Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018

Facebook trong cơn chao đảo



Ngày Thứ Tư, 21/03/2018, ông chủ mạng xã hội Facebook, Mark Zuckerberg, chính thức thừa nhận việc Facebook không thông báo đầy đủ cho người sử dụng rằng những thông tin trong hồ sơ cá nhân (personal profile) của họ có thể bị Cambridge Analytica (Anh Quốc) thu thập và lưu giữ.

Trong bản tin cùng ngày của New York Post, tờ báo cho biết Mark Zuckerberg đã“phá vỡ sự yên lặng lâu nay” bằng việc thừa nhận mạng FB đã “xâm phạm đến sự tin tưởng ” (breach of trust) trong việc chuyển giao những thông tin cá nhân của các Facebookers cho một công ty “tư vấn chính trị” Cambridge Analytica trong cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ năm 2016.

Cambridge Analytica bị cáo buộc đã “rình mò” những dữ liệu cá nhân của khoảng 50 triệu Facebookers trong một nỗ lực phục vụ cuộc bầu cử Tổng thống Donald Trump. Ông Trump trở thành Tổng thống Hoa Kỳ là nhờ một phần lớn “công sức” của tờ “The Apprentice” thuộc nhóm “báo in” chứ không phải là “báo mạng”. Thế cho nên mới có “chiến dịch” nhắm vào Internet.

Ông “Trùm” Mark Zuckerberg (năm 2018 chỉ mới 33 tuổi)

Cũng trong ngày 21/3/2018, Zuckerberg đã thừa nhận trên trang cá nhân của mình rằng FB “đã phạm sai lầm” và hứa sẽ không để xảy ra một “tai họa” tương tự trong tương lai. Biện pháp trước mắt là FB sẽ kiểm soát lại hàng ngàn những ứng dụng (apps) hiện có, đồng thời tìm các biện pháp “chế ngự” việc tiếp cận các nguồn dữ liệu của người sử dụng.

Facebook hiện đang “triệt để giới hạn” việc tiếp cận các tài khoản cá nhân ngay từ bước đầu. Những người truy cập một tài khoản trên FB chỉ có thể biết tên người sử dụng, hình ảnh đại diện và địa chỉ email. FB còn tạo cho các Facebookers việc chọn lựa những ứng dụng để ngăn chặn bớt việc thâm nhập quá chi tiết. Các chuyên viên về “an ninh mạng” đưa ra lời khuyên cho người sử dụng:

(1) Hãy tắt các ứng dụng (apps) của FB để chặn đường truy cập của “người thứ ba”, ngoại trừ chủ tài khoản và FB. Để làm được đều này, trên phía bên trái có dấu chấm hỏi, bấm vào đấy sẽ thấy hiện ra nhiều chọn lựa. Bấm vào “Setting”, chọn “Edit” rồi chọn “Apps, Web sites and Plug-ins”. Cuối cùng, chọn “Disable Platform”.

(2) Kiểm tra thường xuyên tài khoản của mình vì FB thay đổi “privacy settings” (chọn lựa sự riêng tư) rất thường xuyên. Làm được diều này cũng tựa như “kiểm tra đồng hồ và pin” trong thiết bị phát hiện khói để ngăn ngừa hỏa hoạn.

(3) Thường xuyên thay đổi “mật khẩu” (password) cũng tựa như việc… đánh răng hàng ngày. Mật khẩu phải là những con số và ký tự (viết thường và viết hoa) càng “không giống ai” càng an toàn.

Không một Facebooker nào lại thích hình ảnh “dislike” này!

Zuckerberg trấn an các Facebookers: “Chúng tôi có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu của bạn, và nếu chúng tôi không làm được điều đó, chúng tôi không xứng đáng để phục vụ các bạn” (We have a responsibility to protect your data, and if we can’t then we don’t deserve to serve you).

Về mặt kinh doanh, cơn “chao đảo” vào tháng 3/2018 đã kéo cổ phiếu của FB giảm 6,2%, có lúc xuống đến 11%. Tính ra FB mất đến 60 tỷ USD so với giá trị vốn ban đầu! Thậm chí đã có lúc nhà đầu tư công nghệ, Jason Calacanis, khuyên Zuckerberg nên từ chức để Sheryl Sandberg lên thay.

Đó là “chuyện lớn”  nơi xứ người khi FB phải đối diện với “một cuộc khủng hoảng thực sự” và tình hình được mô tả là "hết sức nghiêm trọng". Tại Việt Nam, cơn chao đảo đó hầu như không ảnh hưởng gì đến các Facebookers. Thế nhưng, những ngày gần đây đã xảy ra hiện tượng được share “rộng rãi” trong giới nghiện FB tại Việt Nam. Đó là trào lưu được bình luận rôm rả mang tên “BFF”. Người ta bảo:

"Hãy bình luận (comment) bằng cách viết chữ "BFF" xuống bên dưới một bài viết. Nếu chữ màu xanh thì Facebook của bạn đã được bảo vệ. Nếu chữ màu đen tức Facebook của bạn đã bị ai đó theo dõi hoặc bị “hack”.Hãy đổi mật khẩu ngay".

Đúng là khi viết "BFF" thì dòng chữ này vẫn là màu đen hoặc có thể đổi màu xanh kèm theo hiệu ứng vỗ tay trên màn hình. Tuy nhiên, đó không phải công cụ mà nhà sáng lập FB tạo ra nhằm kiểm tra mức độ an toàn của tài khoản như thông tin lan truyền.

Theo Celebritiesbuzz, thực chất "BFF" là viết tắt của "Best Friend Forever" (Mãi mãi là bạn tốt nhất) hoặc cũng có thể lấy các chữ cái đầu của "Best Friend on Facebook"(Bạn tốt nhất trên Facebook).

Facebook nhận dạng chữ “BFF” để đổi sang màu xanh và thêm hiệu ứng để tạo thành một biểu tượng về tình bạn. Cũng như trước đó, khi bình luận có chữ “Congrats” hoặc “Chúc mừng” sẽ tạo ra hiệu ứng màu đỏ kèm thêm bong bóng nổ để… chúc mừng.

Lý do có người bình luận hiện chữ màu đen và có người ra chữ màu xanh là vì thuật toán của Facebook không được cập nhật đồng thời. Chính vì điều này mà không ít thành viên mạng xã hội đã tin vào thông tin lan truyền, nghĩ rằng tài khoản của mình bị theo dõi hay bị hack khi chữ "BFF" có màu đen trong khi những người khác là màu xanh.

Không riêng tại Việt Nam, mà “chiêu lừa” còn lan truyền mạnh tại nhiều quốc gia trên thế giới, thu hút hàng chục nghìn người. "Điểm mấu chốt đây là một trò lừa bịp. Xin vui lòng không chia sẻ hoặc tham gia bình luận", trang Celebritiesbuzz viết.

“Chiêu lừa” mới trên FB

Trước khi chấm dứt câu chuyện về Facebook, người viết bài này xin đặt một câu hỏi vui như sau. “Bạn có biết FB hiện có bao nhiêu tài khoản “vô chủ”… vì chủ của tài khoản đó đã qua đời?”.

Xin trả lời là đã có 30 triệu tài khoản mà chủ nhân của nó đã lìa đời. Câu hỏi này không những là câu hỏi vui mà là, nói dại, có hay không một ngày nào đó tất cả tài khoản hiện nay của chúng ta đều… biến mất?

Đó là ngày FB, nếu không vượt qua được cơn “chao đảo” đến nỗi phải… đóng cửa. Cũng giống như mạng Blog Multiply ngày nào mà một số bạn phải chạy sang FB để… “tỵ nạn”. Không ai muốn một trường hợp Multiply thứ hai lại xảy ra trong tương lai.

Keep on doing, Facebook!    


***

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam phải làm gì tại ngã ba đường


Nguyễn Quang Dy 

- Sau nhiều thập kỷ bị lôi cuốn vào chiến tranh cách mạng liên miên, Việt Nam đến nay vẫn lẩn quẩn tại ngã ba đường ý thức hệ, trong khi trật tự thế giới đã thay đổi. Sau mấy thập kỷ cải cách kinh tế, Việt Nam vẫn tụt hậu so với các nước láng giềng. Trong khi những động lực đổi mới kinh tế đã hết đà, Việt Nam vẫn chưa cải tổ thể chế để tạo ra những động lực mới. Lợi ích nhóm và lỗi hệ thống đang làm triệt tiêu thành quả cải cách và cản trở xu thế đổi mới. Nhưng nếu không cải tổ thể chế kịp thời để tháo gỡ nút thắt chính, mọi cố gắng cải cách kinh tế và chống tham nhũng có thể là “quá ít và quá muộn” (too little too late).
Image result for Việt Nam vẫn tụt hậu

Nhìn lại chính sách Trung Quốc

Người ta đã nói nhiều về hiện tượng Trung Quốc trỗi dậy như người khổng lồ tỉnh giấc hay quái vật “Frankenstein” (lời Richard Nixon) đang muốn thay đổi trật tự thế giới cũ (do Mỹ cầm đầu). Người ta cũng bàn nhiều về nguyên nhân Trung Quốc trỗi dậy gây bất ổn như hiện nay, không chỉ do nội lực Trung Quốc mà còn do chính sách Trung quốc của Mỹ đã nuôi dưỡng và cổ vũ nó lớn mạnh, để nay trở thành “mối đe dọa lớn nhất” đối với Mỹ (nhận định của NDS). Không chỉ ông Henry Kissinger (là kiến trúc sư của chính sách Trung Quốc) mà cả một thế hệ các chính khách và học giả Mỹ đã chủ trương “can dự xây dựng” (constructive engagement) với Trung Quốc suốt mấy thập kỷ, cho đến gần đây mới bắt đầu tỉnh ngộ.

Theo Michael Pillsbury (một chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc),“Từ mấy thập kỷ nay, chính phủ Mỹ đã thoải mái trao cho Trung Quốc thông tin nhạy cảm, công nghệ, kinh nghiệm quân sự, thông tin tình báo, và tư vấn chuyên môn. Thật vậy, có quá nhiều thứ đã được trao trong thời gian quá lâu… nên không thể tính toán đầy đủ. Và những gì chúng ta không cho thì người Trung Quốc đã lấy trộm”... Pillsbury từng tin rằng “Viện trợ Mỹ cho Trung Quốc yếu đuối mà lãnh đạo của họ cũng suy nghĩ như chúng ta, sẽ giúp Trung Quốc trở thành một cường quốc dân chủ và hòa bình, không có tham vọng…” Nhưng nay Pillsbury coi sai lầm này của Mỹ là “một thất bại về tình báo nguy hiểm và quan trọng nhất có tính hệ thống trong lịch sử nước Mỹ”. (The Hundred Year Marathon, Michael Pillsbury, MacMillan, 2015).

Tuy Mỹ không muốn thấy một Trung Quốc như vậy, nhưng người Mỹ đã vô hình trung góp phần quan trọng tạo ra con quái vật Frankenstein. Người ta có thể lý giải hiện tượng đó bằng “hệ quả không định trước” (unintended consequence), nhưng không thể phủ nhận sự thật là người Mỹ đã ngộ nhận và nhầm lẫn về người Trung Quốc, mặc dù Mỹ có nhiều viện nghiên cứu (think tanks) đẳng cấp thế giới. Người Mỹ không hẳn bị người Trung Quốc lừa gạt, mà chính người Mỹ đã tự lừa gạt mình. Có những nghịch lý và ngộ nhận làm nhiều người Mỹ “vô minh” vì tầm nhìn của họ bị che khuất (blind vision). Một số người tỉnh táo nhận ra nguy cơ và cảnh báo, nhưng đáng tiếc chính quyền không lắng nghe họ. Khi John Kennedy muốn đưa quân vào Việt Nam để can thiệp, George Ball (thứ trưởng ngoại giao) đã can ngăn và cảnh báo, nhưng họ không lắng nghe, nên đã mù quáng tham chiến, dẫn đến thảm họa.

Năm 1965, Mỹ đổ bộ quân vào Đà Nẵng để đánh Việt Cộng và ngăn chặn Trung Quốc (theo “thuyết Domino”). Sau hơn năm thập kỷ, tàu sân bay USS Carl Vinson đến Đà Nẵng không phải để đánh Việt Cộng, mà để ngăn chặn Trung Quốc. Kẻ thù và đồng minh thay đổi, nhưng lợi ích quốc gia không thay đổi. Việt Nam mời Trump đến họp cấp cao APEC Đà Nẵng và thăm Việt Nam, cũng như đón USS Carl Vinson là để răn đe Trung Quốc. Lịch sử là một trò chơi dễ làm những ai vô minh bị ngộ nhận. Muốn điều chỉnh chiến lược và có tầm nhìn mới, phải điều chỉnh hệ quy chiếu và hệ điều hành. Thật là vô lý khi hai đối tác (hay đối thủ) trong một ván cờ được vận hành bởi hệ quy chiếu và hệ điều hành khác hẳn nhau.

Trong khi người Trung Quốc tư duy chiến lược theo binh pháp Tôn Tử thì chắc người Mỹ tư duy chiến lược theo binh pháp của Clausewitz, mà McNamara và các đồng sự là học trò xuất sắc (nhưng đã thất bại ở Việt Nam). Có những nghịch lý và bất cập làm người ta ngộ nhận về đối phương, nhầm lẫn về mục đích và phương tiện (như trong chiến tranh Việt Nam). Đó là “một cuộc chiến sai lầm, chống một kẻ thù sai, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, vì những mục đích sai” (a wrong war against a wrong enemy, in a wrong place, at a wrong time, for wrong purposes). Mỹ đã lặp lại sai lầm đó tại Iraq và Afganistan…

Mỹ điều chỉnh chiến lược

Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng nhất tại Biển Đông và là tâm điểm trong chiến lược quốc phòng mới của Mỹ (NDS). Biên giới phía Bắc Việt Nam giáp Trung Quốc và toàn bộ bờ biển tiếp giáp Biển Đông. Nhưng quan trọng hơn cả vị trí địa lý là vì tinh thần dân tộc của người Việt Nam trong suốt lịch sử lâu dài chống ngoại xâm vì độc lập và chủ quyền đất nước. Nhưng chính vị trí địa chính trị đã làm Việt Nam mắc kẹt giữa các cường quốc, buộc phải đu dây để cân bằng quan hệ giữa các nước lớn. Trung Quốc gây sức ép càng mạnh thì Việt Nam càng xích lại gần Mỹ để “tái cân bằng” (rebalance) và để “tìm đối trọng” (hedging).

Gần đây, quan hệ “đối tác toàn diện” Viêt-Mỹ có xu hướng trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” (như với Nga, với Trung Quốc, với Nhật, với Ấn Độ…). Tuy Trung Quốc không muốn Việt Nam xích lại quá gần Mỹ, và Việt Nam cũng không muốn làm mất lòng người láng giềng khổng lồ (vì phụ thuộc quá nhiều vào họ), nhưng xu hướng “thoát Trung” ngày càng mạnh trong dân chúng và chính quyền. Tuy nhiên, có một thực tế là trong khi dân chúng dù muốn “thoát Trung” thì kinh tế và chính trị Việt Nam vẫn lệ thuộc vào Trung Quốc.

Hơn bốn thập kỷ sau chiến tranh, quan hệ Viêt-Mỹ vẫn còn phức tạp. Tâm trạng người Việt đối với Mỹ là “vừa yêu vừa ghét” (love-hate) tuy nay “yêu nhiều hơn ghét”. Trong khi đó tâm trạng người Việt đối với Trung Quốc là “ghét nhiều hơn yêu” (do nhiều lý do về lịch sử và văn hóa). Tâm trạng chống Mỹ và “chống diễn biến hòa bình” tuy còn khá nặng, nhưng chủ yếu là trong tuyên truyền của chính quyền. Trên thực tế, ngày càng nhiều người Việt thích Mỹ (như cho con đi học Mỹ hay định cư tại Mỹ) kể cả các quan chức “chống Mỹ”.

Ngoài ra, tâm trạng sợ Mỹ bỏ rơi vẫn còn ám ảnh giới cầm quyền vì lo ngại Mỹ-Trung có thể “đi đêm” thỏa hiệp sau lưng (như sợ Trump đánh đổi lợi ích tại Biển Đông lấy lợi ích tại Bắc Triều Tiên). Tuy một số chuyên gia cho rằng khả năng Việt Nam bị Mỹ bỏ rơi là rất thấp vì bối cảnh hiện nay khác trước, nhưng tâm trạng bất an và lo ngại vẫn là một rào cản tâm lý khi hai nước cần nâng cấp quan hệ lên “đối tác chiến lược toàn diện”.

Người ta cho rằng Peter Navarro có vai trò quan trọng đằng sau quyết định của Trump tăng thuế thép (25%) và nhôm (10%) chủ yếu nhắm vào Trung Quốc, bất chấp phản đối của nhiều người, trong đó có cố vấn chủ chốt của Trump về kinh tế là Gary Cohn (vừa từ chức). Navarro là cố vấn chủ chốt của Trump về thương mại, có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, và là tác giả cuốn sách “Chết do Trung Quốc” (Death by China, Peter Navarro, Prentice Hall, 2011). Gần đây, Peter Navarro được Trump sủng ái nâng cấp cao hơn vì hợp với Tổng thống. Navarro đã thuyết phục được Trump đánh thuế cao và áp dụng một số chế tài chống Trung Quốc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, ép các công ty Mỹ chuyển giao công nghệ cho các đối tác Trung Quốc, và ngăn chặn các công ty Trung Quốc mua lại các công ty của Mỹ. Đối với Việt Nam, quyết định tăng thuế tuy bất lợi về thương mại nhưng có lợi về chiến lược.

Nhiều người lo ngại quyết định của Trump thay ngoại trưởng Rex Tillerson bằng Mike Pompeo (cựu giám đốc CIA) có thể ảnh hưởng tới chính sách của Mỹ tại Biển Đông. Đúng là Tillerson có kinh nghiệm đối phó với Trung Quốc (và Nga), có quan điểm cứng rắn tại Biển Đông, liên quan đến lợi ích dầu khí của ExxonMobil (như dự án Cá Voi Xanh). Nhưng vai trò ngoại trưởng của Tillerson (và Bộ Ngoại Giao) trong chính quyền Trump khá yếu (gần như bị vô hiệu hóa). Có nhiều lý do, nhưng chủ yếu vì Tillerson không hợp với Trump, nên vai trò yếu hơn so với bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis. Đó là một đặc điểm của chính quyền Trump mà một số chính khách (như thủ tướng Nhật Abe) đã nắm bắt và vận dụng hiệu quả.

Tuy Jim Mattis (và Bộ Quốc phòng) có vai trò lớn hơn, nhưng tới đây vai trò của ngoại trưởng Mike Pompeo (và Bộ Ngoại Giao) chắc sẽ tăng lên. Chính quyền Trump nay đã công bố NDS và tầm nhìn Indo-Pacific, nên muốn triển khai chiến lược mới tất nhiên cần đến vai trò của Bộ Ngoại Giao. Về vấn đề Triều Tiên, nếu khả năng đàm phán trực tiếp Mỹ-Triều trở thành hiện thực, và vai trò Nam Hàn tăng lên, thì vai trò Trung Quốc chắc sẽ giảm đi, nên thái độ của Mỹ tại Biển Đông có thể cứng rắn hơn. Những căng thẳng và nguy hiểm vì đe dọa hạt nhân của Bắc Triều Tiên giống trò chơi “bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanship) hay một ván cờ “gambit”. Nhưng ai đã từng nghiên cứu về chiến tranh hạt nhân chắc đều hiểu những hạn chế và quy luật của nó, nhất là sau vụ khủng hoảng tên lửa Cuba (10/1962).

Khi những nghịch lý và ngộ nhận về Bắc Triều Tiên dần được giải mã, chắc người ta sẽ thấy đàm phán Mỹ-Triều là kết cục tất yếu để tìm một giải pháp nhằm tháo gỡ bế tắc hiện nay, sau khi các bên đã xuất những con bài cuối cùng trước khi ngã giá (nếu không muốn “già néo đứt dây”). Bị ám ảnh bởi cơn ác mộng Bắc Triều Tiên nên nhiều người khó hình dung một ngày nào đó Donald Trump (the “stable genius”) sẽ trực tiếp gặp Kim Jong-un (the “little rocket man”). Phát ngôn gây sốc của Trump tuy đầy kịch tính, nhưng sớm muộn rồi Washington cũng phải đàm phán với Bình Nhưỡng. Tuy vấn đề Triều Tiên vẫn còn nan giải, nhưng Biển Đông là thùng thuốc súng còn nguy hiểm hơn bán đảo Triều Tiên hay biển Đông Hải, vì Biển Đông mới là tâm điểm của ván cờ sinh tử Mỹ-Trung trong thế kỷ 21 này.

Tư tưởng Tập Cận Bình

Tại Đại hội Đảng lần thứ 19 “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới” đã được xác quyết và ghi vào điều lệ Đảng. Đó là một cột mốc lớn trong lịch sử để Trung Quốc bước vào “kỷ nguyên mới”, nhằm thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” bằng chiến lược “Một vành đai, Một con đường” với những đại dự án có quy mô còn lớn hơn cả Kế hoạch Marshall của Mỹ trước đây. Trong bối cảnh nước Mỹ lâm vào khủng hoảng chính trị bởi hiện tượng Trumpism (ít nhất trong ba năm tới), Trung Quốc chắc sẽ nắm bắt cơ hội trời cho này để quyết tâm vượt Mỹ, tranh giành vai trò lãnh đạo thế giới.

Người Trung Quốc coi trọng lịch sử, không phải chỉ vì tự hào mà còn muốn lợi dụng lịch sử làm bệ đỡ để “trở về tương lai” (back to the future). Tập Cận Bình cũng muốn làm “Trung Quốc vĩ đại trở lại” (chẳng khác gì Trump). Nhưng điều trớ trêu là những gì mà ông Trump đang làm để giúp “nước Mỹ vĩ đại trở lại” (America great again) thì hóa ra chỉ làm lợi cho Trung Quốc vĩ đại trở lại (China great again). Chỉ mấy tháng sau Đại hội 19, Quốc hội Trung Quốc đã sửa đổi Hiến pháp (11/3/2018), bỏ điều khoản hạn chế Chủ tịch nước Trung Quốc không được làm quá hai nhiệm kỳ, đi ngược lại với xu hướng dân chủ hóa trên thế giới.

Điều đó khẳng định xu hướng độc tài theo “chủ nghĩa tân độc đoán” (Neo-authoritarianism) mà Vương Hỗ Ninh đề xướng, nay tái sinh thành “chủ nghĩa tân bảo thủ” (Neo-conservatism), đã trở thành tư tưởng chủ lưu của Trung Quốc. Trong lịch sử, hiện tượng “cách mạng thụt lùi” đã từng xảy ra tại Iran (năm 1978), nay đang diễn ra tại Trung Quốc. Hai sự kiên đó tuy khác nhau về hình thức (tôn giáo) nhưng giống nhau về bản chất (cực đoan). Sau khi Tập Cận Bình quyết thay đổi luật chơi (quốc gia) do Đặng Tiểu Bình đặt ra để trở thành nhà độc tài (như “hoàng đế Trung Hoa”), chắc Tập cũng sẽ quyết thay đổi luật chơi (quốc tế).

Trong trò chơi quyền lực mới (new “game of thrones”) giữa con đại bàng Mỹ (đang suy yếu) và con rồng Trung Quốc (đang trỗi dậy) liệu họ có bị sa vào bẫy Thucydides (như Graham Allison suy đoán)? Chiến tranh không nhất thiết xảy ra nếu Trung Quốc “không đánh mà thắng”. Những gì diễn ra tại Biển Đông trong mấy năm qua cho thấy Trung Quốc hầu như đã thắng hiệp đầu mà không cần đánh, vì họ vận dụng “Tam chủng chiến pháp” (three warfare doctrine) như một kiểu “chiến tranh không thông thường” (unconventional warfare). Đó là cuộc đấu trí và đấu lực trong “vùng xám” (grey zones) mà Trung Quốc có lợi thế, bằng cách “thay đổi thực địa” (changing facts on the ground) như “tầm ăn dâu”, để biến thành “chuyện đã rồi” (fait accompli) mà không gây ra xung đột trực tiếp với Mỹ. Tóm lại, Trung Quốc đã ứng dụng linh hoạt binh pháp Tôn Tử (không đánh mà thắng) như cách đánh “cờ vây” (“Wei Qi” game).

Nếu muốn lý giải “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”, có lẽ phải hiểu tư duy chiến lược của Vương Hỗ Ninh (Wang Huning). Vương là tác giả của ba chủ thuyết gần đây của Trung Quốc: “thuyết ba đại diện” (thời Giang Trạch Dân), “quan điểm phát triển khoa học” (thời Hồ Cẩm Đào), “giấc mộng Trung Hoa” và “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” (thời Tập Cận Bình). Nếu muốn lý giải những diễn biến trong cải cách kinh tế của Trung Quốc gần đây (và sắp tới), phải hiểu tư duy kinh tế của Lưu Hạc (Liu He). Việc đưa Vương Hỗ Nình vào thường vụ BCT và Lưu Hạc vào BCT càng khẳng định vai trò của hai bộ óc chiến lược đang cố vấn chính sách cho Tập Cận Bình.

Tuy tư duy về phát triển của Vương Hỗ Ninh đã phát huy tác dụng trong giai đoạn phát triển “hậu Thiên An Môn” nhưng không có gì đảm bảo tư tưởng của Vương Hỗ Ninh và chính sách của Lưu Hạc sẽ thành công trong giai đoạn tới (còn nhiều ẩn số). Những người theo “chủ nghĩa Tân Độc đoán” lập luận rằng ổn định chính trị sẽ cung cấp cấu trúc cho phát triển kinh tế, rằng “không có trật tự xã hội thì không thể có tự do và dân chủ”. Theo Vương Hỗ Ninh, “sự thống nhất của ban lãnh đạo là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của đất nước”, còn dân chủ và tự do cá nhân “sẽ đến muộn hơn khi hội đủ các điều kiện thích hợp”.

Giai đoạn phát triển kinh tế “Hậu Thiên An Môn” với mô hình phát triển mà David Shambaugh gọi là “authoritarian resilience” được người Mỹ đánh giá cao và ủng hộ, nay đã qua rồi. Những yếu tố thuận lợi ban đầu đã hết, nay bài toán phát triển kinh tế Trung Quốc khó khăn hơn nhiều. Tuy Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ và giàu có về vật chất, nhưng tinh thần còn lạc hậu. Dòng người và dòng tiền từ Trung Quốc tiếp tục chảy ra ngoài (tới Mỹ và phương Tây). Đó là hệ quả của nghịch lý phát triển nóng không đồng bộ. Tuy chưa ai có thể dự báo được chắc chắn về tương lai của Trung Quốc, nhưng theo David Shambaugh Tập Cận Bình càng cố gắng làm khác Gorbachew thì kết cục Trung Quốc càng nhanh giống Liên Xô.

Sự phát triển của Trung Quốc tuy thần kỳ nhưng ẩn chứa nhiều nghịch lý (như gót chân A-sin). Tập Cận Bình không chỉ muốn làm khác Gorbachew mà còn làm khác Đặng Tiểu Bình (cả về đối nội và đối ngoại). Trong khi Đặng chấm dứt nền độc tài kiểu Mao, thì nay Tập quay lại với nền độc tài kiểu Mao để “tái tạo Trung Quốc” (Rejuvenation of the Chinese Nation). Về kinh tế, Tập muốn dựa vào doanh nghiệp nhà nước chứ không dựa vào tư nhân. Nếu những năm đầu thập niên 1990, phương Tây lo ngại Nhật “mua cả thế giới” thì nay Trung Quốc đang “mua cả thế giới”. Tập còn muốn “Tàu hóa” cả thế giới (cinicization of the world) và thay đổi trật tự thế giới theo ý mình, lấy Trung Quốc làm trung tâm (để thay thế Mỹ).

Mấy thập kỷ qua, phương Tây đã ảo tưởng tin rằng Trung Quốc giàu có thì sẽ dân chủ hóa, nên đã hỗ trợ và giang tay chào đón Trung Quốc hòa nhập vào cộng đồng thế giới (vào WTO năm 2001). Người Mỹ, người Nhật và Tây Âu phải chịu trách nhiệm về sự trỗi dậy bất ổn và bất trị của Trung Quốc hiện nay. Tuy một số nước vẫn chạy theo Trung Quốc hoặc có chính sách hai mặt vì lợi ích kinh tế, nhưng hầu hết các nước phương Tây đã vỡ mộng và tỉnh ngộ về bản chất Trung Quốc. Gần đây, các quan chức an ninh Mỹ đã cảnh báo rằng các viện Khổng tử là các “ổ gián điệp trá hình”. Một số nước (như Mỹ và Úc) đã áp dụng các biện pháp cứng rắn để đối phó, như một làn sóng phản ứng (backlash). (40 years after opening up, China is going backward, Tetsushi Takahashi, Nikkei Asian Review, March 20, 2018).

Tầm nhìn khu vực Indo-Pacific

Một năm tuy quá ít để thay đổi trật tự thế giới, nhưng quá đủ để Mỹ-Trung điều chính chiến lược, tác động đến cục diện thế giới, nhất là khu vực Biển Đông. Đại hội Đảng CSTQ lần thứ 19 (và “hậu Đại hội”) là một bước ngoặt lớn không chỉ đối với Trung Quốc mà còn đối với thế giới, đặc biệt là đối với Mỹ. Không phải ngẫu nhiên khi Trump đến thăm Việt Nam dự họp cấp cao APEC Đà Nẵng (10/11/2017) đã tuyên bố tầm nhìn Indo-Pacific và nhấn mạnh vai trò của “bộ tứ” (Quad) gồm Mỹ-Nhật-Ấn-Úc. Tổng thống Donald Trump và chủ tịch nước Trần Đại Quang đã thỏa thuận về Kế hoạch Hành Động Hợp tác Quốc phòng Mỹ-Việt (2018-2020). Bộ trưởng quốc phòng Jim Mattis đã đến thăm Việt Nam (24-26/1/2018) sau khi công bố chiến lược quốc phòng (NDS) coi Trung Quốc là “mối đe dọa lớn nhất”. Sau đó USS Carl Vinson đã đến Đà Nẵng (5-9/3/2018) trong một chuyến thăm lịch sử đầy ý nghĩa.

Hiện nay, Viêt Nam là tâm điểm (epicenter) trong chiến lược quốc phòng của Mỹ và an ninh khu vực, với tầm nhìn mới “Indo-Pacific”. Chiến lược mới này đã thổi sức sống mới vào khuôn khổ đối thoại an ninh của “bộ tứ” (gồm Mỹ-Nhật-Ấn-Úc). Việt Nam chủ trương đa dạng hóa quan hệ quốc tế và tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng, không chỉ với Mỹ mà còn với Nhật, Ấn, Úc (và các nước khác). Theo các chuyên gia của viện Brookings, Viêt Nam đang tăng cường quan hệ với các nước thuộc “bộ tứ” trong bối cảnh các nước ASEAN đang bị chia rẽ về lập trường đối với sự trỗi dậy đầy bất an của Trung Quốc và những hoạt động lấn chiếm Biển Đông. (As US aircraft carrier departs Vietnam what are the implications for regional security? Jonathan Stromseth & Hunter Marston, Brookings, March 9, 2018).

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Nhât-Việt đã được khẳng định và mở rộng sau chuyến thăm Nhật chính thức của TBT Nguyễn Phú Trọng (9/2015) và chuyến thăm Việt Nam chính thức của Nhật Hoàng Akihito (3/2017). Trong chuyến thăm Nhật của thủ tưởng Nguyễn Xuân Phúc (4-8/6/2017), hai bên đã ký Tuyên bố Chung về việc làm sâu sắc hơn Đối tác Chiến lược Sâu rộng Việt-Nhật, và nêu bật vấn đề hợp tác an ninh quốc phòng ngay ở phần đầu. Theo giáo sư Carl Thayer, “đây là một tín hiệu đáng chú ý”. Nhật cam kết hỗ trợ mạnh mẽ Việt Nam nâng cao năng lực chấp pháp trên biển bằng cách cung cấp tàu tuần tra (6 chiếc năm 2014 và 6 chiếc năm 2017) và huấn luyện hải quân, sau khi tàu khu trục IZUMO thăm Cam Ranh (5/2017). Theo tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, trong năm 2018 Nhật dự kiến sẽ chuyển giao cho Việt Nam hai vệ tinh hiện đại và máy bay săn ngầm (anti-submarine and surveillance aircraft). Hiện nay Nhật vẫn là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, trong khi kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 30 tỷ USD (năm 2016) và dự kiến sẽ tăng gấp đôi (năm 2020).

Ngoài việc mở rộng quan hệ hợp tác chiến lược với Nhật, quan hệ hợp tác quốc phòng với Ấn Độ đã được tăng cường khi thủ tướng Narendra Modi đến thăm Việt Nam (năm 2016) nhằm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam là tâm điểm trong chiến lược “hướng đông” của Ấn Độ (từ “Look East” nay thành “Act East”). Ấn Độ đã hứa cho Việt Nam vay 500 triệu USD để mua sắm thiết bị nhằm nâng cấp năng lực quốc phòng. Ấn Độ cũng đã giúp huấn luyện thủy thủ tàu ngầm Kilo cho Hải quân Việt Nam. Trong năm 2017, Việt Nam đã gia hạn quyền thăm dò dầu khí cho công ty dầu khí quốc gia Ấn Độ (OLV) tiếp tục khoan thăm dò dầu khí (tại lô 128). Tiếp theo chuyến thăm Ấn Độ của thủ tưởng Nguyễn Xuân Phúc (24-26/1/2018) chủ tịch nước Trần Đại Quang đã đi thăm Ấn Độ (2-4/3/2018).

Trong khi tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược với Mỹ, Viêt Nam đang chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác chiến lược với các nước khác, đặc biệt là Nhật Bản và Ấn Độ có thái độ nghi ngại Trung Quốc đang mở rộng thế lực không những tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương mà còn tại Ấn Độ Dương. Theo chuyên gia Joshure Kurlantzick (CFR), trong chuyến thăm Ấn Độ vừa qua, chủ tịch nước Trần Đại Quang và thủ tướng Narendra Modi đã trao đổi về tầm quan trọng của việc hai bên tiếp tục hợp tác khai thác dầu khí tại Biển Đông (giữa OVL với PVN, và có thể với cả bên thứ ba) “dù Trung Quốc có nói gì chăng nữa” (no matter what China says). Ấn Độ có thể tiếp tục cho Việt Nam vay thêm tiền để mua sắm nhiều hơn vũ khí Ấn Độ. Hai bên cũng khẳng định cam kết ủng hộ tự do hàng hải tại Biển Đông.

Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác chiến lược với các nước khác (ngoài Mỹ) để làm đối trọng với Trung Quốc, vì lãnh đạo Hà Nội lo ngại về chiến lược của Mỹ tại Đông Nam Á và cam kết duy trì lâu dài lực lượng của Mỹ tại Biển Đông (long-term sustainability of the U.S. posture in the South China Sea). Ngoài ra, thái độ thất thường khó đoán của Trump và chính sách thương mại bảo thủ (như bỏ rơi TPP và đánh thuế cao) làm cho Hà Nội bất an. Để lấp lỗ hổng đó, Hà Nội phải tăng cường quan hệ đối tác chiến lược với một số nước khác, như Nhật Bản và Ấn Độ, vì cho rằng Ấn Độ muốn có vai trò an ninh lâu dài tại Đông Nam Á và sẵn sàng triển khai sức mạnh tại Biển Đông. Vì vậy, theo chuyên gia Joshure Kurlantzick, “Ấn Độ là đối tác lớn lý tưởng đối với Việt Nam” (an ideal major partner for Vietnam), và trên thực tế “Việt Nam đang là tâm điểm trong chiến lược hướng đông của Ấn Độ” (Vietnam is now at the heart of India’s Look East strategic policy). (Vietnam and India Cement an Increasingly Vital Relationship in Southeast Asia, Joshua Kurlantzick, CFR, March 9, 2018).

Tiếp theo các chuyến thăm cấp cao tới Nhật và Ấn Độ gần đây, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đi thăm Australia (14-18/3/2018) để nâng cấp đối tác chiến lược. Theo Carl Thayer, “Đây là cột mốc lớn thứ ba trong quan hệ song phương… là thời điểm chín muồi để hai nước nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược”, nhân chuyến thăm Canberra của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc để kỷ niệm 45 năm lập quan hệ song phương và nhân dịp họp thượng đỉnh ASEAN- Australia. Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Australia sẽ dẫn tới trao đổi thường xuyên hơn giữa lãnh đạo cấp cao, giúp giải quyết tốt hơn nhiều thách thức về phát triển kinh tế, các vấn đề xuyên quốc gia, hòa bình và an ninh ở khu vực cũng như trên thế giới. Tuy lập trường của Australia về Biển Đông còn bị ràng buộc nhiều bởi lợi ích kinh tế với Trung Quốc, nhưng việc Australia trở thành đối tác chiến lược của Viêt Nam là một tín hiệu mới, đóng góp tích cực vào “tầm nhìn Indo-Pacific tự do và rộng mở”, dựa trên “bộ tứ” (Mỹ-Nhật-Ấn-Úc).

Trong khi tăng cường quan hệ với các nước nói trên, Việt Nam luôn ý thức rằng Trung Quốc có thể gây khó dễ cho Việt Nam về kinh tế, vì Trung Quốc là nước láng giềng khổng lồ và là đối tác thương mại lớn nhất, chiếm gần 30% nhập khẩu và hơn 10% xuất khẩu của Việt Nam. Trong khi cùng các nước thành viên khác thúc đẩy ký kết hiệp định CPTPP (hay còn gọi là TPP11) mà không có Mỹ, Việt Nam vẫn đang tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác trong “bộ tứ” tại “khu vực Indo-Pacific tự do và rộng mở”. Đó là cách “đặt cược” (hedging) cho trước mắt cũng như cho tương lai, hy vọng một ngày nào đó Mỹ sẽ quay lại với TPP (như gần đây, 25 thượng nghị sỹ đảng Công Hòa đã lên tiếng kêu gọi Trump làm như vậy).

Nghịch lý đồng thuận ASEAN

Có lần một phó thủ tướng Thailand nói (đại ý) Thailand phát triển nhanh (trong thập kỷ 1980-1990) vì đã tranh thủ được Nhật đang mạnh, nên sẵn sàng đầu tư vào Thailand, trong khi Việt Nam lúc đó chưa sẵn sàng. Khi Việt Nam sẵn sàng hợp tác thì đáng tiếc là kinh tế Nhật lại bị ốm yếu (sau khủng hoảng tài chính 1997). Nhận xét đó đã vô hình trung phản ảnh một thực tế là trong lịch sử, Việt Nam thường “nhỡ tàu” nên đã bỏ qua nhiều cơ hội. Sau 1975 khi ASEAN muốn mời Việt Nam vào ASEAN thì lúc đó Việt Nam còn làm cao. Khi Mỹ sẵn sàng bình thường hóa với Việt Nam (năm 1978) thì Việt Nam lại chưa sẵn sàng. Khi Việt Nam đánh Campuchea (12/1978) và Trung Quốc đánh Việt Nam (2/1979), phương Tây cấm vận để cô lập Việt Nam, thì ASEAN cũng quay lưng lại với Viêt Nam.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ASEAN là một mô hình thành công về chủ nghĩa khu vực (regionalism) tại Đông Nam Á, có thể so sánh với “ngôi nhà chung” Châu Âu (EU). ASEAN được xây dựng trên tư tưởng “ZOPFAN” (Zone of Peace, Freedom and Neutrality) với nguyên tắc “đồng thuận” được sùng bái (như “Cult of Consensus”). Đồng thuận được đánh đồng với “nhất trí” (unanimity) như một “điều kiện tiên quyết” cho hành động (prerequisite for action). Dù nguyên tắc đồng thuận nay được mô tả “đồng thuận trong đa dạng” (consensus in diversity) thì nó cũng trở thành “gót chân A-sin” của ASEAN, vì bất cứ nước thành viên nào cũng có thể phủ quyết làm vô hiệu hóa ASEAN. Các cường quốc khác (như Trung Quốc) chỉ cần hối lộ và xúi giục một nước thành viên nào đó (như Campuchea) là đủ tạo ra khủng hoảng, làm vô hiệu hóa tiếng nói và vai trò của ASEAN tại khu vực nhạy cảm này.

Nguyên tắc đồng thuận nhằm duy trì ổn định khu vực đang đứng trước thách thức mới, làm ASEAN trở thành nạn nhân của cái bẫy thể chế (institutionalization trap), không sẵn sàng đối phó với những thách thức mới của thế kỷ 21. Sự trỗi dậy của Trung Quốc là nguyên nhân chính dẫn đến căng thẳng, đe dọa trật tự thế giới và khu vực. Nếu ASEAN không muốn bị vô hiệu hóa và bị con rồng phương Bắc “bắt cóc” (hijacked), thì cách tốt nhất để duy trì vai trò khu vực và phát huy mô hình “độc đáo” của mình (nay đã bị lỗi thời), là phải triệt để cải tổ thể chế ASEAN và xem xét lại hệ quy chiếu và nguyên lý điều hành của ASEAN.

Mỗi khi Trung Quốc gây sức ép mạnh để ngăn cản ASEAN ra nghị quyết làm cản trở ý muốn của Trung Quốc là đàm phán song phương thay vì đàm phán đa phương, thì kết cục là ASEAN bị vô hiệu hóa và hầu như tê liệt trước cái bóng đen của con rồng Trung Quốc mà không dám hành xử như một tổ chức độc lập vì hội nhập khu vực. Trung Quốc đang chia để trị khu vực, nhưng điều làm người ta ngạc nhiên là ASEAN đang trở thành cái khiên để che đỡ cho Trung Quốc chống lại Mỹ và các đồng minh chủ chốt của Mỹ tại khu vực. Biển Đông là nơi mà tranh chấp chủ quyền đang trở thành điểm nóng về địa chính trị trong thế kỷ 21, nơi mà cạnh tranh Mỹ-Trung về các lợi ích cốt lõi dễ bùng nổ nhất. Nếu chiến tranh thế giới thứ ba xảy ra thì có lẽ nó dễ xảy ra nhất tại Biển Đông (như “cái bẫy Thucydides”).

Dưới thời Tổng thống Duterte, Manila đã ngả theo Trung Quốc vì động cơ kinh tế. Manila không chỉ theo đuôi lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông mà còn chống lại lập trường của Mỹ và các nước đồng minh. Nếu ASEAN muốn độc lập và có ý nghĩa (relevant) như một nhân tố ổn định để đóng góp vào trật tự khu vực (chứ không phải để làm tay sai cho Trung Quốc), thì phải từ bỏ sự “sùng bái đồng thuận”. Các nước độc lập trong ASEAN như Indonesia, Việt Nam, Singapore, cần đi đầu để tháo gỡ vấn đề này bằng sự “hợp tác tối thiểu” (minilateral cooperation) trong vấn đề an ninh khu vực.

Muốn cứu vãn tình thế hiện nay ASEAN phải mạnh dạn thay “chủ nghĩa đa phương đã đổ vỡ” (broken multilateralism) bằng “chủ nghĩa tối thiểu năng động” (dynamic minilateralism) tới khi nào ASEAN chấn chỉnh được thể chế của mình. Mỹ và đồng minh không nhất thiết phải thuyết phục tất cả các nước ASEAN mà chỉ cần hợp tác với một số nước SEAN năng động. Để kiềm chế tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông, ASEAN cần liên kết với “bộ tứ” (Mỹ-Nhật-Ấn-Úc). Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Australia vừa diễn ra tại Sydney (March 18, 2018), Việt Nam và Australia đã nâng quan hệ lên “đối tác chiến lược” trong khi Indonesia mời Australia tham gia ASEAN như một thành viên mới (ASEAN-11). Điều này chứng tỏ xu hướng tìm giải pháp để cứu vãn tình thế hiện nay nhằm ngăn chặn đà suy thoái đang làm ASEAN mất vai trò (a downward spiral of irrelevance). (ASEAN Could Be Hijacked by China. Here’s How to Fix It, Richard Javad Heydarian, National Interest, March 15, 2018).

Nghịch lý chống tham nhũng

Trong khi ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình chống tham nhũng triệt để (với khẩu hiệu “đả hổ diệt ruồi”) thì ở Việt Nam trong gần một năm qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng bắt đầu chống tham nhũng quyết liệt hơn với câu nói nay thành nổi tiếng là “lò đã cháy lên rồi thì củi khô hay củi tươi cho vào cũng cháy hết”. Có lẽ vì vậy mà báo chí gọi ông Nguyễn Phú Trọng là “người đốt lò vĩ đại”. 

Trong khi ở Trung Quốc ông Tập Cận Bình bắt hổ Bạc Hy Lai (và gần đây là bắt Tôn Chính Tài) thỉ ở Việt Nam ông Nguyễn Phú Trọng cũng bắt hổ Đinh La Thăng. Trong khi ông Tập Cận Bình có ông Vương Kỳ Sơn là cánh tay phải, thì nay ông Nguyễn Phú Trọng cũng có ông Trần Quốc Vượng là cánh tay phải (tuy ông Vượng khác ông Vương). Nay chống tham nhũng trước mắt được lòng dân và củng cố được quyền lực, nhưng muốn có hiệu quả lâu dài, phải cải tổ thể chế mới kiểm soát được quyền lực.

Vừa qua, cuộc chiến chống tham nhũng đã chĩa mũi nhọn vào PVN (như một đại án). Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh cùng đồng sự đã biến thành củi tươi bị ném ngay vào lò từ trước Tết, nhưng vẫn chưa phải hồi kết, để sau Tết sẽ xử tiếp (cho có “tính nhân văn”). Tuy nhiên, một hệ quả là PVN gần như bị tê liệt, trong khi Việt Nam cần khai thác tiếp dầu khí để bổ xung cho ngân sách đang bị thiếu hụt trầm trọng, thậm chí có nguy cơ “sụp đổ tài khóa quốc gia” (lời thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc). Đồng thời, hệ quả của vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin đã dẫn đến khủng hoảng trong quan hệ Viêt-Đức, làm tổn thương triển vọng ký hiệp định tự do thương mại EVFTA (được cho là quan trọng chỉ sau TPP).

Để chống tham nhũng và củng cố quyền lực, TBT Nguyễn Phú Trọng đã quyết định tham gia Đảng ủy Công An Trung ương (tạo ra một tiền lệ mới), với mục đích được hiểu ngầm là để cải tổ bộ máy của Bộ Công An (từ lâu đã chịu nhiều ảnh hưởng của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). Vụ bắt “Vũ Nhôm” là một đòn cân não nhắm vào Tổng cục 5, và vụ bắt tướng Nguyễn Thanh Hóa (cựu cục trưởng C50, dính líu đến đường dây đánh bạc trực tuyến) là một đòn đau nhắm vào Tổng cục Cảnh sát. Việc cải tổ PVN và Bộ Công An là cần thiết vì một số cá nhân và đơn vị đã “tự diễn biến” và tham nhũng, nhưng cái giá phải trả là an ninh năng lượng và an ninh quốc gia có thể bị ảnh hưởng nếu phương án cải tổ không đủ nhanh và đủ hiệu quả. Đó là nghịch lý chống tham nhũng. Một khi quyền lực không được kiểm soát thì các nhóm lợi ích sẽ thao túng thể chế để trục lợi. Muốn kiểm soát được tham nhũng phải kiểm soát được quyền lực, và muốn kiểm soát được quyền lực phải cải tổ thể thế đồng bộ.

Vụ Mobilefone mua AVG là một vụ đại án đã được điều tra từ lâu làm dư luận xôn xao, nhưng nay mới được lôi ra xử lý công khai và rốt ráo. Vụ án này trở nên đầy kịch tính khi Bộ chủ quản TTTT đã có những phản ứng quyết liệt một cách vụng về như “lậy ông tôi ở bụi này” khi bộ gửi công văn phản bác lại kết quả điều tra của Thanh tra Chính phủ (nay được Ban Bí thư chỉ đạo). Sau khi đạo diễn cho Mobifone và AVG hủy hợp đồng giao dịch mà dư luận gọi là “nuốt không trôi phải nhè ra” hay “hủy hôn để chạy tang”, và nộp lại tài sản tham nhũng để “khắc phục hậu quả” dù “muộn còn hơn không”, họ hy vọng được giảm nhẹ tội mà ông Nguyễn Phú Trọng đã kết luận: “Đây là vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, nhạy cảm…”.

Đó là mấy vụ đại án đang được xử lý rốt ráo trước hội nghị TW7. Nhiều củi to đang bị ném vào lò: Đinh La Thăng và cộng sự trong vụ PVN, Nguyễn Thanh Hóa và cộng sự trong vụ đánh bạc trực tuyến (dính líu đến C50 và tổng cục cảnh sát), Trương Minh Tuấn và cộng sự trong vụ Mobifone mua AVG. Còn vụ “Vũ Nhôm” vẫn treo lơ lửng như một quả bom nổ chậm (hay củi khô dự trữ khi cần). Các nhóm lợi ích dưới mọi hình thức, dù là củi khô hay tươi, đã bị phát hiện cho vào lò hay chưa bị lộ, đều là củi mục đang báo hại cho đất nước. Vì vậy, chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt của TBT Nguyễn Phú Trọng được lòng dân, tuy dư luận vẫn còn lo ngại không biết nó có bị dập khuân theo bài bản của Bắc Kinh hay không.

Như một quy luật bất thành văn, những gì diễn ra tại Việt Nam hầu như lặp lại những gì diễn ra tại Trung Quốc. Điều đó không chỉ do văn hóa của hai nước có chung nguồn gốc, mà còn do ý thức hệ và thể chế chính trị của hai nước giống nhau. Người Việt nổi tiếng vì tinh thần dân tộc chống ngoại xâm trong suốt lịch sử nhiều thế kỷ, nhưng nay ý thức “thoát trung” vì lợi ích dân tộc đang bị hạn chế (tuy vẫn cháy âm ỷ). Một phần có thể do dân trí thấp nhưng một phần khác chắc do “hội chứng Stokholm” là hệ quả của một thời gian dài sống chung với nỗi lo sợ trong tâm thức và bị kiểm soát bởi cái vòng kim cô của não trạng Thành Đô.

Trong khi Trung Quốc chống tham nhũng triệt để, thì Việt Nam cũng chống tham nhũng ngày càng quyết liệt, với những đại án làm nhiều kẻ giật mình lo sợ (tuy vẫn chưa động đến mấy mãnh hổ). Vì vậy chống tham nhũng ở Viêt Nam đầy nghịch lý và có thể phải trả giá, nếu không cải tổ thể chế để kiểm soát được quyền lực. Trong khi Trung Quốc triển khai “Tam chủng Chiến pháp” (chiến tranh tâm lý, pháp lý, truyền thông) thì Việt Nam hầu như chưa có đối sách. Công tác truyền thông ngày càng yếu kém, vì giao cho những kẻ bất tài, thất đức chỉ lo “đục nước béo cò” (như Trương Minh Tuấn). An ninh mạng của Việt Nam cũng yếu kém, nên tin tặc đã từng tấn công chiếm được mạng sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất (29/7/2016). Chắc lúc đó ông cục trưởng cục C50 Nguyễn Thanh Hóa còn bận bảo kê đánh bạc online.

Thay lời kết

Trong khi Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ thì Việt Nam suy yếu, tụt hậu so với các láng giềng. Sự phát triển bất đối xứng tiềm ẩn nguy cơ phụ thuộc (và “Bắc thuộc”). Đến nay, chuyển đổi cơ cấu kinh tế vẫn ỳ ạch, công nghiệp hóa vẫn chậm, thương mại với Trung Quốc vẫn nhập siêu lớn, nợ công vẫn cao, ngân sách vẫn thâm hụt (thu không đủ chi), thậm chí có nguy cơ “sụp đổ tài khóa quốc gia”. Năm 2017, Việt Nam tuy đạt các chỉ tiêu kinh tế cơ bản, nhưng vẫn chưa triển khai cải cách thể chế (như khuyến nghị của “Báo cáo Việt Nam 2035”). Nếu không cải tổ thể chế đồng bộ thì không tạo ra được động lực mới để phát triển tiếp.

Khi ông Phan Văn Khải mất, nhiều người tỏ lòng thương tiếc là có lý do. Ông Khải là một thủ tướng kỹ trị, đã có công thúc đẩy cải cách kinh tế phát triển đúng hướng, vừa tăng trưởng cao vừa ổn định vĩ mô, nên đã vượt qua được hệ quả khủng hoảng tài chính (1997), kiến tạo được nền móng vững vàng cho kinh tế thị trường thực sự chuyển mình và khởi sắc. Nhưng chưa đến mười năm sau, những thành quả đó đã bị tan hoang bởi vấn nạn tham nhũng tràn lan (massive corruption) và điều hành yếu kém (poor governance). Nếu người kế nhiệm tiếp tục điều hành đúng hướng thì chắc bức tranh kinh tế không bi đát như hiện nay.

Các “quả đấm thép” (tập đoàn kinh tế) tưởng là trụ cột của kinh tế thị trường định hướng XHCN đã lần lượt phá sản, vì các nhóm lợi ích “tư bản đỏ” tranh nhau thao túng làm giàu nhanh. Con tàu Việt Nam đã bị họ “bắt cóc” (hijacked) đi chệch hướng và trật đường ray cải cách. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tuy vẫn khá cao, nhưng càng phát triển Việt Nam càng tụt hậu, vì phần lớn của cải xã hội chạy vào túi các nhóm lợi ích thân hữu. Họ “ăn của dân không từ một cái gì” (lời bà Nguyễn Thị Doan). Khi tài nguyên cạn kiệt, viện trợ nước ngoài sắp hết, họ tận thu bằng nhiều cách khác (như tăng giá điện, xăng dầu, phí BOT).

Cũng giống Trung Quốc, khi môi trường sống ngày càng ô nhiễm và bất an (cả vật chất và tinh thần) thì dòng người (và dòng tiền) chạy khỏi Việt Nam càng tăng (như bỏ phiếu bằng chân). Theo IOM, mỗi năm có khoảng 100.000 người di cư khỏi Việt Nam. Chống tham nhũng càng quyết liệt thì số người di cư ngày càng nhiều. Theo Epoch Times (30/12/2016) 85% người nhà quan chức cao cấp Trung Quốc đã định cư và mua nhà ở nước ngoài. Theo Wikileaks (6/1/2017) 65% quan chức cao cấp Việt Nam đã chuẩn bị điều kiện để ra nước ngoài. Hội nghị TW7 là cơ hội cuối cùng để Việt Nam đổi mới thể chế trước khi quá muộn.

Tham khảo

1. The Hundred Year Marathon, Michael Pillsbury, MacMillan, 2015
2. A World in Disarray: American Foreign Policy and the Crisis of the Old Order, Richard Haass, Penguin, January 10, 2017
3. The Paradox of Xi’s Power, Minxin Pei, Project Syndicate, October 27, 2017.
4. Wang Huning’s Neo-Authoritarian Dream, Jude Blanchettte blog, October 20, 2017
5. China’s New World Order?, Ramesh Thakur, Project Syndicate, November 10, 2017
6. The Red Emperor, Roderick MacFarquhar, New York Review of Books, January 18, 2018
7. Donald Trump and the Decline of US Soft Power, Joseph Nye, Project Syndicate, Feb 6, 2018
8. China vs America: Managing the Next Clash of Civilizations, Graham Allison, Foreign Affairs, September-October 2017
9. As US aircraft carrier departs Vietnam what are the implications for regional security? Jonathan Stromseth & Hunter Marston, Brookings, March 9, 2018).
10. Vietnam and India Cement an Increasingly Vital Relationship in Southeast Asia, Joshure Kurlantzick, CFR, March 9, 2018).
11. ASEAN Could Be Hijacked by China. Here’s How to Fix It, Richard Javad Heydarian, National Interest, March 15, 2018
12. 40 years after opening up, China is going backward, Tetsushi Takahashi, Nikkei Asian Review, March 20, 2018

NQD. 21/3/2018
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 21-3-18
http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_VNTaiNgaBa.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Triệu tập Nguyễn Tấn Dũng – Tại sao không?


FB Trương Duy Nhất 21-3-18 - Vụ 800 tỷ Oceanbank đang xử. Khi Đinh La Thăng khai vai trò của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên quan đến sự chỉ đạo, đồng ý để PVN bưng một núi tiền sang “gửi” Oceanbank, nhưng thấy hội đồng xét xử (HĐXX) bỏ qua, không triệu tập ông Dũng.
Toà cho qua. Nhưng tôi nghĩ, ở quyền lợi bị cáo, Đinh La Thăng và các bị cáo khác nên yêu cầu triệu tập ông Dũng ra toà đối chất. Tại sao không?
Và một khi đã có yêu cầu từ bị cáo, thì toà phải triệu tập. Phải xem đây là nguyên tắc bắt buộc, không được từ chối.

Trước toà, HĐXX phải triệu tập nhân chứng, người bị hại, hoặc các cá nhân liên quan khác theo yêu cầu của bị cáo. Không thể vin cớ “không cần thiết” (theo quan điểm của HĐXX) để từ chối yêu cầu triệu tập. HĐXX cho rằng “không cần thiết”, nhưng bị cáo lại cho rằng “cần thiết”, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo trong khi xét xử, thì HĐXX không có quyền từ chối.

Sẽ là sai phạm, bất công lớn khi HĐXX tự coi việc triệu tập là quyền của toà, chứ không phải quyền của bị cáo.

Rất nhiều, nếu không muốn nói là đa phần các vụ án (đặc biệt án chính trị), HĐXX đều từ chối các yêu cầu triệu tập của bị cáo.

Ở vụ án của tôi trước đây, không chỉ yêu cầu tại toà, trước cả hai phiên xét xử (sơ và phúc thẩm), tôi đều có đơn yêu cầu triệu tập các cá nhân liên quan (được cáo trạng xem là đối tượng “bị hại” trong vụ án) gồm: (...................). Đặc biệt với trường hợp Nguyễn Tấn Dũng, tôi yêu cầu “nếu triệu tập không đến thì phải dẫn giải”.

Nhưng đã không “đối tượng bị hại” nào được triệu tập, không “người bị hại” nào được dẫn giải tới toà.

Xét xử một bị cáo về hành vi “xâm hại” đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, mà không có sự đối chất với đối tượng “bị hại”, không xác định được ai là người bị hại.

Đến giờ, tôi vẫn tin rằng, không ai trong số họ (cả ông Nguyễn Tấn Dũng) dám cho rằng những bài viết của tôi là “xâm hại, bôi nhọ”, làm giảm “uy tín chính trị” của họ. Và thật sự, nếu triệu tập họ đến toà, nếu cho đối chất sòng phẳng, công tâm, thì tôi xử họ chứ làm sao họ xử được tôi.

Nguyên tắc tranh tụng trước toà, không có sự đối chất này, coi như phiến diện, một chiều, dễ mắc oan sai.

Trở lại vụ đại án đang xử. Đinh La Thăng, và các bị cáo khác nên yêu cầu toà triệu tập cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Phải ý thức rằng đó là quyền đương nhiên của bị cáo.

Các thẩm phán chủ toạ phiên toà, cũng nên trưởng thành hơn trong nhận thức để hiểu rằng: Triệu tập, không chỉ là quyền của toà án, cơ quan điều tra, công tố, mà còn phải được xem là quyền của bị cáo. Tước bỏ quyền này là tước bỏ nguyên tắc công bằng trong tranh tụng, xét xử, là xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

Nhận thức vậy, hiểu được vậy, thì Nguyễn Tấn Dũng hay bố, tổ, tông ti thằng X cũng phải triệu đến toà.

Nhận thức vậy, xử vậy, thì khối kẻ đã vào tù thay tôi.

Nhận thức vậy, xử vậy, thì trước toà hôm nay, sẽ không chỉ là Đinh La Thăng. 


http://www.rfavietnam.com/node/4356

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2018

Tại sao Mỹ và các quốc gia dùng chiến tranh thương mại


22/03/2018 - Tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa lại gây sốc bằng việc viết lên Twitter "Các cuộc chiến thương mại là tốt, và dễ thắng", sau hành động được coi là khơi mào tranh chấp thương mại của chính phủ Mỹ với mức thuế 25% lên thép và 10% lên nhôm nhập khẩu vào đầu tháng 3/2018. Trước đó, Mỹ đã đánh thuế lên máy giặt và pin mặt trời vào tháng 1/2018.
Những quan điểm về bảo hộ thương mại và chỉ trích nước ngoài đang hưởng lợi trên lưng nước Mỹ vốn không có gì mới, bởi lẽ ông Trump đã nói nhiều về các vấn đề này ngay từ khi vận động tranh cử. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên, ông công khai “tuyên chiến” bằng việc sử dụng cụm từ “chiến tranh thương mại”.
THÓI QUEN GÂY SỐC

Một năm rưỡi đã trôi qua kể từ tháng 11/2016, có vẻ như thế giới vẫn chưa thực sự quen với các phát ngôn gây sốc của ông Trump. Mỗi lần phát ngôn là một lần gây hoang mang cho giới hoạch định chính sách, học giả và doanh nghiệp của Mỹ và ở các nước khác, đồng thời tốn không biết bao nhiêu giấy mực của báo chí và cư dân mạng.

Trước đó, người ta chê cười. Bây giờ, người ta có thể chê, nhưng chưa chắc đã cười. Những tweets ông Trump đưa lên đều có hàm ý nào đó về những việc mà chính quyền của ông có thể làm. Và họ đã cho thấy là đã nói là sẽ làm, sẽ làm được hay không thì đó lại là một câu chuyện khác. Đúng hay sai, lợi hay hại thì còn phải bàn, nhưng thực tế không thể phủ nhận là bất cứ động thái của chính quyền Trump đều gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân Mỹ và chính trị quốc tế.


Dù gây nhiều tranh cãi, trong năm đầu tiên tại Nhà Trắng, Trump đã chứng tỏ ông nói là làm. Ảnh: AFP.

Lần này cũng vậy, nước Mỹ khiến thế giới đứng ngồi không yên. Các nước xuất khẩu vào Mỹ không thể không lo, bởi lẽ hành động đó sẽ tác động trực tiếp tới miếng cơm manh áo của doanh nghiệp và người dân họ. Rộng hơn, thế giới lo hành động này của Mỹ có thể châm ngòi cho hàng loạt các cuộc trả đũa theo kiểu “ăn miếng trả miếng” giữa các nền kinh tế lớn, trong đó tiêu biểu với Trung Quốc, EU và Nhật Bản.

Kinh tế thế giới năm 2017 vừa qua mới chỉ phục hồi tương đối trở lại, và trong đó thương mại quốc tế là một điểm sáng. Bóng ma về chủ nghĩa bảo hộ vốn rình rập kinh tế thế giới hơn 10 năm nay kể từ cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế 2007-2010 đến nay lại có nguy cơ thành hiện thực.


KHI HÀNG HÓA KHÔNG THỂ VƯỢT BIÊN GIỚI

Lập luận của ông Trump là khi nước Mỹ chịu thâm hụt thương mại 100 tỷ USD với quốc gia nào đó, thì đơn giản chỉ việc áp thuế cao để chặn lại, thế là thắng lợi. Qua đó, doanh nghiệp nội địa của Mỹ sẽ bớt chịu áp lực cạnh tranh hơn, và sẽ mở rộng sản xuất, tạo nhiều việc làm cho người Mỹ.

Hành động này của chính quyền Trump có thể nói là thống nhất với những tuyên bố về “nước Mỹ trên hết” và những luận điểm, cũng như chỉ trích được ông Trump lặp đi lặp lại trong quá trình vận động tranh cử từ năm 2016 đến nay.

Thực tế trong lịch sử, với tư thế của nước lớn, nước Mỹ đã không dưới hai lần khơi mào các tranh chấp thương mại ở quy mô lớn. Đáng kể nhất phải nhắc đến năm 1930, khi đạo luật Smoot – Hawley được Tổng thống Herbert Hoover đưa ra nhằm bảo vệ nền nông nghiệp Mỹ đang suy thoái.

Trước đó khi vận động tranh cử, ông Hoover hứa sẽ bảo vệ lợi ích của nông dân Mỹ trong những năm đầu của Đại khủng hoảng, và ông đã thực hiện điều đó. Tuy nhiên, việc áp dụng thuế với hơn 20.000 mặt hàng nhập khẩu, mức cao nhất lên đến gần 60% - cao bằng thời kỳ thực dân, đã khiến cho tiêu dùng và sản xuất trong nước Mỹ rối loạn, và khiến các nước khác trả đũa thương mại.

Kết quả là thương mại toàn cầu rơi vào vòng xoáy sụp đổ, giảm 66% trong 5 năm từ 1929-1934. Cuộc Đại khủng hoảng bị đổ thêm dầu vào lửa, trở nên trầm trọng hơn bao giờ hết và là một trong những nguyên nhân gián tiếp dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tổng thống Hoover sau đó cũng chỉ tại nhiệm được đúng một nhiệm kỳ, và tổng thống mới từ Đảng dân chủ Franklin D. Roosevelt đã gỡ bỏ đạo luật này.

Lần thứ hai là vào thập kỷ 1980s, khi mà nước Mỹ đã ở vị trí số 1 về kinh tế nhưng đang phải đối mặt với sự thách thức đến từ Nhật Bản. Khi đó, nền công nghiệp nặng của Mỹ, đặc biệt ở các bang Trung Đông Bắc thuộc “vành đai công nghiệp” (Rust Belt) bị sa sút nặng nề và vấp phải cạnh tranh của hàng công nghiệp Nhật Bản. Các ông lớn sản xuất ôtô như General Motors, Ford và Chrysler điêu đứng vì những chiếc xe Nhật Bản gọn nhẹ, tiết kiệm nguyên liệu tràn ngập thị trường nội địa Mỹ.

Hai nước đã lời qua tiếng lại rất nhiều lần, và Nhật Bản đã nhượng bộ bằng tự nguyện hạn chế xuất khẩu sang Mỹ. Mặc dù vậy, người Nhật cũng không chịu thiệt khi họ ứng phó bằng cách xuất khẩu sang Mỹ những chiếc xe chất lượng cao, với cái giá đắt hơn, và qua đó duy trì lợi nhuận lớn. Chính quyền của Tổng thống Ronald Reagan khi đó đã tiếp tục thực hiện các mức thuế khác nhau, bao gồm 45% lên xe môtô và 100% lên các sản phẩm điện tử - tất cả đều là nhằm vào Nhật Bản. Trên một khía cạnh nào đó, những biện pháp này của chính quyền Reagan đã phát huy tác dụng vào thời điểm đó.


Nước Mỹ từng phát động chiến tranh thương mại để chống lại cuộc "xăm lăng" của những chiếc ôtô Nhật Bản. Ảnh: AFP.

NHỮNG BƯỚC LẶP CỦA LỊCH SỬ

Lịch sử luôn có những sự trùng lặp trở lại. Bối cảnh ông Trump hiện tại có thể coi là một sự kết hợp của hai người tiền nhiệm. Ông đã hứa hẹn nhiều về việc sẽ bảo hộ nền kinh tế nội địa của Mỹ như Tổng thống Hubert Hoover. Cũng giống như ông Reagan phải ứng phó với Nhật Bản thì ngày nay, ông Trump cũng đứng trước một đối thủ kinh tế đáng gờm với các mặt hàng xuất khẩu tràn ngập nước Mỹ - đó là Trung Quốc. Bản thân ông Donald Trump cũng là một người hâm mộ cuồng nhiệt của Tổng thống Reagan, ngay từ khi tranh cử đã cho rằng nước Mỹ cần những chính sách bảo hộ như thời Reagan.

Lịch sử cũng luôn cho thấy những nghịch lý oái oăm. Nước Mỹ trong suốt quá trình phát triển của mình đều dựa rất lớn vào thương mại tự do. Đặc biệt kể từ thời kỳ của chủ nghĩa đế quốc trước đây, Mỹ luôn coi mình là kẻ đi đầu trong tự do thương mại quốc tế. Nhưng cũng chính họ, khi cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm, hoặc khi rơi vào thế chịu thiệt, thì lại sử dụng những biện pháp bảo hộ và thậm chí là gây chiến thương mại.

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2007-2010, nước Mỹ là nơi xuất phát của khủng hoảng cũng là quốc gia lên tiếng tại các hội nghị G20 sau đó về “bất cân bằng thương mại”. Chính quyền tổng thống Obama khi đó đã chỉ trích Trung Quốc, và thậm chí hai đồng minh thân cận là Đức và Nhật Bản, hàm ý rằng họ đang làm lợi trên lưng nước Mỹ.

Mặc dù còn nhiều tranh cãi về quan điểm, nhưng các nhà kinh tế nói chung sẽ công nhận với nhau rằng không phải cứ bảo hộ là sai, và không phải cứ tự do mở cửa thương mại là tốt cho một nền kinh tế. Ít nhất là về lý thuyết, khi mở cửa, nền kinh tế quốc gia về tổng thể sẽ có lợi: hoặc là người tiêu dùng có thể mua hàng rẻ hơn, hoặc là doanh nghiệp nội địa có thể xuất khẩu và qua đó bán hàng nhiều hơn. Ở chiều ngược lại, lập luận chính cho bảo hộ thương mại đó là giữ lại việc làm và bảo vệ doanh nghiệp trong nước, khả năng tự chủ về kinh tế của một quốc gia, chống lại các tác hại về môi trường, sức khỏe của hàng hóa nước ngoài và trong đảm bảo sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng đối với một số ngành công nghiệp nặng.

Với việc áp dụng thuế lên thép và nhôm, ông Trump tuyên bố sẽ bảo vệ việc làm cho người dân Mỹ, và đồng thời giúp nền công nghiệp nội địa Mỹ phát triển, trong đó có cả công nghiệp quốc phòng - vốn được ông rất ủng hộ. Tuy nhiên, chính sách này có thể để lại nhiều rủi ro, bởi lẽ thép và nhôm là nguyên liệu đầu vào cơ bản của nhiều chuỗi sản xuất công nghiệp, từ sản xuất lon Coca-Cola đến xe tăng, máy bay.

Áp dụng mức thuế sẽ khiến cho chi phí đầu vào tăng cao, và doanh nghiệp Mỹ có thể sẽ phải thu hẹp sản xuất, từ đó lại dẫn đến mất việc làm của người dân Mỹ. Ngay cả lập luận về bảo vệ công nghiệp nội địa cũng không thuyết phục, bởi lẽ thường thì chính phủ chỉ nên bảo vệ các nền công nghiệp non trẻ. Còn đây rõ ràng là sau nhiều thập kỷ sa sút, nước Mỹ đã chứng tỏ họ không còn lợi thế so sánh trong các nền công nghiệp này nữa.

Công nghệ hiện đại thế kỷ 21 và hướng tới 4.0 đã khiến cho sản xuất công nghiệp nói chung ngày càng sử dụng ít lao động hơn. Nên việc áp thuế chưa chắc đã giúp ích nhiều trong mang lại việc làm. Đó là chưa kể đến khả năng các nền kinh tế lớn khác như EU, Trung Quốc và Nhật Bản tiến hành trả đũa bằng cách áp dụng các loại thuế khác hoặc tương tự lên hàng hóa của Mỹ xuất khẩu vào nước họ. Doanh nghiệp Mỹ qua đó sẽ chịu thiệt thòi không nhỏ.


Người dân ở những khu dân cư thuộc “vành đai công nghiệp”, vốn lệ thuộc vào các ngành công nghiệp nặng, có thể trông mong việc bảo hộ đưa việc làm trở lại với thị trấn của họ, dù vậy, một số người sẽ sớm nhận ra họ mất việc là vì công nghệ thay đổi chứ không phải vì thương mại tự do. Ảnh: AFP.

Tình huống trở nên phức tạp hơn nhiều khi mà các yếu tố chính trị phủ bóng lên các lập luận về kinh tế. Việc mở cửa thị trường sẽ tạo ra tình huống kẻ thắng – người thua. Trong khi người tiêu dùng nước Mỹ nói chung hưởng lợi từ các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ hơn, những người nông dân Mỹ ở thời kỳ 1930s hay các doanh nghiệp ôtô như General Motors, Ford, Chrysler ở thành phố Detroit chính là những kẻ thua cuộc như vậy – khi mà họ không thể cạnh tranh được ngay tại sân nhà trước các đối thủ nước ngoài. Và khi thua thì người ta thường hay lên tiếng phản đối dữ dội hơn lúc được.

Họ sử dụng mọi biện pháp để gây áp lực lên nhà cầm quyền địa phương mình, và mạnh hơn nữa là dùng các kênh lobby để tác động tới Washington. Khi ấy, các chính trị gia vì muốn tranh thủ phiếu bầu sẽ phải đáp ứng yêu cầu của họ. Vụ kiện cá tra, cá basa của các bang Mississippi, Alabama, Arkansas, Louisiana đối với Việt Nam những năm vừa qua là một ví dụ điển hình.

ĐẰNG SAU THƯƠNG MẠI LÀ CHÍNH TRỊ

Chiến tranh thương mại không đơn thuần xuất phát từ những lợi ích kinh tế. Ví dụ như việc Mỹ và phương Tây cấm vận Triều Tiên, đó không phải là chiến tranh thương mại, mà là sử dụng các công cụ kinh tế một chiều để đạt phục vụ mục đích trong đối ngoại. Đa số các tranh chấp thương mại được đưa ra tại WTO cũng không hẳn là chiến tranh thương mại nếu đó là các vụ việc nhỏ lẻ xuất phát từ mâu thuẫn quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai quốc gia. Chiến tranh thương mại là sự giao thoa của những toan tính lợi ích về kinh tế, chính trị nội bộ và chính trị quốc tế.

Trở lại câu chuyện của ông Trump. Cần nhớ lại rằng tháng 11/2016, ông giành chiến thắng trước bà Hillary Clinton bởi đã đánh trúng vào tâm lý “kẻ thua” của những người Mỹ da trắng bị “bỏ bơi” sau nhiều thập kỷ, tiêu biểu nhất là từ những vùng công nghiệp nặng đang sa sút.

Tuyên bố “làm nước Mỹ vĩ đại trở lại” là nhằm khơi dậy mơ ước được quay trở lại thời kỳ hoàng kim của những thành phố công nghiệp nặng như Detroit, của những người Mỹ da trắng làm chủ chính mảnh đất của mình. Việc đánh thuế lên thép, nhôm, các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu chính là để ông Trump thể hiện rằng mình đã thực hiện lời hứa đó. Và hơn hết, cái đích ông nhắm tới là cuộc bầu cử giữa kỳ sẽ diễn ra vào cuối năm nay.

Một thất bại trong cuộc bầu cử này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tái tranh cử nhiệm kỳ hai của ông, đó là còn chưa nói đến ý nghĩa sống còn khi nguy cơ bị luận tội truất quyền tổng thống trước thời hạn vẫn còn đang đeo bám ông Trump. Bởi lẽ đó, những chính sách kể từ khi nắm quyền đến nay của Thổng thống Trump chủ yếu tập trung vào tranh thủ sự ủng hộ của những cử tri trước đó đã bầu cho ông, thay vì hỗ trợ các vùng bờ Đông và bờ Tây – vốn ủng hộ phe Đảng Dân chủ.


"Bảo vệ việc làm và hàng hóa Mỹ" là một lời hứa trong chiến dịch tranh cử của ông Trump, và nó đã phát huy tác dụng. Ảnh: AFP.

Mũi tên của ông Trump cũng hàm ý nhằm vào một cái đích thứ hai, đó là quốc gia xuất khẩu thép lớn nhất thế giới là Trung Quốc. Tại tài liệu Chiến lược An ninh Quốc gia công bố cuối năm ngoái, chính quyền Mỹ đã nêu đích danh Trung Quốc (cùng với Nga) là hai quốc gia “xét lại” đang mong muốn thay đổi trật tự thế giới và vị trí số 1 của nước Mỹ. Kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nước Mỹ luôn để ý nhận thức ai sẽ thách thức vị trí số 1 của mình, dù là quân sự, kinh tế hay ảnh hưởng quốc tế. Trải qua các thời kỳ, đó là Liên Xô, Đức, Nhật Bản và nay là Trung Quốc.

Việc Mỹ - nhà nhập khẩu thép lớn nhất thế giới có biểu hiện khơi mào chiến tranh thương mại với Trung Quốc – nhà xuất khẩu thép lớn nhất thế giới cũng khiến cho người ta hoài nghi về mục tiêu thực sự. Bởi lẽ Canada, Brazil, Mexico mới là những nhà xuất khẩu thép lớn nhất vào Mỹ, trong khi hiện nay Trung Quốc chỉ chiếm 3%. Thực tế, cuộc chiến thương mại về thép với Trung Quốc đã được khởi mào từ trước bởi chính quyền Tổng thống Obama vào năm 2016 với mức thuế lên tới 500% vào các mặt hàng thép Trung Quốc, khiến lượng xuất khẩu giảm 2/3. Vì vậy, nhiều chỉ trích với Tổng thống Trump lần này rằng chính sách thuế của ông sẽ chỉ khiến các nước đồng minh như Canada và EU chịu thiệt chứ không phải Trung Quốc.

Tuy nhiên, sẽ là hàm hồ nếu khẳng định nhóm cố vấn của ông Trump không biết điều này. Chính quyền Mỹ hoàn toàn có thể xem xét miễn trừ mức thuế này đối với các nước đồng minh như Canada, và chỉ áp dụng đối với các nước mà họ cho là không đồng minh, không thân thiện như Trung Quốc và Nga.

Mặt khác, Mỹ hiện chiếm 36% lượng nhập khẩu thép của thế giới, trị giá khoảng 33 tỷ Đô-la. Một nước nhập khẩu thép lớn nhất như Mỹ có thể có khả năng gây ảnh hưởng tới cung cầu thế giới. Mức thuế cao, nhu cầu thép giảm và việc phân biệt đối xử với đối thủ sẽ làm lệch dòng thương mại và qua đó vắt kiệt hơn nữa khả năng xuất khẩu của Trung Quốc và Nga. Tất nhiên, đó là kịch bản, còn thực tế chưa chắc đã như vậy.

Những quốc gia lớn bị ảnh hưởng đều lên tiếng phản đối gay gắt, bao gồm Canada, EU và Trung Quốc. Tuy nhiên, những đồng minh của Mỹ như Canada và EU đều có lợi thế vì họ có thể đàm phán, trao đổi với Mỹ để tìm ra giải pháp được lòng cả đôi bên. EU nhận thức rất rõ động cơ chính trị của ông Trump và họ đã tấn công đúng vào điểm yếu này khi dọa sẽ đánh thuế xe Harley-Davidson và rượu Bourbon. Đây chính là hai mặt hàng xuất khẩu đến từ bang Wisconsin của Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan và bang Kentucky của Lãnh đạo Thượng viện Mitch McConnell. Mất sự ủng hộ của cả hai nhân vật này, Trump sẽ bị phong tỏa và khó đưa ra được chính sách gì trong những năm tại nhiệm còn lại.

Trong khi đó, Trung Quốc và Nga sẽ khó khăn hơn nhiều. Trung Quốc mới đây đã tuyên bố sẽ đưa vụ tranh chấp này ra WTO và xem xét khả năng trả đũa bằng cách đánh thuế các mặt hàng nông nghiệp của Mỹ nhập khẩu vào nước này. Cũng đừng nên quên rằng vào năm 2002, chính quyền Bush cũng áp dụng thuế lên mặt hàng thép của Trung Quốc, bị Trung Quốc kiện ngược lại và buộc phải rút chính sách thuế.

Lý do khác cần xét đến là đây có thể là một trong những chiêu bài của chính quyền Mỹ nhằm hướng tới đàm phán lại các thỏa thuận thương mại song phương. Ông Trump vốn tự hào về khả năng đàm phán của mình, đặc biệt với phương thức đẩy vấn đề lên rất cao để tạo vị thế thuận lợi khi đàm phán. Cách của ông là thích gây sốc, và tạo dấu ấn mạnh.

Chuỗi hành động áp đặt thuế theo kiểu bảo hộ này có thể là một trong những bước đi chuẩn bị cho sau này. Trước đó, ông đã không ngần ngại chỉ trích các hiệp định thương mại trước đó của Mỹ, tiêu biểu như NAFTA là một thảm họa. Bản thân ông Trump không phải là một người chống lại thương mại một cách cực đoan, mà ông muốn tạo dấu ấn bằng các thỏa thuận thương mại mới, tiêu biểu như vậy tuyên bố sẽ sẵn sàng đàm phán thương mại song phương với các nước thuộc CPTPP.


Một nền kinh tế Mỹ mới khởi sắc chút ít trong vài năm trở lại đây chưa chắc sẽ đứng vững về lâu dài trước một cuộc chiến thương mại. Đơn cử, chứng khoán ngay lập tức lao dốc sau thông tin ông Trump áp thuế nhập khẩu lên nhôm và thép vào Mỹ. Ảnh: AFP.

PHÍA SAU ĐỐI NGOẠI LÀ ĐỐI NỘI

Việc áp thuế lên thép và nhôm mới đây của ông Trump có nguồn gốc từ những quan điểm của ông kể từ khi tranh cử, và nó xuất phát từ những toan tính chính trị của chính quyền Đảng Cộng hòa thời điểm hiện nay, cũng như đặt trong bối cảnh một nước Mỹ đang vật lộn bám giữ lấy vị trí số 1 của mình trước những thách thức của một thế giới đa cực và toàn cầu hóa đang biến đổi rất nhanh. Gần như chắc chắn đây là một, và sẽ còn những bước đi chính sách khác của chính quyền ông Trump nhằm đạt tổng thể những mục đích và vấn đề chung đó.

Sẽ cần thời gian để khẳng định được cuối cùng thì chính sách bảo hộ của chính quyền ông Trump có thực sự phát huy tác dụng hay không, và động lực mạnh nhất đằng sau đó là gì. Nhưng có thể khẳng định quyết định này sẽ gây ra nhiều tác động trực tiếp tới kinh tế Mỹ, đời sống quan hệ quốc tế cũng như gia tăng chia rẽ trong nội bộ Mỹ. Mới đây, cố vấn kinh tế, người đứng đầu Hội đồng Kinh tế Quốc gia Mỹ Gary Cohn đã từ chức. Ông Cohn vốn được coi là chiến binh cuối cùng đấu tranh bảo vệ tự do thương mại tại Nhà Trắng. Bên ngoài nước Mỹ, các nước như Canada, Trung Quốc và EU lần lượt tuyên bố đang chuẩn bị các biện pháp trả đũa thương mại.

Chiến tranh thương mại tốt hay không cho một quốc gia thì còn chưa biết. Nhưng chắc chắn sẽ không dễ dàng. Nước Mỹ chắc chắn sẽ chịu thiệt hại, bởi lẽ giá cả trong nước Mỹ sẽ tăng, và các quốc gia khác sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Chiến tranh thương mại là một cuộc chơi tốn kém, bản chất là xem ai có thể chịu đau nhiều hơn và dài hơn, vốn không dành cho người nghèo. Một nền kinh tế Mỹ mới khởi sắc chút ít trong vài năm trở lại đây chưa chắc sẽ đứng vững về lâu dài. Và điều nguy hiểm hơn, như đã nói, là việc “ăn miếng trả miếng” sẽ có thể nối đuôi nhau và kết quả là kéo toàn bộ hệ thống thương mại đi xuống, trong khi nền kinh tế thế giới hiện nay vốn đã không khỏe mạnh gì cho cam.

Trong một thế giới bất định như vậy, nước Mỹ liên tục khuấy nước để củng cố và tìm lại vị trí của mình, và các nước khác tìm kiếm các giải pháp để giảm thiểu tác động, thì một ẩn số lớn đang đặt ra đối với một người khổng lồ khác ở bên kia bán cầu.

'Đội hình trong mơ' của ông Tập có giúp Trung Quốc vượt Mỹ?

Trong khi Mỹ dần rút lui khỏi vai trò lãnh đạo thế giới, Chủ tịch Tập Cận Bình đã gây dựng đội ngũ đối ngoại được kỳ vọng sẽ giúp Bắc Kinh nâng tầm ảnh hưởng toàn cầu.


Mỹ - Trung: Cuộc chiến không tiếng súng của hai gã khổng lồ

Đối đầu thương mại Mỹ - Trung nóng dần thời gian qua làm dấy lên lo ngại về một cuộc chiến tranh thương mại giữa hai gã khổng lồ với nguy cơ phá hủy hệ thống giao thương toàn cầu


Sơ Nguyên
Đồ họa: Nhân Lê
https://news.zing.vn/tai-sao-my-va-cac-quoc-gia-tien-hanh-chien-tranh-thuong-mai-post827382.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Putin, Nga hoàng


Từ Thức
Dân Nga vừa bầu Poutine (Putin) thêm 6 năm nữa. Sau 18 năm cầm vận mệnh nước Nga, nếu tính cả bốn năm làm Thủ tướng để lươn lẹo với hiến pháp. Sau Tập Cận Bình, Erdogan, những hoàng đế trọn đời, thế giới có thêm một ông vua toàn quyền.

Putin đắc cử vẻ vang với 76% phiếu bầu, với 3000 vụ gian lận. Thế hệ Internet, smartphone, người ta chứng kiến trực tiếp những chuyện nhét phiếu vào thùng.

Sự thực, khỏi cần gian lận, Putin chắc chắn đắc cử. Gian lận chỉ làm cho thắng lợi vẻ vang hơn. Nhiều khi cũng chỉ vì truyền thống. Phản ứng Pavlov, nhiều người thấy thùng phiếu là tự động nhét cho đầy. Các địa phương thi đua nhau để chứng tỏ mình hữu hiệu hơn các vùng lân cận.

Số phiếu bầu nhiều nhất từ 8 tới 9 giờ, trong phòng phiếu chỉ có nhân viên kiểm phiếu; trời lạnh, cử tri còn ngủ, hay còn trên đường mò tới phòng phiếu, rất gian nan ở những vùng quê.

PUTIN FOR EVER

Sự thực, Putin khỏi cần gian lận, khỏi cần tranh cử cũng vẫn đắc cử. Các hãng thăm dò cho hay một nửa dân Nga muốn Putin tiếp tục. Tỷ lệ phiếu bàu cho Putin sẽ cao hơn nhiều, vì số tham dự 67%, và những người chịu khó đội tuyết đi bầu hơn cả là fans của Putin.

Tại sao dân Nga bầu cho Putin, mặc dù kinh tế của Nga đang lúng túng, đời sống dân Nga khó khăn? Ra khỏi Moscou giàu có, Saint Péterbourg huy hoàng (địa danh viết theo chữ Pháp), Nga là một nước nghèo, bất công chồng chất, tham nhũng lộng hành trong mọi tầng lớp.

Tạm nêu vài lý do:

1. Không có đối lập. Những người đối lập nặng ký hoặc nằm tù, hoặc bị ám sát, hoặc lánh nạn ở ngoại quốc, hoặc bị cấm tranh cử vì những lý do lăng nhăng. Bẩy ứng cử viên tranh cử với Putin chỉ để làm cảnh. Putin không thèm tranh cử, tranh luận.

2. Media hoàn toàn trong tay nhóm cầm quyền, suốt ngày suốt đêm ca tụng, đã tạo một huyền thoại người hùng, coi Putin là người duy nhất có thể bảo toàn lãnh thổ Nga, uy danh Nga, nhất là sau vụ Nga xâm chiếm Crimée.

Ngay cả chuyện hai bố con cựu điệp viên Nga bị đầu độc ở London, cũng được chính quyền và media tay sai rêu rao là một âm mưu của cả thế giới, nhằm ngăn chặn dân tộc Nga vùng lên, dưới sự lãnh đạo của Superman Putin. Thay vì gây khó khăn, vụ đầu độc còn khiến nhiều người Nga ủng hộ Putin hơn nữa.

3. Dân Nga muốn ổn định, sau nhiều năm xáo trộn sau khi Nga Xô Viết sụp đổ. Người Nga còn trong đầu những kinh hoàng thời Staline, những năm xáo trộn, đất nước như một con tàu điên dưới thời ông quốc trưởng nghiện rượu Eltsine.

4. Người Nga nghĩ Putin đã mang lại thịnh vượng cho nước Nga. Sự thực, cả kinh tế Nga xây dựng trên dầu lửa, dầu khí. Putin may mắn lên cầm quyền đúng lúc dầu lửa lên giá, dollars đổ vào như nước. Chính quyền Nga không có một chính sách kinh tế gì lâu dài, maffia chia chác nhau và dùng tiền của quốc gia để củng cố quyền lực.

Nga không có kỹ nghệ gì đáng kể, không sản xuất gì ngoài dầu khí, dầu lửa, sung đạn, võ khí.

Khác với Ấn và Tàu, Nga không có một kế hoạch kinh tế gì lâu dài. Chỉ những cam kết mơ hồ sẽ đóng vai chủ chốt trên thế giới. Khó ai biết nước Nga sẽ đi về đâu.

Tổng sản lượng (PIB) của Nga chỉ bằng Tây Ban Nha. Ngân sách Nga dồn vào quân sự quốc phòng, bỏ quên giáo dục, y tế, xã hội. Mặc dù trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Tây Ban Nha đã xây dựng những hạ tầng cơ sở như xa lộ, nhà thương, trường học, trong khi ở Nga, những cơ sở hạ tầng đó vừa hiếm, vừa trong tình trạng thê thảm của một nước chậm tiến.

5. Dân Nga so sánh đời sống thời Putin với thời Cộng sản, thấy đỡ khổ, đỡ thiếu thốn hơn trước. Không nghĩ rằng làm bệ rạc hơn kinh tế Cộng sản là chuyện rất khó. Không thể đói hơn thời Staline, không thể khổ hơn thời Eltsine, khi tất cả guồng máy quốc gia tê liệt.

Cũng như ở Việt Nam, có người nói đời sống ở Việt Nam bây giờ thoải mái hơn nhiều, so với thời đói khát trước 75 ở miền Bắc, thời ăn bo bo ở miền Nam những năm sau 75. Không nghĩ rằng nhóm cầm quyền đã bán thổ bán tháo tài nguyên quốc gia, xuất cảng lao động kiếm tiền, chưa nói tới hàng tỷ dollars của người Việt hải ngoại gởi về. Ngân khoản khổng lồ đó rơi vào túi nhóm cầm quyền và tay chân, ngày nay gọi là các “đại gia”. Dân chúng chỉ được hưởng những hạt gạo rớt dưới sàng.

Eltsine và các đại gia, nghĩa là mafia đỏ, đã chia nhau những cơ sở quốc doanh béo bở. Khi Eltsine tư hữu hóa kinh tế, nhiều người trong phe đảng chỉ việc ký tên mua một cơ sở bằng tiền lèo (tiền ngân hàng hứa cho vay), băng qua đường, có thể bán lại với giá gấp 100 lần giá mua. Có người nói kỷ lục là …700 lần giá mua.

Putin kín đáo hơn, không khoe của, nhưng không ít tham nhũng hơn. Medvedev, người ra làm tổng thống làm vì, dính dáng tới nhiều vụ tai tiếng về kinh tài. Chung quanh Putin là cả một tập đoàn cựu KGB, ngày nay trở thành mafia đỏ.

6. Sau gần một thế kỷ tẩy não, dân trí Nga còn thấp. Ý niệm dân chủ còn mơ hồ. Ước vọng dân chủ hầu như không có, trừ ở một thiểu số, bị cô lập, đàn áp. Đa số vẫn nghĩ một nhóm người nắm toàn quyền, toàn tài sản đất nước là chuyện thường tình, ở đâu cũng vậy, thời nào cũng thế. Giống y chang như tâm não nhiều người Việt Nam.

7. Nhiều người Nga ủng hộ Putin vì thấy chung quanh ông ta là sa mạc, không có ai có đủ khả năng, bản lãnh.

Putin dồn mọi nỗ lực vào quân sự và ngoại giao. Nhờ sự táo bạo hiếm có, khả năng chiến thuật cao, và cũng nhờ sự rụt rè, chia rẽ của Tây Phương, Putin đã thắng ở Crimée, gây rối loạn ở Ukraine, gây khó khăn cho Tây Phương ở Trung Đông và từ đó, chứng tỏ cho dân Nga thấy ông ta đón lãnh tụ của một cường quốc.

Sự thực, khả năng quân sự của Nga chỉ ngang với một nước trung bình. Nga có khả năng phá hoại hay đe dọa lớn nhờ hai yếu tố: 1. Có bom nguyên tử 2. Là thành viên của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, có quyền và luôn luôn, cùng với Tàu, sử dụng quyền phủ quyết để gây khó dễ cho các nước Tây Phương.

Nga, ngoài vấn đề kinh tế, còn một vấn đề cực kỳ nan giải: dân số. Mỗi năm dân số Nga giảm hàng trăm ngàn người, có năm gần một triệu, vì y tế lạc hậu, nạn rượu chè trầm trọng, nhất là trong giới trẻ. Trên một lãnh thổ mông mênh, lớn nhất thế giới (17 triệu km2!), dân số Nga không tới 150 triệu người.

Dân số ít, khả năng chuyên nghiệp thấp, y tế lạc hậu, giáo dục lỗi thời, giấc mơ cường quốc của Nga còn xa vời.

Khó khăn về kinh tế, xã hội, Putin dung chiêu bài quốc gia cực đoan làm lá bùa hộ mệnh.

Phải công bằng mà nói: Putin ngày nay tận dụng chính sách đương đầu với Tây Phương, để củng cố quyền lực, cũng vì thái độ của Tây Phương.

Khi mới lên cầm quyền, Putin đã tìm cách xích lại với NATO, với Liên Hiệp Âu Châu. Hoa kỳ không muốn một Âu Châu quá mạnh. Các nước Âu Châu nhìn Nga với con mắt e ngại, nếu không nói là lo sợ đối với Nga, nhất là các quốc gia Đông Âu đã từng bị Nga Xô Viết xâm chiếm, cai trị.

Putin ngồi lì trên ngai, Tập Cận Bình, Erdogan trở thành hoàng đế trọn đời. Thực tế nham nhở đã cải chính lý thuyết “la fin de l’histoire” (the end of history) nổi tiếng của Francis Fukuyama. Fukuyama nói lịch sử đã chấm dứt, không thay đổi nữa, vì thế giới sẽ đi dần dần tới chế độ dân chủ.


Từ Thức (Paris, tháng 3/2018)

Nguồn Văn Việt


Phần nhận xét hiển thị trên trang

QUAN PHẨM VÀ NHÂN PHẨM (1


LỜI DẪN
Cuốn sách này như tên gọi của nó “Quan phẩm và Nhân phẩm”, muốn nhắm đến việc lý giải: Quan phẩm đặc quyền mà mọi người đều thích, nhưng Nhân phẩm mới là giá trị cao nhất và rộng nhất của con người. Tất nhiên, cuốn sách không thể là những lý giải khiên cưỡng về giá trị, về đạo đức là thước đo cao nhất của con người theo cách người ta vẫn gọi là giáo điều, mô phạm, hay võ đoán áp đặt cho đạo đức phải có một giá trị cao nhất, không ai có thể cưỡng được; mà bằng cách lý giải vừa khoa học, vừa cuộc sống, cuốn sách muốn thuyết phục mọi người cách minh nhiên và mạnh mẽ nhất: niềm hân hoan làm người rộng lớn mênh mông- cao cả hơn gấp bội nhãn hiệu làm quan.
“Quan phẩm và nhân phẩm” đó là tên gọi được Hán hoá, kỳ thực nó có thể mang một cái tên thuần Việt hơn: “ Học làm quan và học làm người”. Học làm quan khó hay học làm người khó? Hiển nhiên, theo cách nghĩ đơn giản nhất, không ít người nghĩ: người ta sinh ra đã làm người, không học, dốt nát vẫn cứ làm người, vẫn ăn, vẫn uống, vẫn xây nhà, vẫn dựng vợ gả chồng, đêm đông lạnh lẽo vẫn có bạn tình nằm bên gối ấp má kề, rồi vẫn sinh con đẻ cái, như vậy không là con người sao? Vậy tháng tháng, năm năm , ta vẫn dự đình đám của làng, vẫn dự hiếu- hỉ vẫn chu toàn cúng giỗ cho ông bà, cụ kị, tổ tiên của ta là người đi hai chân, ta vẫn đi hai chân, thì làm sao ta có thể tiếp tục không phải là người? Người Việt có câu:
Văn hay chữ tốt
Không bằng ngu dốt lắm tiền
Và cũng còn có câu đưa ra so sánh cái thú làm quan suy đi nghĩ lại trước sau không bằng cái thú làm người:
Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhì sĩ
Tuy nhiên, đây mới là một phép so sánh chưa đầy đủ mới căn cứ trên vấn đề ăn uống của dạ dày. Để bắt đầu một cách có chiều sâu, chúng ta thấy, ở đời, theo cách bình thường và phổ biến, người ta lo học hành đỗ đạt làm quan, chứ mấy ai lo học làm người bình thường? Người Trung Quốc có câu “Học nhi ưu tắc sĩ” (học mà giỏi thì làm quan) (1). Người Trung Quốc cũng có câu:
Di tử thiên mãn kim
Hà như giáo độc thư
Dưỡng tử giáo độc thư
Trung thư hữu kim ngọc
Tức là:
Cho con nghìn vàng
Không bằng dạy con đọc sách
Nuôi con bằng đọc sách
Trong sách có vàng bạc
(còn nữa)

Phần nhận xét hiển thị trên trang