Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Cống đập chặn mặn, gây rối loạn hệ sinh thái và những cái giá phải trả.


Tôi trân trọng giới thiệu bài bút kí thứ 4, cũng là bài quan trọng nhất, của Nhà văn Ngô Thế Vinh trong chuyến về thăm quê vào cuối năm 2017. Tính quan trọng của bài này là ở những thông tin và nhận định của tác giả về các cống đập được xây dựng rải rác khắp vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã gây ra nhiều tác hại sinh thái không thể kể hết. Những ai đã từng sinh sống ở vùng đất này dễ dàng chứng kiến những thay đổi có hại trong thời gian gần đây. Ở nước người ta thì thường thay đổi có lợi ích, còn ở nước mình thì những thay đổi thường đem đến tai hoạ cho người dân, và những cái đập ở vùng sông nước này là một ca tiêu biểu về tầm nhìn ngắn của người có trách nhiệm. Ấy thế mà cái Uỷ Hội Quốc gia Sông Mekong Việt Nam lại nằm ở .... Hà Nội. NVT


Cống đập chặn mặn, gây rối loạn hệ sinh thái và những cái giá phải trả.

 Water, water, every where,
Nor any drop to drink. 
Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]     

Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người
phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai

NGÔ THẾ VINH

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

Hình 1: Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có 2 triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai; từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh]

XỨ SỞ CÂY THỐT NỐT VÀ NGƯỜI KHMER HIỀN HOÀ

Tới An Giang, tới hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn không thể không thấy hàng cây thốt nốt nổi bật trên những cánh đồng lúa xanh. Cây thốt nốt thuộc họ cau, tên khoa học Borassus flabellifer, có nhiều ở các nước Đông Nam Á. Cây thốt nốt sống cả trăm năm dài hơn tuổi thọ một đời người. Thân cây thẳng và cao tới 30 mét. Cây đực không trái, cây cái cho tới 60 trái mỗi cây. Trái thốt nốt có vỏ xanh đen, nhỏ hơn trái dừa bên trong có những múi trắng mềm, ngọt và mát. Hoa cây thốt nốt cho nước ngọt có vị thơm, có thể nấu thành đường, ngon hơn đường mía. Nếu Quảng Ngãi, quê Hương Nghiêu Đề bạn tôi, từng nổi tiếng về đường phổi, đường phèn thì An Giang, vùng Tịnh Biên Tri Tôn nổi tiếng với đường thốt nốt. Chè đậu xanh nấu với đường thốt nốt ngọt dịu và rất thơm ngon. Hình như tất cả mọi thành phần cây thốt nốt đều có công dụng: thân làm cột nhà, lá dùng lợp mái. Trong nền văn hóa cổ Khmer, các Chùa chiền còn lưu giữ được những văn bản viết trên lá cây thốt nốt. Cây thốt nốt cũng được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [Hình 2]


Hình 2: Hàng cây thốt nốt đứng soi bóng bên hồ nơi khu đền đài Angkor;
cây thốt nốt được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [tư liệu Ngô Thế Vinh] 

Khắp xứ Chùa Tháp xuống tới Đồng Bằng Sông Cửu Long, đi đâu cũng chỉ gặp những người dân Khmer hiền hòa, và rồi không thể nào hiểu được những gì đã xảy ra giữa họ và những người Việt trong quá khứ. Chỉ có thể giải thích họ là một đám đông nạn nhân của những khích động thù hận mà động cơ là những mưu đồ chánh trị đen tối.

Trong y khoa, khi khảo sát não trạng vô thức của đám đông, qua nghiên cứu hành vi/ behavior của loài cá, khoa học gia Đức đã làm một thử nghiệm: thả một con cá bị huỷ não bộ vào một hồ cá, không có gì ngạc nhiên là con cá ấy mất định hướng bơi tán loạn, nhưng điều kỳ lạ là đàn cá lành mạnh thì lại ngoan ngoãn bơi theo con cá mất não ấy. Phải chăng "thử nghiệm hành vi" của nhà khoa học Đức, đã phần nào giải thích hiện tượng cả một dân tộc Đức văn minh đã có một thời kỳ nhất loạt tuân theo một lãnh tụ như Hitler xô đẩy cả thế giới vào lò lửa của cuộc Thế chiến thứ Hai. 




Hình 3: trên trái, hàng cây thốt nốt huyện Tri Tôn tỉnh An Giang; phải, bà Ngoại ngồi chặt đống trái cây thốt nốt; dưới phải, con gái Ngoại thì đang gỡ những múi thốt nốt trắng mềm để mời khách, đây là quán Thốt Nốt Võng cho khách đường xa ghé uống ly nước thốt nốt mát và tạm ngả lưng; từ phải, TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, TS Lê Phát Quới, Th.S Nguyễn Hữu Thiện, KS Phạm Phan Long; trên mặt bàn là hộp đường thỏi thốt nốt. [photo by Ngô Thế Vinh & Phạm Phan Long]

Hình 4: trái, được ăn những chiếc bắp nóng trên đường đi, phải, vựa dứa thơm ngon nổi tiếng quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, từ trái: TS Dương Văn Ni, Ngô Thế Vinh, TS Lê Phát Quới. [photo by Ngô Thế Vinh, Nguyễn Văn Hưng]

Hình 5: trái, những giề lục bình phủ kín kinh rạch do nước tù đọng; phải, cảnh khói đồng do nông dân đốt rạ và dùng tro than như phân bón thiên nhiên.

Hình 6: giữa, cùng bác nông dân với bài học đập lúa đầu tiên trên ĐBSCL, kết quả người viết bị đánh rớt / disqualified ngay, vì đập không hết hạt và lúa thì vương vãi ra tứ tung, học làm nông dân khổ và khó lắm. [photo by Nguyễn Văn Hưng]


Hình 7: trái, từ ruộng hành xã Vĩnh Hải huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng những thố hành tím được chất thành ngọn lên xe tải để phân phối tới các chợ; phải: TS Lê Anh Tuấn đứng bên túi trữ nước ngọt lấy từ giếng bơm, anh Lê Anh Tuấn cũng cho biết: 100% nước tưới ruộng hành được lấy từ các giếng bơm,  [photo by Ngô Thế Vinh] 

CÓ MỘT NỀN VĂN HOÁ NƯỚC LỢ 

Trên đường dọc theo Sông Hậu, xe dừng lại Hộ Phòng là một phường của thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Xuống xe đi bộ lên chiếc cầu xi măng có tên Hộ Phòng 2, bắc qua con kênh lớn Gành Hào [được xây từ năm 2011 do quỹ ODA/ Official Development Assistance của Nhật].

Bấy lâu, các chuyên gia Bộ Nông nghiệp từ ngoài Bắc vào vẫn có cái nhìn rất giản đơn về hệ sinh thái sông nước Cửu Long: họ chỉ thấy có triều cường và triều kiệt. Rồi đề xuất kế hoạch làm những cống đập chặn triều cường để ngăn mặn giữ ngọt. Từ suy nghĩ giản đơn ấy, họ đã và đang gây ra bao nhiêu hệ luỵ cho hệ sinh thái ĐBSCL như hiện nay.

Đoàn đứng trên cầu phía hướng ra Biển Đông, nơi có cống đập ngăn mặn. Ngoài mặn trong ngọt. Anh Dương Văn Ni sinh ra và lớn lên từ vùng sông nước Miền Tây, khi nói về nhịp đập của hệ sinh thái ĐBSCL, anh Ni thông thuộc như với đường chỉ tay của chính mình; với một giọng thuần Nam Bộ trầm tĩnh bắt đầu một bài giảng:

"ĐBSCL chỉ nói riêng phía Biển Đông, không đơn giản chỉ có triều cường và triều kiệt. Hỏi người nông dân thì họ biết rất rõ. Thuỷ triều từ Biển Đông là bán nhật triều, sáng và chiều hai lần trong ngày; hai lần nước lớn tiếp theo hai lần nước ròng, mực nước lên xuống bốn lần trong một ngày. Trong tháng, người nông dân biết chừng nào thì "nước rong" vào ngày rằm, khi nào "nước kém" vào cuối tháng âm lịch. Trong năm, thì họ có mùa "nước nổi" và mùa "nước hạn".

Từ mấy trăm năm, trải qua bao thế hệ, người nông dân Miền Tây đã quen chung sống với nhịp đập thiên nhiên ấy của những dòng sông: trong ngày, trong tháng, trong năm và đã hình thành một nền "văn minh sông nước." Họ đã quen chung sống với cả ba tình huống: nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Lãnh đạo bộ Nông nghiệp đa số mang theo họ một nền văn hoá từ châu thổ sông Hồng, biết rất ít về hệ sinh thái ĐBSL vốn rất đặc thù. Với đầu óc duy lý giản đơn, với những con số thống kê, nhưng họ có biết đâu rằng chuỗi những con số đó chính là những tín hiệu đã nằm ngay trong nền "văn hoá sông nước" mà người nông dân từ đời này sang đời nọ vẫn đọc được. Người nông dân bấy lâu đã biết nương theo sức mạnh của thiên nhiên để chung sống. Văn hoá sông nước thực ra gồm bốn phần tương tác Sông-Biển-Châu thổ-Con người cùng hoà nhập nhau theo từng nhịp đập.

Một ví dụ, chỉ riêng chuyện di chuyển ghe thuyền trên sông, người nông dân biết tính trước khi nào thì cho ghe xuôi theo con "nước ròng", khi nào thì ghe ngược theo con "nước lớn", và cũng để thấy cấu trúc của lòng ghe bấy lâu là làm sao dùng sức đẩy tối ưu của dòng chảy.

Và rồi trong tháng họ biết lúc nào thì cho nước vào ruộng, khi nào thì xả, khi nào thì thả con giống cá tôm... mà không cần tốn nhiều công sức, để phải dùng gầu tát nước hay phải dùng tới máy bơm.

Chính nhịp đập của "mẹ thiên nhiên / natural pulse" là bạn đồng hành thân thiết bấy lâu của họ. Và nay thì bị phá vỡ và cắt đứt một cách thô bạo.

Cũng từ bao trăm năm, nông dân ĐBSCL biết rất rõ là sông rạch nối liền với biển, có thuỷ triều lên nên mới có được con nước lớn, và thuỷ triều xuống mới có con nước ròng, và cũng nhờ đó mà sông rạch được làm sạch, có cá tôm và đã hình thành cả một nền văn hóa sông nước.

Chúng tôi cùng hiểu rằng: với cống đập kia, con sông bị cắt làm hai: chỉ còn một bên ngọt, một bên mặn, mất hẳn một vùng nước lợ / blackish. Bên trong không còn nước lớn, nước ròng mà sông biến thành hồ tù đọng, tích luỹ đủ mọi loại ô nhiễm, và không còn cá tôm. Bên ngoài, hệ sinh thái ven biển cũng bị nghèo đi và nông ngư dân cho biết, từ ngày có cống đập không còn đâu nguồn tôm cá phong phú của cả một vùng nước lợ. Đó là chưa nói tới tình trạng gián đoạn giao thông trên sông.

Rồi anh Ni đưa ra một ví dụ rất tượng hình: "Cũng giống như khai quật được một kho tàng cổ sử, người không chuyên môn thì chỉ thấy được đó là những mảnh đá mảnh sành, cùng lắm là thấy thêm được mấy nét vẽ ngoằn ngoèo vô nghĩa trên đó, nhưng với con mắt của nhà khảo cổ thì khác, đó là dấu vết và tín hiệu của cả một nền văn minh."

Và tôi cũng hiểu rằng, bấy lâu với các chuyên gia nông nghiệp từ ngoài Bắc vào, chưa từng chung sống và chết với nền văn minh sông nước ấy, họ đã có những chánh sách can thiệp thô bạo chống lại mẹ thiên nhiên để phải trả giá rất đắt và nạn nhân không ai khác hơn là chính ngót 20 triệu cư dân phải ngày đêm sống với những bất cập ấy như hiện nay.




Hình 8: trái, Cầu Hộ Phòng II là cây cầu mới trên khúc đường vòng/ detour, (do quỹ ODA / Official Development Assistance của Nhật xây 2011, còn Hộ Phòng I là cây cầu cũ thì nằm trên đường thẳng của Quốc lộ). Đứng trên hướng ra Biển Đông TS Dương Văn Ni đang giảng về "có một nền văn hoá nước lợ"; từ trái: TS Dương văn Ni, KS Phạm Phan Long, TS Lê Anh Tuấn, TS Lê Phát Quới, giữa: cống đập chặn mặn không xa biển trên con kênh Gành Hào, với bên ngọt bên mặn và một mai không còn đâu nét văn hoá của một vùng nước lợ / blackish; phải: cống đập chặn mặn chặt đứt hệ sinh thái biển và sông và cũng làm nghẽn mạch vận chuyển đường sông, kể cả với những chiếc ghe nhỏ đuôi tôm. [photo by Ngô Thế Vinh]  

CÔNG TRÌNH CỐNG ĐẬP BA LAI: MỘT HỐI TIẾC

Hai Mươi Năm qua 1997-2017, lãnh đạo Bộ Nông Nghiệp, qua nhiệm kỳ của 3 bộ trưởng:

1/ Lê Huy Ngọ, nhiệm kỳ 7 năm, 1997-2004
2/ Cao Đức Phát, nhiệm kỳ 12 năm, 2004-2016
3/ Nguyễn Xuân Cường, nhiệm kỳ 2016 đương nhiệm

Họ đến từ miền Bắc đã và đang có những quyết định phải nói là sinh tử với hệ sinh thái ĐBSCL, một vùng thổ nhưỡng phải nói là rất xa lạ với họ.  

Chỉ thấy đơn giản nơi ĐBSCL có triều cường triều kiệt, coi nước mặn là kẻ thù nên đã có một chiến lược ồ ạt xây những đại công trình mà người ta gọi là Cống Đập Ngăn Mặn, mà Cống đập Ba Lai là một điển hình.

Được khởi công ngày 27.02.2000, dự án công trình cống đập Ba Lai chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị kéo sang xã Tân Xuân (Ba Tri). Kinh phí ban đầu lên tới hơn 66 tỷ đồng VN. Con đập dài 544 m gồm 10 cửa với khẩu độ 84 m được vận hành bằng một hệ thống van tự động hai chiều. Quy hoạch trên lý thuyết, thì cống đập Ba Lai có chức năng: ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ cho 115,000 hecta đất trong đó có 88,500 hecta là đất canh tác, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân cư Thành phố Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành; cùng kết hợp với phát triển giao thông thuỷ bộ và cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án. [sic]

Hai năm sau, từ ngày 30.04.2002 cống đập Ba Lai được đưa vào hoạt động, được vinh danh là một công trình thuỷ lợi lớn nhất của ĐBSCL. Và từ đây, cửa sông Ba Lai, một trong 9 cửa của Cửu Long chính thức bị ngăn lại.


Hình 9: từ ngày có cống đập Ba Lai, cửa sông Ba Lai nhánh thứ 8 bị chính con người đóng lại. Cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp từ cả trăm năm nay, và hiện giờ Cửu Long Giang nay chỉ còn 7 nhánh: Thất Long. [photo by Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị]

Tính cho tới nay, cống đập Ba Lai đã vận hành được 16 năm [2002-2018], hiệu quả công trình Cống đập Ba Lai ấy ra sao? Chỉ có những lời ta thán.
Hàng trăm cống ngăn mặn không đạt mục đích vì còn chằng chịt những cửa sông kinh rạch không có cống ngăn mặn đã tập hậu nước mặn vào bên sau  hệ thống cống đập đã xây.

Hình 10: Bến Tre nước ngọt khan hiếm, phải dùng cả xe máy kéo để chở nước, có nơi dân phải mua 100,000 đồng / mét khối nước [photo by Bình Đại, Zing VN 20.02.2016]. Bệnh viện lớn nhất tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt. mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt, chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước. [photo by Mậu Trường, TTO 14.03.2016]

Sông Ba Lai ngừng chảy. Thay vì biến sông Ba Lai thành một hồ nước ngọt thì cư dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô. Hậu quả là tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt, đưa tới tình cảnh bệnh viện lớn nhất Bến Tre mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước, còn người dân thì sống trong tình trạng thiếu nước ngọt kinh niên, phải mua nước ngọt có khi phải trả tới 100,000 đồng VN/ mét khối. [Tuổi Trẻ online 22.02.2016]

Giải thích của nhà nước về "hiệu quả ngược" của công trình cống đập Ba Lai như hiện nay là: do thiếu vốn để làm tiếp nhiều công trình khác tiếp theo, trong đó có hai hạng mục quan trọng, đó là phải xây thêm cống đập và cả âu thuyền* trên hai con sông Giao Hoà và Chẹt Sậy vẫn tiếp tục đem nước mặn từ sông Cửa Đại đổ vào "hồ nước ngọt Ba Lai".


*Âu thuyền / canal lock: là một từ tương đối mới, chỉ một công trình chắn ngang sông hoặc kênh, có cửa hai đầu để tăng hoặc giảm mực nước, giúp cho thuyền hay tàu đi qua nơi có mực nước chênh lệch nhiều.   

Theo phóng viên TTXVN Phan Văn Trí, trích dẫn: "Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh cho biết để thi công hai hạng mục đập và âu thuyền và một số hạng mục khác cần nguồn vốn khoảng 200 triệu USD. Vì vậy, tỉnh đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tranh thủ nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Ông Trọng cũng cho biết tổ chức JICA (Nhật Bản) đã đến Bến Tre khảo sát địa điểm xây dựng đập và âu thuyền. Tuy nhiên, việc khởi công có thể còn phải chờ đến… năm 2020. Dù gì thì hình ảnh những chiếc xe máy cày hay xe bò kéo chở nước đem đổi cho người dân, với giá từ 70,000 đồng đến 100.000 đồng/m3, chắc chắn vẫn còn diễn ra trong những mùa khô cho tới 2020. Điều đáng nói là nước đó được lấy từ những chiếc giếng đào trên giồng cát, chưa qua xử lý…" [2]

Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng nay chỉ còn có 7 cửa. Nam Thất Nữ Cửu, như hình ảnh một ĐBSCL bị triệt sản. Bởi thế dân gian tỉnh Bến Tre mới có câu:

Ba Lai là cái cửa mình
Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ

Một câu hỏi được đặt ra: với những tác hại do cống đập Ba Lai gây ra, ai - Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hay Bộ Tài Nguyên Môi trường hay chánh phủ trung ương sẽ nhận trách nhiệm với phong cách "đem con bỏ chợ" như hiện nay, phải chờ cho tới 2020 cho đến khi ODA của Nhật chịu rót vốn vào?

Từ bài học thất bại của đại công trình cống đập Ba Lai, nhiều nhà khoa học và giới hoạt động môi sinh như một "think tank" đã không ngừng lên tiếng cảnh giác rằng: nếu không có một đánh giá môi sinh chiến lược cho toàn ĐBSCL mà chỉ đơn giản nhắm giải quyết tình hình hạn mặn, rồi lập ngay quy hoạch xây dựng xây một loạt hệ thống cống đập chỉ để ngăn mặn nơi các cửa sông lớn là phá vỡ cả một hệ sinh thái và hậu quả sẽ khôn lường.

Khảo sát của nhóm IUCN / International Union for Conservation of Nature Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên tại VN đưa ra nhận định là do hệ thống cống đập khiến hai bên bờ sông Ba Lai đang khép lại dần.

TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hận, ĐH Cần Thơ đã dùng một cụm từ rất gợi hình để chỉ hệ thống cống đập Ba Lai khi ông gọi đó là "dòng sông bị cưỡng bức." Sông nay biến thành hồ chứa, ô nhiễm thì tích luỹ nước đổi màu do rong tảo sinh sôi phía trong cống đập. 

Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về nước ngập/ Wetlands cho rằng hàng năm vào mùa mưa do lượng nước mùa lũ đổ về, toàn thể phù sa trong lượng nước đó sẽ lắng xuống đáy sông Ba Lai - nay trở thành hồ và với thời gian sông Ba Lai sẽ chết hẳn do bị bồi lấp. [1]  

Khi đưa ra cái nhìn toàn cảnh hiện trạng và tương lai ĐBSCL, các anh trong đoàn đưa ra một cái nhìn tổng quan không mấy lạc quan:  

Đất bị mất do sạt lở bờ sông bờ biển, trong những năm gần đây, đất bị lún với tốc độ 10 lần nhanh hơn so với nước biển dâng, và đất đai còn lại thì bị vắt kiệt. Sông ngòi ô nhiễm đủ thứ, từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản đổ thẳng vào sông, cũng như lượng lớn phân bón, thuốc trừ sâu từ nông nghiệp do 3 vụ thâm canh.

Theo một nghiên cứu về lịch sử đất lún do nhà khoa học Minderhoud và một nhóm chuyên gia Hà Lan, Hoa Kỳ và Việt Nam thực hiện công bố năm 2017 trên Environmental Research Letters, độ lún và vận tốc lún tại châu thổ ĐBSCL đã xuống sâu 25 cm và thậm chí đến 50 cm theo biểu đồ KS Phạm Phan Long trích dẫn chú thích và cung cấp sau đây. [Hình 10]

Trong những thập niên tới, biển dâng được dự đoán với vận tốc 5 cm/năm, như vậy mặt đất thấp sẽ thấp dần dưới mặt biển có thể đến 1 m trong vòng 100 năm nữa. Trước tác động kép do sinh hoạt con người và do biến đổi khí hậu, ĐBSCL sẽ rơi vào tình huống xấu nhất toàn cầu. Một đối sách có tên “ASR, aquifer storage and reuse”đang được Viet Ecology Foundation đề bạt thảo luận là lọc và trữ nước ở những túi rỗng ngầm, vừa ngăn mặn tập kích vào thềm lục địa, vừa có nước ngọt sinh hoạt canh tác và tránh cho mặt đất tiếp tục lún xuống.


Hình 11: Biểu đồ độ lún và vận tốc đất lún trong 25 năm tại Đồng Bằng
Sông Cửu Long. [nguồn: Environ.Res.Lett. 12 (2017) với ghi chú của KS Phạm Phan Long, Viet Ecology Foundation]. Hiện nay, rất nhiều giếng tầng nông và bơm bằng tay đều bị nhiễm mặn nhiễm phèn, nước giếng không còn dùng được, và nay người nông dân phải khoan sâu 400-500m để tìm được nguồn nước ngọt, mặt bằng ĐBSCL đang bị sụt lún nhanh chóng vì các tầng nước ngầm đang bị tận cùng khai thác.
  
Đã thế nhiều sông ngòi, bị kế hoạch cống đập đã biến sông rạch thành hồ tù đọng, tích lũy ô nhiễm. Nước sông ngòi không còn dùng được phải chuyển sang xài toàn nước ngầm nên tầng nước ngầm cũng cạn kiệt nhanh và đất lún.

Còn có hiện tượng "tỵ nạn môi sinh/ ecological refugees" của người dân ĐBSCL rời bỏ quê hương đi tới vùng đất khác, tha phương cầu thực. Con số gần 2 triệu người đã đi khỏi vùng đất này trong hai thập niên qua thì phải có những lý do như môi trường sống bị suy thoái, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt.

Thủy điện thượng nguồn từ Vân Nam Trung Quốc rồi Lào làm mất ngót 90% nguồn phù sa, không có gì thay thế; biến đổi khí hậu với nước biển dâng có thể phần nào thích ứng nhưng còn vấn đề phát triển tự huỷ / destructive development do tự mình gây ra đang là một nan đề lớn do chính sách "duy lý và thiếu tầm nhìn chiến lược" đến từ trung ương đã gây nhiều tổn thương cho ĐBSCL, gây trở ngại cho phát triển.

TỪ CỐNG ĐẬP BA LAI TỚI SÔNG CÁI LỚN - SÔNG CÁI BÉ

Bài học thất bại của công trình thuỷ lợi Ba Lai vẫn còn đó, vậy mà, nguyên bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát, một người sinh quán Nam Định từ châu thổ Sông Hồng, vẫn bất chấp mọi lời cảnh báo của giới chuyên gia, vẫn kiêu căng tuyên bố sẽ tập trung đầu tư xây dựng các công trình cống đập lớn đến năm 2020, từ hoàn thiện hệ thống cống đập Ba Lai, và xây dựng thêm các hệ thống cống đập Sông Cái Lớn, Sông Cái Bé [SCL-SCB] tỉnh Kiên Giang, được quảng bá như một công trình của Thế kỷ, với ngân khoản lên tới 3,300 tỷ đồng (150 triệu USD) với hậu quả hay thảm hoạ trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL không biết sẽ trầm trọng tới đâu.

Rõ ràng có những khoảng chống của Dự án Cống đập SCL-SCB và các câu hỏỉ:
1/ Chỉ nghe nói, bản nghiên cứu đánh giá tác động môi trường [ĐTM/ EIA] về Dự án Cống đập SCL-SCB là do Viện Kỹ Thuật Biển thuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, nhưng không thấy công bố ở đâu hết, với sự không minh bạch / transparency như vậy thì làm sao có được sự góp ý của giới chuyên gia. 
2/ Dự án SCL-SCB bao giờ khởi công và tình hình tới đâu chỉ diễn ra sau những cánh cửa Bộ NN & CTNT ngoài ra  không có ai được biết tới để có thể theo dõi.
3/ Và cũng là điều vô cùng ngạc nhiên là với gần 2 triệu người di cư ra khỏi ĐBSCL trong hai chục năm qua, nhưng vẫn chưa hề có cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu về những nguyên nhân ra đi của họ. 



Hình 12: Sơ đồ dự án hệ thống cống đập chắn mặn trên Sông Cái Lớn-Sông Cái Bé, sẽ tác động trên 1/4 diện tích toàn ĐBSCL và ảnh hưởng tới đời sống hơn một triệu cư dân trong vùng. (6) [nguồn: Ánh Sáng và Cuộc Sống

Rõ ràng Dự án cống đập Sông SCL-SCB đã thiếu hẳn một đánh giá chiến lược tác động môi trường [ĐTM/ EIA/ Environmental Impact Assessment] toàn diện và khách quan, bị ảnh hưởng bởi quan điểm của chủ đầu tư/ nhóm lợi ích chỉ để nhằm biện minh cho sự cấp thiết của dự án, trong khi mà ai cũng biết là dự án sẽ tác động tới toàn hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn chiếm 1/4 tổng diện tích của ĐBSCL [hơn 1 triệu hecta], ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống sản xuất sinh kế của hàng triệu cư dân trong vùng quy hoạch, trong khi còn bao nhiêu vấn đề kỹ thuật chưa có giải pháp rốt ráo. Và khi đã gây huỷ hoại trên hệ sinh thái thường rất khó đảo nghịch.

TS Lê Anh Tuấn, Phó Việt trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu ĐH Cần Thơ [Viện DRAGON] nhận định: cắt đứt trao đổi nước giữa sông và biển chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới canh tác sản xuất của nông dân quen sống theo nhịp thuỷ triều, giảm nguồn thuỷ sản bên trên và bên ngoài cống đập, và do nước tù đọng sẽ tích luỹ mọi ô nhiễm.

Một chuyên gia Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên ĐH Cần Thơ, nhận định về sự khác biệt của hai chế độ thuỷ triều phía Biển Đông và Biển Tây. Phía Biển Đông là bán nhật triều: nước lên xuống ngày 4 lần, trong khi Biển Tây là chế độ nhật triều, nước lên xuống ngày hai lần. Riêng vùng Tây Nam Sông Hậu chế độ thuỷ văn phúc tạp hơn nhiều, chịu ảnh hưởng của cả hai chế độ nhật triều và bán nhật triều khác nhau. Trong khi các cống đập hiện nay chỉ vận hành theo một mô hình thô thiển: đóng cổng đập khi triều cường, mở cổng đập khi triều kiệt. Hệ thống cống đập trên SCL-SCB sẽ gây rối loạn cho chế độ thuỷ văn vùng này, làm "mất lực hút-đẩy" của chế độ thuỷ văn thiên nhiên [sic] nước sẽ tù đọng tích luỹ ô nhiễm từ các chất thải nông ngư nghiệp, kỹ nghệ và cả nước thải không được xử lý đổ xuống từ các khu gia cư.
  
NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ĐÃ MỘT LẦN NÓI KHÔNG

TS Lê Phát Quới, người Long An, giảng dạy tại Khoa Tài nguyên & Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM, anh có giọng nói lớn, có nét trực tính của người dân Nam Bộ, anh nói: "Sau công trình cống đập Ba Lai, trung ương có kế hoạch xây thêm hệ thống cống đập trên cửa con sông Vàm Cỏ là kết nối của hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Anh Lê Phát Quới thuật lại: "Trong một cuộc họp với trung ương và cấp lãnh đạo tỉnh cùng với các nhà khoa học - trong đó có thằng Quới, anh tự gọi mình là thằng, cuộc họp có cả ông Sáu Dân tức Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó. Khi tỉnh Long An được hỏi ý kiến, thì lãnh đạo tỉnh đã có câu trả lời: sau khi phái đoàn tỉnh đi thăm cống đập Ba Lai trở về, sau khi tham khảo ý kiến nhân dân, thì toàn thể nhân dân Long An có câu trả lời là không. Lưu ý các anh, là câu trả lời không phải từ tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân mà là toàn dân tỉnh Long An nói không. Nếu nói là tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân, thì trung ương có thể dùng quyền lực đảng hay quyền lực trung ương để áp đặt, nhưng là tiếng nói của toàn thể nhân dân Long An thì khác. Và rồi sau đó, kế hoạch bị gác lại."

Anh Lê Phát Quới đi tới kết luận: "nếu cứ để thực hiện hệ thống cống đập trên con Sông Vàm Cỏ thì không biết tai họa cho toàn hệ sinh thái tỉnh Long An sẽ khủng khiếp như thế nào." Và anh Quới không dấu được nét hãnh diện về tiếng nói ngăn chặn kịp thời của nhân dân tỉnh hạt mình.


Hình 13: TS Lê Phát Quới, Khoa Tài nguyên Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM. [photo by Ngô Thế Vinh]

UỶ HỘI MEKONG VN, VẪN MÃI MỘT ĐỊA CHỈ NGHỊCH LÝ

Từ sau 1975, đất nước này nói chung trong đó có ĐBSCL đang được điều hành với những "đầu óc nghịch lý".

Đứng từ trên một chiếc phà đi ngang nhánh sông Trần Đề để qua Cù lao Dung, trong ráng chiều chập choạng của hoàng hôn, tôi qua sang hỏi một anh trong đoàn: "Hỏi thật lòng anh, là hiện nay người dân ĐBSCL có cảm thấy hạnh phúc hơn không so với trước 1975."  Chỉ có một câu trả lời khẳng định, nếu có thì là các gia đình không còn bị ly tán và đất nước không còn chiến tranh.
Tôi đã không hỏi anh thêm nữa vì thực sự không có được câu trả lời đơn giản. Riêng tôi thì vẫn cứ bị ám ảnh với con số đã có 2 triệu người phải từ bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai. Cách biện minh là với 2 triệu người bỏ đi nhưng cũng có 700 ngàn người mới tới, không phải là một câu trả lời rốt ráo.


Hình 14: Vẫn một địa chỉ nghịch lý: Uỷ Hội Quốc gia Sông Mekong Việt Nam, vẫn từ bao năm, vẫn toạ ngự tại địa chỉ 23 phố Hàng Tre Hà Nội, nơi châu thổ Sông Hồng cách xa ĐBSCL hơn 1,600 km, thay vì là Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, ĐH Cần Thơ. [tư liệu Ngô Thế Vinh, photo by LN Hà] 

Từ hơn hai thập niên, người viết đã không ngừng lên tiếng về mối nguy cơ của những con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc rồi tới chuỗi 9 đập thuỷ điện dòng chính của Lào, rồi tới 2 dự án đập của Cambodia: ngoài những hậu quả rối loạn về dòng chảy, mất nước nơi các hồ chứa và nhất là mất nguồn cát nguồn phù sa, dẫn tới nguy cơ của một tiến trình đảo ngược khiến một ĐBSCL đang dần dần tan rã.

Những mối nguy cơ từ thượng nguồn, gần như không làm gì được. Nhưng quá trình phát triển tự huỷ / destructive development ngay nơi ĐBSCL trong mấy thập niên qua cũng phải kể là những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên sự sống còn của cả một vùng châu thổ.  Có thể kể, từ sau 1975:

_ Xây đê đắp đập chắn lũ mở rộng khu gia cư để làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.

_ Xây hệ thống cống đập chắn mặn phá vỡ nhịp đập thiên nhiên của hệ sinh thái ĐBSCL biến sông rạch thành một hệ thống hồ ao tù đọng.

_ Xây dựng 14 nhà máy nhiệt điện than nơi ĐBSCL gây ô nhiễm đất, nước, không khí trên toàn vùng.

Phát triển với những bước không bền vững / unsustainable development như trên đã làm tổn thương trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL và các nguồn tài nguyên thì cứ nghèo dần đi.

Để thay kết luận, người viết gửi tới ông Bộ trưởng NN & PTNT Nguyễn Xuân Cường, người thay thế Bộ trưởng Cao Đức Phát sau 12 năm tại nhiệm, câu trích dẫn và cũng là bài học đầu tiên của một sinh viên vào học Y khoa: Primum Non Nocere / First do no harm / trước hết là không gây hại. Mọi kế hoạch vội vã, thiếu thời gian cho một lượng giá chiến lược ảnh hưởng môi trường [ĐTM] khách quan, với tổn phí hàng ngàn tỉ đồng mà còn gây hại cho toàn hệ sinh thái vốn đã quá mong manh/ fragile của một vùng châu thổ mà trước đây đã từng được đánh giá là phong phú và giàu có nhất trên hành tinh này.

Qua kinh nghiệm 16 năm vận hành của hệ thống cống đập Ba Lai, để thấy rằng dù tốn hàng bao nhiêu tỷ đồng, cứ với quyết tâm làm đê ngăn mặn nhưng nước sông rạch bên trong vẫn không thể dùng được cho sinh hoạt, những công trình như thế còn khiến nước bên trong bị ô nhiễm nghiêm trọng vì dòng chảy không lưu thông, tù đọng. Xây dựng cống đập Ba Lai đã rất tốn kém, nhưng khi phát hiện sai lầm - nếu có thiện chí sửa sai, thì việc phá bỏ, làm sạch môi trường và chuyển đổi sinh hoạt của cư dân cũng sẽ rất tốn kém và không thể mau chóng và không phải là dễ dàng.

Tiếp tục biện pháp xây dựng công trình cống đập ngăn mặn rất tốn kém sẽ cắt đứt thô bạo mối liên hệ cân bằng hệ sinh thái sông - biển - đồng bằng, qua công trình cống đập Ba lai đã chứng minh là không tạo được lợi ích và giải quyết được chuyện gì cho cư dân ĐBSCL mà còn đảo lộn điều kiện thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái của cả một vùng châu thổ.

Như một nhắc nhở và nhấn mạnh, người viết ghi nhận lại nơi đây một đề nghị cụ thể với Thủ Tướng chánh phủ kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc: hãy cho hoãn ngay Dự án xây hệ thống cống đập Sông Cái Lớn - Sông Cái Bé một thời gian/ time frame ít nhất là 5 năm, trích 5% ngân sách 3,300 tỷ dự trù cho dự án để thành lập ngay một nhóm nghiên cứu ĐTM độc lập [có thể bao gồm cả các chuyên gia Hoà Lan, họ đã có kinh nghiệm và có công lớn thực hiện một số chương trình khảo sát cơ bản cho ĐBSCL], và bảo đảm rằng Đánh giá Tác động Môi trường được thực hiện một cách công tâm, thận trọng bởi những người không có liên hệ gì tới chủ đầu tư hay nhóm lợi ích, để sau thời gian 5 năm đó, nhà nước sẽ có được một bản tường trình lượng giá ảnh hưởng môi trường đầy đủ khách quan và minh bạch, với tất cả mọi tình huống pros & cons để từ đó mới có quyết định "nên hay không nên" triển khai dự án được mệnh danh là công trình của Thế Kỷ ấy. Cũng trong bản tường trình ấy, cũng không thể thiếu phần điều tra cơ bản về nguyên nhân nào đã khiến 2 triệu cư dân ĐBSCL phải rời bỏ quê hương ra đi tìm kế sinh nhai. Được như thế thì sẽ phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120 về ĐBSCL [17/11/2017] trong đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.”


NGÔ THẾ VINH
ĐBSCL 12.2017 - 02.2018


Tham Khảo:

1/ Có còn con sông nước lớn, nước ròng? Lê Quỳnh. Báo Người Đô Thị online Thứ hai, 20/06/2016 http://nguoidothi.net.vn/co-con-con-song-nuoc-lon-nuoc-rong-4042.html

2/ Thiếu vốn, dự án ngọt hóa sông Ba Lai trở thành ... mặn quá. Phạm Văn Tri, TTXVN 06.08.2016 https://baomoi.com/thieu-von-du-an-ngot-hoa-song-ba-lai-tro-thanh-man-qua/c/20027474.epi

3/ Chuyên gia đề nghị tạm dừng dự án thuỷ lợi 3,300 tỷ đồng ở Miền Tây. Huỳnh Xây, Dân Việt, 03.06.2017 http://danviet.vn/nha-nong/chuyen-gia-de-nghi-tam-dung-du-an-thuy-loi-3300-ty-dong-o-mien-tay-775724.html

4/ Phát triển ĐBSCL: Tốn tiền tỷ mà trái quy luật thì trả giá đắt. Nguyễn Hữu Thiện; VietnamNet 27.11.2017 http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/phat-trien-dbscl-ton-tien-ti-ma-trai-quy-luat-thi-tra-gia-dat-413188.html

5/ Ngăn đập sông Cái Lớn - Cái Bé: ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Phạm Anh; Tiền Phong 02.06.2017 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/ngan-dap-song-cai-lon-cai-be-dbscl-se-bi-anh-huong-khong-nho-1154506.tpo

6/ Băn khoăn xây cống Cái Lớn – Cái Bé, Sáu Nghệ; Ánh Sáng và Cuộc Sống; 26.06.2017 http://anhsangvacuocsong.vn/ban-khoan-xay-cong-cai-lon-cai/


Phần nhận xét hiển thị trên trang


Lễ Hội Mùa Xuân

Mặc Lâm
2012-01-23
Miền Bắc Việt Nam, cái nôi văn hóa của cả dân tộc trong những ngày đầu xuân có rất nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức để người dân vui chơi và cũng là dịp bày tỏ ước vọng mưa thuận gió hòa trong xã hội nông nghiệp của Việt Nam.

Tiến sĩ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện sẽ cho chúng ta biết thêm nhiều điều thú vị chung quanh những lễ hội mùa Xuân này. 

Mặc Lâm : Thưa Tiến Sĩ, ngày Tết phải nói là ngày của lễ hội và nó có tính dân tộc rất đậm đà trong đấy. Văn hóa truyền thống Việt Nam chứng tỏ người Việt rất thích lễ hội vào Mùa Xuân, Tiến Sĩ có thể cho biết trong những ngày đầu năm riêng tại Miền Bắc là cái nôi văn hóa của Việt Nam thì có những lễ hội nào đáng chú ý nhất, thưa ông ? 

TS Nguyễn Xuân Diện:  Dạ thưa, ở Việt Nam người ta gọi là “Ăn Tết”, nhưng mà ngày Tết rơi vào thời điểm nông nhàn theo nông lịch, và nhà thơ Nguyễn Bính có viết “Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng”, như vậy là người ta chờ đón cái Tết cùng với mùa đang là nông nhàn. Và mỗi một năm khởi đầu từ Mùa Xuân, sau ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán, nhiều làng bắt đầu mở hội, và những hội Xuân đó kéo dài suốt trong 3 tháng Tết ở khắp cả các nơi ở Miền Bắc Việt Nam.

Có một lễ hội dài nhất kéo dài hết cả 3 tháng và đông vui với nhiều người trẩy hội nhất, đó là Lễ Hội Chùa Hương bắt đầu từ ngày Mùng Sáu Tết với lễ Mở Cửa Rừng, sau đó người ta đi trẩy hội lễ Phật suốt cả Mùa Xuân. 

Sau Hội Chùa Hương là hội Đền Và

Còn một lễ hội nữa cũng rất là nổi tiếng, đó là lễ hội Đền Và. Lễ hội Đền Và thuộc xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây (Hà Nội), mỗi năm người ta mở hội từ ngày 14 đến ngày  17 Tháng Giêng. Vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì lễ hội Đền Và có tiến hành lễ rước Đức Thánh Tản Viên, mà Đức Thánh Tản Viên là một trong “Tứ bất tử” trong thần thoại Việt Nam. Đức Tản Viên sơn thánh là đệ nhất phúc thần trong “Tứ bất tử” đó. Vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, người ta rước kiệu và bài vị của Thánh từ Đền Và thuộc thị xã Sơn Tây sang đến bên kia thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, và có sự tham gia của hai tỉnh, hai huyện và tám thôn xã của hai tỉnh đó. 

Trò Trám: Lễ hội phồn thực 

Một lễ hội khác nữa là lễ hội vào đêm 11 Tháng Giêng, đó là lễ hội Trò Trám. Lễ hội này rất là đặc biệt, nó được mở vài ba ngày nhưng có một lễ mật rất quan trọng được tiến hành vào lúc 0 giờ ngày 11. Đó là một lễ hội phồn thực cầu mùa. Người ta dâng lên trước điện thờ một bài văn khấn và dùng một cây đàn gọi là “đàn giằng xay” để hát một bài ca ngợi linh thiêng của đức Thánh thành hoàng, ca ngợi bốn giới sĩ – nông – công – thương. Có một đôi trai gái đã chờ sẵn ở đấy với trang phục của người trai thì đóng khố và người con gái thì mặc áo "mớ bảy mớ ba".

Ông thủ từ leo lên trên điện sau khi xin âm dương được thì mang xuống hai linh vật, một cái là cái , một cái là cái nường, tức là bộ phận sinh dục nam và một cái là bộ phận sinh dục nữ, trao cho người nam cái nỏ và người nữ cái nường.  Lúc bấy giờ thì đèn tắt hoàn toàn, đôi nam nữ đứng trong bóng tối như vậy thì ông thủ từ hô “linh tinh tình phộc” 3 lần thì mỗi lần hô chữ “phộc” như vậy thì đôi nam nữ đâm mạnh “nỏ nường” vào nhau. Trong đêm tối mịt mùng như thế mà đâm trúng cả 3 lần thì là năm ấy được mùa.

Chung quanh ngày lễ hội này còn có rước Thần Lúa và diễn các trò liên hệ trong lễ hội. Tôi cho rằng lễ hội Trò Trám ở Miếu Trò, hay còn gọi là “miếu Đụ Đị” của xã Tứ Xã xã huyện Lâm Thao là một lễ hội rất cổ kính, cổ xưa của người Việt.

Vào ngày 12 Tháng Giêng những người trẩy hội đã về các làng bên Bắc Ninh để tham dự Hội Lim vào ngày 13 Tháng Giêng hát quan họ. Khách thập phương các nơi kéo về đây dự lễ hội này rất là đông.

Ngoài ra các làng ở chung quanh Hà Nội và ở các tỉnh lân cận cũng mở ra rất nhiều lễ hội. Ví dụ lễ hội ở làng La Phù, ở làng Quan Nhân, v.v. Ngày Mùng 8 có lễ hội ở làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, kéo dài trong 3 ngày, và trong lễ hội đó người ta đốt một cây đuốc dài 10 mét cho cháy suốt 3 ngày ở giữa sân đình để tiến hành các lễ hộI.

Tóm lại, những lễ hội Mùa Xuân rất là thịnh ở khu vực Miền Bắc và nhất là ở các tình gần Hà Nội. Vào ngày Mùng 3 Tháng 3 âm lịch hàng năm thì tại Chùa Ón của xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố hà Nội, có hội đấu vật, có một xới vật bên cạnh chùa cổ. Gọi là chùa cổ nhưng trong chùa không có tượng. Đấy là ngôi chùa dường như để dành riêng cho việc tổ chức đấu vật hàng năm.

Người dân nông thôn Bắc Bộ bên cạnh việc ăn Tết lại còn đi chơi Tết, đi chơi hội rất vui, rất rộn ràng, nó chiếm rất nhiều thời gian, công sức và sự quan tâm của người dân. 

Khai Ấn đền Trần 

Gần đây tỉnh Nam Định khuếch trương lễ hội Đền Trần với lễ Khai Ấn. Sau khi chấn chỉnh thì năm nay lễ Khai Ấn tiến hành vào đêm 14 tháng Giêng âm lịch và chỉ đóng mấy cái ấn tượng trưng thôi, nhưng những trò chơi, những  hoạt động văn hóa chung quanh lễ hội Đền Trần thì năm nay rất lớn. 

Mặc Lâm : Vâng. Thưa Tiến Sĩ, dư luận trong nước rất chú ý đến lễ Khai Ấn như Tiến Sĩ vưa nói, vậy Tiến Sĩ có thể giải thích thêm tại sao phải khai ấn và việc khai ấn này có ý nghĩa gì không, thưa Tiến Sĩ? 

TS Nguyễn Xuân Diện:  Thưa, lễ hội khai ấn này là một lễ riêng của Đền Trần thuộc phường Lộc Vượng của thành phố Nam Định. Ngày xưa nó chỉ là một cái ấn mang tính chất trừ tà sát quỷ. Mỗi một năm vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng Giêng thì cụ thủ từ trong đền đó thực hiện một lễ cúng, trong đó đem cái ấn thờ trong đền đóng vào 9 miếng vải hoặc 9 mảnh giấy để phát cho 9 ngôi đền chung quanh như là một hiệu lệnh của Đức Thánh Trần. 

Thế nhưng gần đây, bốn năm năm trở lại đây tỉnh Nam Định muốn khuếch trương điều này và tuyên truyền nhiều về chuyện lễ khai ấn này chính là một hình thức thu nhỏ một lễ khai ấn trong triều đình ngày xưa, và người ta tuyên truyền rằng ai lấy được cái ấn này sẽ được thăng quan tiến chức.

Vì vậy cho nên giới quan chức và nhân dân Việt Nam nói chung rất  là mong muốn có cái ấn này, thành ra nó hình thành nên một cuộc hành hương về Nam Định vào chiều tối 14 rất là đông, gây ra tắt nghẽn giao thông, rồi thì những cuộc chen lấn xô đẩy kinh hoàng khiến cho báo chí nhiều năm nay không lúc nào là không lên tiếng.

Chúng tôi cho rằng việc khai ấn với ý nghĩa cái ấn này sẽ đem lại cho người ta được “thăng quan tiến chức” là một việc làm sai lệch. Nó chỉ là những cái ấn tôn giáo mang ý nghĩa trừ tà sát quỷ ở trong ngôi đền Trần. Đức Trần Hưng Đạo vốn đã được người dân tôn thờ biến thành một thứ tín ngưỡng nhuốm màu đạo Lão ở Việt Nam vì vậy cho nên nó chỉ có tính chất tôn giáo vậy thôi. 

Nguyên sơ còn sót lại trong lễ hội phồn thực 

Mặc Lâm : Vâng, thưa Tiến Sĩ, chúng tôi chú ý tới một lễ hội rất là đặc biệt của Việt Nam mà có thể là trong các nước ở Đông Nam Á thì chỉ có Việt Nam là còn, đó là lễ hội phồn thực Trò Trám. Ông là người tham gia nhiều lần lễ hội này vậy theo Tiến Sĩ thì những cảm xúc của người tham dự lễ hội phồn thực này nó có tinh khôi, nó có tinh tuyền như là những năm tháng về trước hay không so với thời đại bây giờ ? 

TS Nguyễn Xuân Diện:  Tôi bắt đầu quan tâm tới lễ hội này từ năm 2.000  và năm ấy là năm đầu tiên sau mấy chục năm gián đoạn cái “lễ mật” của Trò Trám mới được khôi phục. Ngay cái buổi đầu tiên mà tôi dự lễ hội đó thì từ đó đến nay thì gần như là năm nào tôi cũng tham gia. Tôi chưa thấy một lễ hội nào mà đem lại cho tôi nhiều cảm xúc về một tín ngưỡng nguyên sơ, về một văn hóa đậm chất hồn Việt như thế ở trong cái lễ hội đó.

Năm nào cũng vậy, khi tôi đi dự cùng với bạn bè ở lễ hội này thì tôi cảm thấy rằng mình đã được sống hẳn hoi, mình được đắm mình vào trong một truyền thống cổ xưa của người Việt. Lễ hội này vẫn còn giữ được tính chất tinh khôi của nó với tất cả những cái gì cổ xưa nhất.

Ví dụ như là trước ngày lễ hội thì người ta có tục rước Thần Lúa. Có một bó lúa người ta thờ quanh năm và đến ngày hôm đó người ta rước đi. Thế rồi người ta diễn cái trò “bách nghệ khôi hài” là sĩ – nông – công – thương. Có những  người dân ở địa phương người dân tự may quần áo lấy, người ta tự múa những điệu múa đã được truyền dạy từ đời này qua đời khác. Với những vũ điệu đơn sơ như vậy, cổ kính như vậy, với những trang phục như vậy, và diễn xuất hồn nhiên như vậy, thì nó mang lại cho chúng tôi cái cảm xúc vô cùng xúc động. Tất cả những người tham gia lễ hội đó cùng với tôi đều nói rất là xúc động khi chứng kiến lễ hội đó.

Đặc biệt nữa là phần sau của nó là lễ hội cầu mùa, tức là theo người Việt Nam chúng ta sống trong một xã hội nông nghiệp cho nên rất trông chờ vào thời tiết mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Để có được mùa màng tốt tươi thì người ta cầu được mùa qua những nghi thức phồn thực, tức là mong cho sinh sôi nẩy nở, tức là bông lúa thì trĩu hạt, khoai thì nhiều củ, các con vật như gà, ngan, ngỗng, dê, lợn các thứ sinh sôi nẩy nở nhiều. Lễ hội đó bắt đầu vào lúc 0 giờ và sau khi diễn ra cái “linh tinh tình phộc” đó thì đèn mới được thắp lên.

Lúc bấy giờ đàng sau cái Miếu Trò đấy, họ gọi là cái “miếu đụ đị” rất là nhỏ bé như vậy, có mấy vuông đất rộng, trai gái trong thôn chạy 3 vòng ngược chiều kim đồng hồ chung quanh cái Miếu Trò đó, và lúc bấy giờ từng cặp trai gái có thể tiến hành các hoạt động tình dục mà không bị việc gì. Nếu đôi trai gái nào sau đêm lễ hội đó mà có con thì ra trình trước làng chuyện đó và làng sẽ hợp pháp hóa tình trạng hôn nhân cho hai người mà không phải qua thủ tục kết hôn tốn kém. Hiện nay ở trong làng vẫn còn 3 cụ là những người được sinh ra sau những đêm lễ hội như thế.

Tôi cho rằng đấy là một lễ hội rất nguyên sơ và cũng rất may là ngành văn hóa của tỉnh đó vẫn chưa can thiệp gì sâu để có thể làm hỏng cái lễ hội đó, và nó vẫn còn giữ được tính chất nguyên sơ của nó. 

Mặc Lâm: Rất cảm ơn Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện về câu chuyện lễ hội ngày hôm nay ông đã chia sẻ cho thính giả và độc giả của đài Á Châu Tự Do trong ngày đầu năm Nhâm Thìn. Xin chúc ông và quý quyến mọi sự an lành, hạnh phúc trong năm mới.
Nguồn: RFA Việt ngữ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dành cho những ai đang bị ung thư kể cả ung thư giai đoạn cuối.

Trang Thu Doan  
Dành cho những ai đang bị ung thư kể cả ung thư giai đoạn cuối. Rất nhiều người bị ung thư; ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư máu.... đã khỏi bệnh nhờ câu thuốc BÁCH GIẢI( cây xương khỉ) của nhà Hải Trều bản thân bạn ấy cũng đã khỏi ung thư nhờ cây bách giải nay gia đình bạn vào rừng hái thuốc về phát thuốc MIỄN PHÍ❤️ cho mọi người. Mình và em trai có ghé nhà bạn xin thuốc cho chú mình đang bị ung thư có trò chuyện với mẹ Hải Triều nay mình xin phép đưa clip này lên để cho ai bị ung thư có thêm niềm tin để điều trị bệnh ❤️❤️❤️❤️
👏👏👏Dưới đây là 1 số link clip của 1 số bệnh nhân bị ung thư uống cây BÁCH GIẢI chữa ung thư khỏi, tiến triển tốt
Bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối
https://www.facebook.com/duong.phuc.92/posts/1100627293340155
Bé 4 tuổi ung thư máu hạch di căn khắp cơ thể
https://www.facebook.com/duong.phuc.92/posts/1090965924306292
⛔️Hiện nay anh chị nào đang theo dõi muốn xin thuốc thì hay gọi thẳng cho e Hải Trều
nhé vì các tin nhắn của anh chị rơi vào tin nhắn chờ e k đọc được thường xuyên. Lưu ý em đang đi học nên mọi người lựa giờ gọi không ảnh hưởng đến việc học của em❤️
⛔️Địa chỉ nhận thuốc
Số nhà 13 ấp 1 xã tân hiệp huyện Long thanh tỉnh đồng Nai
Gần Cty bột ngọt vedan
01212329313
01212303742
⛔️Do hàng ngày có cả trăm người gọi xin thuốc nên em ko trả lời hết được và bỏ sót. Ai chưa gọi được thì cố liên hệ lại nữa nhé



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2018

THƠ VIẾT NGÀY ĐÁNH GIẶC NĂM 1979


Trần Nhương


Kết quả hình ảnh cho hình ảnh chiến tranh biên giới 1979


TNc: Những năm chiến tranh biên giới phía Bắc tôi đang là lính và nhiều lần lên Chi Ma, Bản Phiệt..Những bài thơ viết ngày ấy đã qua 39 năm rồi. Ai có thể quên còn những người lính và nhân dân biên giới không thể quên cuộc chiến tranh này...




Bài thơ tình của lính

Anh đi tìm em, anh đi tìm em
Cô gái trồng rừng ở giữa rừng rộng quá
Rừng vẫn quen mà sao thấy lạ
Gió tìm cây lòng anh bỗng rì rào
.
Em ở nơi nào, em ở nơi nào
Rừng lắm suối, suối đâu cũng chảy
Qua rừng quế, rừng hồi chẳng thấy
Đến rừng tre mong một sự tình cờ
.
Người ngẩn ngơ đường cũng ngẩn ngơ
Ơ dáng núi lại làm anh dịu mát
Gặp một nhịp cầu hình như mới bắc
Mối lạt dang ai buộc vẫn chưa khô
.
Nước chảy lơ thơ
Ước gì được về nhà dối mẹ
Rừng ơi rừng nỡ mênh mông thế
Cây liền cây anh vẫn một mình
.
Bảo anh si tình, ừ cũng si tình
Trách gì lính qua nhữngngày nắng lửa
Em lên chốt đạn vây bốn phía
Bàn tay mềm vết thương anh đỡ đau
.
Bây giờ em đang ở đâu?
Sau trận ấy em khônglên chốt nữa
Cô gái trồng rừng ươm cây thương nhớ
Xanh bâng khuâng trận địa một vùng
.
Anh đi tìm em khó nhọc vô cùng
Cánh chim lạc giữa bốn bề cây lá
Còn em đến cứ như phép lạ
Súng vừa vang mái tóc đã ùa lên
.
Giá mà anh tìm được nơi em
Anh sẽ đón em về với chốt
Vết thương lành băng anh vẫn buộc.
Bởi chưa ai cởi được... lòng mình...
.
8/1979.



Ghi trên điểm tựa
Ba "vành khăn" một đỉnh đồi
Một đỉnh đồi với ba người chúng tôi
Ăn thì đứng, ngủ thì ngồi
Trăng non hay miệng một người rất quen
Chắc từ xóm ấy trăng lên
Trăng lên như thể làm duyên cho trời
Chúng tôi chốt ở đỉnh đồi
Mang tên cho đất - đất phơi xác thù
Hầm kèo, hầm ếch nhấp nhô
Toàn trai tráng lại đi gù cái lưng
Ba lô con cóc quai chùng
Ba người thành của cải chung ba người
Ba khẩu súng một quả đồi
Ba quê hương với một trời mênh mông
Ba người một mũi xung phong
Ba tia chớp nở từ cùng đám mây
Ba người như thể ba cây
Ba cây súng dựng núi này cao hơn
Dù cho trăm đợt sóng cồn
Chúng tôi còn, Tổ quốc còn người ơi
Đánh xong giặc, phút thảnh thơi
Ngồi lau súng hát đôi lời nhặt khoan
Nhìn nhau rồi bỗng cười vang
Ba anh lính hóa một dàn đồng ca...
Chi Ma, 2/1979

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhục


Nói gì thì nói, chứ cái bọn sồn sồn ngày thường không nhảy, tự dưng ngày 17.2 (mùng 2 tết, trùng ngày Trung Quốc nổ súng tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới phía bắc nước ta) dở hơi, lôi nhau ra rửng mỡ nhảy nhót trên công viên trước tượng đài cụ Lý Thái Tổ, sao chúng không biết nhục. 

Chúng nên nghĩ rằng con cháu chúng cần phải được ngẩng mặt ở trên đời chứ.

Vì miếng cơm manh áo, vì chút tiền công nhảy nhót (nếu có) mà làm điều nhục nhã như thế thì nên chết đi, đừng để di họa cho người thân trong gia đình.

Tôi đề nghị chính quyền Hà Nội ra cái lệnh cấm nhảy nhót, đú đởn tán tỉnh nhau trước mặt tượng tiền nhân lịch sử có công dựng nước chống ngoại xâm như vậy.

Muốn nhảy, ra chỗ khác nhảy, ngảy cả ngày cả đêm cũng được, ngày nào cũng được, chứ không được làm trò khỉ trước mặt tiền nhân, vậy thôi.

Sực nhớ câu thơ xưa, cả ngàn năm trước của Đỗ Mục: "Thương nữ bất tri vong quốc hận/Cách giang do xướng hậu đình hoa" (thương kẻ tiện nữ không biết gì tới hận mất nước/bên kia sông vẫn hò hát khúc ca Hậu đình hoa để vui vẻ với nhau). Người cổ xưa còn có liêm sỉ, nặng lòng với nước thế, sao mà người nay đổ đốn vậy?

Nguyễn Thông



Phần nhận xét hiển thị trên trang

tuyên truyền và sử dụng tuyên truyền trong chiến tranh

Làm sao những người cộng sản và Phạm Xuân Ẩn giành được chiến thắng trong cuộc chiến tranh tuyên truyền?

Trong những năm sau Tết Mậu Thân, một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, lễ kỷ niệm 50 năm được tổ chức vào cuối tháng 1 vừa qua, người Mỹ sẽ lại phải tự vấn. Làm sao họ có thể sai đến như vậy? Cuộc nổi dậy của Cộng sản trên toàn miền Nam Việt Nam đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người và điều được cho là thành công của họ đã xoay chuyển ý kiến công chúng, khoảng giữa năm 1968, theo hướng chống lại cuộc chiến tranh, một bài học trong lĩnh vực tuyên truyền và biểu hiện sau này của nó, “tin giả”.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 là cuộc "chiến tranh truyền hình đầu tiên" đầu tiên. Người Mỹ không thể tin vào những gì họ đang nhìn thấy.

Nhiều người quan trọng đã tham gia vào việc lập kế hoạch. Trong số đó có Phạm Xuân Ẩn, một phóng viên nước ngoài trở thành Cộng sản trong giai đoạn Thế chiến II, rồi nổi lên trong hàng ngũ của họ và trở thành một trong những điệp viên vĩ đại nhất của Hồ Chí Minh.

Lý lịch công tác của ông - một bí mật còn kéo dài trong hàng chục năm tới - đã là kinh khủng rồi. Năm 1962, trong khi làm việc cho hãng tin Reuters của Anh, ông đã tiết lộ thông tin về trận đánh do các đơn vị Nam Việt Nam, được Mỹ hướng dẫn, sắp sửa diễn ra gần một ngôi làng ở đồng bằng sông Cửu Long, phía tây nam Sài Gòn, gọi là Ấp Bắc.

Hy vọng chiến thắng đã bị dập tắt vì Việt Cộng được trang bị tốt, phòng thủ chặt chẽ và đã phản công, dẫn tới một trong những thất bại lớn nhất của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Sau trận đánh, Hồ Chí Minh trao tặng hai Huân chương Giải phóng - vinh dự khá cao. Một Huân chương được trao cho người chỉ huy trận đánh, cái thứ hai được trao cho Phạm Xuân Ẩn.

Ba năm sau đó, ông lại được trao một Huân chương nữa vì đã có những bản báo cáo phác thảo những nét chính của cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ vào Đà Nẵng. Đồng thời, ông bắt đầu soạn thảo những nét chính của cuộc tấn công trên diện rộng của quân Cộng sản, sẽ được tung ra trong dịp Tết Nguyên Ðán.

Thỏa thuận ngừng bắn sẽ không được tôn trọng, và Cộng sản giành được yếu tố bất ngờ khi tung ra cuộc tấn công giữa tiếng nổ của hàng triệu tràng pháo, thường được đốt để chào đón năm mới.

Ý tưởng về việc tung ra một chiến dịch kéo dài nhằm giành “chiến thắng quyết định”, đè bẹp chính phủ thường xuyên nằm trong tình trạng bất ổn ở Sài Gòn không phải là ý tưởng mới mẻ đối với những người lập kế hoạch ở Hà Nội. Nhưng, kế hoạch quân sự vượt qua được sự chống đối của các thành phần thận trọng hơn trong Bộ chính trị đã được Tổng Bí thư Lê Duẩn và Tổng tham mưu trưởng quân đội Văn Tiến Dũng hoàn thành vào cuối năm 1967.

Tuy nhiên, nhiều người ở Hà Nội sợ là sẽ đi quá xa. Hồ Chí Minh lúc đó đang ốm và cũng như Tướng Võ Nguyên Giáp, kiến trúc sư nổi tiếng của chiến thắng Điện Biên Phủ trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954, là những người có thái độ nước đôi, đã bị cho ra rìa và cuối cùng, bị gạt ra khỏi cuộc tranh luận về chiến lược.

Nằm cách xa những mưu mô đang diễn ra ở Hà Nội, những người Cộng sản miền Nam - Việt Cộng - là những tay chơi chủ chốt và chịu trách nhiệm về chi tiết chiến dịch và lãnh đạo các cuộc tấn công – trong đó có các nhà lãnh đạo như tướng Trần Văn Trà và chính ủy máu lạnh Trần Bạch Đằng.

Trong khi du kích quân miền Nam nhận lãnh trách nhiệm chiến đấu ở các đô thị, họ được Quân đội chính quy Bắc Việt hậu thuẫn và chính các đơn vị quân đội Bắc Việt Nam đã tung ra và tiếp tục bao vây lực lượng Mỹ bị cô lập trong suốt bốn tháng liền ở tiền đồn Khe Sanh, với dự định là kéo các lực lượng Mỹ ra khỏi các thành phố và thị trấn ở Nam Việt Nam.

Nhưng, trong khi các tư tưởng gia như Trần Bạch Đằng tin rằng sự phô trương về sự vượt trội về quân sự là điểu kiện cần trong việc làm lung lay chính quyền Sài Gòn và quân đội “bù nhìn” được Mỹ ủng hộ, thì mục tiêu cao nhất của họ là chính trị: Tạo ra những điều kiện cần nhằm khởi động cuộc nổi dậy nhằm chống lại chính phủ và ủng hộ cách mạng.

Đánh giá thành công tổng thể cái mà Cộng sản gọi là chiến lược “tổng tấn công và tổng khởi nghĩa” của họ là đề tài tranh luận bất tận. Nhưng, về cuộc tổng khởi nghĩa mà người ta chờ đợi – mỗi người dân Miền Nam, tự bản năng, đều không chấp nhận gông cùm của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ - Trần Bạch Đằng và các đồng chí của ông ta rõ ràng là đã lầm to.

Dân chúng miền Nam không nổi dậy, nhưng cuộc chiến vẫn diễn ra. Khi cuộc cuộc Tấn công tết Mậu Thân được tung ra, ngày 30 tháng 1 năm 1968, hơn 100 thành phố Nam Việt Nam – trong đó có Sài Gòn và các tiền đồn quân sự bị tấn công. Trận chiến khủng khiếp nhất diễn ra ở Huế, 150 thủy quân lục chiến chết và khoảng 5.000 lính Bắc Việt bị giết, phần lớn là do các cuộc không kích.

Trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngủi cố đô Huế, Cộng Sản đã chứng tỏ rằng họ có thể trở thành những người độc ác đến mức nào.

Người ta đã tìm được xác của hơn 2.800 người, 3.000 người dân Huế mất tích. Họ cũng phá hoại một số di sản quý giá của Huế; cung điện, đền thờ, và di tích từ xa xưa đã bị san phẳng.

Nhưng, những cuộc phản công vừa dữ dội vừa thu được kết quả rất tốt. Khi các cuộc tấn công suy giảm, Mỹ đẩy mạnh Chương trình Phượng hoàng, do CIA thiết kế, nhằm vô hiệu hoá cơ sở hạ tầng và cánh chính trị của Việt Cộng, tức là Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam, bằng cách “xâm nhập, bắt bớ, chống khủng bố, thẩm vấn và ám sát”.

Công việc này khá thành công, đã vô hiệu hóa được 81.740 người bị nghi là Việt Cộng, bị nghi là những người cung cấp thông tin và những người ủng hộ Việt Cộng. Trong số đó, từ năm 1965 đến năm 1972, đã có khoảng từ 26.000 đến 41.000 người bị giết, nhiều người bị giết ngay sau Tết Mậu Thân.

Sau Tết còn hai đợt tấn công nữa, vào tháng 5 và tháng 8, và vì lực lượng Cộng sản vẫn ở gần các thành phố trong khoảng thời gian hưu chiến giữa các chiến dịch.

Chiến thuật được quyết định bởi những người ở Hà Nội chứng tỏ là cực kì tai hại đối với lực lượng Việt Cộng còn sống sót, vì đã tạo điều kiện cho quân Nam Việt Nam và quân đội Mỹ nhảy cóc qua những vị trí của Cộng sản và tấn công các lực lượng chính của họ nằm ở hậu cứ.

Hàng ngũ Cộng sản đã bị tiêu diệt vãn, đặc biệt là các chiến binh ở miền Nam. Giai đoạn 1969 và 1970 là những năm đen tối, một số nhà lãnh đạo miền Nam tỏ ra tức giận Hà Nội vì cho rằng họ đã trở thành bia đỡ đạn cho những kế hoạch viển vông của Hà Nội.

Nhưng công luận ở Mỹ về cuộc tấn công Tết Mậu Thân cho thấy khía cạnh khác của một thực tế khá phức tạp: khoảng cách giữa những lời nói của các nhà lãnh đạo của họ rằng kẻ thù đang như trứng để đầu gậy và những đợt tấn công của Cộng sản lan tràn khắp Nam Việt Nam và trên màn hình TV của họ đang ngày càng roãng ra. Còn lâu mới thất bại, nhưng dường như dưới mỗi hòn đá đếu có một chiến binh Cộng sản.

Đấy là lúc Phạm Xuân Ẩn, có bằng đại học và tiếp xúc được với các tờ báo ở Mỹ trước đó một thập kỉ, bước lên vũ đài. Ông đã tìm cách củng cố trong dư luận Mỹ niềm tin sai lầm rằng Việt Cộng vẫn khá mạnh, đủ sức đánh bại quân đội hùng mạnh của Mỹ.

Làm việc tại văn phòng, lần này tại tạp chí Time, ông bịa ra những câu chuyện nhằm mục đích như thế. Là người sắp xếp, ông đã tổ chức các cuộc phỏng vấn giả mạo giữa đêm khuya, trong những ngõ tối, với những người Cộng sản đóng giả là các nhà lãnh đạo có thẩm quyền, thêu dệt nên những câu chuyện cổ tích về sức mạnh của Việt Cộng.

Đây là việc quan trọng, vì Hà Nội không muốn bị coi là yếu kém về quân sự ở miền Nam, trong khi thảo luận với Washington về các cuộc hòa đàm sắp tới. Kiến thức của Phạm Xuân Ẩn về cách thức hoạt động của các phương tiện truyền thông ở trong nước và trên trường quốc tế là cực kì then chốt.

Một trưởng văn phòng của tạp chí Time ở Sài Gòn nhận xét: “Phạm Xuân Ẩn hiểu sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các tổ chức cung cấp tin tức và đã xử lý chuyện đó một cách tuyệt vời - giống như chơi đàn của gia đình Stradivarius vậy”.

Phạm Xuân Ẩn tìm được nguồn trích dẫn quân sự khác về cuộc tấn công Tết Mậu Thân và tiếp tục công việc bí mật của mình cho đến khi Sài Gòn thất thủ, năm 1975. Đời sống hai mặt của ông là đề tài của nhiều câu chuyện với những chi tiết được tuồn khỏi Việt Nam - đôi khi được tuồn ra một cách chính thức - trong những thập niên tiếp theo.

Trong những năm đầu sau chiến tranh, cuối cùng, Hà Nội đã thừa nhận họ đã bị mất bao nhiêu vì Tết Mậu Thân và khả năng quân sự thực sự của họ vào thời điểm đó mong manh tới mức nao, trái ngược với câu chuyện mà Phạm Xuân Ẩn đã bán cho phương Tây. Tuy nhiên, khi ý kiến công chúng chuyển hướng, các chính trị gia Mỹ buộc phải chấp nhận rút lui theo thỏa thuận, và cuối cùng, Nam Việt Nam đã sụp đổ.

Khi Cộng Sản nâng li chúc mừng lễ kỷ niệm 50 năm Tết Mậu Thân, Phạm Xuân Ẩn – chết với quân hàm thiếu tướng, năm 2006 – chắc chắn xứng đáng được ghi nhớ như một trong những vị anh hùng vĩ đại của nhà nước này.

Nhưng ý kiến của mọi người không giống nhau. Một số nhà báo và nhiếp ảnh gia làm việc với Phạm Xuân Ẩn coi ông là kẻ phản bội, trong khi những người khác thì lại coi ông là người yêu nước và chỉ đơn giản là làm theo tiếng gọi của trái tim.

Đối với những người nghiên cứu về tuyên truyền và sử dụng tuyên truyền trong chiến tranh trong thời đại tin giả tràn ngập như hiện nay, Phạm Xuân Ẩn quan trọng hơn những ý kiến vừa nói; ông thực sự là một bậc thầy của môn nghệ thuật này.


Luke Hunt là tác giả cuốn sách mới về Việt Nam, The Punji Trap: Pham Xuan An – The Spy Who Didn’t Love Us (tạm dịch: Hầm chông: Phạm Xuân Ẩn – Điệp viên không yêu chúng ta).

* Bài dịch thể hiện tinh thần của tác giả Luke Hunt, không đại diện quan điểm người dịch

Đã đăng trên Việt Nam Thời Báo 

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/02/the-vietnam-wars-great-lie/



Phần nhận xét hiển thị trên trang