Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Học làm báo cách mạng

Tôi được phân công làm phóng viên của ban tuyên truyền về đời sống công nhân, gọi tắt là ban đời sống do anh Trần Bá Đa phó tổng biên tập làm trưởng ban. Năm 1945, anh Trần Bá Đa đậu tú tài toàn phần, bỏ học tham gia cách mạng. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, anh theo cơ quan rút ra vùng giải phóng, lấy vợ, sinh một con. Sau đó, Đảng lại phân công anh trở vào Hà Nội hoạt động. Anh trú ngụ ở một gia đình là “cơ sở cách mạng”. Gia đình này có cô con gái lớn. Anh chị thầm lén với nhau, chị có bầu, gia đình tổ chức cho họ cưới nhau. Sau ngày giải phóng Hà Nội, hai bà vợ tranh chấp một ông chồng, phải đưa ra tòa. Anh nói mình không thể ly hôn người nào cả, mình noi gương đồng chí Lê Duẩn. Vậy là phải xin tòa phân xử. Tòa ra quyết định: từ trưa thứ hai đến sáng thứ bẩy anh ở với bà vợ cả; từ chiều thứ bảy đến sáng thứ hai anh ở với bà vợ hai; tiền lương của anh chia đôi, mỗi bà một nửa. Sau khi thân nhau, anh thổ lộ: “Nghe qua bản án tòa xử, không ai hình dung được những ‘khổ sở’ của mình khi thực hiện. Làm sao cơ thể con người khỏi bị ‘phong vũ bất kỳ’, suốt cả tuần ở với bà cả, đến chiều thứ bẩy mới về với bà hai thì bị cảm sốt, nhức đầu. Chẳng lẽ người ta chờ đợi suốt cả tuần mà mình không cố gắng ‘hoàn thành nhiệm vụ’ trước khi lại ra đi!” Do một suất lương chia cho hai bà vợ nên lúc nào anh cũng túng thiếu. Các cơ quan đều quen với tình ảnh ông phó tổng biên tập chia tay với các đồng nghiệp nghiện thuốc lá: “Mày cho tao xin một điếu!” Tôi không hút thuốc nên không có cơ hội giúp anh.
Ngày đầu làm việc với tôi, anh Đa bảo: “Mình đọc truyện ngắn anh viết rồi, nhưng về đây là để viết báo, viết những chuyện có thật trong đời sống công nhân. Tờ báo này là cơ quan ngôn luận của tổ chức công đoàn. Do đó, anh phải viết theo quan điểm của công đoàn. Công đoàn chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, do đó phải viết dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng. Tháng này cậu cứ ngồi đọc báo Lao Động, học từ bài viết của các đồng nghiệp đi trước, rồi đọc các tờ báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Phụ Nữ để học hỏi cách viết nhằm mục đích phục vụ đối tượng của mỗi tờ báo.” Sau đó, anh đưa cho tôi tập sách có những bài viết của Lênin, Hồ Chí Minh nói về nhiệm vụ của báo chí cách mạng. Thật ra từ năm 1952, khi cộng tác với báo Nhân Dân Miền Nam của ông Trần Bạch Đằng tôi đã thấm nhuần tư tưởng “viết những gì kháng chiến cần, cách mạng cần”. Trên miền Bắc giải phóng, lĩnh vực nào cũng đặt dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, lúc nào cũng có các vị tuyên huấn ở các cấp soi thứ ánh sáng đó vào từng câu từng chữ, làm bật ra nhiều chuyện cứ như đùa. Đời làm báo cách mạng của tôi cũng trải không ít bầm dập, nhưng xin kể vài chuyện nghe được của đồng nghiệp cùng thời đó.
 Hồi ký Tống văn Công
Trong cuốn “Hồi ký của các nhà báo cao tuổi” tại thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, nhà báo Nhật Tỉnh kể: năm 1955 anh về làm phóng viên Ban Thời sự Đài Tiếng nói Việt Nam, do ông Nguyễn Văn Nhất làm trưởng ban và được giao đi viết một bài nói về nông thôn sau cải cách ruộng đất. Cố nhiên, anh Nhật Tỉnh đã phải học Nghị quyết 9 năm 1954 của Bộ Chính trị: “Một mặt hết sức thỏa mãn yêu cầu về kinh tế và chính trị của nông dân để phát động nông dân và tranh thủ sự ủng hộ của nông dân. Mặt khác lại cần hết sức mở rộng mặt trận chống phong kiến và mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, trung lập mọi lực lượng có thể trung lập được, để tranh thủ đa số, cô lập thiểu số, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất”. Anh Nhật Tỉnh viết: “Tôi miêu tả cảnh quan tươi đẹp của làng quê vừa được giải phóng, niềm phấn khởi của người cày có ruộng, hăng hái làm thuỷ lợi ‘nghiên đồng đổ nước ra sông’. Tiếp đó, tôi nêu một chi tiết, ở cuối cánh đồng, trên một thẻo đất khô cần, có một người đang cuốc đất. Nhìn cái lưng lòng khòng, bắp chân trăng trắng của anh ta, ai cũng biết anh ta không phải là nông dân thực thụ. Hỏi ra mới biết, anh ta là sinh viên trường thuốc, con địa chủ K., nay không có điều kiện học nữa, đã trở về làm ruộng. Tôi nhớ câu nói của anh Mai Hộ một đàn anh khi tôi vào nghề báo ‘mỗi người một đường đi, mỗi người một số phận’, tôi viết tiếp, từ một sinh viên trường thuốc, nay tập làm nông dân, có lẽ anh đang tìm một đường đi”.
Ông Nguyễn Văn nhất gọi tôi lên phòng làm việc nghiêm mặt hỏi:
– Tại sao cậu đưa chi tiết con địa chủ vào bài?
–      Tôi nghĩ viết về nông thôn sau cải cách ruộng đất không chỉ viết về nông dân mà cần nêu cả đối tượng đấu tranh của nông dân nữa thì bức tranh mới chân thực, mới toàn cảnh.
–      Toàn cảnh cái gì? Từ một sinh viên trường thuốc nay phải bỏ học đi cuốc đất. Cậu viết nhằm ẩn ý gì đây?
–      Thưa thủ trưởng, tôi nào có ẩn ý gì đâu! Đó chỉ là sự thật!
–      Sự thật à? Đâu phải sự thật nào cũng đưa lên. Cậu hiểu chưa?
Im lặng. Nặng nề. Rồi ông hạ giọng:
– Nếu cậu bỏ chi tiết này thì tôi cho phát. Bằng không thì…
–      Tùy thủ trưởng. Tôi đâu phải là người quyết định.
… Tôi thuật lại cuộc đối thoại giữa ông Nhất và tôi. Anh Mai Hồ nghe, mặt buồn thiu, trầm ngâm một lát rồi lí nhí:
Đời chú mày rồi lận đận!
Cũng trong “Hồi ký các nhà báo cao tuổi”, tập 5, trang 10, nhà báo Sĩ Ẩn nguyên phóng viên báo Tiền Phong kể việc được giao viết bài về kỳ họp thứ 6 Quốc Hội khóa 3 bàn về tình hình cách mạng miền Nam và công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Phiên họp này thực hiện Nghị quyết 15 của Đảng: “Đảng ta đang đứng trước những nhiệm vụ cách mạng rất nặng nề nhưng rất vẻ vang: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tạo điều kiện cho cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.”
Nhà báo Sĩ Ẩn kể, sau ngày họp đầu tiên chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh  trực tiếp họp báo, căn dặn: “Riêng bản báo cáo của Ban Thống nhất Trung ương tôi muốn chữa vài chữ, đề nghị các báo chưa đăng vội.” Khi nghe Sĩ Ẩn báo cáo như vậy ông Lê Xuân Đồng tổng biên tập báo Tiền Phong băn khoăn: “Báo ta hai ngày ra một số, nếu chờ thì lỡ mất”. Ông Thanh Dương phó tổng biên tập đề nghị: “Chúng ta cứ lên khuôn, giao cho Sĩ Ẩn bám sát hễ đồng chí Trường Chinh sửa chữ nào thì ta lập tức sửa chữ đó”. Ai cũng thấy đó là ý hay. Nhưng ngay sau đó Sĩ Ẩn được tin của cô bạn gái đồng nghiệp: “Đúng 23 giờ đón em từ Yên Bái về đến ga Hàng Cỏ.” Sĩ Ẩn kể: “Lửa lòng bốc cháy, tôi quên hết mọi chuyện. Tôi phóng xe ra ga lúc chưa tới 21 giờ. Hết ngồi lại đứng, đi tới, đi lui cho đến lúc tàu về. Ôi vui quá. Tôi chở cô bạn về chợ Hàng Da, ngồi dưới chân cột đèn ăn bánh khúc nóng. Lại ra ga Hàng ỏ để có ghế ngồi như khách chờ tàu. Trời sáng lúc nào không hay. Tôi chở cô bạn về trụ sở Hội Nhà báo, rồi trở về cơ quan. Chưa tới giờ làm việc, chúng tôi tụ tập tại phòng khách, chơi tú lơ khơ. Bổng cửa mở, Vụ trưởng Vụ báo chí Trần Minh Tước xuất hiện và dằn giọng: ‘À, Sĩ Ẩn, gan thật. Còn ngồi đây chơi bài! Tìm tổng biên tập, rồi cả cậu nữa đi ngay theo tôi, anh Trường Chinh đang chờ’.
… Ngồi cạnh ông Trường Chinh là Tố Hữu, Nguyễn Văn Vịnh, chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất và hai ba vị nữa. Ông Trường Chinh nghiêm giọng:
Chiều hôm qua đồng chí nào giữ họp báo?
Tôi đứng dậy, cố bình tĩnh nhưng giọng nói vẫn rung rung:
Dạ, tôi ạ!
Đồng chí có nghe tôi dặn điều gì không?
Tôi cố lấy bình tĩnh và tỏ ra biết lỗi:
Dạ có à!
Có, nhưng sao lại nằm trái?
Tổng biên tập Lê Xuân Đồng đỡ lời tôi:
Báo cáo đồng chí Chủ tịch Quốc hội…
Ông Trường Chinh ngắt lời:
Tôi chưa hỏi đồng chí.
Mọi người im lặng. Căn phòng như thiếu không khí. Tôi cố hít thật sâu, trống ngực đập thình thình. Đồng chí Trường Chinh đẩy tờ báo Tiền Phong về phía tôi với cụm từ ngắn gọn:
Đồng chí xem đi.
Tôi đã lấy tờ báo, len lén nhìn vào đôi mắt sáng mà rất nghiêm của đồng chí, tôi chăm chú nhìn vào dòng chữ được gạch dưới bằng bút chì đỏ: ‘Với tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm, quân và dân miền Nam đã đánh cho Mỹ ngụy thất điên bát đảo’. Đồng chí Tố hữu đã gửi bản báo cáo về phía tôi, bốn chữ ‘thất điên bát đảo’ đã được đồng chí Trường Chinh gạch bỏ, thay bằng hai chữ ‘té dạt’ chữ đỏ. Đồng chí Tố Hữu nói rõ: ‘Tuy chỉ hai chữ nhưng đây là ý đồ chiến lược của Đảng ta đối với cách mạng miền Nam lúc này, cần phải quán triệt’. Tôi chỉ bị cảnh cáo và xóa tên khỏi danh sách ‘cảm tình Đảng’. Tôi mừng quá.” Bị cảnh cáo và xóa tên trong danh sách cảm tình Đảng mà mừng quá, bởi vì Sĩ Ẩn từng biết nhiều người cầm bút sơ sểnh đã phải đi trại cải tạo hoặc vào nhà đá!
Ngày nay đọc hồi ký của các nhà báo cũng phải với mình, tôi không khỏi ngạc nhiên tự nghĩ, tại sao hồi đó chúng tôi có thể vui vẻ, thậm chí còn tự hào vì “được” lãnh tụ mắng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quá khứ quyết định Hiện tại Trung Quốc ra sao?



Nho giáoBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionKhổng tử
Để hiểu cách tiếp cận ngày nay của Trung Quốc đối với các vấn đề như thương mại, chính sách đối ngoại hoặc kiểm duyệt internet, hãy cùng nhìn lại lịch sử quốc gia này.
Đất nước này có lẽ tự ý thức về lịch sử của mình hơn bất cứ xã hội lớn nào khác trên thế giới. Việc hồi tưởng đó rất cục bộ - các sự kiện như Cách mạng Văn hóa của Mao vẫn rất khó để thảo luận ở Trung Quốc. Nhưng thật ngạc nhiên khi tiếng vang của quá khứ vẫn có thể được tìm thấy ở hiện tại.
Thương mại
Trung Quốc vẫn nhớ thời kỳ nước này bị buộc giao thương không theo ý muốn. Ngày nay, họ xem những nỗ lực đòi mở cửa thị trường của phương Tây như gợi nhớ về thời kỳ bất hạnh đó.
Mỹ và Trung Quốc hiện tranh cãi về việc liệu Trung Quốc có đang xuất khẩu vào Mỹ trong khi vẫn đóng cửa thị trường nội địa với hàng hóa Mỹ. Tuy nhiên, cán cân thương mại không phải lúc nào cũng có lợi cho Trung Quốc.
Ở Bắc Kinh có nhiều kỷ niệm về một thời kỳ, khoảng một thế kỷ rưỡi trước, khi Trung Quốc có ít quyền tự kiểm soát thương mại.
Anh tấn công Trung Quốc bằng các cuộc Chiến tranh Nha phiến, nổ ra vào năm 1839. Trong hàng thập niên sau đó, Anh thành lập tổ chức Dịch vụ Hải quan Hàng hải Hoàng gia để điều chỉnh thuế quan hàng hóa nhập vào Trung Quốc.
Tổ chức này là một phần của chính phủ Trung Quốc, nhưng vẫn mang đậm Anh, được điều hành không phải từ Bắc Kinh mà từ Portadown, Bắc Ireland.
Robert HartBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionSir Robert Hart là tổng thanh tra của Cục Hải quan Hàng hải Hoàng gia của Trung Quốc từ 1863 đến 1911
Sir Robert Hart trở thành tổng thanh tra của Hải quan Trung Quốc, nơi thực tế là sân chơi cho người Anh trong một thế kỷ. Hart là người trung thực và giúp tạo ra nhiều thu nhập cho Trung Quốc.
Nhưng những ký ức của thời kỳ đó vẫn gây đau đớn.
Điều này rất khác dưới triều đại nhà Minh, vào đầu thế kỷ 15, khi Đô đốc Trịnh Hòa đưa bảy hạm đội lớn tới Đông Nam Á, sang Ceylon (tên gọi cũ của Sri Lanka ngày nay) và thậm chí tới cả bờ biển Đông Phi để giao thương và thể hiện sức mạnh Trung Hoa.
Những chuyến đi của Trịnh Hòa được ghi nhận ở khắp Đông Nam Á, chẳng hạn như trên bức tường của điện thờ này ở Penang, Malaysia.Bản quyền hình ảnhALAMY
Image captionNhững chuyến đi của Trịnh Hòa được ghi nhận ở khắp Đông Nam Á, chẳng hạn như trên bức tường của điện thờ này ở Penang, Malaysia
Những chuyến vượt biển của Trịnh Hòa một phần nhằm tạo ấn tượng.
Rất ít đế quốc khác có thể tự hào về những hạm đội viễn dương, và đó cũng là cơ hội để mang những vật phẩm kỳ lạ và tuyệt vời về Bắc Kinh, như là con hươu cao cổ đầu tiên cho Trung Quốc.
Tuy nhiên, thương mại cũng rất quan trọng, đặc biệt ở các khu vực khác của Châu Á. Và Trịnh Hòa có thể, và đã chiến đấu khi ông muốn, đánh bại ít nhất một nhà cai trị của Ceylon.
Tuy nhiên, những chuyến vượt biển của ông là một ví dụ hiếm hoi của một dự án hàng hải do nhà nước thực hiện. Hầu hết giao dịch thương mại nước ngoài của Trung Quốc trong vài thế kỷ tới sẽ không chính thức.
Rắc rối với láng giềng
Trung Quốc luôn quan tâm làm sao các nước có chung biên giới với nước này ở trong tình trạng yên ổn. Đó là một phần lý do Trung Quốc quan hệ rất thận trọng với một Bắc Hàn khó đoán ngày nay.
Đây không phải là lần đầu Trung Quốc có vấn đề với các quốc gia láng giềng.
Thực tế, lịch sử cho thấy Trung Quốc còn có những người hàng xóm tệ hơn cả lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un, người gần đây đã có chuyến thăm bất ngờ đến Bắc Kinh, chuyến đi nước ngoài đầu tiên kể từ khi nhậm chức năm 2011.
Chính phủ Trung Quốc và Bắc Hàn xác nhận chuyến thăm của Kim Kong-unBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChính phủ Trung Quốc và Bắc Hàn xác nhận chuyến thăm của Kim Kong-un
Dưới triều đại nhà Tống năm 1127, một người phụ nữ tên Lý Thanh Chiếu đã trốn khỏi nhà ở thành phố Khai Phong. Chúng ta biết đến câu chuyện của bà bởi vì bà là một trong những nhà thơ giỏi nhất của Trung Quốc, và các tác phẩm của bà vẫn được đọc rộng rãi. Bà chạy trốn vì đất nước bị tấn công.
Một bộ tộc từ miền bắc, tộc Nữ Chân đã nổi dậy chống Trung Quốc sau một thời gian dài liên minh không hài lòng với hoàng đế nhà Tống. Tầng lớp tinh hoa của nền văn minh Trung Quốc đã phải trốn chạy khắp cả nước khi thành phố bị đốt cháy.
Lý Thanh Chiếu đã phải chứng kiến bộ sưu tập nghệ thuật yêu quý của bà bị phân tán khắp các thành phố. Số phận của triều đại của bà là một bài học về sự nhân nhượng vô nguyên tắc với 'hàng xóm' có lẽ vẫn còn giá trị lâu dài.
Một thời gian, triều đại nhà Kim cai trị phương Bắc Trung Hoa, và nhà Tống lập nước mới ở Hoa Nam.
Nhưng cuối cùng, cả hai rơi vào tay Mông Cổ.
Được lập nên bởi Thành Cát Tư Hãn vào thế kỷ XIIIBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐược lập nên bởi Thành Cát Tư Hãn vào thế kỷ XIII, Mông Cổ trở thành đế chế láng giềng lớn nhất trong lịch sử
Các đường dịch chuyển trên bản đồ cho thấy định nghĩa về Trung Quốc thay đổi theo thời gian. Văn hóa Trung Quốc gắn liền với những tư tưởng nhất quán như ngôn ngữ, lịch sử và hệ thống đạo đức như Nho giáo.
Tuy nhiên, các tộc người khác như Mãn tộc và Mông Cổ từ phương Bắc đã nhiều lần chiếm Trung Quốc, cai trị nước này bằng việc sử dụng chung tư tưởng và nguyên tắc mà các dân tộc Trung Quốc dựa vào.
Những láng giềng này không phải lúc nào cũng ở yên. Nhưng đôi khi họ theo và thực hiện các giá trị Trung Quốc một cách hiệu quả giống như người Trung Quốc.
Lưu lượng thông tin
Ngày nay, internet Trung Quốc kiểm duyệt tài liệu nhạy cảm về chính trị và những người lên tiếng về các vấn đề chính trị bị chính quyền coi là có vấn đề có thể bị bắt hoặc tệ hơn.
Khó khăn trong việc nói lên sự thật với giới cầm quyền từ lâu đã là vấn đề. Các sử gia Trung Quốc thường cảm thấy họ phải viết điều nhà nước muốn hơn là điều mà họ nghĩ là quan trọng.
Nhưng Tư Mã Thiên - thường được coi là "sử gia vĩ đại" của Trung Quốc - đã chọn cách khác.
Sử ký Tư Mã Thiên có ảnh hưởng rất lớnBản quyền hình ảnhALAMY
Image captionSử ký Tư Mã Thiên có ảnh hưởng rất lớn
Tác giả của một trong những tác phẩm quan trọng nhất của biên niên sử Trung Quốc, thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, đã dám bảo vệ một vị tướng bại trận. Làm như vậy ông bị cho rằng đã sỉ nhục hoàng đế và bị thiến.
Tuy nhiên, ông đã để lại một di sản đã định hình việc viết sử ở Trung Quốc cho đến ngày nay.
Sử ký Tư Mã Thiên pha trộn nhiều nguồn khác nhau, phê bình những hình tượng từ quá khứ lịch sử, và cũng sử dụng sử truyền miệng để tìm ra thông tin trực tiếp từ những người tham gia về những gì đã thực sự xảy ra.
Tất cả điều này là một cách viết sử mới, nhưng nó tạo tiền đề cho những người ghi chép sau này: nếu bạn sẵn sàng mạo hiểm an toàn của mình, bạn có thể viết sử "một cách trần trụi" hơn là tự kiểm duyệt.
Tự do tôn giáo
Trung Quốc hiện đại khoan dung hơn với hoạt động tôn giáo so với thời kỳ Cách mạng Văn hóa của Mao - trong giới hạn - nhưng kinh nghiệm quá khứ khiến Trung Quốc thận trọng với các phong trào dựa trên đức tin có khả năng vượt tầm kiểm soát và đặt ra thách thức cho chính phủ.
Các ghi chép cho thấy sự cởi mở với tôn giáo từ lâu đã là một phần của lịch sử Trung Quốc.
Dưới triều đại của mình, hoàng hậu Võ Tắc Thiên đã chấp nhận và thúc đẩy Phật giáoBản quyền hình ảnhALAMY
Image captionDưới triều đại của mình, Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đã chấp nhận và thúc đẩy Phật giáo
Vào thế kỷ VII, Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đã chấp nhận Phật giáo như một cách để đẩy lùi những gì bà xem như là chuẩn mực cứng ngắc của truyền thống Nho giáo Trung Quốc.
Dưới triều Minh, nhà truyền giáo Matteo Ricci đã đến triều đình và được đối xử như một người đối thoại đáng kính, mặc dù có thể có nhiều quan tâm đến kiến thức của ông về khoa học phương Tây hơn là những nỗ lực của ông nhằm thay đổi (tôn giáo) người nghe.
Nhưng đức tin luôn là một công việc nguy hiểm.
Cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc bị biến động bởi một cuộc khởi nghĩa được khởi xướng bởi Hồng Tú Toàn, người tự xưng là em trai của Chúa Jesus.
Cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc hứa hẹn mang lại một vương quốc hòa bình thiên đường cho Trung Quốc nhưng thực sự đã mang đến một trong những cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, giết chết khoảng 20 triệu người theo một số thống kê.
Quân lính nhà nước lúc đầu thất bại trong việc kiềm chân lực lượng nổi dậy, và phải cho phép binh lính địa phương tự cách tân trước khi dập tắt cuộc khởi nghĩa với sự tàn bạo vô cùng vào năm 1864.
Cuộc khởi nghĩa Thái Bình cuối cùng đã bị đánh bại với sự giúp đỡ của lực lượng Anh và PhápBản quyền hình ảnhALAMY
Image captionCuộc khởi nghĩa Thái Bình cuối cùng đã bị đánh bại với sự giúp đỡ của lực lượng Anh và Pháp
Cơ đốc Giáo là trung tâm của cuộc nổi dậy khác vài thập kỷ sau đó. Năm 1900, phiến quân nông dân tự xưng là Nghĩa Hòa Đoàn xuất hiện ở miền Bắc Trung Quốc kêu gọi giết những người truyền giáo và cải đạo Cơ đốc giáo, sau này bị coi là những kẻ phản bội Trung Quốc.
Ban đầu, triều đình ủng hộ họ, dẫn đến cái chết của nhiều người theo đạo Cơ đốc Trung Quốc, trước khi cuộc nổi dậy cuối cùng bị dập tắt.
Qua thế kỷ sau, và cho đến ngày nay, nhà nước Trung Quốc đã thay đổi giữa khoan dung tôn giáo và sự lo sợ rằng nó có thể lật đổ nhà nước.
Công nghệ
Ngày nay, Trung Quốc tìm cách trở thành trung tâm thế giới về công nghệ mới. Một thế kỷ trước, Trung Quốc trải qua một cuộc cách mạng công nghiệp sớm hơn - và phụ nữ là trung tâm của cả hai.
Trung Quốc là nhà lãnh đạo thế giới khi nói đến trí tuệ nhân tạo (AI), nhận dạng giọng nói và dữ liệu khổng lồ.
Rất nhiều điện thoại thông minh trên khắp thế giới được chế tạo bằng các con chip do Trung Quốc sản xuất. Nhiều nhà máy sản xuất sử dụng nhân công là phụ nữ trẻ, những người thường phải chịu đựng điều kiện làm việc kinh khủng, nhưng cũng đang tìm kiếm một nơi trong nền kinh tế thị trường công nghiệp lần đầu tiên.
Họ thừa hưởng kinh nghiệm của những người phụ nữ trẻ cách đây 100 năm đã đến các nhà máy mọc lên ở Thượng Hải và đồng bằng sông Dương Tử.
dfdfdsBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Họ không sản xuất chip máy tính, nhưng dệt lụa và bông.
Công việc khó khăn và có khả năng gây bệnh phổi hoặc gây chấn thương và điều kiện ăn ở của công nhân vô cùng thiếu thốn.
Tuy nhiên, phụ nữ cũng nhớ lại niềm vui của việc tự kiếm đồng lương, tuy nhỏ nhoi và khả năng đến hội chợ hoặc nhà hát vào một dịp nghỉ hiếm hoi.
Một vài người thì đi xem - không phải để mua - tại các cửa hàng bách hóa mới sáng bóng ở trung tâm Thượng Hải, một trong những biểu tượng của sự hiện đại.
Ngày nay, trên đường Nam Kinh ở Thượng Hải, bạn vẫn có thể nhìn thấy tầng lớp trung lưu và công nhân mới của Trung Quốc đang được hưởng nhiều hàng hóa tiêu dùng như một phần của nền kinh tế theo hướng công nghệ hiện đại của Trung Quốc.
Quan điểm của các sử gia tương lai?
Chúng ta đang sống ở một thời kỳ biến đổi đáng kể với Trung Quốc. Các sử gia tương lai sẽ lưu ý rằng một đất nước vốn nghèo và hướng nội vào năm 1978 đã trở thành - trong vòng một phần tư thế kỷ - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
Họ cũng sẽ lưu ý rằng Trung Quốc là quốc gia quan trọng nhất để chống lại những gì dường như là một xu thế tất nhiên của dân chủ hóa.
Có thể các nhân tố khác như chính sách một con (đã chấm dứt) và việc sử dụng kiểm soát trí tuệ nhân tạo có thể thu hút sự chú ý của các nhà ghi chép tương lai. Hoặc có thể là một vài thứ khác như môi trường, thăm dò không gian hoặc tăng trưởng kinh tế, mà thậm chí còn chưa rõ ràng với chúng ta.
Một điều gần như chắc chắn - một thế kỷ từ giờ, Trung Quốc sẽ vẫn là nơi mê hoặc cho những ai sống ở đó và những ai sống với nó, và lịch sử phong phú của Trung Quốc sẽ tiếp tục định hướng hiện tại và tương lai của đất nước này.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nước cờ chiến lược Vũ ‘Nhôm’ và Hội nghị trung ương 7


Đúng vào thời gian này, một vị trí rất cao cấp là Trần Đại Quang - Chủ tịch nước - lại… đi chữa bệnh ở Nhật Bản. Mặc dù vẫn không có thông tin chính thức nào từ hệ thống tuyên giáo đảng hay từ Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương, nhiều dư luận vẫn cho rằng ông Quang đã sang Nhật chữa bệnh từ đầu tháng Tư năm 2018. Vào năm ngoái, ông Trần Đại Quang cũng đã có một lần “biến mất”. Ở vào lần thứ hai “biến mất” của ông Trần Đại Quang, lại đang xuất hiện những dư luận và đồn đoán về tình trạng sức khỏe “khó hồi phục” của ông, và về những gương mặt nào có thể đảm nhiệm chức vụ chủ tịch nước nếu ông Quang “nghỉ giữa chừng”.

Phan Văn Anh Vũ. (Photo: VnExpress)
Vụ khởi tố và tống giam một sỹ quan tình báo cấp tướng của Tổng cục V Bộ Công an vào ngày 17/4/2018 rất có thể chỉ là bước khởi đầu, hoặc là “giai đoạn 1” của một trận công kích đến những cấp cao hơn nữa của Tổng cục Tình báo này trong thời gian tới.

Vào những ngày này, dư luận đang sôi sục với dự đoán sẽ có ít nhất 2 thứ trưởng Bộ Công an phải bị liên đới trách nhiệm, thậm chí cả trách nhiệm hình sự, ở “giai đoạn 2” của “đại án kinh tế - chính trị Vũ “Nhôm””.

“Binh chủng hợp thành”

Có lẽ “rút kinh nghiệm sâu sắc” từ vụ Trịnh Xuân Thanh mà có vẻ chẳng phăng ra được đầu mối nào đã giúp Thanh đào tẩu ra nước ngoài ngay trước mũi “ngành công an Việt Nam giỏi nhất thế giới”, Tổng bí thư Trọng đã chỉ đạo chiến dịch bắt và khai thác Vũ “Nhôm” - Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ một cách “làm việc gì ra việc đó” - như một lời khen dân dã của ông Trọng dành cho cơ quan Ủy ban Kiểm tra đảng trung ương.

Song một cơ quan khác mà ông Trọng không công khai khen ngợi nhưng lại có vẻ chiếm lĩnh vai trò rất lớn trong chiến dịch bắt và khai thác Vũ “Nhôm”: Tổng cục 2, tức Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng.

Mặc dù từ lâu nay đã được xem là “thanh kiếm và lá chắn của đảng”, nhưng từ khoảng giữa năm 2016 đến nay, Bộ Công an dường như đã phải nhường lại hình ảnh “thanh kiếm” cho những đồng nghiệp bên quân đội.

Sau khi Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ bị bắt và dẫn độ từ cửa khẩu Singapore - Malaysia về Việt Nam vào đầu tháng Giêng năm 2018, dư luận và báo chí sôi trào. Nhưng trong suốt một thời gian sau đó, mọi tin tức về vấn đề “chính trị nội bộ” của Vũ “Nhôm” đã bặt tăm, có chăng chỉ là vài ba thông tin về Vũ “Nhôm” dính líu sâu với nhiều nhà công sản và dự án bất động sản ở Đà Nẵng, với Ngân hàng Đông Á ở Sài Gòn, và bị cáo buộc tội danh “trốn thuế” và “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”…

Trước tết nguyên đán 2018 và lồng trong bầu không khi xử đại án Đinh La Thăng - Trịnh Xuân Thanh, những tưởng vụ Vũ “Nhôm” đã có thông tin mới và đã xảy ra bắt bớ những quan chức liên quan đến Vũ ‘Nhôm” ngay trước tết. Nhưng tất cả vẫn lắng bặt.

Sau tết nguyên đán 2018, “vụ án” đầu tiên và thuộc loại “đại án” hóa ra lại là vụ việc mà nhiều người tưởng như đã chìm lắng hoặc chìm xuồng: “Mobifone mua AVG”, với phạm vi liên đới trách nhiệm thuộc về nhiều bộ ngành như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn phòng chính phủ. Trong khi đó, vụ Vũ “Nhôm” vẫn không thấy tăm hơi gì. Thậm chí liên quan đến đại án Trần Phương Bình ở Ngân hàng Đông Á, người ta còn đặt dấu hỏi vì sao cho tới thời điểm đó vẫn chưa khởi tố Vũ “Nhôm” trong vụ án này, dù hành vi chiếm đoạt tài sản của Vũ “Nhôm” tại ngân hàng Đông Á là đã rõ.

Còn giờ đây, đã rõ là Nguyễn Phú Trọng, và ít nhất một người tham mưu giấu mặt đầy sâu hiểm bên cạnh ông Trọng, đã tính toán một nước cờ vừa chiến thuật vừa mang tính chiến lược để “không cho chúng nó thoát”.

Việc Bộ Công an khởi tố, tống giam và câu lưu 7 quan chức vào ngày 17/4/2018, trong đó có những cái tên cộm cán như Phan Hữu Tuấn, cựu Phó Tổng cục trưởng Tổng cục tình báo Bộ Công an đã nghỉ hưu, Trần Văn Minh - cựu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2006-2011), Văn Hữu Chiến - cựu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2011-2014)… cho thấy trong quan niệm và chủ trương của ông Trọng, vụ Vũ “Nhôm” chính là một đại án, không chỉ đại án về kinh tế mà còn về an ninh quốc gia.

Về mặt tốc độ, khác biệt phần nào với vụ bắt và xử án cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng, nước đi của ông Trọng trong vụ Vũ “Nhôm” không quá thần tốc mà có thể bứt qua những công đoạn của tố tụng hình sự, mà có thể mang đặc thù “không cần nhanh nhưng phải chắc”. Các bị can bị khởi tố không phải chỉ cùng một cơ quan mà nhiều hơn hai cơ quan. Nhưng ấn tượng nhất là ngọn roi của ông Trọng đã quất thẳng vào lưng cánh tình báo công an.

Một chiến dịch mang sắc tố “binh chủng hợp thành” - như một thuật ngữ của ngành quân sự Việt Nam.

Có đảo lộn “tứ trụ” tại Hội nghị 7?

Chưa biết với tính chất xen cài cả kinh tế và an ninh như trên, vụ án Vũ “Nhôm” mà chắc chắn sẽ đưa ra xét xử có được chia thành hai phiên tòa - một xử những tội danh về kinh tế như “trốn thuế”, “lợi dụng chức vụ, quyền hạn…” hay “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”; và một sẽ được xét xử riêng với tội danh “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”, hay hai phần này sẽ được gộp chung làm một.

Nhưng vụ bắt tướng tình báo Phan Hữu Tuấn - sếp của Thượng tá Phan Văn Anh Vũ - xảy ra trong bối cảnh ông Trọng đang cầm chịch để thông qua và triển khai Đề án 106 của Đảng ủy công an Trung ương về “cải tổ” ngành công an.

Về tính quy trình, khác nhiều với vụ Trịnh Xuân Thanh, vụ bắt và khai thác Vũ “Nhôm” đang có nét giống với “quy trình Đinh La Thăng”: sau khi bị loại khỏi Bộ Chính trị vào tháng Năm năm 2017, Đinh La Thăng được bố trí về Ban Kinh tế trung ương và tưởng như đã “hạ cánh an toàn”. Nhưng từ tháng Tám năm 2017 trở đi, một chiến dịch bắt quan chức của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã được xúc tiến nhanh chóng. Chẳng bao lâu sau, vào tháng Mười Hai năm 2017, Đinh La Thăng chính thức chịu chung số phận với những quan chức dầu khí đã phải tra tay vào còng.

Vũ “Nhôm” không chỉ là tâm điểm kinh tế, tập trung nhiều mối quan hệ làm ăn phi pháp với các quan chức khác, mà còn là một tâm điểm chính trị. Khởi nguồn từ Vũ “Nhôm” và khai thác tối đa nhân vật này, dường như ông Trọng đang thành công trong chiến dịch ‘truy ngược” lên các quan chức cấp cao hơn, kể cả cấp ủy viên bộ chính trị. Trong khi ở vụ Trịnh Xuân Thanh, cho đến giờ vẫn chẳng thấy ông Trọng nói năng hay tự hào báo cáo về kết quả “đã phát hiện thế lực tổ chức cho Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn ra nước ngoài”.

Vụ bắt tướng tình báo Phan Hữu Tuấn cũng xảy ra trước Hội nghị trung ương 7 của đảng cầm quyền - một hội nghị rất có thể sẽ đặc trưng và đặc tả về nhân sự, hoặc là sự đổi thay về nhân sự rất cao cấp.

Đúng vào thời gian này, một vị trí rất cao cấp là Trần Đại Quang - Chủ tịch nước - lại… đi chữa bệnh ở Nhật Bản.

Mặc dù vẫn không có thông tin chính thức nào từ hệ thống tuyên giáo đảng hay từ Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương, nhiều dư luận vẫn cho rằng ông Quang đã sang Nhật chữa bệnh từ đầu tháng Tư năm 2018.

Vào năm ngoái, ông Trần Đại Quang cũng đã có một lần “biến mất” khiến không chỉ dư luận trong nước xôn xao mà cả báo chí quốc tế cũng phải đặt dấu hỏi.

Cuối tháng Bảy năm 2017, trùng với sự kiện “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh” theo cách gọi của Nhà nước Đức, hoặc “Trịnh Xuân Thah tự nguyện về nước đầu thú” theo lối tuyên giáo của Bộ Công an, ông Trần Đại Quang đã “biến mất” đến gần một tháng, và chỉ xuất hiện trở lại vào cuối tháng Tám năm 2017 với gương mặt phờ phạc.

Trong thời gian Trần Đại Quang vắng mặt tại Phủ chủ tịch, một blogger nắm nhiều tin tức nội bộ thậm chí còn đòi hỏi ông Quang cần ‘bàn giao quyền lực” cho người khác. Một dấu ấn khác là khác hẳn với hai vụ tau khỏe mà có chi mô” của Trưởng ban Nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh vào cuối năm 2014 và vụ “tướng chữa bệnh” Phùng Quang Thanh vào giữa năm 2015, trong vụ Trần Đại Quang đi chữa bệnh ở Nhật bản vào năm 2017 đã hoàn toàn không có xác nhận hay lời động viên an ủi nào của Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương.

Ở vào lần thứ hai “biến mất” của ông Trần Đại Quang, lại đang xuất hiện những dư luận và đồn đoán về tình trạng sức khỏe “khó hồi phục” của ông, và về những gương mặt nào có thể đảm nhiệm chức vụ chủ tịch nước nếu ông Quang “nghỉ giữa chừng”.

Trong khi đó, chủ trương “nhất thể hóa” của đảng cầm quyền vẫn tiếp tục triển khai và triển khai ngày càng nhanh, bắt đầu từ Quảng Ninh - “cái nôi cách mạng” của trưởng ban tổ chức hiện thời là Phạm Minh Chính - đang lan đến một số tỉnh thành khác. Ở nhiều nơi, hai chức danh bí thư và chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận huyện đã được nhập làm một, thậm chí còn đặt cả vấn đề nhập “3 thành 1”, tức cả chức chủ tịch hội đồng nhân dân.

Cũng trong bối cảnh đó, thông tin sốt nóng về việc Quốc hội Trung Quốc đã gần như tuyệt đối thông qua Hiến pháp không giới hạn nhiệm kỳ chủ tịch nước của Tập Cận Bình hẳn đã có tác động như một sự gợi ý đến chính trường Việt Nam, hé ra khả năng “chủ tịch nước kiêm tổng bí thư” trong tương lai không quá xa.

Phạm Chí Dũng



Phần nhận xét hiển thị trên trang