoà Triều Tiên (Nam Triều Tiên) Moon Jae-in và Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) Kim Jong Un đã họp Thượng đỉnh liên Triều tại Nhà Hòa Bình ở Bản Môn Ðiếm ngày 27/4/2018.

Hai nhà lãnh đạo trịnh trọng tuyên bố trước 80 triệu người dân [hai miền] Triều Tiên và toàn thế giới rằng sẽ không còn chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên và một kỷ nguyên hòa bình mới đã bắt đầu.

Lãnh đạo hai nước, chia sẻ cam kết chắc chắn sẽ sớm chấm dứt chia rẽ và đối đầu lâu nay từ thời Chiến tranh Lạnh, quyết tâm hướng tới kỷ nguyên mới về hòa giải dân tộc, hòa bình và thịnh vượng, cải thiện quan hệ liên Triều và tuyên bố tại địa điểm lịch sử Bản Môn Ðiếm:

1. Nam và Bắc Triều Tiên sẽ nối lại quan hệ huyết thống của người dân hai nước nhằm đem lại tương lai thịnh vượng và thống nhất do người dân Triều Tiên lãnh đạo bằng việc tạo dựng mối quan hệ liên Triều toàn diện và đột phá. Cải thiện quan hệ liên Triều nhằm đáp ứng khao khát của toàn dân tộc và sự cấp thiết của thời đại khiến cho mối quan hệ này không thể tiếp tục bị kìm chế hơn nữa.

https://baomai.blogspot.com/

(1) Nam và Bắc Triều Tiên khẳng định nguyên tắc tự quyết định vận mệnh của dân tộc Triều Tiên và đồng ý thúc đẩy thời khắc quyết định để cải thiện quan hệ liên Triều bằng cách thực thi đầy đủ các thỏa thuận và tuyên bố hiện có mà hai nước đã thông qua.

(2) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý sẽ tiến hành đối thoại và đàm phán cấp cao trong nhiều lĩnh vực và thực thi những biện pháp tích cực để đạt được các thỏa thuận đạt được tại Thượng đỉnh.

(3) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý thiết lập một văn phòng tùy viên chung với đại diện thường trú của cả hai bên đặt tại Gaeseong để có thể cung cấp tham vấn xác thực giữa hai chính phủ cũng như thúc đẩy trao đổi và hợp tác giữa nhân dân hai nước.

(4) Nam và Bắc và Triều Tiên đồng ý khuyến khích hợp tác, trao đổi, thăm hỏi và liên lạc ở tất cả các cấp một cách tích cực hơn nhằm hồi sinh tinh thần hòa giải và đoàn kết dân tộc. Ở Triều Tiên, hai bên sẽ khuyến khích bầu không khí hòa bình và hợp tác bằng cách tổ chức các sự kiện chung của cả hai nước, như ngày 15/6 với sự tham gia của chính phủ, quốc hội, các đảng phái chính trị và các tổ chức dân sự. Trên bình diện quốc tế, hai bên nhất trí thể hiện sự đoàn kết, trí tuệ và tài năng chung bằng cách cùng tham gia vào các sự kiện thể thao quốc tế như Đại hội thể thao châu Á 2018.

(5) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý nhanh chóng giải quyết các vấn đề nhân đạo do việc chia đôi đất nước gây ra và sẽ tổ chức cuộc họp Hội Chữ thập Đỏ liên Triều để giải quyết nhiều vấn đề, bao gồm việc đoàn tụ các gia đình ly tán. Trên tinh thần đó, hai bên đồng ý đẩy mạnh chương trình đoàn tụ các gia đình ly tán nhân dịp đánh dấu Ngày Giải phóng Dân tộc 15/8 năm nay.

(6) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý tích cực tham gia các dự án mà hai bên đã ký kết trong Tuyên bố ngày 4/10/2007, để thúc đẩy sự cân bằng về phát triển kinh tế và thịnh vượng chung cho dân tộc. Bước đầu, hai bên đồng ý tiến hành các bước đi thiết thực hướng tới việc nối kết và hiện đại hóa các tuyến đường bộ và đường sắt dọc theo hành lang vận tải phía Đông và giữa Seoul và Sinuiji.

2. Nam và Bắc Triều Tiên sẽ cùng nỗ lực hạ giảm căng thẳng quân sự và loại trừ nguy cơ chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên.

https://baomai.blogspot.com/

(1) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý chấm dứt mọi hành động thù địch trên bộ, trên không và trên biển – là những nguyên nhân gây căng thẳng quân sự và dẫn đến xung đột. Trên tinh thần đó, cả hai bên đồng ý biến khu phi quân sự [DMZ] thành khu hòa bình bằng một quyết tâm thực sự bắt đầu bằng việc chấm dứt mọi hành động thù địch, bao gồm việc chấm dứt phát thanh tuyên truyền, rải truyền đơn tại khu vực dọc theo Đường Phân giới Quân sự, bắt đầu từ ngày 1/5.

(2) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý lập kế hoạch biến khu vực xung quanh Đường Biên giới phía Bắc ở Biển Tây thành vùng biển hòa bình để tránh nguy cơ va chạm quân sự ngoài mong muốn và đảm bảo an toàn cho hoạt động đánh bắt cá của ngư dân của cả hai miền.

(3) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý xúc tiến các biện pháp quân sự để đảm bảo việc liên lạc, thăm hỏi, trao đổi và hợp tác diễn ra tích cực. Hai bên đồng ý tiến hành các cuộc gặp thường xuyên giữa giới chức quân đội hai nước, bao gồm các cuộc họp Bộ trưởng Quốc phòng để có thể đối thoại và giải quyết ngay lập tức các vấn đề về quân sự giữa hai bên. Trên tinh thần đó, hai bên đồng ý tiến hành các cuộc đối thoại quân sự đầu tiên ở cấp tướng lãnh vào tháng 5.

3. Nam và Bắc Triều Tiên sẽ tích cực hợp tác để thiết lập một nền hòa bình lâu dài và bền vững trên bán đảo Triều Tiên. Việc chấm dứt tình trạng đình chiến bất thường hiện nay và thiết lập một nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên là một sứ mệnh lịch sử không thể trì hoãn hơn nữa.

https://baomai.blogspot.com/
Kim Jong-un trở thành lãnh đạo Bắc Hàn đầu tiên từ 1953 bước qua lằn ranh để vào Hàn Quốc

(1) Nam và Bắc Triều Tiên tái khẳng định Hiệp ước không có những hành động thù địch nhằm ngăn chặn việc sử dụng vũ lực dưới bất kỳ hình thức nào và đồng ý tuân thủ chặt chẽ hiệp ước này.

(2) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý giải trừ vũ khí theo từng đợt ngay khi căng thẳng quân sự hạ giảm và tạo được những bước tiến vững chắc trong việc tạo dựng niềm tin quân sự giữa hai bên.

(3) Vào dịp đánh dấu 65 năm Hiệp ước đình chiến, Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý thúc đẩy các cuộc gặp ba bên, gồm hai miền Triều Tiên và Mỹ, và có thể là cuộc họp bốn bên bao gồm cả Trung Quốc để đi đến tuyên bố chấm dứt chiến tranh, thiết lập một nền hòa bình vĩnh viễn.

(4) Nam và Bắc Triều Tiên xác nhận mục tiêu chung là phi hạt nhân hóa hoàn toàn, tiến tới một bán đảo Triều Tiên không có hạt nhân. Nam và Bắc Triều Tiên chia sẻ quan điểm rằng, các biện pháp do Bắc Triều Tiên khởi xướng rất có ý nghĩa và thiết yếu cho việc phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, đồng ý thực thi vai trò và trách nhiệm của mỗi bên trong vấn đề này. Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý tích cực mưu tìm sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng quốc tế vì mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.

Hai nhà lãnh đạo đồng ý, thông qua các cuộc họp thường xuyên, các cuộc điện đàm trực tiếp, sẽ tiến hành các cuộc đối thoại thường xuyên và thẳng thắn về những vấn đề quan trọng của dân tộc, củng cố lòng tin lẫn nhau để tạo dựng động lực tích cực cho quan hệ liên Triều nhằm đem lại hòa bình, thịnh vượng và thống nhất trên bán đảo Triều Tiên.

Trên tinh thần đó, Tổng thống Moon Jae-in đồng ý đi thăm Bình Nhưỡng vào mùa thu năm nay.



Ngày 27 tháng 4, 2018
Tại Bản Môn Ðiếm

https://baomai.blogspot.com/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẠI BIỂU DƯƠNG TRUNG QUỐC





ĐẠI BIỂU DƯƠNG TRUNG QUỐC

Quả thật tôi không biết
Phe đảng hay phe dân
Cái ông Dương Trung Quốc,
Nửa khôn, nửa cù lần.

Nửa thức và nửa ngủ,
Nửa bênh vực dân oan.
Nửa lại theo phe đảng.
Nửa dân và nửa quan.

Vụ Đồng Tâm, Mỹ Đức
Ông chứng kiến ông Chung
Ký tờ giấy cam kết,
Ấy vậy mà, thật khùng,

Giờ ông nói cần thiết
Phải truy tố vụ này.
Thế cũng là lật lọng
Và bắt cá hai tay.

Hơn thế, ông ủng hộ
Việc xây nhiều tượng đài.
Tôi thực sự không biết
Cái ông này là ai.

PS
Người lúc đen lúc trắng,
Lẫn lộn và mập mờ,
Xưa nay, các cụ nói,
Là người rất đáng ngờ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hãy đứng lên rũ bỏ thù oán và cùng với nhau tiến đến việc xây dựng đất nước


Triều Tiên-Việt Nam, chiến tranh và hòa bình



Thật khó có thể biết điều gì xảy ra tiếp theo sau những hình ảnh lịch sử có thể nói “đẹp” nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh này, khi hai nguyên thủ Nam-Bắc Triều Tiên gặp gỡ nhau trong không khí cởi mở và thân thiện, mang lại thông điệp nhiều ý nghĩa cho một khả năng dẫn đến một tiến trình hòa bình thật sự sau nhiều thập niên triền miên căng thẳng. 

Những bức ảnh này gợi đến lịch sử cuộc xung đột hai miền Nam Bắc Việt Nam. Thật là một bi kịch lịch sử của dân tộc nói chung, khi ý muốn bắt tay với Bắc Việt của hai ông Diệm-Nhu nhằm tìm con đường thoát khỏi chiến tranh, đã không thành hiện thực. 

Bộ máy lãnh đạo cộng sản Bắc Việt, thời Lê Duẩn, cũng chẳng muốn “đổi ý thức hệ” để “lấy hòa bình”. Hà Nội sẵn sàng tắm máu đồng bào để “giải phóng” miền Nam hơn là chịu cùng bước qua vĩ tuyến 17 để bắt tay Sài Gòn, bằng tình đồng bào, trong một đất nước đau thương tan nát bởi khói lửa binh đao. 


Điều đáng nói là sau khi đạn bom ngưng nổ, “cuộc chiến Việt Nam” vẫn tiếp tục giày xéo dân tộc. Vẫn tạo ra những xung đột dạng này hay dạng khác giữa người dân bên này và bên kia vĩ tuyến 17, dù trong thực tế “vĩ tuyến chiến tranh” không còn tồn tại. 

Sau chiến tranh, hận thù vẫn không nguôi và Bắc Việt thậm chí trút sự thù hận dai dẳng và nhỏ nhen lên trên đầu cả những người đã chết. Thật là bi thảm và nghiệt ngã cho dân tộc. Sau ngần ấy năm chiến tranh, dân tộc lại oằn oại hàng chục năm, cho đến nay, trong nghi kỵ và căm ghét hẹp hòi. 


Trong chiến tranh, cơ hội để tìm kiếm hòa bình là rất mong manh và rất hiếm hoi. Nhưng trong thời bình mà không biết khai thác vô số cơ hội để hàn gắn vết thương chiến tranh, là một nghịch lý khủng khiếp đến mức tàn bạo. Tôi chán phải nói đến những điều này. Không ít người cũng mệt mỏi khi nghĩ đến điều này.

Bây giờ, tôi chỉ mong, chỉ mơ một điều, rằng, tất cả hãy dũng cảm đập nát oán thù. Còn bao nhiêu đạn dược trong đầu hãy bắn hết vào những oán thù. Hãy đứng lên rũ bỏ thù oán và cùng với nhau tiến đến việc xây dựng đất nước, hơn là tiếp tục ưỡn ngực phô bày những tấm huy chương nhuộm máu đồng loại. 

Sau hơn 40 năm, điều đó còn chưa làm được thì bao giờ đất nước này mới thôi cảnh trầm luân!

FB MẠNH KIM 27.04.2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI TRONG MỘT NƯỚC



Luân Lê



Đây là cái bắt tay giữa hai nền chính trị đối nghịch nhau: dân chủ (tam quyền phân lập) và độc tài toàn trị (cộng sản) trên bán đảo Triều Tiên, nơi bị chia cắt thành Bắc Triều Tiên và Nam Hàn (Đại Hàn Dân Quốc) trong khoảng thời gian nội chiến từ năm 1950 - 1953.

Tổng thống Hàn Quốc, ông Moon Jae-in đã được Kim Jong-un mời sang thăm nhưng với một lời rào trước rằng: đất nước tôi với cơ sở hạ tầng giao thông cũng như các phương tiện rất tồi tệ, có thể sẽ khiến ông không hài lòng và cảm thấy khó chịu. Nhưng ông Moon vẫn luôn niềm nở và coi đó là một niềm hy vọng của một sự khởi đầu tươi đẹp nhất từ trước cho đến nay.

Một đất nước bị chia cắt thành hai quốc gia sau chiến tranh, nhưng sau 68 năm dân tộc này lại tiến tới một sự hợp nhất về lãnh thổ và chủ quyền lẫn thể chế. Rõ ràng những khởi đầu này là một bước ngoặt hết sức tốt đẹp dành cho nhân dân đất nước này. Họ không cần nổ súng hoặc ăn mừng trên chiến thắng đối với đồng bào mình, họ coi nhân dân ở bên kia biên giới vẫn là người cùng dân tộc và lãnh đạo Hàn Quốc luôn cố tìm mọi cách để hoà hợp, hoà giải để thống nhất cả hai miền Nam-Bắc làm một nhà và cùng phát triển.

Theo hãng tin Reuters, trong sổ lưu niệm tại Nhà Hòa bình, ông Kim Jong Un đã viết: "Lịch sử mới bắt đầu từ lúc này; Kỷ nguyên của hòa bình, từ điểm khởi đầu của lịch sử". 
Còn chúng ta, có học được gì từ họ không? Khi năm nào một bên cũng coi chiến thắng đối với miền Nam là lịch sử và vĩ đại nhưng là trên xương máu đồng bào, còn một bên thất trận luôn sục sôi căm hờn với “ngày quốc hận” để oán thù? Tất cả những biểu hiện ấy chỉ đơn giản là của những tâm hồn ích kỷ, dân tộc hẹp hòi, cực đoan và không có tấm lòng và trí tâm vì tổ quốc thực sự.

Nước Mỹ cũng rơi vào chiến tranh hai miền Nam - Bắc, khiến nhiều triệu người chết và gây ra bao cảnh tang thương, chết chóc, nhưng sau khi giành quyền kiểm soát toàn liên bang, miền Bắc không ăn mừng chiến thắng vì với họ đó là cuộc nội chiến bất đắc dĩ cần phải chấm dứt càng sớm càng tốt và cần để nó rơi vào lãng quên mau đi. Họ đối xử với những người thua cuộc như chính những người của bên thắng trận, những người hy sinh ở hai bên chiến tuyến vẫn được chôn cất cùng một nghĩa trang với nhau. Nước Mỹ không tổ chức ăn mừng ngày kết thúc tiếng súng thống nhất hai miền Nam - Bắc. Người Mỹ không để những người cùng một dân tộc bị phân biệt đối xử sau cuộc chiến và cũng không ai bị cải tạo về chính trị hay bị bắt bớ tù đày. Và nước Mỹ lại vĩ đại như nó vốn là như vậy ngay từ khi khởi sinh, bởi tinh thần quý tộc và đoàn kết Mỹ.

Còn trên đất nước chúng ta, năm nào cũng cất vang bài ca chiến thắng vang dội và vĩ đại trong những ngày cuối tháng 4, trong khi hàng triệu người vẫn cảm thấy đau thương và mất mát, vẫn rỉ máu trong tâm thức, những thế hệ vẫn tha hương và chất đầy những oán hận và cả những nỗi sợ hãi ám ảnh tột cùng. Những vết thương chiến tranh vẫn chưa nguôi ngoai vì bên thắng cuộc không dừng lại việc tôn vinh những thắng lợi trên sự thương đau của đồng bào mình, dù đã gần một nửa thế kỷ trôi qua. Làm sao có thể hoà giải khi day mãi vào nỗi đau của những người cùng một dân tộc? Trong khi, đất nước hiện giờ còn lâm vào bao thảm cảnh, nợ nần chồng chất, nghèo đói vây quanh, tham nhũng hoành hành và con người tàn ác với nhau.

Khi nào thì không quay đầu về quá khứ để làm tổn thương chính người trong dân tộc mình để có thể tập trung vào xây dựng đất nước phồn vinh và cường thịnh?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI VIẾT TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ, ANH LÀ AI?



Hà Phạm Phú

Lời chủ trang: Nhân vừa rồi trên mạng có cuộc tranh luận sôi nổi, căng thẳng về tiểu thuyết lịch sử và người viết tiểu thuyết lịch sử, khơi nguồn từ việc tiểu thuyết của nhà văn Bùi Việt Sĩ được nhận Giải sách hay của Hội xuất bản, tôi xin post lại bài tham luận của mình tại Diễn đàn văn học quốc tế các nhà văn Trung Quốc và các nhà văn các nước sông Mê Kong tị Nam Ninh (TQ) vào tháng 5/2017 để các bạn tham khảo:


Tham luận của nhà văn Hà Phạm Phú (Việt Nam)

Tôi sinh ra ở một làng nhỏ tỉnh Phú Thọ, thuộc miền Tây Bắc Việt Nam, bên dòng sông Thao. Cứ mỗi mùa mưa, lũ dâng lên đỏ trời, dòng sông cuốn theo cơ man những gỗ củi, trâu bò và nhà cửa, là lại phải chạy nước như chạy giặc. Mùa cạn, con sông hiền hòa, những cánh bãi đôi bờ được phù sa bồi đắp, lúa ngô xanh tốt. Con sông mềm mại ẩn chứa trong mình một sức mạnh khôn lường, cần mẫn chảy tự bao giờ, dường như không biết mệt mỏi, có gì đó thật thúc giục, thật mời gọi. Cha tôi là một trí thức nhỏ trong làng, thông thạo chữ Nho. Khi tôi còn bé, vẫn thường được nghe nghe ông kể những đoạn trích của Đông Chu liệt quốc, Hán Sở tranh hùng, Tam Quốc diễn nghĩa… Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử đem đến cho tôi chút vốn liếng đầu tiên trên hành trình văn học dài xa và khó khăn. Trong đời viết văn của mình, tôi cũng đã viết một số tiểu thuyết và truyện ngắn lịch sử, vậy trên diễn đàn này tôi xin nói đôi điều suy ngẫm về tiểu thuyết lịch sử, ngõ hầu có thể trao đổi với các bạn.

1/
Con người, về bản năng, sinh ra nói chung đều muốn biết tường tận về mình, vì thế mà quan tâm đến lịch sử: lịch sử gia tộc, lịch sử làng xã, lịch sử đất nước, lịch sử thế giới. Vì sao? Là do sự tò mò ham hiểu biết, là muốn học hỏi ở lịch sử những bài học chính diện và phản diện, là muốn được từ đó giải đáp những câu hỏi của đời sống, là muốn xác tín một hướng đi, một xu thế phát triển… 

Từ có lịch sử thành văn, nhân loại bước qua thời tiền sử, lịch sử trở thành một môn giáo dục, trở thành công cụ của nhà cầm quyền nhằm duy trì sự chính danh của hệ thống cai trị và thường được che đậy bằng nhiều nguyên ủy: Được thần phật, thượng đế trao quyền; được lịch sử, thậm chí nhân dân giao cho sứ mệnh. (Chuyện chém rắn trắng của Lưu Bang Hán Cao tổ ở Trung Quốc, hay chuyện được gươm của Lê Lợi ở Việt Nam vân vân). Không chỉ có giới cầm quyền khai thác lịch sử như một công cụ mà những lực lượng cách mạng đại diện cho cái mới, cái hợp với quy luật cũng coi lịch sử như là điểm tựa, như là vũ khí động viên, huy động quần chúng.

Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, do đặc thù của nó, việc khai thác đề tài lịch sử hiển nhiên không chỉ là mối quan tâm của giới văn nghệ sĩ nhằm nói lên “nỗi niềm của lịch sử” mà còn là một chiến lược của những nhà cầm quyền, những người lãnh đạo muốn thông qua tuyên truyền lịch sử để giúp củng cố địa vị của mình. 

Nhưng lịch sử lại trớ trêu ở chỗ, những gì chúng ta tưởng đã biết đã thuộc nhưng đụng đến hóa ra lại là chưa biết hết, chưa thuộc hết. Tôi không cổ vũ cho thuyết bất khả tri, nhưng tôi muốn nói đến một sự thực không thể chối cãi: những hạn chế của con người, của xã hội, của khoa học. Chẳng hạn con người sinh ra từ đâu, từ loài khỉ hay là có một quĩ gien được cất giấu tận Hy Mã Lạp Sơn nào đó? Tại sao có sự thực ai cũng biết mà cứ phải né tránh? Tôi có phần nào đó đồng tình với một nhà văn Việt Nam, khi ông ví von “Lịch sử là một thằng câm”. Thằng câm ở một khía cạnh nào đó, nhưng lịch sử cũng có thể lên tiếng. Có người ví von, nếu anh bắn vào lịch sử bằng súng lục thì lịch sử sẽ bắn vào anh bằng đại bác. Ở đây có quan hệ nhân quả, lịch sử có thể cất tiếng nói. Cũng là điều có lí. Như vậy lịch sử có thể là thằng câm, cũng có thể gầm thét. Nhưng phải trong những điều kiện nhất định nào đó…

Hơn nữa, lịch sử có nhiều “quãng mù”, giống như điểm mù ở ô tô, có nhiều câu hỏi mãi mãi không thể tìm được một lời giải đáp thỏa đáng. Chẳng hạn thời thượng cổ, lịch sử Việt Nam chép, họ Hồng Bàng, dựng một đế phả: Đế Minh (cháu 3 đời Thần Nông)- Lộc Tục (Kinh Dương Vương)- Sùng Lãm (Lạc Long Quân- Rồng). Lạc Long Quân lấy Âu Cơ- Tiên, đẻ trăm trứng. Bây giờ có ai tin chuyện đó. Quãng mù đã được dùng thần thoại thay thế. Chẳng hạn như nhân vật lịch vĩ đại thống nhất Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng của Trung Quốc, chính sử ghi lại cũng chỉ có khoảng 1000 từ… Khoảng trống thật mênh mông. 

Lịch sử không chỉ có những “quãng mù” mà còn bị nhào nặn, thậm chí ngụy tạo. Câu chuyện về quan Thái sử nước Tề chép chuyện Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công có thể nói lên mức độ nhào nặn, ngụy tạo lịch sử đến như thế nào. Lịch sử hiện diện trước mắt chúng ta chỉ là những phế tích đền đài, những cuốn sách cũ, hiển nhiên chúng không thể lên tiếng về toàn bộ lịch sử thực vốn phong phú đa dạng và sinh động. Vì nó “câm”, nên những nhà viết sử trở thành những người phát ngôn của “thằng câm”. Mà, như chúng ta đã biết, nhân loại có một nhược điểm cố hữu không vượt qua được, đó là luôn bị trói buộc bởi những quan điểm, bởi những khuynh hướng, bởi địa vị xã hội, bởi muôn vàn lợi ích khác nhau… Tóm lại là bởi thiên kiến và sự chi phối của lợi ích. Và thế là Lịch sử đã tiếp tục được nhào nặn ngày càng không đúng với thực nó. (Xin lấy một ví dụ nhỏ, nhưng nhãn tiền ở nơi chúng tôi: Có một nhà xuất bản khi in lại Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim vào năm 2000 đã cắt bỏ các bản đồ cương vực vì cho rằng không phù hợp với cách nhìn của chúng ta hiện nay. Hoặc việc đánh giá các triều đại Mạc, Hồ, Tây Sơn, ba triều đại mà các sử gia Việt Nam xưa gọi là ngụy (Ngụy Mạc, Ngụy Hồ, Ngụy Tây Sơn). V.v.)
Vì thế có người (một nhà nghiên cứu Pháp) nói “Các nhà sử học làm nên lịch sử”, hoặc “Lịch sử, đó là những gì các nhà sử học làm ra”... 

Nhà văn, khi viết tiểu thuyết lịch sử, đứng trước hiện thực đó, làm sao chọn cho mình một lối đi!

2/ 
Bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết lịch sử, viết về những nhân vật cách mình hàng mấy trăm năm, hàng ngàn năm, không thể không nghiên cứu tư liệu về thời kì mà anh quan tâm. Những tư liệu ấy như trên đã nói, chỉ để tham khảo. Chỉ xin nói thêm rằng, nhân loại bằng tất cả những tri thức, những khoa học công nghệ tiên tiến… nhằm cố dựng lại một bộ mặt lịch sử thì bộ mặt đó cũng chỉ gần (gần ít hay gần nhiều) với lịch sử bản thể mà thôi. Tất nhiên, những tri thức mà nhân loại đã tích lũy được chưa phải là cuối cùng. Lịch sử bản thể sinh động, phong phú, phức tạp hơn nhiều những gì mà nhân loại đã biết sẽ luôn được khám phá và lí giải thêm. Chắc chắn thế. (Xin hãy nhớ lại lịch sử khoa học, vào lúc người ta mới biết đến nguyên tử là phần tử vật chất bé nhất không thể phân chia được, người ta nhìn thế giới một cách khác. Khi người ta tìm ra các hạt vật chất bé hơn như hạt quark chẳng hạn hay hiện nay là hạt Higgs thì nhiều quan điểm cơ bản của triết học đã và sẽ bị đảo lộn.)

Chính sử và dã sử là nhưng con tầu đưa anh đi về quá khứ, chớ có ngủ quên trên đó. Hãy xuống các nhà ga, hãy dừng lại ở đâu đó, lang thang tìm kiếm. Hãy nhớ một điều, người ta chép sử là để lưu truyền hậu thế. Những người muốn lưu truyền hậu thế là ai? Là những nhà cầm quyền, là vua chúa, là… tầng lớp cai trị. Hiển nhiên họ chỉ muốn lưu truyền hậu thế những thành công, những thành tựu, lưu truyền cái tốt, che giấu cái xấu, cái sai… Đó là tâm lí chung. Vua chúa hay tầng lớp cai trị đặt ra chức sử quan, nuôi một lớp “trí thức ngự dụng” giúp mình chép sử. Lịch sử họ chép lại là nhằm phục vụ nhà cầm quyền, những người nuôi họ. Nhưng cũng còn những người biên soạn sử, những người không được nhà cầm quyền giao phó hoặc những học giả độc lập biên soạn. Mặt khác, rất nhiều Sự thật lịch sử không phải cứ muốn che đậy, muốn làm méo mó là được. Chẳng hạn quân Mông Cổ đại bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hay tội ác diệt chủng do Chủ nghĩa phát xít Đức gây ra trong chiến tranh thế giới thứ hai là không thể che đậy. Vả lại, ngay trong giới sử học quan phương cũng có người có khí tiết, tôn trọng khoa học như câu chuyện về quan Thái sử nước Tề chép chuyện Thôi Trữ giết vua. Vì thế Lịch sử thành văn mà ta vẫn gọi là chính sử vẫn có những điều khả tín. 

3/
Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử cũng có nhiều. Theo quan sát của tôi, dường như đã được thừa nhận rộng rãi, đại để như sau: Tiểu thuyết lịch sử trước hết là một “loại” của tiểu thuyết. Loại tiểu thuyết này có đặc điểm là thông qua nhân vật và sự kiện lịch sử, tái hiện lại nhằm phản ánh diện mạo đời sống của một thời kì lịch sử, từ đó rút ra những bài học, chỉ ra xu thế phát triển, chuyển tải một thông điệp… Nhân vật có thể là nhân vật lịch sử, cũng có thể là hư cấu, cũng có thể kết hợp cả hai. Nhiều người cũng quan niệm, tiểu thuyết lịch sử có thể hư cấu, khoa trương nhưng không được tùy tiện thay đổi, đảo ngược hay bịa đặt mà phải căn cứ vào diện mạo thực (thực tế chỉ là chính sử) của lịch sử mà miêu tả.

Nhưng quan niệm như thế chỉ là tương đối, không thể là khuôn phép phải theo, hơn nữa trong thực tế sáng tác ít nhà văn nào lại tự lấy dây buộc mình. Ở Việt Nam, số nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều, nhưng từ khi có chữ quốc ngữ đến nay, lúc nào cũng có nhà văn theo đuổi. Nhìn vào dòng văn học lịch sử Việt Nam, tôi cho là có ba khuynh hướng sáng tác. 

Một là tiểu thuyết hóa lịch sử, nghĩa là nhà văn biến những tư liệu “chính xác” của lịch sử thành tiểu thuyết, thành những sản phẩm hư cấu, tưởng tượng của cá nhân nhà văn. Tiểu thuyết hóa lịch sử nằm ở mạch cảm hứng “khẳng định và ca ngợi”, tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Ở khuynh hướng này, tiểu thuyết lịch sử thường tôn trọng sự “chính xác” của tư liệu lịch sử- coi chính sử là chính xác tuyệt đối- bao quát hiện thực đời sống ở diện rộng với chiều kích vĩ mô của tư duy “sử thi- anh hùng ca”. Tiểu thuyết lịch sử loại này chỉ là sự cụ thể hóa, sinh động hóa những gì mà các sử quan đã ghi lại. Công việc của nhà tiểu thuyết trong trường hợp này xét đến cùng là dùng khả năng tưởng tượng của mình để lấp đầy chỗ trống giữa những dòng sử biên niên khô khan, để làm sống động những gì mà sử sách đã “sơn son thếp vàng”. Ở đây, tiểu thuyết lịch sử thiên về chất truyện kể mà ít chất tiểu thuyết (hư cấu). 

Hai là lịch sử hóa tiểu thuyết, giải mã lịch sử. Ở đây lịch sử không chỉ được tái hiện trên bề mặt các sự kiện mà còn được soi rọi ở nhiều góc nhìn, ở bề sau, bề sâu, bề xa. Những vùng sự thật bị các sử quan hữu ý hay vô tình che khuất, ở khu vực “thâm cung bí sử” của lịch sử được đặc biệt quan tâm, những bí ẩn và xung đột của lịch sử được phân tích, để rồi lịch sử được ngưng tụ ở chiều sâu số phận con người. Với loại tiểu thuyết này, người đọc có thêm được nhiều thông tin mới, cách nhìn nhận, đánh giá mới, rút ra những bài học mới. Bằng cách ấy nhà văn đã vượt qua các sử quan. Đúng như M. Gorki đã nói “Nhà văn, chứ không phải là nhà chép sử, mới là người viết sử thực của cuộc đời”.

Ngoài hai khuynh hướng trên, còn có một khuynh hướng, khuynh hướng thứ ba, mượn đề tài lịch sử để chuyển tải một thông điệp, một tư tưởng, một quan điểm thẩm mỹ. Ở đây nhà văn chỉ với một vài “điểm tựa” mong manh vào lịch sử, có thể tưởng tượng, sáng tạo một thế giới nghệ thuật riêng, vừa làm sống lại lịch sử (đủ để hấp dẫn người đọc), thông qua đó truyền bá một tư tưởng, gửi gắm một nỗi niềm, tôn vinh một quan niệm… Không ít nhà văn khi viết về đề tài lịch sử đã đi theo khuynh hướng này.

4/
Khi khởi thảo cuốn tiểu thuyết lịch sử, anh hãy tự hỏi, anh là ai? Anh là nhà văn, không phải là một nhà sử học. Nhiệm vụ của anh không phải là cung cấp cho bạn đọc những kiến thức lịch sử nhất định. Anh cũng không phải là một nhà nghiên cứu văn hóa để cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết về văn hóa của thời kì lịch sử ấy. Nhưng hơn ai hết, nhà văn phải có hiểu biết về lịch sử, về văn hóa xã hội… như những chuyên gia. Nếu không có những tư liệu lịch sử phong phú, không có kiến thức về văn hóa xã hội, về dân tộc, về tôn giáo… chắp cho anh đôi cánh thì làm sao anh anh có thể hư cấu tưởng tượng, làm sao anh có thể sáng tạo tiểu thuyết. 

Nên nhớ rằng, lịch sử trong cuốn tiểu thuyết của anh là lịch sử đã được nhào nặn, thiết kế, tổ chức lại. Một lịch sử khác những chính sử, dã sử mà người đọc đã từng biết. Người đọc đọc anh sẽ khám phá lịch sử theo cách của riêng họ. Như vậy, với một nhà tiểu thuyết, với quyền năng của mình, anh đã có thể phán xét lịch sử, phản biện sử học, giúp nhận thức thêm, nhận thức lại lịch sử. Một quyền năng vĩ đại. Nhưng cái quyền năng ấy Thượng đế không dễ ban phát cho bất kì người nào muốn. Chỉ có những nghệ sĩ chân chính, những nghệ sĩ cảm thông được nỗi đau nhân thế, có ăng ten xoay qua bốn hướng nhân quần mới có thể có được. Cảm thông được nỗi đau nhân thế, chính là tài năng.

Nhà văn Nga vĩ đại A. Pushkin, tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về cuộc khởi nghĩa nông dân Pugasov (1773-1775) với tựa đề Người con gái viên đại úy cho rằng, nhà văn phải “chất vấn quá khứ để trả lời cho hiện tại và tương lai”. Với tôi, tôi tin rằng, tiểu thuyết lịch sử đều có ánh xạ của đời sống hiện tại. Tôi viết, cho những người hiện tại đọc./. 

Hà Nội, ngày 20/3/2017
Hà Phạm Phú

Phần nhận xét hiển thị trên trang