Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2018

Vụ án Đinh La Thăng và bóng ma Cải cách ruộng đất

Tạ Duy Anh: 


nh Soha

Đây là lời của luật sư bào chữa Lê Văn Thiệp tại phiên tòa xét xử ông Đinh La Thăng: “Việc mua ngân hàng với giá 0 đồng là hoàn toàn trái với Hiến pháp, vì nguyên tắc của Hiến pháp là tôn trọng quyền tài sản của cá nhân, tổ chức. Trên thế giới không có quốc gia nào trong lịch sử từ trước tới nay mua 0 đồng cả”.
Phiên tòa đang diễn ra, chưa tuyên án, nên tôi chưa có ý kiến đánh giá của cá nhân mình về tính nghiêm minh, công bằng… Nhưng qua lời ông luật sư, một người chắc chắn phải rất hiểu luật, về một việc làm trái hiến pháp, tôi, với tư cách một nhà văn, thấy cần phải lên tiếng về mối nguy hiểm từng kéo lùi sự phát triển của đất nước hàng thập kỉ, vẫn rình rập đánh úp cuộc sống của chúng ta.
Xin cho tôi dài dòng một chút.
Năm 2000, tôi đem bản thảo cuốn tiểu thuyết Đi tìm nhân vật đến xin giấy phép tại một nhà xuất bản có vị lãnh đạo được đánh giá là mạnh mẽ và bản lĩnh nhất lúc bấy giờ. Bà tiếp tôi niềm nở và đầy trọng thị. Nhưng sau đó khoảng một tháng, bà cho mời tôi đến để… trả lại! Trong câu chuyện, bà gián tiếp nói lý do, khi ý tứ viện dẫn một nhà văn khác cứ bám mãi vào đề tài Cải cách ruộng đất để trách móc chế độ. Chuyện qua lâu rồi, nhắc mãi lại làm gì – bà bảo tôi thế, cũng là ngầm ý cho tôi thấy vì sao bà từ chối cấp phép cho tác phẩm của tôi.
Quá hiểu thực tế chính trị nên khi ra về tôi không buồn. Tôi tin rằng bà giám đốc may mắn không có người thân nào bị đem ra bãi bắn, bị đám đông đập chết một cách oan ức, tài sản tích cóp bằng mồ hôi nước mắt bao đời bị tịch thu phải đi ăn xin ăn mày, con cháu không ngóc lên được… thì mới nói về nỗi kinh hoàng ấy bình thản như vậy.
Tuy nghĩ thế, nhưng tôi cũng tự vấn: Hay là mình sai, cứ nói mãi về một việc, dù là khủng khiếp nhưng đã lùi xa, liệu có vô bổ hay không? Cuộc đời còn bao nhiêu niềm vui, sao cứ phải gợi nên nỗi đau thương mà không chôn vùi hẳn nó xuống một lần?
Rất may đó chỉ là ý nghĩ mất cảnh giác thoáng qua. Lời căn dặn của các bậc hiền nhân:
“Lịch sử, nhất là những bi kịch, thường hay lặp lại”, vẫn ngày đêm nhắc nhở tôi mỗi khi suy nghĩ về những biến cố của đất nước này.
Và mấy hôm nay, khi theo dõi phiên tòa xử ông Đinh La Thăng, thì tôi thấy lời nhắc nhở kia đang hiện ra nhãn tiền. Và hóa ra những khoảng đen tối của lịch sử có khả năng bám rễ rất sâu, chỉ chờ có cơ hội là nảy mầm sống lại.
Chẳng hạn như thói quen chiếm đoạt. Trong Cải cách ruộng đất, trên danh nghĩa tiêu diệt giai cấp địa chủ, chính quyền đã tịch thu đất đai, nhà cửa, ruộng đất của họ.
Trong Cải tạo Công thương ở miền Bắc, trên danh nghĩa sở hữu tập thể, chính quyền cưỡng bức các cơ sở sản xuất tư nhân phải “hợp doanh”, một biến tướng tinh vi của tịch thu tài sản.
Trong Cải tạo tư bản miền Nam sau năm 1975, biện pháp tịch thu, cưỡng đoạt còn được tiến hành khốc liệt hơn cả thời Cải cách ruộng đất.
Trong hồi ký của ông Đoàn Duy Thành, chúng ta biết thêm kế hoạch mang mật danh Z30, cho phép chính quyền các địa phương một số thành phố tịch thu nhà cửa, cơ sở kinh doanh của những người giàu mà không cần biết họ giàu lên vì đâu.
Tất cả những việc làm ấy, chỉ có thể gọi bằng một cái tên chung là Chiếm đoạt (sách chính trị Mác-Lê hay dùng từ Tước đoạt) và nó là hành động man rợ, dù dưới bất cứ danh nghĩa hoặc động cơ gì.
Sau mấy chục năm Đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập với văn minh nhân loại nhờ đó mà kinh tế tư nhân được thừa nhận, thậm chí kinh tế tư nhân đang đóng vai trò động lực, thực ra là chủ lực trong phát triển đất nước, cứ tưởng sẽ chẳng bao giờ còn tái diễn màn kịch Chiếm đoạt (hay Tước đoạt) mông muội của hơn nửa thế kỉ trước. Vậy mà lại vẫn xảy ra vụ Nhà nước cưỡng bức mua ngân hàng không (0) đồng, khiến biết bao người mất tài sản, vướng vòng lao lý như đang diễn ra qua vụ xét xử ông Đinh La Thăng liên quan đến 800 tỷ của PVN bị mất trắng theo cáo trạng của Viện kiểm sát….Nó mất trắng hay thuộc số tài sản bị Chiếm đoạt? PVN chỉ có 800 tỷ, trong khi OJB là 4000 tỷ, với tổng tài sản đang kinh doanh lớn gấp nhiều lần. Tất cả “về 0” chỉ trong nháy mắt? Kẻ bị chiếm đoạt thành kẻ mắc nợ, là tội đồ từ chính hành vi chiếm đoạt đó?
Thế chẳng đáng là một bi-hài kịch lớn của thời cuộc sao? Liệu có sự bất công nào từng xảy ra trong lịch sử đáng để chúng ta suy ngẫm hơn. Không còn là số phận của một cái ngân hàng, mà có thể hành động ấy đang khởi nguồn cho một bi kịch dân tộc.
Và hóa ra là lời nhắc của các bậc hiền nhân chưa bao giờ thừa. Mỗi sự kiện đau thương như vụ Cải cách ruộng đất, như vụ Cải tạo tư bản miền Nam trước kia và mới đây là vụ Đoàn Văn Vươn, vụ Ecopak, Dương Nội, Đồng Tâm… sẽ rất cần phải được tái hiện đi tái hiện lại. Cần phải nói về nó ngày này sang tháng khác, để không một ai được lơ là với cái ác, mới hy vọng nó không lặp lại.
Công việc này cần nhiều người tham gia, nhưng đặc biệt trao cho các nhà văn.
Tạ Duy Anh
(theo Facebook)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chữ & Nghĩa… thời nay



Tôi thường bị bạn bè ở nước ngoài “phê bình” về lối viết. Họ nói văn tôi viết có đôi lúc khó hiểu vì có nhiều lúc dùng những từ ngữ thời nay. Thế cho nên chuyện Chữ và Nghĩa được bàn đến trong bài viết này.

Tôi không ngụy biện… chỉ biết lấy câu của các cụ ta xưa thường nói: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để “biện minh” cho những lỗi của mình. Người ta thường “đổ thừa” cho môi trường mình đang sống, không tí thì nhiều cũng ảnh hưởng đến lối hành xử và đặc biệt là sinh hoạt văn hóa, văn chương, nghệ thuật.

Thật tình, khi dùng những “ngôn ngữ thời đại” tôi thường để trong ngoặc kép nhưng có những khi, vì sơ suất hay vô tình, nên không dùng hoặc quên đến cách viết an toàn này. Nhất là những khi dòng tư tưởng của mình đang dâng trào và khi viết xong lại không chú ý đến chữ và nghĩa khi đọc lại.


 Tôi lớn lên trong môi trường giáo dục ở miền Nam, trải qua nhiều chế độ chính trị cho đến nay đã hơn 70 năm, cứ tưởng như không bao giờ “mất gốc”. Ấy thế mà nhiều lúc thấy mình bị “lai căng” trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Đó là hiện tượng chính trị ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hóa của từng người.

Ngày Sài Gòn đổi chủ (nói theo bây giờ là “giải phóng”) người miền Nam ngỡ ngàng với các từ ngữ lạ lẫm như “máy bay lên thẳng”, “lính thủy đánh bộ”, “giặc lái”… rồi sau này là những “cụm từ” như “giải phóng mặt bằng”, “gậy tự sướng”, “ăn mặc chỉnh chu”, “chuẩn không cần chỉnh”…

Có một nhà văn đương thời đã phải lên tiếng trước hiện tượng văn chương hiện tại:

“Việt Nam đã bước vào Thế Kỷ 21 với một gia tài học thuật, văn chương phong phú, trác tuyệt do bao thế hệ cha ông để lại từ Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Ngô Gia Văn Phái, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều… rồi cận đại có Hoàng Xuân Hãn, Tự Lực Văn Đoàn, Đặng Thái Mai, Ngô Tất Tố, Đào Trinh Nhất, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương.  Về kinh tế, luật học, chính trị học có Vũ Văn Mẫu, Đoàn Thêm, Nguyễn Cao Hách… và bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo lỗi lạc của Miền Nam… mà lại sản sinh ra một thứ Việt ngữ “đương thời” như thế. Thật chua xót!”


Dĩ nhiên đó là “sự chua xót” mang tính cách cá nhân của một người có thể nói là quá… quan tâm đến chữ Việt “đương thời”. Song cũng có phần nào đúng nếu ta làm một sự so sánh giữa các phương tiện truyền thông ở hải ngoại ngày trước và bây giờ. Tôi muốn so sánh cụ thể hơn về hai đài BBC tại Anh Quốc và VOA tại Hoa Kỳ.

Ngày xưa dân Sài Gòn thường nghe VOA và BBC để theo dõi tình hình thế giới vì tin tức của họ được cập nhật rất nhanh, rất chính xác và rất trung thực. Lớp thính giả ngày nay thuộc lứa “U60, U70” chắc không thể nào quên những xướng ngôn viên quen thuộc như Lê Văn, Đỗ Văn, Xuân Kỳ, Hữu Đại… Họ là những người có giọng nói truyền cảm nhưng quan trọng hơn cả là nội dung tin tức trước khi phát đã được biên tập cẩn thận về cả Chữ lẫn Nghĩa.

Bây giờ thì ngược lại: người nghe hai đài này luôn ở vào tư thế của người phải suy nghĩ về những gì họ nói, và cứ như vậy hàng ngày có một sự so sánh âm thầm giữa Xưa và Nay. Tôi biết một người làm báo ở Việt Nam sau năm 1975 đã sang Anh và anh được BBC tuyển vào hàng ngũ biên tập viên. Anh thuộc thế hệ được đào tạo dưới thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là điểm mấu chốt và tôi xin đưa ra đây một vài thí dụ điển hình.

Trên BBC phần tin tức vào khoảng tháng 1 năm 2013 có tin về bệnh tình của nhạc sỹ Phạm Duy (người có câu hát bất hủ: “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”) có đoạn như sau:

“Nhạc sỹ Phạm Duy có tiền sử bệnh tim và từng qua hai lần giải phẫu tim”. Nếu hiểu “tiền sử” là “pre-history” (tức là thời kỳ con người còn “ăn lông ở lỗ” theo cách hiểu Xưa) thì câu văn này cần sửa lại để tránh hiều lầm: “Nhạc sĩ Phạm Duy đã từng bị bệnh tim và đã qua hai lần giải phẫu.”     

Bạn nghĩ gì về tin trên VOA: “Công dân cao niên Mỹ quan ngại về việc cắt giảm ngân sách”. Tôi thì nghĩ tác giả tiêu đề này dùng chữ quá khó và cũng quá cầu kỳ, nếu không muốn nói là “cầu toàn”. Nói một cách khác, sử dụng những từ ngữ “đao to, búa lớn” trong khi đây chỉ là một nội dung tin bình thường trong cuộc sống hàng ngày.

Tại sao không viết một câu văn đơn giản hơn, chẳng hạn như “Người già ở Mỹ lo sợ việc cắt giảm ngân sách”. Tôi lại nghĩ người viết tin và người kiểm duyệt bản tin này thấy nó quan trọng “trên mức cần thiết” nên mới dùng những “cụm từ” như “công dân cao niên”, “quan ngại”. Đó là bệnh hình thức trong Chữ và Nghĩa ngày nay.


Nói đến VOA không thể nào không nhắc đến nhà văn quá cố Bùi Bảo Trúc, người đã một thời cộng tác với đài này tại Mỹ. Bàn về nền tảng giáo dục giữa hai thời kỳ, trước và sau 1975, ông viết:

“Ngày nay ở các trường học trong nước không dạy những điều như thế [ý nói phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”]. Nghe cách ăn nói, xem cách cư xử, hành động của những thành phần được đặt cho một cái tên (khá mới đối với những người không ở Việt Nam đã lâu) là “trẻ trâu” hay “sửu nhi” thì người ta tin chắc là như thế”.

Cũng vẫn Bùi Bảo Trúc, trong một bài viết có nhan đề “hà nội… chửi” (hoàn toàn không viết hoa) trong cuốn “Thư gửi ban ta… chuyện thật mà như đùa” (2016) đã phải thừa nhận:

“… nhiều người đồng ý rằng làn sóng người từ miền Bắc sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã tạo nên một cú “shock” lớn khi đông đảo những thành phần ấy đem kiểu ăn nói thô tục, chửi thề độc địa ấy vào miền Nam, không một chút hạn chế, không một chút kiêng nể gì hết. Người lớn đã đành, luôn cả tuổi trẻ, thầy cô giáo cũng chửi thề văng tục một cách rất “vô tư” cùng khắp mọi nơi…”


Trích dẫn trên hoàn toàn không mang ý “kỳ thị vùng-miền” vì trước 1975 hai miền Nam – Bắc đã “sống chung hòa bình”. Ngày đó, người ta chấp nhận những từ ngữ có xuất xứ từ hai miền một cách “hồn nhiên” và “vô tư”! Chẳng hạn như “nhặt hộ tôi quả bóng” cũng có giá trị như “lượm dùm qua trái banh”; “xấu hổ” tương đương với “mắc cở” và cả từ cái chuyện nhỏ nhặt như “cục gôm” nếu gọi là “cục tẩy” cũng chẳng ai phản đối.

Cái gọi là “VC language” (theo cách nói của người Việt tại hải ngoại) bao gồm rất nhiều lãnh vực trong cuộc sống hiện nay. Thay vì dùng “phi cơ riêng” của các VIP nay đổi thành “chuyên cơ”; còn “phi công chính”, “phi công phụ” lại là “cơ trưởng”, “cơ phó”. “Phi hành đoàn” chỉ rút lại còn là “tổ lái”, một sự miệt thị đối với những người nắm trong tay hàng trăm sinh mạng của hành khách.

Trong xây dựng, một miếng đất, khu đất hay một diện tích nay được gọi là “mặt bằng”. Từ đó phát sinh ra “cán bộ giải phóng mặt bằng”, “cho thuê mặt bằng”, “tìm mặt bằng để kinh doanh” và thậm chí còn có cả “mặt bằng thù lao” tức là mức lương, có khi còn là mức thưởng cho một dịch vụ được cung cấp!

Một từ ngữ đã khá phổ biến trong giới thực hiện các chương trình giải trí trên truyền hình là… “cặp đôi”, như trong chương trình “Cặp đôi hoàn hảo”. Đã dùng “cặp” (2 cái, 2 chiếc) mà lại còn dùng “đôi” thì quả là thừa. E rằng sẽ có một ngày nào đó, tiếng Việt sẽ được “cải tiến” để trở thành “cặp đôi đũa”, “cặp rượu” biến thành “cặp đôi rượu”.

Lại nói về chuyện “cải tiến” tiếng Việt. Gần đây mạng xã hội lại có lúc đã rộ lên sự phản đối một ông Giáo sư – Tiến sỹ đã có “nhã ý” đơn giản hóa cách viết chữ Việt bằng những ký hiệu thật là “quái gở”. Nếu, một ngày nào đó, những “đề xuất” (đề nghị) của ông được “nhà nước” (chính phủ) “nhất trí” (đồng ý) thì không biết tương lai của Chữ & Nghĩa tiếng Việt sẽ đi về đâu?


Chúng ta không mong chữ Việt ngày một “hoành tráng” nhưng tối thiểu cũng phải là một loại ngôn ngữ được mọi người sử dụng hàng ngày một cách tự nhiên, cả trong cuộc sống lẫn trong văn chương, Chữ & Nghĩa.

Tiếng Việt chỉ cần sự “trong sáng”. Bạn có “nhất trí” với “phát biểu” của chúng tôi không?

N.N.C

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hơn hẳn bọn tư bản rồi nha!

Từ 29/3 phạm nhân được gửi tiền về nhà
Quy định mới cho phép phạm nhân được ăn bữa cơm với gia đình ở trại giam, được gặp vợ (chồng) tại phòng riêng hay gửi tiền về nhà. Thông tư 07/2018 do Bộ Công an ban hành quy định việc phạm nhân thăm gặp thân nhân, gửi, nhận thư, tiền, đồ vật … với người thân có hiệu lực từ ngày 29/3 tới đây cho phép phạm nhân cải tạo tốt được ăn cơm riêng với ba người nhà ở căng tin nơi chấp hành án. Thời gian cho bữa ăn là một tiếng.

Phạm nhân dưới 18 tuổi được gặp thân nhân ba lần mỗi tháng, mỗi lần không quá ba giờ. Người đã có gia đình được gặp vợ, chồng ở phòng riêng nhưng không quá 24 giờ. Phạm nhân nữ phải tránh thai nếu muốn gặp chồng ở phòng riêng

Theo Thông tư, những người được thăm gặp phạm nhân gồm: Ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột, dâu, rể; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột.

Ngoài những người này, ai muốn gặp phạm nhân phải được sự đồng ý của chính quyền nơi cư trú, cơ quan nơi làm việc bằng văn bản.

Mỗi lần thăm, phạm nhân được gặp tối đa ba người. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được gặp thân nhân ba lần mỗi tháng, mỗi lần không quá ba giờ. 

Người có đăng ký kết hôn được phép gặp vợ (chồng) là phạm nhân trong 24 giờ tại phòng riêng. Tuy nhiên, họ phải cam kết quản lý người phạm tội và tránh thai.

Không chỉ gặp trực tiếp người thân, phạm nhân còn được nhận thư và đồ vật của thân nhân gửi qua đường bưu điện hoặc được gọi điện về nhà.

Những điều cấm trong trại giam

Đồ họa: Tiến Thành

Phạm nhân có được tiêu tiền trong trại giam?


Phạm nhân khi mới đến nơi giam giữ chấp hành án phạt tù có tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, đồng hồ, đồ trang sức quý hiếm.. phải niêm phong để gửi vào lưu ký. Phạm nhân chỉ được sử dụng tiền lưu ký này.

Phạm nhân có thể được nhận tiền mặt do người nhà đưa khi tới thăm hoặc qua đường bưu điện. Tiền này cũng được gửi vào lưu ký để phạm nhân mua hàng hóa, gọi điện thoại tại trại giam.

Trong trại giam, phạm nhân còn có tiền thưởng, tiền bồi dưỡng làm thêm giờ, tăng năng suất lao động…Tiền này phạm nhân có thể gửi về cho người nhà hoặc nhận lại khi ra tù nếu chưa tiêu hết.

Bảo Hà
https://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/tu-29-3-pham-nhan-duoc-gui-tien-ve-nha-3726994.html


Tù ở VN: Phạm nhân có tivi màu, báo Nhân dân

Đọc bài này mới biết báo Đảng được dùng làm gì. Xem thêm: Khảo sát việc mua, đọc, sử dụng báo, tạp chí Đảng
Trang bị tivi màu, phát báo Nhân dân cho phạm nhân
23/12/2015 - Từ 27/11/2015, buồng giam có trên 30 phạm nhân được trang bị một tivi màu 29 inch trở lên, 30 phạm nhân được phát một tờ báo Nhân dân. Về chế độ ăn, mỗi phạm nhân được Nhà nước bảo đảm tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng 17 kg gạo tẻ thường; 0,7 kg thịt, 0,8 kg cá; 0,5 kg đường loại trung bình; 1 kg muối; 15 kg rau xanh; 0,75 lít nước mắm... Phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật có thể được tăng thêm 15% so với tiêu chuẩn định lượng này.
Cán bộ trại tạm giam số 1 Công an Hà Nội hướng dẫn phạm nhân tham gia sinh hoạt văn hóa văn nghệ năm 2013. Ảnh: Mạnh Thắng.
Đại tướng Trần Đại Quang - Bộ trưởng Công an vừa ký văn bản hợp nhất về Nghị định quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân. Văn bản này hợp nhất Nghị định 90/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 117/2011.

Về chế độ sinh hoạt đối với phạm nhân, Nghị định 90 ghi rõ, mỗi phân trại trong trại giam, khu giam giữ phạm nhân được trang bị một hệ thống loa truyền thanh, truyền hình cáp nội bộ; mỗi buồng giam tập thể dưới 30 phạm nhân được trang bị một tivi màu từ 21 inch; buồng giam trên 30 phạm nhân được trang bị một tivi màu từ 29 inch; 30 phạm nhân được phát một tờ báo Nhân dân.

Thời gian hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình của phạm nhân được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Công an và Bộ trưởng Quốc phòng.

Chế độ với phạm nhân là người chưa thành niên, Nghị định quy định, chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân chưa thành niên là 3 m2, có ván sàn hoặc giường; phạm nhân phải học chương trình tiểu học, trung học cơ sở vào tất cả các ngày trong tuần; được ưu tiên bố trí học nghề, nâng cao tay nghề theo nguyện vọng...

Về chế độ ăn, mỗi phạm nhân được Nhà nước bảo đảm tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng 17 kg gạo tẻ thường; 0,7 kg thịt, 0,8 kg cá; 0,5 kg đường loại trung bình; 1 kg muối; 15 kg rau xanh; 0,75 lít nước mắm... Phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật có thể được tăng thêm 15% so với tiêu chuẩn định lượng này.

Phạm nhân nữ trong thời gian mang thai, nghỉ sinh con hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ và được tăng thêm định lượng về thịt, cá từ 20% đến 30% so với định lượng quy định; được cấp phát các đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Phạm nhân nữ sinh con trong trại giam được cấp 7 m vải thường để làm tã lót.

Phạm nhân là người nước ngoài được quản lý giam giữ riêng trong trại giam. Các chế độ ăn, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế.... được thực hiện như quy định đối với phạm nhân người Việt. Ngoài ra, còn được nghỉ thêm một ngày Tết cổ truyền dân tộc và một ngày Quốc khánh của nước họ.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 27/11/2015, áp dụng với phạm nhân tại các trại giam, phân trại quản lý phạm nhân trong trại tạm giam, phạm nhân phục vụ tại nhà tạm giữ thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý; các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc tổ chức quản lý phạm nhân và bảo đảm chế độ đối với phạm nhân.

Việt Đức
https://news.zing.vn/trang-bi-tivi-mau-phat-bao-nhan-dan-cho-pham-nhan-post613456.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VN: Từ bất ổn bị kìm nén đến bùng nổ đại loạn ?


  ( TML ):  Đoạn này hay: "Các vấn đề xã hội ở Việt nam đang bị đè nén, do những tiếng nói khác với quan điểm của giới lãnh đạo đều bị dập tắt". Xã hội VN giống như cái lò xo; càng bị kìm nén, sức tàn phá khi bùng nổ sẽ càng lớn. Nguy cơ đại loạn cũng sẽ càng lớn. Tiếc thay cho dải đất tuyệt đẹp này được tổ tiên để lại cho những thế hệ không xứng đáng được thừa kế. Tôi thường nói tài sản của bố mẹ chỉ nên để lại cho những đứa con có hiếu, có ích cho xã hội; kiên quyết không để cho những đứa con lười biếng, chỉ biết ăn chơi và phá hoại. Nếu vô phúc có những đứa con lười biếng, nên đem tài sản hiến tặng xã hội thông qua các tổ chức từ thiện có uy tín. Có lẽ các bác lãnh đạo cũng nghĩ như tôi nên dường như đã định đem tổ quốc Việt Nam hiến tặng... 
Sự bất ổn của xã hội
FB Võ Xuân Sơn - Xã hội Việt nam càng ngày càng bộc lộ sự bất ổn: bạo lực, tai nạn giao thông, cháy nổ, lừa đảo… Có thể nói, hầu hết các lĩnh vực đều không yên ổn, dù chỉ là tạm thời. Dù có nhiều nhà cao, dù có nhiều đường cao tốc, dù có có nhiều xe hơi… đất nước chúng ta vẫn không đẹp hơn, xã hội chúng ta vẫn không đàng hoàng hơn, mà cực kì lộn xộn và bất an, mức độ rủi ro cao, đối với tất cả những người dân. Chỉ có những lãnh đạo là an toàn, kể cả khi họ không thực hiện nhiệm vụ, bòn rút tiền của dân… và có những hành vi, lời nói… gây ra sự bất ổn xã hội.
Image result for Sự bất ổn của xã hội
Việt nam được coi là nơi rất ổn định về chính trị, xã hội, không có những vụ biểu tình, bạo động, khủng bố… Nhưng có thực vậy không? Thực chất, các vấn đề xã hội ở Việt nam đang bị đè nén, do những tiếng nói khác với quan điểm của giới lãnh đạo đều bị dập tắt. Trong khi đó, những thông tin “nhạy cảm” lại không được công khai, ví dụ như vụ Repsol phải ngừng khai thác tại lô 07/03 thuộc mỏ Cá Rồng Đỏ mới đây.

Mặc dù không có khủng bố, bạo động… nhưng có thực là cuộc sống của chúng ta yên ổn không? Những vụ tai nạn giao thông có nhiều người chết liên tục xảy ra, những vụ cháy, nổ với số người chết lên đến hàng chục người cũng không còn là hiếm hoi. Chúng ta luôn vui mừng là số người chết do tai nạn giao thông giảm xuống dưới 10.000, 9.000…/năm. Con số đó có chính xác không? Những người chết do tai nạn giao thông sau khi nhập viện có được tính đến không?

Với một xã hội mà sự yên ổn là giả tạo, các thước đo về mức độ an toàn không chính xác, thì sẽ rất khó kiểm soát được phản ứng của nó.

Bạo lực xã hội đang ở mức rất, rất cao. Chỉ trong 6 ngày Tết Mậu Tuất vừa qua, đã có 4.184 trường hợp đánh nhau phải vào bệnh viện, trong đó có 13 người chết. Cũng chỉ trong mấy ngày Tết vừa qua, có 4 vụ hành hung nhân viên y tế với tính chất nghiêm trọng đã xảy ra.

Mức độ manh động của bạo lực cũng ở mức rất nguy hiểm. Rất nhiều người chết chỉ vì những lí do rất lãng, nhìn thấy ghét: bị giết, hát karaOK to tiếng: bị giết, nghi ngoại tình: bị giết… Có vẻ như việc chém giết là giải pháp được ưa chọn để giải quyết các mâu thuẫn thông thường trong xã hội. Mạng người có vẻ không có nhiều giá trị trong xã hội này.

Các vụ bạo lực nhắm vào nhân viên y tế và các thầy cô giáo cho thấy sự bất ổn trong xã hội hiện nay có liên quan đến sự tha hóa về đạo đức. Trên thực tế, sự tha hóa về đạo đức ở xã hội chúng ta xuất hiện ở mọi tầng lớp. Ở tầng lớp thấp là những kẻ giết người máu lạnh, tàn sát cả gia đình mà không run tay. Ở cấp độ cao hơn, là những ông tướng công an, có nhiệm vụ chống tội phạm, lại trở thành bảo kê cho tội phạm. Cao hơn nữa, là những quan chức tham nhũng, phá hoại hàng ngàn tỉ đồng.

Sự tha hóa về đạo đức còn biểu hiện bằng việc các quan chức nhà nước đã khuấy đục môi trường kinh doanh để kiếm lợi riêng, biến xã hội của chúng ta thành nơi lí tưởng cho những kẻ không từ thủ đoạn nào để trục lợi. Ở mức thấp là các công ty sân sau của các quan chức phụ trách việc kiểm tra, giám sát, cấp phép an toàn như phòng cháy chữa cháy, môi trường… mà chỉ có họ mới có thể bảo đảm doanh nghiệp được cấp phép. Cao hơn nữa là những chiêu trò lũng đoạn chính sách để cướp tiền của dân như việc đặt các trạm thu phí BOT giao thông không đúng chỗ, hoặc lập ra những “quả đấm thép” để tự do trục lợi.

Sự bất ổn của xã hội chúng ta còn biểu hiện dưới sự tháo chạy khỏi đất nước của những người có tiền, những người có khả năng kinh doanh, có khả năng làm giàu cho đất nước. Trong khi không ở đâu trên thế giới này có một không gian văn hóa tương đồng với người Việt nam bằng ở Việt nam, người ta vẫn tìm mọi cách để ra đi. Có phải là do họ mất gốc không? Không hẳn vậy. Xã hội Việt nam đã không còn là nơi an toàn. Họ chấp nhận kiếp sống tha hương, với những khắc khoải nhớ về quê hương, để được coi là con người đúng nghĩa, để được sống đúng nghĩa, chứ không phải những gì họ đang có trong xã hội Việt nam.

So với những năm tháng chiến tranh, đất nước chúng ta đã trở nên to lớn hơn, của cải vật chất nhiều hơn. Nhưng dù có nhiều nhà cao, dù có nhiều đường cao tốc, dù có có nhiều xe hơi… đất nước chúng ta vẫn không đẹp hơn, xã hội chúng ta vẫn không đàng hoàng hơn, mà cực kì lộn xộn và bất an, mức độ rủi ro cao, đối với tất cả những người dân.

Chỉ có những lãnh đạo là an toàn, kể cả khi họ không thực hiện nhiệm vụ, bòn rút tiền của dân… và có những hành vi, lời nói… gây ra sự bất ổn xã hội.

Võ Xuân Sơn
FB Võ Xuân Sơn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Bên Thắng Cuộc' chỉ ra hạn chế của Đổi Mới


Một trong những thiếu sót lớn trong lĩnh vực Việt Nam Học của khoảng một thế hệ qua là không có một ghi chép đầy đủ hoặc thực sự uy tín về hiện tượng lịch sử Đổi Mới (Renovation trong tiếng Anh). Thật đáng tiếc các nhà xuất bản ngoại quốc lại thấy sách quá dài, quá chi tiết nên không muốn cho dịch. Nhưng tôi tin rằng một khi được ra mắt bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, Bên Thắng Cuộc sẽ thay đổi căn bản cách những nhà quan sát Việt Nam ở Tây phương suy nghĩ về giai đoạn quan trọng này trong lịch sử hiện đại của Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Peter Zinoman phát biểu về sách 
Bên Thắng Cuộc ở hội thảo vừa qua tại Mỹ
Dù đây là định hướng chính sách tháo khoán nhờ đảng-nhà nước khởi xướng ở Đại hội Đảng 6 hay tinh thần cải tổ chung trong cả nước cuối thập niên 1980, thì Đổi mới rõ ràng lực đẩy quan trọng trong đời sống trí thức, văn hóa, chính trị, kinh tế Việt Nam trong hơn 30 năm qua.


Tuy nhiên, các học giả nước ngoài quan tâm chủ đề này có xu hướng chỉ tập trung hạn hẹp vào một số góc cạnh Đổi Mới mà lại không xem xét toàn bộ hiện tượng.

Khi các sinh viên hỏi tôi tư liệu về Đổi Mới, tôi thường giới thiệu tác phẩm của Adam Fforde về kinh tế, Carlyle Thayer chính trị, Tường Vũ ý thức hệ, Ben Kerkvliet nông nghiệp, Hy Văn Lương văn hóa làng xã, Pam McElwee chính trị môi trường, Nguyễn Võ Thu Hương quan hệ giới, John Schafer văn học…

Nhưng thật khó tìm ra một bài báo, sách, hay một học giả nào cung cấp tổng quan về Đổi Mới - bao gồm lịch sử về nguồn gốc của nó, diễn trình thay đổi theo thời gian, và ảnh hưởng khác nhau lên các lĩnh vực đời sống người Việt.

Cái nhìn toàn cảnh

Một trong những thành tựu của sách Bên Thắng Cuộc (tác giả Huy Đức) là đem lại ghi chép tốt nhất, ở bất kỳ ngôn ngữ nào, về lịch sử và tầm quan trọng của Đổi Mới. Cuốn sách xem xét kỹ lưỡng cuộc khủng hoảng trong nước đã thúc đẩy đòi hỏi xã hội muốn có những cải tổ sâu rộng trong thập niên sau kết thúc Chiến tranh Đông dương lần hai.

Sách kể lại quá trình tiến hành cải tổ theo kiểu "tiến một bước, lùi hai bước". Sách cũng mô tả các lý do cắt bỏ đột ngột nghị trình cải cách, đặc biệt về văn hóa và chính trị.

Tóm lại, Bên Thắng Cuộc cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về Đổi mới - giúp khám phá và giải thích những thành công và thất bại của nó.

Bên Thắng Cuộc xác định nguồn gốc Đổi mới là trong khủng hoảng tự tạo ra khiến Việt Nam khó khăn trong giai đoạn hậu chiến 1975-1986. Khủng hoảng này gồm bảy thành tố chủ chốt, được Huy Đức viết trong bảy chương:


Giam cầm không qua xử án hàng trăm ngàn người miền Nam trong các trại cải tạo khắc nghiệt sau chiến tranh


Đảng-Nhà nước đàn áp thành phần tư sản miền Nam, đóng cửa, hoặc quốc hữu hóa doanh nghiệp của họ, tịch thu của cải

Trừng phạt dân số gốc Hoa. Ban đầu chính sách này chỉ là một phần của cuộc tấn công tư sản miền Nam, nhưng sau nó phát động lên thành một phần chiến dịch riêng loại bỏ "gián điệp" ở Việt Nam trong cuộc chiến biên giới chống Trung Quốc

Quân đội Việt Nam tiến vào và chiếm đóng Campuchia từ 1978

Hàng trăm ngàn người chạy trốn qua đường biển, trên bộ vào cuối 1970, đầu 1980, hy vọng thoát khỏi sự cai trị của người cộng sản và định cư ở nước ngoài

Nỗ lực chính thức của chính phủ nhằm chuyển hóa miền Nam thông qua xóa bỏ văn hóa "suy đồi". Các biện pháp gồm đốt sách, cấm "tác giả phản động", kiểm soát việc mặc gì, thời trang, kiểu tóc, kiểm duyệt khắt khe về nghệ thuật, ưu tiên cho con em người lao động và cách mạng, phân biệt các gia đình từng làm cho chính thể cũ
Miền Bắc chiến thắng áp đặt hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa kém cỏi lên miền Nam bị đánh bại


Thẳng thắn

Một trong những điều phi thường về Bên Thắng Cuộc là sự thẳng thắn đáng ngạc nhiên trong các phần này của sách, nhất là khi ta biết sách là của một nhà báo sống trong nước. Huy Đức mô tả các viên chức cộng sản nói dối thản nhiên và liên tục về thời hạn cải tạo. Ông mô tả các thành viên gia đình được khuyến khích khai báo về người thân. Ông liệt kê điều kiện khổ sở trong các trại, và sự đối xử tệ bạc với gia đình người bị giữ. Ông mô tả làn sóng chống tư sản, chống người Hoa là chiến dịch tham lam của ăn cướp, bóp nặn, cưỡng ép ra đi.

Phần viết về cuộc xâm phạm Campuchia nhấn mạnh sự trớ trêu trong quan hệ lịch sử gần gũi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Pol Pot. Mô tả về làn sóng ra đi sau 1975 bộc lộ vai trò của giới an ninh địa phương thoái hóa khi họ tạo điều kiện và kiếm lời từ đợt chạy trốn. Ông cũng không ngần ngại mô tả việc "Bắc hóa" tai hại trong kinh tế miền Nam, là một chiến dịch xuất phát từ kiêu ngạo, ngu dốt và bám vào ý thức hệ.

Huy Đức trách Lê Duẩn về việc "Bắc hóa" nhưng ông cũng ngụ ý về vai trò Hồ Chí Minh khi đặt cạnh nhau phần nói về chính sách (chương 8) với đoạn về "Con đường của Bác".

Trong "Con đường của Bác", Huy Đức mô tả Hồ Chí Minh ủng hộ tập thể hóa kinh tế miền Bắc giai đoạn 1950 - trong đó có cuộc Cải cách Ruộng đất 1953-56 tai tiếng, tấn công tư sản miền Bắc là tiền đề cho tấn công tư sản miền Nam sau 1975.

Ở đây, Huy Đức vượt khỏi cách giải thích ngày càng phổ biến về chính trị cộng sản Việt Nam giai đoạn 1950, 60 xem Lê Duẩn quá khích khác Hồ Chí Minh trung dung (một cách nghĩ được phim tài liệu mới đây của Ken Burns áp dụng).

Huy Đức không phải là cây bút đầu tiên trong nước nhắc đến những phần tiêu cực này trong lịch sử hậu chiến Việt Nam. Nhưng đáng kinh ngạc là cách ông từ bỏ bút pháp quen thuộc của giới cầm bút trong nước (dùng uyển ngữ, nói tránh nói giảm).

Điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây là ghi chép của Huy Đức về khủng hoảng hậu chiến thật quan trọng không chỉ vì sự bộc trực, không úp mở mà còn vì cách nó giúp giải thích sự xuất hiện của chính sách Đổi mới giữa thập niên 1980.

Giống như phần mô tả về khủng hoảng dẫn tới Đổi mới, phần viết về quá trình cải cách của Huy Đức cũng bao gồm nhiều yếu tố phức tạp.

Tường thuật các thử nghiệm về làm ăn tư nhân không được trên cho phép - thường gọi là phá rào - ở nhiều địa phương cuối 1970, tạo ra tăng trưởng và năng động trái ngược với trì trệ và thiếu hiệu quả của kinh tế xã hội chủ nghĩa

Mô tả các lãnh đạo đảng bắt đầu ủng hộ các thử nghiệm tại Đại hội Đảng lần 6

Tường thuật Việt Nam rút quân khỏi Campuchia nhằm tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn giúp Việt Nam mở rộng và củng cố cải tổ kinh tế

Mô tả nỗ lực thành công phần nào trong cuối thập niên 1980 mở rộng tinh thần cải cách kinh tế sang lĩnh vực trí thức và văn hóa, thông qua giải phóng cho truyền thông và giảm kiểm duyệt nghệ thuật

Mô tả thất bại của cố gắng mở rộng tinh thần cải tổ sang chính trị thông qua cổ vũ các hình thức đa nguyên và dân chủ đa đảng
Khủng hoảng 1975-1986 cung cấp bối cảnh rộng lớn cho Đổi mới được mô tả trong sách, ngoài ra, Huy Đức cũng chỉ rõ những yếu tố khác tác động việc áp dụng nghị trình cải cách. Một trong đó là môi trường toàn cầu mới có lợi bất ngờ cho cải cách ở Việt Nam. Môi trường này bao gồm giới lãnh đạo đổi mới ở Trung Quốc và Liên Xô, Bức tường Berlin sụp đổ, các đồng minh xã hội chủ nghĩa ngừng viện trợ, các tổ chức đa phương và phi chính phủ sẵn sàng giúp đỡ, và môi trường ngoại giao thay đổi trong Asean, EU và Mỹ.

Truyền thống đổi mới

Một yếu tố nữa là lịch sử lâu dài từ trước của cải cách kinh tế, hoạt động kinh doanh trong dân, đã đem lại truyền thống để từ đó Đổi mới phát triển.

Huy Đức mô tả các thử nghiệm quan trọng của Kim Ngọc với chủ trương "khoán hộ" ở Vĩnh Phú thập niên 1960, việc phá rào ở Long An của Bùi Văn Giao, Bí thư Tỉnh ủy Long An Nguyễn Văn Chính những năm 1970. Ở chương 16, ông kể thêm về sự nghiệp các doanh nhân thành đạt như Bạch Thái Bưởi giai đoạn thực dân, sự bền gan của thương nhân tơ lụa Trịnh Văn Bô trong Chiến tranh Đông dương lần một và những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Những ví dụ này báo trước sự lớn dậy tự phát của doanh nghiệp nhỏ thành công ở miền Nam trước thời Đổi mới, như vá ép áo mưa rách, bơm mực ruột bút bi, tái chế dép nhựa cũ, nấu xà bông. Số liệu ở đây cân đối thú vị với phần về bối cảnh toàn cầu để chứng tỏ năng lượng đổi mới cũng được dựng xây từ nền tảng trong nước trước đó. Nó cũng gợi ý rằng phát triển kinh tế thị trường giai đoạn 1980 có cả việc học lại tư duy đã lãng quên chứ không phải là phát triển những thói quen này từ điểm số không.

Theo Huy Đức, một yếu tố nữa định hình và khuyến khích cải tổ là việc giới trí thức Việt Nam tiếp xúc với các phiên bản quá khích của xã hội cộng sản châu Á từ giữa tới cuối 1970.

Ví dụ, ông cho rằng sau khi Nguyên Ngọc quan sát Campuchia thời hậu Khmer Đỏ bị tàn phá, ông đã đặt câu hỏi căn bản về tính chất của các hệ thống cộng sản: "Tại sao chỉ có các quốc gia cộng sản mới có cách mạng văn hóa và những cánh đồng chết?"

Hay cái nhìn tiêu cực về chủ nghĩa cộng sản của nhà báo đổi mới Kim Hạnh là do sau khi dự "Liên hoan Thanh niên, Sinh viên" tại Bình Nhưỡng trở về năm 1989, bà thấy Bắc Hàn "như một thứ trại tập trung có quy mô toàn quốc".

Huy Đức cũng viết những người miền Bắc chứng kiến sự phồn thịnh vật chất của các đô thị miền Nam sau 1975 đã đặt câu hỏi về tuyên truyền nhà nước xoay quanh đời sống miền Nam. Sự say mê của người Bắc về tủ lạnh, xe máy khiến họ quan tâm đến cách làm của kinh tế tư bản miền Nam. Sự tiếp xúc với miền Nam đã "đánh thức nhu cầu văn hóa của người dân miền Bắc".


Bên Thắng Cuộc cung cấp chi tiết tiểu sử các lãnh đạo Việt Nam

Mới lạ


Với tôi, một phần bất ngờ khi đọc Huy Đức kể về sự trổi dậy của cải cách là vai trò của sinh viên đại học. Trong chương về Đa nguyên, ông kể lại lịch sử hoạt động sinh viên mà ít người biết trong thập niên 1980, khá giống với phong trào sinh viên chống độc đoán lúc đó ở Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Cuối cùng, cách Huy Đức giải thích về sự xuất hiện của Đổi mới tỏ ra chú ý khác lạ về các vai trò phức tạp của nhóm chóp bu trong Đảng. Điều này trái ngược với hầu hết ghi chép về Đổi mới ở phương Tây. Do thiếu dữ liệu về nguồn gốc gia đình, lịch sử nghề nghiệp, tính cách, xu hướng chính trị, triết lý, kết nối xã hội của các thành viên Bộ chính trị, các nghiên cứu cũ thường đặt các lãnh đạo cộng sản vào các nhóm thô sơ mang tính chất cố định, nhị nguyên.

Họ mô tả quan hệ chính trị ở Việt Nam cộng sản là cuộc đấu tranh nhị nguyên giữa các đại biểu của phe "bắc và nam", "quốc gia, quốc tế", "thân Trung, thân Liên Xô", "ủng hộ cải cách, chống cải cách". Sự trái ngược của Bên Thắng Cuộc thật kinh ngạc.

Cuốn sách mô tả thật chi tiết về tính cách, tiểu sử nhiều lãnh đạo cộng sản như Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Tấn Dũng, Phan Văn Khải, Nguyễn Phú Trọng.

Một chương 15 hấp dẫn chỉ nói về các cuộc đấu tranh liên quan đời tư, sự nghiệp và chính trị của Võ Nguyên Giáp.

Chương 14 thì so sánh hệ thống về sự nghiệp, gia đình, phong thái của Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt. Chương 18 lại tìm hiểu quan hệ và cạnh tranh giữa Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Dữ liệu tiểu sử tập thể này cung cấp một phần quan trọng giúp ta hiểu về tiến trình cải tổ vì tính cách và quan hệ đóng vai trò lớn trong hệ thống chính trị khép kín.

Anh hùng rõ rệt trong Bên Thắng Cuộc là nhà cải cách Võ Văn Kiệt, nhưng người ủng hộ bất ngờ Đổi mới lại là Trường Chinh. Ông thay đổi suy nghĩ từ một nhà bảo thủ Marxist-Leninist thành người ủng hộ đổi mới vững chắc là chủ đề chương 10.

Dù đã 80, nhân vật linh động này thành thật nghiên cứu các vấn đề miền Nam và rồi ủng hộ, đề xuất giải pháp đổi mới. Nghiên cứu trước đây xem cải tổ bắt đầu khi Trường Chinh qua đời và Nguyễn Văn Linh lên làm lãnh đạo đảng năm 1986, nhưng Huy Đức ghi nhận đóng góp quyết định của Trường Chinh cho cải tổ.

Mặt khác, một số học giả phương Tây từng xem Nguyễn Văn Linh là thủ lĩnh đổi mới, nhưng ông này, trong sách Huy Đức, là nhân vật dao động và rốt cuộc thành người bảo thủ, đã bỏ lỡ cơ hội thúc đổi mới tiến lên sau tiến bộ ban đầu. Xu hướng hiện nay của Việt Nam - kinh tế thị trường gắn với hệ thống độc đảng không nhân nhượng, lạc hậu - đã củng cố từ thời Nguyễn Văn Linh.


Hạn chế của Đổi Mới

Hạn chế của đổi mới được xem xét trong các chương 12, 13 đánh giá số phận phức tạp của cải cách về tự do trí thức và thúc đẩy dân chủ. Sau khi mô tả sự cởi trói báo chí ngắn ngủi của Nguyễn Văn Linh cuối 1980, chương 12 kể nhiều về sự đàn áp phong trào Nhân văn Giai phẩm thập niên 1950.

Sự bịt miệng phong trào này dường như tương tự câu chuyện Huy Đức kể về việc Nguyên Ngọc mất chức lãnh đạo tạp chí Văn Nghệ cuối thập niên 1980.

Chương 13 bắt đầu với câu chuyện tích cực về giới thiệu bầu cử dân chủ trong trường đại học, nhưng giọng văn tối dần khi Đảng đối diện sự xuất hiện của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan, và sau đó là sự biến mất đột ngột của chính thể cộng sản Đông Âu. Sau khi ghi lại phản ứng lúng túng, lạc lõng của ban lãnh đạo trước tiến trình dân chủ hóa ở Đông Âu, chương này mô tả thăng trầm của những người cổ vũ dân chủ như chính khách Trần Xuân Bách, nhà báo Bùi Tín, và tướng quân đội Trần Độ.

Trong các chương sau đó, những người cải cách rơi vào thế thủ, dính vào bê bối, mâu thuẫn nội bộ, không thể thúc đẩy nghị trình bên ngoài kinh tế. Đánh giá thấp của Huy Đức dành cho những lãnh đạo sau này như Lê Khả Phiêu và Nguyễn Tấn Dũng mang lại không khí bi quan trong các chương cuối. Sau hứa hẹn của cuối thập niên 1980, cải cách tại Việt Nam đã kẹt trong sa lầy của chính trị độc đoán trong nhà nước độc đảng.

Kiến thức từ bên trong ít người sánh bằng của Huy Đức về chính trị cấp cao cho phép ông mô tả các cuộc phiêu lưu cải tổ thời hậu chiến. Cuốn sách nổi trội nhờ chi tiết và sự sâu sắc hơn mọi ghi chép đã có.

Thật đáng tiếc các nhà xuất bản ngoại quốc lại thấy sách quá dài, quá chi tiết nên không muốn cho dịch. Nhưng tôi tin rằng một khi được ra mắt bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, Bên Thắng Cuộc sẽ thay đổi căn bản cách những nhà quan sát Việt Nam ở Tây phương suy nghĩ về giai đoạn quan trọng này trong lịch sử hiện đại của Việt Nam.

Giáo sư Peter Zinoman
Đại học California, Berkeley

* Đây là bài phát biểu trong buổi thảo luận về sách Bên Thắng Cuộc hôm 24/3, tại Hội thảo hàng năm của Hội nghiên cứu châu Á (Association for Asian Studies) ở Washington DC, Mỹ. Đây là hội thảo học thuật lớn nhất về châu Á ở Bắc Mỹ, với hơn 400 nhóm thảo luận các chủ đề, hơn 3.000 người dự.

(BBC)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

10kg thuốc trị bệnh cứu người - 9,1 tấn thuốc độc giết người


>> Việt Nam vượt Trung Quốc dẫn đầu nhóm cô dâu ngoại ở Hàn Quốc
>> Khi công chức lương thấp hơn công nhân
>> 'Záo Zụk' vào đề thi Ngữ văn: Khi nhà trường 'ăn theo' mạng xã hội
>> Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Bệnh ưa thành tích và bệnh giả dối trong giáo dục rất nặng


ĐÀO TUẤN



















LĐO - Liệu con số 1 triệu bệnh nhân ung thư ngày mai và hơn 9.140 kg chất cấm hôm nay có mối liên hệ nào không?

Choáng váng. Sốc nặng. Và thậm chí là tức giận đến mức chửi thề... Đây là những phản ứng của dư luận khi biết con số kinh hoàng về chất cấm salbutamol ở Việt Nam.

Báo chí, dẫn nguồn Cảnh sát môi trường cho biết trong năm 2015 đã có trên 20 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu 9.140kg salbutamol về VN. Trong đó, khoảng 3 tấn đang được lưu giữ trong kho của các doanh nghiệp. Trên 6 tấn đã được bán ra thị trường nhưng chỉ có 10kg được sử dụng đúng quy định!

6 tấn đó đang ở đâu?

Chúng đã được sử dụng để tạo nạc cho khoảng 6 triệu con lợn. Và bây giờ, đang ở đâu đó trong cơ thể chúng ta.

6 triệu con heo, tức là 20% tổng đàn. Còn chúng ta, có nghĩa là có thể là bạn, là tôi, là con cháu chúng ta. Những người sinh ra đã phải “trót là người Việt Nam”.

Tôi nhớ Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát, trong lời tuyên chiến với thực phẩm bẩn đã khẳng định: Sử dụng chất cấm là tội ác.

Tôi nhớ có người đã nói, đại khái, nền nông nghiệp lạc hậu và tư duy tiểu nông của chúng ta đang “đầu độc cả dân tộc”.

Rồi lại có người mắng dân chúng: Phải trở thành người tiêu dùng thông thái!

Và năm ngoái, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Bộ Y tế Nguyễn Thanh Phong từng hùng hồn: "Theo tôi, khái niệm nhiều hay ít ở đây rất vô cùng vì Salbutamol là chất không thể thiếu trong việc điều trị cho người. Nên quan điểm cho rằng 100 tấn mà chưa đủ nhu cầu điều trị cho người vẫn ít. Còn 1 tấn nhưng thừa nhu cầu sẽ là thừa". Ông Phong sau đó mở ngoặc: Ngành dược mới chỉ nhập 3,5 tấn.

Tôi chỉ đơn thuần chép ra đây những phát ngôn không ít hùng hồn, thừa ấn tượng kể trên chỉ bởi hôm qua, TS.BS Trần Bá Thoại - Ủy viên BCH Hội Nội tiết VN cho biết “Việt Nam chỉ cần khoảng 10kg salbutamol để làm thuốc chữa hen phế quản”. Với 9 tấn salbutamol nhập khẩu, BS Thoại nói thẳng: Phần lớn có thể đã được bán cho ngành chăn nuôi.

Tại sao chỉ cần có 10kg salbutamol là đủ nhu cầu làm thuốc nhưng người ta vẫn cho nhập 3,5 tấn, và nhập về đến hơn 9 tấn?

Câu trả lời hết sức rõ ràng: Họ kiếm tiền. Trên nguy cơ phải đánh đổi bằng bệnh tật, thậm chí sinh mệnh của đồng bào mình.

Và nói như Bộ trưởng Cao Đức Phát, họ đang gây tội ác.

Cũng hôm qua, một con số có lẽ là chẳng hề bi quan đã được đưa ra: Việt Nam sẽ có 1 triệu người mắc ung thư vào năm 2020.

Nói không bi quan, là bởi với cung cách quản lý chất cấm và cách thức đầu độc trên diện rộng hiện nay, có lẽ con số 1 triệu ca ung thư sẽ chẳng phải đợi đến 2020.

Ôi, 10kg thuốc trị bệnh cứu người trở thành hơn 9 tấn thuốc độc giết người! Mà lại không ai phải chịu trách nhiệm, thậm chí không ai vào tù thì đúng là tài, quá tài!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vụ án văn nghệ "Toán Xồm"


Nhiều năm qua, những người yêu nhạc vàng ở Hà Nội không lạ gì quán cafe Lộc Vàng, số 17A đường Ven Hồ Tây, phía Thụy Khuê. Nhiều người yêu nhạc xưa và hoài cổ thường lui tới đây để thưởng thức giọng ca đầm ấm của ông chủ quán Nguyễn Văn Lộc với những ca khúc tiền chiến du dương lãng mạn của Đoàn Chuẩn, Văn Cao, Đặng Thế Phong, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng... nhưng ít ai biết ông chủ quán đã từng liên quan đến một vụ án “văn nghệ đồi truỵ.” do Toán Xồm (Phan Thắng Toán) chủ mưu với đồng phạm là một số nghệ sĩ nghiệp dư khác. Vụ án được đem ra xử vào tháng 1 năm 1971. Đây là một vụ án "đặc biệt nghiêm trọng" về văn nghệ, lần đầu tiên được đưa ra xét xử công khai tại Hà Nội.
Các bị cáo của vụ án bị cáo buộc đã tụ tập "thành một ban nhạc nghiệp dư tụ tập chơi nhạc vàng. Khi đi biểu diễn nhạc kiếm tiền ở những đám cưới, các cuộc liên hoan, chúng tìm cách đánh xen kẽ những bản nhạc vàng để truyền bá và thăm dò thị hiếu của lứa tuổi thanh niên. Chúng phân chia nhau đi tìm mua đĩa hát loại nhạc vàng lọt vào được, đi sưu tầm các bài hát và nhạc vàng cổ, ghi chép các bản nhạc giật, nhạc tâm lý chiến của đài Mỹ và đài Sài-gòn. Chúng dùng các bản nhạc này để luyện cho nhau những giọng hát, tiếng đàn thật là bi quan, sầu thảm, lả lướt, lãng mạn để đi truyền bá lôi, kéo thanh niên..." (trích bài báo "Phan Thắng toán và đồng bọn đã bị xét xử", báo Hà Nội Mới, ngày 12/1/1971).
Phiên tòa đã diễn ra 3 ngày để xét xử bọn "gây ảnh hưởng xấu cho phong trào trật tự trị an, phá hoại việc thực hiện một số chính sách của Nhà nước, nhất là chính sách văn hóa, chính sách lao động sản xuất, chính sách nghĩa vụ quân sự... xâm phạm nghiêm trọng đến hạnh phúc, phẩm giá của phụ nữ, đến đạo đức và đời sống của nhiều người và tuyên truyền xuyên tạc lại chế độ XHCN trong lúc cả nước đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược..." (Báo Hà Nội Mới, bài đã dẫn).
Xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, ông Toán Xồm bị tuyên 15 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân, ông Nguyễn Văn Đắc bị 12 năm tù giam, và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân, ông Lộc Vàng bị 10 năm tù giam, và sau đó 4 năm bị tước quyền công dân... Ông Lộc Vàng kể: “Sau khi ra tù thì anh Toán Xồm cũng chẳng còn nhà cửa gì nữa, anh chán đời và tìm vui bên men rượu trên hè phố. Đêm 30 tháng 4 năm 1994, anh chết bên đường…”. Ông Đắc mất năm 2005. Về phần ông Lộc Vàng, sau khi ra tù ông cũng đã sống một cuộc đời bôn ba. Sau khi người vợ qua đời, ông Lộc Vàng dựng quán cafe để ông thỏa chí hát lên cảm xúc đời mình.
Dưới đây xin trích vài câu hỏi và đáp của toà với các "bị cáo" do nhạc sĩ Tô Hải, người đã tham dự phiên tòa năm đó, thuật lại:
Chánh án: -Anh có nhận là đã đánh nhạc của tư sản, là đồi truỵ không?
Toán xồm: -Dạ! Thưa quý toà,con chỉ đánh những gì in trên đĩa của Liên Xô, của Tiệp Khắc, của Cộng Hoà Dân Chủ Đức thôi ạ!
Chánh án: -Anh nói láo! Thế Paloma, Santa Lucia là của ai?
Toán Xồm: -Dạ! Paloma là của nước bạn Cu Ba ạ! Còn Santa Lucia là dân ca Ý ạ! Nhà xuất Bản của nhà nước đã in và sân khấu nhà nước đã có nhiều ca sỹ biểu diễn ạ!
Chánh án: -Vậy anh có biết cha cha cha là cái gì không?
Toán Xồm: -Dạ! Có ạ!! Đây là một nhịp điệu xuất xứ cũng tại nước bạn Cu Ba ạ!
Chánh án: -Thế còn Tango bleu chắc anh cũng đổ cho Cu Ba hết hả?
Toán xồm: -Dạ không! Tango là một điệu nhảy Ác-giăng-tin nhưng đã được quốc tế hoá. Vừa giờ Đoàn xiếc Tiệp Khắc sang ta và các nước XHCN đều xử dụng cả ạ!
Chánh án: -Nhưng người ta đánh khác, còn anh đánh khác. Đừng có ngụy biện!
Toán Xồm: -Dạ! Đánh y hệt ạ! Chỉ có thua họ về nhạc cụ họ tốt hơn... chứ nếu chúng con có đầy đủ nhạc cụ như họ thì chúng con chẳng thua gì họ cả ạ!
Chánh án: -Anh hãy im miệng! Đồ ngoan cố!
Và cứ như vậy, suốt phiên tòa Chánh án chỉ sử dụng câu “Im miệng! Đồ ngoan cố” để cắt lời người bị buộc tội. Không hề có ai bào chữa.
(Ảnh: Ông Lộc Vàng châm thuốc cho ông Toán Xồm - Đôi bạn tri kỷ trong nghịch cảnh. Photo: Nguyễn Đình Toán)
Ad DTT


Phần nhận xét hiển thị trên trang