Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

Cuối tuần này, SpaceX sẽ phóng vệ tinh phát Internet, bước đầu thử nghiệm cho dự án phát Internet toàn cầu


Cuối tuần này, SpaceX sẽ phóng vệ tinh phát Internet, bước đầu thử nghiệm cho dự án phát Internet toàn cầu
Chi tiết về dự án này vẫn được giấu kín, nhưng ta biết rằng cuối tuần này, vệ tinh đầu tiên trong mạng lưới phát Internet sẽ được phóng lên.
Elon Musk có một dự án nhằm cung cấp Internet cho mọi người trên toàn cầu, và ông đang thực hiện những bước đầu để thực hiện nó: dự kiến vào thứ Bảy tới, ngày 17 tháng Hai, họ sẽ phóng lên vệ tinh thử nghiệm đầu tiên trong mạng lưới vệ tinh sẽ được dùng để cung cấp Internet.
Cuối tuần này, SpaceX sẽ phóng vệ tinh phát Internet, bước đầu thử nghiệm cho dự án phát Internet toàn cầu - Ảnh 1.
Báo cáo cho hay trong lần phóng này, mẫu tàu thử nghiệm có tên Microsat 2a và 2b sẽ được đi kèm tên lửa Falcon 9 lên quỹ đạo, nhưng đây mới chỉ là kiện hàng phụ nhằm thử nghiệm phát Internet thôi.
Món hàng chính của lần phóng tên lửa thứ Bảy tới là một vệ tinh radar quan sát nặng 1,3 tấn tới từ Tây Ban Nha, vệ tinh này có tên là PAZ.
Thứ Hai vừa rồi, SpaceX đã thử nghiệm thành công tên lửa Falcon 9 trước khi phóng – đây là một bài thử sức cháy của tên lửa thường thấy trước mọi đợt phóng. Đây là bài đăng trên Twitter của SpaceX về thành công này.
Cuối tuần này, SpaceX sẽ phóng vệ tinh phát Internet, bước đầu thử nghiệm cho dự án phát Internet toàn cầu - Ảnh 2.
"Thử nghiệm đốt tên lửa tĩnh của Falcon 9 đã xong - đang nhắm tới việc phóng vệ tinh PAZ vào ngày 17 tháng Hai từ Căn cứ Không quân Vandenberg tại California".
Dự kiến vệ tinh Paz sẽ bay trên quỹ đạo cao 513 km, nhưng sau này, mạng vệ tinh cung cấp Internet của SpaceX sẽ còn cao hơn nữa, nhằm thử nghiệm hệ thống liên lạc vô tuyến Ku-band, kết nối với một mạng lưới trạm mặt đất nữa.
Việc phát triển mạng lưới vệ tinh được SpaceX giao phó cho một đội ngũ kỹ thuật có trụ sở tại Redmond, Washington.
Theo như tài liệu nộp lên chính phủ, các trạm mặt đất của mạng lưới tín hiệu này sẽ nằm tại các cơ sở của SpaceX tại Redmond và Brewster cùng ở Washington, tại McGregor và Brownsville ở Texas, cũng như trụ sở của SpaceX tại Hawthorne, California. Một trạm nữa sẽ được đặt tại trụ sở của Tesla ở Fremont, California.
SpaceX nói rằng họ cũng sẽ thử nghiệm hệ thống này xem nó có tương thích với thiết bị nhận được đặt trong những xe tải di động không.
Cuối tuần này, SpaceX sẽ phóng vệ tinh phát Internet, bước đầu thử nghiệm cho dự án phát Internet toàn cầu - Ảnh 3.
Tổng quan, dự án này sẽ phóng lên quỹ đạo hàng nghìn vệ tinh liên lạc, với dịch vụ trước mắt là hạn chế cho một số người, với mốc là năm 2020. Dự án tạm được gọi là Starlink này dần dần sẽ là nguồn cung cấp Internet giá rẻ cho toàn bộ người trên hành tinh này.
Chi tiết về dự án trên vẫn được SpaceX và Elon Musk giữ bí mật, những người quan tâm chỉ có thể có được những mẩu tin nhỏ thỉnh thoảng được đưa (như mẩu tin này) và từ diễn đàn Reddit thôi.
SpaceX cũng không đơn độc trong cuộc đua này: đối thủ chính của là OneWeb với một bản hợp đồng với Airbus, cũng nhằm đưa vệ tinh Internet lên quỹ đạo. Ngoài ra, những kẻ chạy thi còn có Boeing, SES O3b hay ViaSat, Telesat, LeoSat.
Dự kiến cuối năm nay, OneWeb sẽ phóng vệ tinh thử nghiệm lên quỹ đạo. Công ty nhiều khả năng sẽ cung cấp cách thức phóng vệ tinh là Blue Origin của tỷ phú Jeff Bezos, Virgin Orbit của tỷ phú người Anh Richard Branson, hãng Arianespace của Châu Âu.
SpaceX sẽ phải nhanh chóng thực hiện dự án của mình, trước khi những đối thủ của họ thành công.
Cuối tuần này, SpaceX sẽ phóng vệ tinh phát Internet, bước đầu thử nghiệm cho dự án phát Internet toàn cầu - Ảnh 4.
Tàu Falcon 9.
Đây là những gì Musk phát biểu về dự án này hồi năm 2015:
"Theo thời gian, việc xây dựng một phiên bản hoàn hảo của hệ thống này, sẽ cực kỳ tốn kém và tôi đang nói tới khoảng 20 cho tới 15 tỷ USD, có thể còn nhiều hơn, còn về các thiết bị của người sử dụng, có lẽ phải khoảng 100 cho tới 300 tỷ USD nữa, tùy theo loại thiết bị mà họ muốn dùng. 
Dự án này được lập ra nhằm thu về một lượng lớn thu nhập và giúp xây nên thành phố trên Sao Hỏa. Vì thế khi nhìn về dài hạn, và về ta cần gì để xây nên một thành phố trên Sao Hỏa, ta biết chắc chắn một điều: đó là cần rất nhiều tiền. Vì thế tôi cần một dự án có thể tạo ra rất nhiều tiền".
Theo Trithuctre


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tết và mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính






Đỗ Anh Vũ

1. Trong các nhà thơ của phong trào Thơ Mới (1932 - 1945), Nguyễn Bính chắc chắn là một trong những thi sĩ đưa Tết vào thơ nhiều hơn cả. Trong số 272 thi phẩm viết trước Cách Mạng của thi sĩ chân quê, chúng tôi thống kê có tới 41 lần từ Tết xuất hiện. Tết còn đi vào ngay nhan đề của một số bài thơ như: Tết, Tết của mẹ tôi, Tết biên thùy. Đi vào thơ Nguyễn Bính, Tết không chỉ gợi ý niệm về thời gian mà còn gợi cả những ý niệm không gian cùng một tấm lòng thiết tha vô hạn với quê hương của tác giả.

Đầu tiên, Tết xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính với tính chất tả thực:Có cô thợ nhuộm về ăn Tết/Sương gió đường xa rám má hồng(Không đề), Em chưa lấy chồng/Má hồng còn thắm/Tết tết xuân xuân/Đời vui vẻ lắm (Xuân).

Ngày Tết trong thơ Nguyễn Bính luôn gắn với một cảm xúc, một ước ao được sum vầy đoàn tụ. Thế nên nếu Tết mà phải xa nhau, phải ly biệt thì đó chắc chắn sẽ trở thành nỗi buồn day dứt khôn nguôi trong lòng người: Năm ngoái Tết rồi/Năm nay lại Tết/Ai đi biền biệt/Hai Tết rồi đây/Buồng hương lẳng lặng/Then chẳng thiết cài/Còn đợi chờ ai/Biết bao Tết nữa (Tết). Những ngày Tết vui nhất trong thơ Nguyễn Bính là những ngày Tết vọng về trong hồi ức, lúc thiếu thời. Có những cái Tết gắn với hình ảnh người mẹ tần tảo, hiền từ: Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều/Sân gạch tường hoa người quét lại/Vẽ cung trừ quỷ trồng cây nêu (...) Xong ba ngày Tết mẹ tôi lại/Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con/Rồi một đôi khi người giậm gạo/Chuyện trò kể lại tuổi chân son (Tết của mẹ tôi). Có những cái Tết gắn với hình ảnh người bạn gái thuở hoa niên: Trời đen như mực, tối ba mươi/Diễm lén sang nhà để gặp tôi/Hai chúng tôi ngồi trên đệm rạ/Lắng nghe nồi bánh rộn ràng sôi(Thi vị).

Nhưng những cái Tết xuất hiện nhiều nhất trong thơ Nguyễn Bính là những cái Tết xa nhà, phải đón xuân nơi xứ người. Danh từ Tết vì thế thường có một loạt yếu tố đi sau để nhấn mạnh cái sự xa quê ấy như: Tết ngoài thiên hạ, Tết quê người, Tết người taBốn bể vẫn chưa yên sóng gió/Xuân này em chị vẫn tha hương/Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ/Son sắt say hoài rượu viễn phương (...) Đêm ba mươi Tết quê người cũng/Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương(Xuân vẫn tha hương), Quán trọ xuân này hoa lại nở/Lại ngồi xem Tết, Tết người ta (Quán trọ).

Và mọi cái Tết ở xứ người ấy đều là những cái Tết vô duyên, những cái Tết không mang đầy đủ ý nghĩa thực sự. Nỗi khát khao sum họp trong những ngày Tết vì thế mà càng cháy bỏng nhưng bởi không thể trở về nên con người đành chấp nhận mà ôm lấy nỗi buồn tủi nhiều khi đến bẽ bàng: Chiều ba mươi hết năm rồi/Nhà tôi riêng một mình tôi vắng nhà/Tôi còn lận đận phương xa/Để ăn cái Tết thật là vô duyên (Xuân về nhớ cố hương), Rượu chẳng say cho đèn cũng lụi/Ngày mai xuân nở khắp giang san/Ngày mai ăn Tết bằng chi nhỉ/Ăn Tết bằng hai cánh cửa quan (Tết biên thùy).

Bài thơ xuất hiện nhiều từ Tết nhất và khắc khoải da diết nhất là thi phẩm Xuân tha hương, gồm 100 câu được bắt chung một vần. Cái điệp khúc “Tết này chưa chắc em về được/Em gửi về đây một tấm lòng”  trở đi trở lại đến 7 lần trong toàn bộ bài thơ. Rải rác trong bài còn có 6 từ Tết khác, nâng tổng tần số xuất hiện của Tết trong thi phẩm lên tới 13 lần. Cái cảm giác bơ vơ, lạc lõng, cô đơn, vô định dễ khiến người ta phải trào nước mắt: Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết/Một mình em vẫn cứ tay không/Vườn nhà Tết đến hoa còn nở/Chị gửi cho em một cánh hồng/Tha hương chẳng gặp người tri kỷ/Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng (...) Chị ơi Tết đến em không được/Trông thấy quê hương thật não nùng (...) Tết này ồ thế mà vui chán/Những một mình em uống rượu hồng (...)Chị ơi Tết đến em mua rượu/Em uống cho say đến não nùng/Uống say cười vỡ ba gian gác/Ném cái chung tình xuống đáy sông... 

2. Nếu như Tết là một lát cắt quan trọng trên trục thời gian của năm thì mùa xuân là một tín hiệu thời gian nghệ thuật khác có sự xuất hiện không kém phần dày đặc trong các sáng tác của Nguyễn Bính. So với các mùa khác (hạ, thu, đông), mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính chiếm một vị trí áp đảo. Trong 272 sáng tác trước Cách mạng của Nguyễn Bính có 91 bài xác định được thời gian theo mùa, trong đó riêng những bài mùa xuân đã lên tới con số 35 (mùa thu: 31 bài, mùa đông: 17 bài, mùa hạ: 8 bài). Trong 35 bài về mùa xuân lại có tới 17 bài thể hiện thời gian ngay từ nhan đề tác phẩm: : Rượu xuân, Mưa xuân, Xuân về 1, Nhạc xuân, Xuân , Vườn xuân, Thơ xuân, Xuân về 2, Mùa xuân xanh, Xuân tha hương, Gái xuân, Xuân vẫn tha hương, Xuân thương nhớ, Xuân về nhớ cố hương, Hoa gạo, Cuối tháng 3, Tháng 3.Những bài thơ xuân của Nguyễn Bính mang đến cho ta thưởng thức đúng một không khí xuân của đồng bằng Bắc Bộ, bắt đầu từ những hạt mưa xuân – những cơn mưa phùn của tháng giêng, tháng hai như trải khắp đất trời: Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/  Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy (Mưa xuân), Những hạt mưa chiều lấm tấm rơi(Vườn xuân), Mưa xuân rắc bụi quanh làng mạc(Xuân vẫn tha hương), Cửa sổ mưa bay lệ thiệp nhòa(Xuân thương nhớ),Ta đi khuất nẻo đường làng/Mặc cho mưa bụi ướt tràng áo xanh(Xuân về). Sau mưa xuân phải kể tới rượu xuân. Nếu như những chén rượu giang hồ thường là những buồn tủi, đắng đót, nhớ thương thì ở chén rượu mùa xuân, đây đó ta đã gặp được những rạng rỡ hân hoan hiếm hoi trong thơ Nguyễn Bính: Mẹ tôi uống hết một cốc rượu/Mặt người đỏ tía vì hơi men(Tết của mẹ tôi),Có những ông già tóc bạc phơ/Rượu đào nối chén bút đề thơ(Thơ xuân). Nhân tố thứ ba không thể thiếu được trong những cảm xúc về mùa xuân của thi sĩ chân quê là thiếu nữ. Nếu như phụ nữ được gọi là phái đẹp thì thiếu nữ càng là khoảng thời gian đẹp nhất trong mỗi cuộc đời. Người thiếu nữ trong nhiều bài thơ xuân của Nguyễn Bính hiện lên rạo rực đầy sức sống, gắn liền với tình yêu, tuổi trẻ và  cả những mơ mộng: Đã thấy xuân về với gió đông/Với trên màu má gái chưa chồng/Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm/Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong(Xuân về), Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/Gái xuân giũ lụa trên sông Vân/Lòng xuân lơ đãng má xuân hồng/Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng(Gái xuân), Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh/Tôi đợi người yêu đến tự tình/Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy/Bắt đầu là cái thắt lưng xanh(Mùa xuân xanh),Lòng thấy giăng tơ một mối tình/Em ngừng tay lại giữa thoi xinh(Mưa xuân). Dĩ nhiên cũng có những mùa xuân thật buồn, ấy là khi con người thiếu vắng tình yêu, phải sống trong sự đợi chờ mòn mỏi: Nhưng rồi người khách tình xuân ấy/Đi biệt không về với bến sông/Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi/Mấy lần cô lái mỏi mòn trông/Xuân này đến nữa đã ba xuân/Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần/Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi/Cô đành lỗi ước với tình quân(Cô lái đò).  Mùa xuân cũng thật buồn trong sự nuối tiếc hoặc cảm giác lạc lõng bơ vơ: Đời tàn mộng đẹp tiếc xuân qua (Đêm mưa đất khách), Nàng hỡi xuân này nàng có nhớ/Xuân xưa ai nhặt cánh hoa mai (Mai tàn), Xuân đến khắp trời hoa rượu nở/Mà ta với người buồn vậy thay (Hành phương Nam). Những bài thơ xuân của Nguyễn Bính còn xuất hiện khá nhiều hình ảnh hoa gạo – một trong những loài hoa đặc trưng của mùa xuân. Nhưng điểm khác biệt của Nguyễn Bính là hầu hết những lần xuất hiện của hoa gạo đều gắn với tàn úa, chia lìa, thậm chí có cả cảm giác tang tóc:Những hoa gạo rụng tươi như máu/Nhàu nát như người lính tử thương(Hoa gạo), Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ/Nhập vào sắc đỏ của hoa xoan(Cuối tháng ba), Nóng lòng cây gạo lìa hoa đỏ/Trở búp tơ xanh đón gió hè(Tháng ba).

Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính còn gắn với sự mời gọi chờ mong con người: Xuân đã sang rồi em có hay/Tình xuân chan chứa ý xuân đầy/Kinh kỳ bụi quá xuân không đến/Sao chẳng về đây, chẳng ở đây (Sao chẳng về đây). Cảm giác về xuân sang, xuân về còn đến trong nhiều bài thơ khác: Mong sẽ vì tôi nàng bớt khổ/Giơ tay cười đón ánh xuân sang (Cầu nguyện), Vườn tôi đầy cả gió xuân sang (Vườn xuân), Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân(Chân quê), Những độ xuân về, những tiếng khuyên/Vang lừng ca ngợi cảnh xuân thiên (Vô tình). Và có xuân đến thì ắt hẳn có xuân đi: Cả mùa xuân thắm đã trôi đi (Nuôi bướm), Tất cả mùa xuân rộn rã đi/Xa xôi người có nhớ thương gì/Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả/Ta biết xuân nhau có một thì (Cuối tháng ba), Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều (Hoài cảm). Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính còn hiện lên với nhiều mới mẻ, bất ngờ, thể hiện sự lạ hóa trong bút pháp: Em đi mất tích một mùa xuân (Khăn hồng), Có người đi giữa xứ mùa xuân (Hương, cố nhân), Mùa xuân mày biết giá bao nhiêu (...) Mùa xuân đắt lắm cô mình ơi (Bướm đi chợ), Rồi nếu tiền tôi không đủ trả/ Lo gì? Tôi có áo mùa xuân (Cho tôi ly nữa).

3. Có thể nói, trong tương quan bốn mùa, Nguyễn Bính mê đắm si mê mùa xuân nhất, các cung bậc tình cảm được thể hiện gắn với mùa xuân cũng nhiều nhất, bộc lộ một tâm hồn thi sĩ đa tình, đa cảm, lúc nào cũng tha thiết với ái tình và cuộc sống: Xuân đến tình tôi nao nức quá/Như người giai tế tối tân hôn/Và say sưa quá cho nên đã/Đánh đổ trời xuân xuống suối hồn (Vườn xuân). Mùa xuân và Tết không chỉ như những ám ảnh mà còn trở thành định mệnh của thơ và đời Nguyễn Bính. Chẳng thế mà trong những câu cuối của bài Nhạc xuân, thi sĩ dường như đã buông ra một “lời sấm” cho sự ra đi mãi mãi của mình: Năm mới tháng giêng mùng một Tết/Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân/Huyền Trân ơi!/Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi/Giờ đây chín vạn bông trời nở/Riêng có tình ta khép lại thôi. Sau 27 năm kể từ khi công bố bài Nhạc xuân(1939), Nguyễn Bính đã vĩnh viễn rời cõi tạm vào đúng ngày 29 tháng Chạp (năm đó không có ngày 30), ngay trước thềm mùng một Tết năm Bính Ngọ (1966), để lại bao nuối tiếc xót xa trong lòng những người ở lại.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tâm lý ngày Tết





Phạm Quỳnh
Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932) và đã được nhà văn Nguyên Ngọc dịch rất đạt ra tiếng ta, xuất bản năm 2007. Nhưng ở đây, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc bản dịch của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này. 
Những dịp để cho cả một dân tộc cùng nhau hướng về một tình cảm, một tư tưởng, để cùng nhau rung động…thật là hiếm có. Thường phải có những sự xẩy ra khá quan trọng, có ảnh hưởng đến tính mạng cả một đoàn thể, để ai nấy đều phải để hết tâm trí vào.

Dân Việt Nam ta có cái may mắn, cái đặc ân là có một dịp vui chung cho tất cả, dịp ấy cứ đều đặn mỗi năm một lần vào ngày đầu xuân năm mới. Về dịp này tất cả đàn con đất Việt, từ người giàu cho đến kẻ nghèo, từ người tiên tiến cho đến kẻ thủ cựu đều một lòng một dạ, cùng nhau hớn hở đón chúa xuân, trong mấy ngày lễ long trọng, trang nghiêm mà cũng rộn ràng náo nhiệt biết bao! Ngày ấy là ngày TẾT.

“TẾT”, chữ màu nhiệm thay! Như đã chứa chất biết bao niềm vui mừng của cả một dân tộc vô tư vui vẻ, cứ mỗi năm, đến kỳ xuân tới là quên cả hết thẩy những nỗi lo lắng khó khăn của năm cũ để sẵn sàng hoan hỷ bước vào năm mới với chứa chan hy vọng.

Vậy thời ý nghĩa của ngày TẾT, của cái thực thể huyền bí ấy mà người ta sùng bái như một vị thần thánh có sức mạnh đến nỗi có thể khiến cho cả một dân tộc, trong khoảng mấy ngày tròn, đã cùng một tâm hồn, cùng một tình cảm, mà nhất là cùng một hy vọng tin tưởng ở ngày mai, hy vọng và tin tưởng mà nhiều khi họ rất cần phải có, để đương đầu với một cuộc đời vất vả bấp bênh…

TẾT không phải chỉ là ngày đầu năm mà thôi, vì nếu kể cả những ngày sửa soạn linh đình trước và những cuộc vui đùa giải trí sau, thì TẾT ít ra cũng phải kể tất cả là ba tuần. Nhưng dù sao tâm trạng của người ta mà ngày TẾT đã gây nên chưa dễ đã xóa nhòa trong chốc lát, và ta cũng nên thử nghiên cứu xem, để tìm hiểu giá trị đặc biệt của ngày lễ long trọng ấy.

TẾT không phải hoàn toàn không có nghĩa lý, mà lại còn bao trùm cả một “triết lý”.

Trong một năm bốn mùa liên tiếp nối nhau và đó là một hiện tượng tự nhiên rất quan trọng cho một dân tộc nông nghiệp. Theo như thuyết “Vũ trụ khai tịch” xưa, khoảng thời gian đông qua xuân tới là đánh dấu một thời kỳ hoàn toàn đổi mới, người và vạn vật thiên nhiên như sống lại và cùng nhau thông cảm trước sự đổi mới vui tươi để hăng hái đón mừng xuân mới. Trong mấy ngày cổ truyền ấy, con người ta phải hoàn toàn đổi mới, lột hết những gì cổ hủ của con người cũ đi mà tự tạo nên một tâm hồn mới mẻ; phải đuổi hết những tư tưởng yếm thế, phải tạo ra những ý vui, chỉ nói những lời ngọt ngào dễ thương, quên hết những hận thù, để đối với ai, – dù là kẻ thù chăng nữa- cũng một lòng khoan hồng bác ái. Như thế là ta đã góp phần vào sự gây dựng vũ trụ điều hòa, và do đó gây dựng hạnh phúc của xã hội và đồng thời hạnh phúc của chính mình. Những lời nặng nhẹ, những cử chỉ không hợp phép, những sự buồn bực, bất bình thổ lộ ra trong những ngày TẾT không những trái với lễ độ cổ truyền và rất kỵ trong những ngày tốt lành nhất của một năm ấy mà lại là một sự phản bội đối với vạn vật thiên nhiên, và như thế kẻ đã phạm tội ấy sẽ bị tai họa.

Dị đoan lại khiến cho người ta tin rằng tất cả những gì xẩy ra trong mấy ngày đầu năm đều có ảnh hưởng huyền bí, hay, dở đến cả một năm. Vì vậy sáng sớm ngày đầu năm, người khách đầu tiên đến nhà có thể coi như đã đem đến cho gia đình ấy hạnh phúc hay tai họa, tùy theo nếu người ấy là một người sướng hay khổ, có chức phận trong xã hội hay không, giàu hay nghèo, con cháu đông đủ hay hiếm hoi, tính nết tốt hay xấu, nhiều may mắn hay không…Một người có tang vừa đau khổ, một người rủi ro vừa bị thất bại trong công việc làm ăn…chớ nên đến thăm ai trong buổi sáng đầu năm vì sợ có thể sẽ đem lại rủi ro đến cho người ta. Để khỏi phải có những sự bất ngờ chẳng hay, người khách đầu tiên đến “xông đất” mỗi nhà, nghĩa là người khách có thể coi như sẽ đem lại may mắn hay rủi ro đến cho gia đình, đều được chủ nhà sắp đặt trước. Người ấy sẽ được lựa trong những bà con bè bạn thân thiết và là người được coi như có hạnh phúc đầy đủ, vừa giàu sang phú quí lại con cháu đầy đàn, để sáng sớm đầu năm làm “sứ giả” đem Hạnh phúc đến cho cả gia đình.

HẠNH PHÚC! Hạnh phúc là cái mộng đẹp mà hết thảy chúng ta ai cũng mong ước. Ở nước Nam này, mỗi năm xuân tới, người ta kêu gọi, cầu khẩn, tìm kiếm Hạnh phúc bằng đủ mọi cách. Họ ca ngợi Hạnh phúc trên những câu đối đỏ chói treo trên tường bên những cánh cửa nhà. Màu đỏ là màu tượng trưng điểm lành, điểm tốt, vì vậy từ sân nhà cho đến trên bàn thờ, mỗi gia đình, chỗ nào cũng rải rác đầy xác pháo đỏ cùng những cánh hoa đào. Người ta cũng thế, ai cũng có vẻ tạo ra một vẻ mặt sung sướng, vui tươi, niềm nở như để dễ quyến rủ cái Hạnh phúc nó như cái bóng phảng phất khó lòng mà nắm được, tựa hồ như con chim hoàng oanh của nhà thi sĩ nọ, ríu rít hót ca trên cành liễu này rồi phút chốc đã lại bay qua cành liễu khác. Thật không cái gì cảm động bằng cái lòng nguyện vọng thiết tha của cả một dân tộc, nguyện vọng đến được một đời sống thanh nhàn hạnh phúc, mà tất cả đều mơ ước, nhưng dễ mấy ai đã tới được!

Vậy thì TẾT là gì? Là lời kêu thiết tha của cả đàn dân Việt trong dịp vạn vật đổi mới, nói lên lòng tin tưởng ở năm mới sẽ đến, và sự khát khao một đời sống thảnh thơi sung sướng.

Ngày TẾT lại còn có một ý nghĩa khác nữa. Ngày TẾT còn là sự thánh hóa, sự ca tụng, tán dương chủ nghĩa gia tộc và sự thờ phượng tổ tiên. Với tư cách này TẾT có thể coi như một thiết lập có liên hệ mật thiết với sự thành lập gia tộc ở nước Việt Nam ta. Mấy ngày TẾT chính là những ngày mà cả đại gia đình đông đủ sống quây quần tụ họp làm một. Gia đình Việt Nam thường có cha mẹ, anh chị em, hay là cả ông bà cô chú, có khi lại có cả cụ nội ngoại ở cùng cả một nhà. Những gia đình có con cháu đi làm xa trong cả năm, đến kỳ TẾT đều trở về đông đủ dưới mái nhà của tổ tiên. Những hôm đó trên bàn thờ trang hoàng rực rỡ, những bài vị ghi tên tuổi các vị tổ tiên đã mất, đều được mở ra chưng bày, những đèn hương sắp lên nghi ngút, những đồ mã tượng trưng nén vàng nén bạc để cung hiến tổ tiên được chất thành từng đống.

Vì TẾT không phải chỉ là ngày vui cho người sống mà còn cả cho người chết nữa. Chính trong những ngày TẾT các vị tổ tiên ông bà đều về sống chung với gia đình con cháu. Hôm ba mươi Tết, mỗi gia đình đều có một lễ thỉnh mời tổ tiên về. Rồi cứ mỗi ngày hai lần, dâng lễ cúng cơm cùng nước trà bánh trái. Đến ngày thứ ba là ngày cúng tiễn biệt, để rồi hồn của tổ tiên lại trở về nơi chín suối, mang theo lời chúc tụng cùng tâm sự của con cháu mà các ngài vừa được chung sống trong mấy ngày Tết vừa qua, và tuy từ biệt ra về, tổ tiên vẫn không quên phù hộ và che chở cho con cháu bằng một cách huyền bí.

Trong mấy ngày Tết, người sống và người chết lẫn lộn chung sống dưới mái gia đình. Bà con bạn bè đến thăm viếng nhau ngày Tết, trước hết không quên đến kính cẩn lễ trước bàn thờ tổ tiên rồi mới cùng nhau chúc tụng năm mới.

Tết với những tượng trưng và nghi lễ của ngày ấy đã ghi vào đời sống của chúng ta một giai đoạn vui sướng, mà giai đoạn ấy chúng ta có cái may mắn là cứ mỗi năm ta lại được sống lại một lần. Sống mấy ngày hoan hỷ vui chung cả quốc dân, tự thấy mình đã cũng chia sẻ sự vui sướng ấy và cùng thông cảm với tất những người đồng chung về một ý thức, một tư tưởng, đó là niềm vui không phải nhỏ; niềm vui ấy, chính ngày Tết đã đem lại cho ta, và ta sẽ không bao giờ quên ơn.

Riêng về phần tôi, mõi lần ngó về dĩ vãng, nhớ lại những ngày thơ ấu, những năm của tuổi trẻ đã qua, ngày Tết đã để lại cho tôi toàn những kỷ niệm êm đềm.

Một ngày kia nếu phải bỏ phiếu để bãi bỏ cái ngày lễ ấy đi, thì dù ai biện lẽ phải gì hay ho tốt đẹp đến đâu, tôi cũng bỏ phiếu chống sự bãi bỏ ấy, mặc dầu họ có thể cho tôi là một anh thủ cựu bướng bỉnh hay liều lĩnh.

Thượng Chi (Phạm Quỳnh)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN CHIÊU ĐÃI TRẦN ĐỨC THẢO MỘT CHẦU HÁT CÔ ĐẦU CHUI Ở ATK





Trần Đức Thảo và đêm hát cô đầu chui ở ATK

Phan Ngọc Khuê ghi
Thời gian sống ở ATK (An Toàn Khu), tôi (Trần Đức Thảo) bị sai khiến làm mấy việc vơ vẩn như ngồi dịch những tài liệu cũ kỹ, mà rồi sau chẳng dùng được vào việc gì! Hoặc là theo chân mấy phái đoàn Trung ương đi thanh tra này nọ với vai trò của một cây cảnh: đi tới đâu cũng được giới thiệu là trí thức ở bên Tây mới về tham gia cách mạng! Rồi được vỗ tay, hoan hô. Chứ chẳng làm được một việc gì hữu ích cả!

– Sống như thế thì tẻ nhạt quá, làm sao bác chịu nổi?

– Ấy trong quãng thời gian sống ở bên lề chính trị như thế không hẳn là tẻ nhạt đâu. Thỉnh thoảng cũng có những giây phút rất thú vị, rất vui. Bởi sống ở hậu phương thời kháng chiến, luôn luôn được chứng kiến những ngang trái xảy ra thật là bất ngờ, làm bật cười, cười đến chảy nước mắt. Trong cách mạng mà cũng có lúc ăn chơi lén lút, đáng ghi nhớ về cái “thời bao cấp” ấy. Những thú vui chui lén như vậy cũng làm cho mình phải suy nghĩ, tìm hiểu hiện tượng cách mạng và những khát vọng của con người…

– Thú vui lén lút đáng nhớ ấy là gì?

Bác Thảo kể có một lần, “không thể nào quên được”. Đó là lần được nhà văn Nguyễn Tuân mời đi ăn một bữa cơm Tây, tại một xóm dân Hà Nội tản cư về sống gần ATK. Khi vào tới xóm ấy, là phải chui qua mấy hàng giây thép, trên phơi đầy quần áo màu mẻ sặc sỡ khác hẳn với quần áo nâu sồng của nông thôn, được giặt để cất đi, ở sân sâu bên trong một căn nhà cổ, để tới cái quán ăn chui lậu hiếm hoi ở hậu phương. Chủ nhân tự khoe mình từng là đầu bếp của cựu thống sứ Bắc kỳ Graffeuil! Bữa ăn hôm ấy có cả món thịt bò. Chateaubriand, có cả rượu vang Bordeaux. Thịt tươi là do cánh công an vừa săn được một con nai! Còn rượu cũng là do cánh công an mang từ Hà Nội ra! Ăn xong, Tuân chửi vui: “Sư bố chúng nó! Tàn dư phong kiến, thực dân mà sướng thế đấy!”. Thảo ngơ ngác không biết Tuân chửi ai? Ăn uống ngon lành thế sao lại chửi?

Sau bữa ăn, Tuân còn cao hứng dẫn Thảo đi hát “cô đầu”! Dĩ nhiên cũng là hát chui, hát lậu. Địa điểm là một căn nhà chòi có cót che kín mít, dùng để chứa nông cụ thúng, mẹt, cày bừa… ở ngay giữa một cánh đồng lớn mới gặt xong. Thảo được đưa tới chờ ở đó, nên rất lấy làm lạ. Ngồi một mình ngắm trăng mười sáu sáng ngời, chung quanh là một cánh ruộng bàng bạc màu vàng khô khốc của những gốc rạ mới gặt xong, xa xa là những luỹ tre xanh vi vu gió thổi. Cảnh thật đẹp và buồn.

Mãi sau, Tuân trở lại lố nhố với năm, sáu người lạ mặt, trong đó có một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi, mỗi người ôm một cái túi khá lớn. Họ vào trong căn chòi rồi cài cài mấy tấm cót cho kín đáo. Một ngọn đèn dầu hoả được thắp lên cho vừa đủ sáng để thấy tỏ mặt nhau. Họ mở túi lấy ra, người thì một cái trống nhỏ, người thì một cây đàn Đáy. Chị phụ nữ cũng lấy ra hai que gỗ và một cái phách. Tuân nói thật trịnh trọng:

– Hôm nay tôi lén tổ chức chầu hát này là để đãi ông bạn trí thức ở tận bên tây mới về. Yêu cầu em Đức hát cho thật đạt chỉ tiêu đấy nhé!

Cô ca nương nhìn Thảo rồi đáp:

– Anh Tuân ơi! Anh ép, thì vì nể anh em cũng cố mà ra đây hát thôi. Bởi em đã giải nghệ từ mấy năm nay rồi. Nêu công an mà biết thì em sẽ bị đi tù mất. Hát ả đào bây giờ bị coi là thứ nhạc sa đọạ của thời phong kiến, nó đã bị khai tử từ lâu rồi!

– Không sao đâu, anh đã lo lót hết rồi. Tuân này bảo đảm mà!

– Cứ hát đi, đã có ông chủ tịch xã kiêm trưởng công an ngồi nghe đây thì còn sợ gì!

– Thôi đừng khách sáo nữa! Ta bắt đầu đi, kẻo đã quá canh khuya rồi. Đàn lên! Xin mời quan viên giữ trống ra tay! Bắt đầu “Hồng, Hồng, Tuyết Tuyết” đi em!

Vài tiếng đàn chậm rãi vẳng lên, trầm bổng, thánh thót day dứt trong đêm khuya thanh vắng. Rồi một giọng ca trong vắt, ngân nga, luyến láy vang lên giữa cánh đồng vằng vặc ánh trăng.

Rồi tiếng trống vào nhịp:

– Tom! Chát! Chát! Tom!

– Hồng, hồng, tuyết, tuyết ứ ư ừ mới ư ừ ngày nào chửa… ư biết cái chi chi…

– Tom, tom, chát…

Tiếng hát, tiếng đàn nhịp trống bỗng đưa mọi người nhập vào một thứ nghi lễ tôn giáo linh thiêng… gợi cảm, trữ tình của nghệ thuật!

Bác Thảo vui vẻ, thích thú kể lại thật chi tiết về một chầu hát ca trù lén lút vô cùng cảm xúc, trong đêm khuya ấy, giữa một cánh đồng khô, trong lúc tình hình chiến tranh sôi động, mọi người lo âu, bồn chồn không biết ngày mai sẽ ra sao!

Bởi đấy là lần đầu tiên trong đời bác Thảo được nghe tiếng hát “trong như pha-lê, luyến láy ngân nga, thấm nhập tâm can, làm rung động toàn thân xác.,.”. Bác say sưa khen:

– Ôi! Lúc ấy, tiếng đàn, tiếng hát, sao có thể thuần khiết, âm vang sâu thẳm đến thế! Tiếng trống bắt nhịp thật lịch duyệt, như thúc dục, như khuyến khích ca nương!

Bài ca vừa chấm đứt, Thảo không nhịn được phản ứng ngạc nhiên, nên hỏi:

– Sao thứ ca dân gian này có thể nghệ thuật đến thế! Hay như vậy sao lại cấm? Trong đời tôi, tuy đã từng biết thưởng thức những tiếng đào, lời ca cổ điển vô cùng nghệ thuật của lối hát đại nhạc (opéra) phương Tây, nhưng đây là lần đầu tiên tôi khám phá ra một lối ca nghệ thuật tuyệt kỹ, vừa trữ tình, vừa huyền bí, thiêng liêng như của một tôn giáo, nghe mà rợn cả người, cứ y như bỗng mình được lạc vào cõi Thiên Thai. Một thứ nghệ thuật truyền thống quý như vậy, sao lại bắt nó phải chết?

– Tại vì xưa kia nó phục vụ giới quan lại, phú hộ thời phong kiến! – Tuân giải thích – Thôi bây giờ thì ca tiếp đi chứ!

Người nghệ sĩ chơi đàn, người “quan viên” giữ nhịp trống điều khiển, rồi ca nương, tất cả đều đắm say diễn tả, như hoà tâm hồn vào mấy bài hát nói danh tiếng của mấy nhà thơ trứ danh thời trước. Tay đàn, tay trống và ca nương, tất cả đều biểu diễn, với tất cả sở trường, y như đang làm sống dậy giây phút thanh bình của đất Hà thành thanh lịch xa xưa!

Thảo giải thích thêm với chúng tôi:

– Tiếng hát ả đào đúng là hợp với tâm tư, hoàn cảnh của từng người lúc ấy. Ai ai cũng đang mang nặng một tâm tư u buồn, nên mới hát được như thế, mới nghe thấu được nỗi niềm của giọng hát, lời ca. Tôi đã từng biết lối hát đại nhạc (opéra) của phương Tây. Lối hát ấy là dùng sức buồng phổi đẩy làn hơi qua thanh quản để đưa nốt nhạc vọt lên chói vót như thi tài với tiếng đàn. Nhưng lối hát ả đào thì tế nhị hơn, vì ca nương phải kiềm chế làn hơi, rồi từ từ vừa đẩy, vừa níu lại làn hơi qua họng, để uốn nắn âm thanh qua thanh quản, làm nó uyển chuyển, luyến láy, nghẹn ngào; như than van, nức nở, để bầy tỏ nỗi niềm… Nghệ thuật hát ả đào, do đó tinh vi, truyền cảm tình tiết cao siêu, sâu sắc, huyền bí hơn hẳn đại nhạc phương Tây. Tôi không hiểu sao một nghệ thuật tuyệt vời như thế mà lại nỡ lòng mang vứt bỏ nó đi! Một dân tộc có một nền văn minh cao độ mới có thể có một lối hát nghệ thuật đậm tính văn hoá dân tộc đến thế, sao lại chê bai, kết tội nó!

– Ôi dào! Bây giờ thì cái gì của thời cũ đều bị phá đi, vứt bỏ hết! Bây giờ người ta tính áp dụng lối tiêu thổ kháng chiến ở Liên Xô, phá sập, dẹp hết, đốt hết, san thành bình địa ráo, để địch không thể xâm chiếm được. Nơi nào có tinh thần kháng chiến cao như vùng Vinh, Thanh Hoá, Nghệ An thì đã bắt đầu có lệnh thi hành chính sách “tiêu thổ”. Với hô hào “tất cả cho kháng chiến”. Tiếc gì cái lối đa truyền cảm, trữ tình, nay bị coi là truỵ lạc, là sa đoạ này!

Chầu hát ả đào dần tới hồi kết thúc. Quan viên cầm trống bỗng đứng dậy, bước tới trước mặt nhà văn Nguyên Tuân, nghiêm chỉnh cúi đầu nói:

– Xin kính mời quan bác! Quan bác là người đã nổi tiếng là tài danh cầm chầu là tài tử lịch duyệt của ca trù, đệ xin trả lại ngôi quan viên cho quan bác, để quan bác giữ nhịp cho bài ca cuối cùng của chầu hát chui này. Đệ chọn bài “Tỳ bà hành” để kết thúc, y như trong các buổi ca trù của các nhà hát trứ danh của Hà thành thanh lịch thủa xa xưa.

Nguyễn Tuân nghiêm nghị đón nhận chiếc trống nhỏ, sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, đặt trống xuống đúng tầm tay, đưa roi trống lên cao, rồi nhìn tay đàn và ca nương, đúng cách quan viên sành điệu, như vị nhạc trưởng của ban đại hợp tấu, chuẩn bị phát lệnh trên một chiếu hát. Mọi người chờ tiếng trống phát ra. Nhưng Nguyễn Tuân lại đặt nhẹ rồi trống xuống và nói với giọng trầm buồn:
– Này em Đức ơi! Anh biết em từng là ngôi sao ca nương sáng chói của lò hát bà Đốc Sao ở Hà Nội. Xưa kia thì phải là cỡ Tuần phủ, Tri huyện trở lên tới Tổng đốc mới được nghe tiếng em ca. Thế rồi cách mạng về thì nhà bà Đốc Sao biến đâu mất tích. Nay được tin em trôi dạt về đây, anh đã phải bịa chuyện xin đi công tác phương này, cốt là để tìm em, để được nghe em hát thêm một lần, cho dù mai sau có chết vì bom đạn thì anh cũng mãn nguyện là đã tận hưởng cuộc đời. Bởi hôm nay đây, cái cánh đồng khô giữa vùng đất núi rừng Tuyên Quang này bỗng trở thành một bến Tầm Dương! Và em Đức sẽ là người đưa tiễn anh với anh Thảo đây, đều là những Tư mã của thời đại, đang bị thời thế lưu đày về cái đất Giang Châu của Tuyên Quang này… Em hãy ca thật hay lên, để tiễn đưa chúng anh ngày mai lại lên ứ… ư đường! Chỉ tiếc ở đây không có rượu ngon để anh ngâm mấy câu thơ cổ:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!

(Thơ Vương Hàn, Lương Châu từ, Trung Quốc)

Rồi Nguyễn Tuân cao hứng, đằng hắng, lấy giọng ngâm thật thống thiết tiếp:

Rượu ngon thơm ngát chén ngà
Chén chưa kịp cạn, tỳ bà thúc đi
Sa trường say, cười mà chi
Xưa nay chinh chiến, mấy ai trở về!

(Người dịch khuyết danh)

Cây roi giơ lên phát lệnh bắt đầu bài hát:

– Tom! Tom! Chát!

Nhưng tất cả ngạc nhiên vì ca nương không cất tiếng hát mà lại ôm mặt khóc nức nở! Thảo ngồi đấy cũng long lanh nước mắt. Vì trong lòng cũng cảm thấy một nỗi u buồn thấm thía khó tả, chẳng rõ vì sao. Nức nở, sụt sùi một hồi, ca nương lấy lại bình tĩnh nói:

– Em xin lỗi! Em xin lỗi! Vì nhìn mấy anh ăn mặc nâu sồng vất vả, mặt mày hốc hác, em thấy thương mấy anh quá! Mà em cũng khóc cả cho thân phận em! Thôi để em hát, để tiễn đưa các anh, và cũng là đưa em nữa, vì mai đây gia đình em sẽ tìm đường về xuôi, vì cái bến Tầm Dương của em là bên quê ngoại ở mãi vùng Thái Bình cơ!

– Thôi nín đi em! Hát đi em!

Nguyên Tuân lại nổi trống giục:

– Tom! Tom! Tom! Chát!

Ca nương bắt đầu lên giọng ngân nga, luyến láy não lòng:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lạch đìu hiu

Dời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui

Nghe não nuột mấy dây buồn bực
Dường than niềm tấm tức bấy lâu
Mày chau tay gẩy khúc sầu
Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn

Thuyền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi, lạnh lùng

Nghe não ruột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người
Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh…

(Trích thơ Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh dịch)

– Tom! Chát! Chát! Tom!

Tiếng trống vang lên như để khen “Thật tuyệt vời!”, tiếng đàn cùng tiếng hát ngưng bặt. Cả cái chòi cót giữa cánh đồng không ấy bỗng im lặng hoàn toàn. Chỉ còn tiếng gió, xào xạc, qua một bụi tre, vọng lại từ xa.

Trong chòi, mọi người, như chết lặng vì quá cảm xúc. Tất cả êm thấm đứng dậy, chậm rãi thu xếp trống, đàn, từ từ rút lui. Tất cả họ bùi ngùi, câm nín, ra về trong sợ sệt, nhìn trước, ngó sau, lắng tai, phóng mắt ra khắp phía xa chung quanh, không ai nói với ai nửa lời. Mỗi người mỗi nặng một tâm tư luyến tiếc, lo âu, sợ hãi…

Nguyên Tuân ghé tai Thảo:

– Này ông bạn trí thức của tôi ơi, nhớ cho kỹ là đừng cho ai biết là tôi đãi ông chầu hát ca trù này đấy nhé! Phải “bem” (giữ bí mật) kẻo lại bị ngồi viết kiểm điểm thì mệt lắm đấy!

– Thú thật là ngồi nghe, tuy không hiểu hết ca từ, nhưng tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống y như mình cũng đang khóc cho nỗi niềm u uất của chính mình. Không thể ngờ là lối ca này nó thấm thía vào tim gan đến thế!

– Anh có biết tại sao ca trù nó thấm thía vào tâm hồn mọi người không? Tại vì đây là một lối ca trữ tình. Bởi lời ca toàn là những bài thơ, bài hát nói của một nền văn chương quý phái đã lâu đời. Cách diễn tả lại càng trữ tình hơn. Vì làn hơi bị ức chế trong lồng ngực để rồi được đẩy ra thành tiếng luyến láy nghẹn ngào, nức nở, để bầy tỏ những tình cảm uất ức khó diễn tả, nên ca mà cứ như nấc nghẹn, muốn than van, nuối tiếc, khóc thương một thời hạnh phúc đã mất… Ai mà có nỗi niềm trong lòng thì mới thưởng thức hết được cảm xúc sâu thẳm của ca trù. Tôi biết anh cũng đang có nhiều nỗi niềm bị ức chế ở trong lòng nên tôi mới mời anh đi hát hôm nay. Có đúng như vậy không nào?

Thảo nhìn Tuân chằm chằm, rồi ngần ngừ nói:

– Anh hỏi tôi câu ấy làm tôi chột dạ. Cố phải anh là môn đệ của Freud đã nhìn thấy tâm can tôi không? Hay anh là cán bộ của “cụ Hồ” đang gài bẫy để bắt quả tang lập trường chao đảo của tôi đây?

– Tôi chưa hề đọc Freud. Và anh cũng đã mắc cái bệnh cảnh giác nặng rồi đấy. Nhưng cứ yên tâm, vì thằng Nguyễn Tuân này dù thế nào thì cũng không thể hèn mạt đến nỗi bán rẻ tình bạn cho cách mạng đâu. Anh cứ bình tĩnh mà chịu đựng và chờ đợi, chờ thời… Tôi hỏi thật, anh có hiểu tại sao ca trù nó lại thấm thấu tâm can chúng ta như vậy không?

– Tại sao vậy anh?

– Tại vì ca trù toàn chuyên chở âm điệu những nuối tiếc, những tình hận, những chí cả sinh bất phùng thời của những kẻ bất mãn, bất đắc chí như anh đấy!

– Sao anh thấy được tận đáy lòng tôi như thế? Xin cảm ơn anh! Nhưng cũng xin anh đừng làm tôi sợ vì đúng là anh đã bắt quả tang tôi đang chao đảo lập trường đối với cách mạng!

– Anh đừng lo. Tôi hiểu anh vì tôi hiểu tôi. Bởi chúng ta chỉ là bọn Giang Châu Tư mã đang bị giông bão thời cuộc đánh trôi dạt về cái bên Tầm Dương rừng rú này. Buồn lắm! Thảm lắm anh ơi! Với anh tôi mới dám thổ lộ tâm sự u buồn của tôi. Bởi tôi biết sợ cũng như anh biết sợ…

Rồi bác Thảo còn cho biết sau khi về tiếp thu Hà Nội, Nguyễn Tuân còn mời bác đi nghe hát ca trù chui lậu thêm hai lần nữa, nhưng những lần sau này thì không còn xúc động mạnh như lần đầu, trong cái chòi tranh thô kệch nghèo nàn ở giữa cái cánh ruộng khô, đêm trăng ấy nữa.

Trích “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối”,
Phan Ngọc Khuê ghi.
Nguồn: FB La Khac Hoa

Tỳ Bà hành - thơ Bạch Cư Dị qua bản dịch của Phan Huy Vịnh
NSND Quách Thị Hồ trình bày 



Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỪ XỨ TUYẾT NHỚ PHÙ SA BỜ BÃI SÔNG HỒNG MÙA TẾT



Phù xa sông Hồng mùa Tết 

Tùy bút của Trần Quảng Nam

Nhà tôi gần nơi làm việc nên tôi hay đi bộ vòng bên ngoài tp nơi quy hoạch làm khu nhà vườn nhỏ, được trồng đủ các loại hoa và cây ăn quả sứ sở ôn đới mà nhiều nhất vẫn là cây táo , giữa tháng hai khi mà tuyết cũ chưa tan hết thì những bông tuyết mới lại đang nối tiếp nhau sa xuống những cành táo, trơ trụi , xù xì mốc thếch, nhìn chúng như đang hóa đá hay là được tạo ra bằng đá ấy, thế nhưng chỉ cần chú ý một chút đã thấy những chồi non, những nụ hoa đang nhú ra, lớn lên từng ngày chỉ chờ nắng ấm là bung ra màu xanh màu xuân vói những bông hoa trắng phơn phớt hồng gợi cho tôi nỗi nhớ về quê hương nơi Tết cổ truyền của dân tộc đang đến thật gần, rất gần như là người đồng nghiệp đứng bên cạnh khe khẽ hát theo điệu nhạc "Xuân! xuân ơi , Xuân đến rồi ...". 

Hôm qua tôi được đọc tùy bút của tác giả Vũ Thư Hiên (Sương xuân và hoa đào) trên trang Tễu Blog . Cảm ơn tác giả, cảm ơn chú Tễu đã cho tôi được đọc bài viết này, nhẹ nhàng như một ngọn gió xuân nhưng khi đọc xong, tôi cứ có một cảm giác buồn man mác và cả tủi thân nữa đọc lại một lần nữa thì cái cảm giác đó cứ rõ nét dần lên.

Mẹ tôi chuyển về làm việc ở nhà máy Đường 19-5 ven sông Tích Giang, bên kia sông là thị xã Sơn Tây , được nối với nhau bằng chiếc cầu treo cứ mỗi lần có vài người đi qua là lại đung đưa như đưa võng từ năm 68 của thế kỷ trước. Năm đầu mẹ ở tập thể nên phải gửi tôi về quê ngoại bên kia sông Hồng ở vói ông bà, một năm sau tôi vào lớp một mới được mẹ đón về và bắt đầu đi học ở trường cấp một Trần Phú. Từ đây tháng nào tôi cũng về quê thăm ông bà ngoại , lần nào cũng phải đợi đò thật lâu để qua sông Hồng.

Vì đất nước có chiến tranh nên bố tôi phải lo công việc của người lính chiến, mười một cái Tết tôi ở đây với mẹ và hai đứa em thì 12 lần vừa chuyển nhà vừa sơ tán mà không bao giờ có mặt bố tôi nên việc ông làm gì, như thế nào để đón Tết cổ truyền cho tới hôm nay vẫn là bí mật với tôi và các em tôi. Cứ gần Tết các bác, bá đằng mẹ lại người cho gạo nếp để thổi xôi, người cho bánh người cho thịt cộng với túi hàng tết tiêu chuẩn của mẹ cũng đủ để ba mẹ con tôi có Tết ,chỉ có thiếu hoa, đúng là hoa thì chẳng bao giờ mẹ tôi mua chắc là không có tiền để chi cho cái khoản xa xỉ đó. Tết năm 77 tôi học cấp ba, lần đầu cùng mấy đứa bạn hàng sóm đi chặt chộm cành đào phai mang về nhà dựng trong chiếc vại sành, vậy là trong gian nhà tập thể chưa đến 10m2 mái tranh vách đất mùa xuân cũng lặng lẽ ùa vào theo cành đào phai. Sống ở khu tập thể nên chúng tôi chỉ biết lấy đường đi làm sân chơi giao, thừa thì kéo nhau ra cổng nhà máy nơi rộng rãi nhất và có cả ánh sáng đèn đường để đốt pháo. Chính nhờ những quả pháo thăng thiên khi đó cứ phải ngửa cổ lên trời để xem mà tôi đã bất chợt nhìn thấy vô số những giọt sương đêm vương trên cành nhờ có ánh sáng đèn điện cứ lấp lánh, lung linh như những vì sao li ti trên bầu trời đêm. 
.


Mùng một tết trẻ con chúng tôi thường dậy muộn , thích nhất là những năm Tết có nắng to nóng , mẹ thì than nắng chảy mỡ thế này còn gì là Tết, nắng to không phải mặc cái áo bông to xù lại nặng nữa tôi xin mẹ về quê thế là băng ngang tx ra sông Hồng.

Mùa Tết nước sông Hồng trong hơn rất it phù xa và cạn làm hở ra dải cát dài theo dòng nước phía bờ bên Vĩnh Phúc rộng cả trăm mét , không bằng phẳng thỉch thoảng lại có những vũng nước lớn trong veo mà những mùa khác chúng ẩn mình trong dòng nước vàng đục chứa trong mình hàng tỷ tỷ hạt phù xa để tạo nên đồng bằng sông Hồng hôm nay. Tiết trời hanh khô làm lớp phù xa phía trên bãi cát nứt nẻ, cong vênh tạo thành lớp vảy, sáng ánh vàng dưới nắng xuân tôi cứ chọn những nơi này để dẫm đôi trân trần của mình lên nghe tiếng gãy giòn tan, nhớ ông ngoại bẻ bánh đa để uống riệu trên chiếc chiếu hoa trải ở hè gian giữa nhà. Đặc biệt cảm nhận được một luồng khí vừa ấm áp lại vừa mát mẻ từ trong lòng đất qua bàn chân chạy khắp cơ thể mình . 




Chao ôi, những hạt phù sa sông Hồng , những hạt nhỏ li ti hơn cả hạt sương đêm, nhìn thấy chúng đang chao liệng trong dòng nước mà không thể cầm bắt chúng được ,chúng mơm chớn, vuốt ve làn da bám vào mái tóc mỗi lần dầm mình trong dòng sông buổi trưa hè nóng nực. Gia đình tôi cũng như những hạt phù sa li ti cứ lênh đênh theo dòng nước trôi, trôi mãi lúc nào cũng bên nhau, quấn quýt xum vầy mà vẫn cứ xa nhau, xa mãi . Một mình băng qua bãi cát ngược với dòng người áo quần sặc sỡ, gương mặt hân hoan rạng ngời đang đi về phía bến đò để sang tx Sơn Tây chơi tết. Tôi cứ thầm hỏi trong lòng mình họ chơi cái gì ở đó nhỉ ? nơi mà tôi mới bỏ lại sau lưng để về xem Tết quê, hay là chỉ đi vòng quanh thành cổ rồi lại ra sông lên đò trở về.

Tôi cứ đi ngược qua các làng ven sông vừa xem mọi người reo hò trên các thửa ruộng có dựng những cây đu, không chỉ là bốn cột khen ai khéo khéo trồng mà có cây đu to, hai cột đứng thẳng với mỗi bên hai cột nghiêng buộc với hai cột đứng thẳng cao ngất là sáu cột , với cây xà bắc ngang phía trên rồi thêm hai cây tre thả xuống gần tới mặt đất phía dưới là miếng gỗ nhỏ để các cô các cậu đặt chân lên đó, hai tay nắm lấy cây tre mà khom khom cật với ngửa ngửa lòng cho thỏa thích. Đám khác thì đang cổ vũ reo hò huyên náo mỗi bước chân tôi đi qua cho hai chú gà trọi nhưng Thôi thúc nhất là tiếng trống ở sới vật ven đê, cứ thế đi qua ba làng tôi lên tới mặt đê , cây trôi đình làng bà ngoại đã hiện ra trước mắt. Các anh chị, con của các bác các bá và mấy đứa bạn quen đã đợi sẵn, chẳng cần nghỉ ngơi chúng tôi gặp nhau gần chục đứa hớn hở đi tiếp qua xã Cao Đại, Bạch Hạc lên cầu Việt trì cũng giống như đoàn người đi sang tx Sơn Tây chơi Tết. Chúng tôi đứng trên cầu nhìn ngắm nhìn dòng sông mùa cạn , xa xa là tp Việt Trì nhìn mãi cũng chỉ thấy mấy cái ống khói vươn cao hơn những tán cây và hít thở cái mùi tàu hỏa hăng hắc chán rồi lại đi về.


Tối trời trở lạnh hơn, mấy anh em tôi ngồi trên ổ rơm trong gian bếp đánh tam cúc ăn những đồng xu có lỗ với những tờ một hào mới được mừng tuối ban sáng . Tết của tôi những năm ấy chỉ có vậy mà sao đã hơn bốn mươi năm xa về thời gian , hơn một vạn km xa về không gian mà vẫn cứ như mới hôm qua vậy.
T.Q.N

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Groudinine, đối thủ « cộng sản » của ông Putin


Ông Pavel Groudinine (T), ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Sản Nga, đi thăm Bảo tàng Stalin ngày 25/01/201
Liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống sắp tới tại Nga, Le Figaro mô tả nhân vật « Groudinine, đối thủ ‘cộng sản’ của ông Putin ». Ứng cử viên này là một nhà triệu phú đỏ, đang ngự trị trong « nông trang tập thể » theo kiểu Disneyland, quảng bá cho « chủ nghĩa xã hội của thế kỷ 21 ».
Đặc phái viên của Le Figaro mô tả tại nông trang Lênin, mô hình hợp tác kiểu mẫu ở ngoại ô Matxcơva, mỗi ngày đều là Noel. Dưới những bông tuyết, phía sau cánh cổng trang trí một quả dâu khổng lồ, người ta có cảm giác đây là một vương quốc Disney. Nhưng thay cho chú chuột Mickey quen thuộc, lại là các nhân vật trong truyện cổ tích Pútkin, và các phim hoạt hình thời xô-viết.

Nông trang tập thể Lênin có 350 công nhân, là nơi cư ngụ của 8.000 người, mà chủ nhân là Pavel Groudinine, 57 tuổi. Tuy không phải là đảng viên, nhưng ông lại đại diện đảng Cộng Sản Nga (KPRF) ra ứng cử, và đang là ứng cử viên đầy hứa hẹn chỉ sau Vladimir Putin, trong các cuộc thăm dò dư luận. Đảng Cộng Sản đã chọn lựa nhà triệu phú này, thay vì tổng bí thư đảng Guennadi Ziouganov, 73 tuổi.


Tuy là triệu phú, nhưng ông Groudinine lại hứa hẹn sẽ quốc hữu hóa hàng loạt lãnh vực kỹ nghệ và tài chính. Làm giàu qua việc tư nhân hóa bừa bãi trong thập niên 90 như nhiều nhà giàu mới khác, ông hứa hẹn nếu đắc cử sẽ săn lùng giới tài phiệt. Pavel Groudinine chuyên về nông sản thực phẩm nói chung, và đặc biệt là trồng dâu, với doanh số 57 triệu euro. « Tổng thống tiềm năng » chủ trương phân phối lại nguồn lực cho « quần chúng »

Ông Groudinine đi thăm một cơ quan văn hóa.
Các đại biểu Đại hội Kômsômôn quốc tế lần thứ 6 khi đi tham quan nông trang Lênin đều khen ngợi doanh nghiệp hiện đại này. Chẳng hạn đại biểu Ấn Độ cho rằng : « Đó là một cơ sở hạ tầng hoàn toàn dành cho giai cấp công nhân, một mô hình kiểu mẫu cho nước Nga và cho thế giới ». 

Natalia Grigorieva, một người cộng sản từ Novossibirsk nhận xét : « Pavel Groudinine là hiện thân của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ 21. Không giống như các ông chủ khác hưởng thụ của cải, ông dành tài sản của mình để phục vụ người dân ». Một ưu điểm khác nữa là « Groudinine nói chuyện chậm rãi, nhẹ nhàng giống như Stalin », và ông cũng để râu giống như cố lãnh tụ cộng sản quá cố.

Tuy vậy cách hoạt động của nhà triệu phú đỏ chẳng có gì là sáng tạo. Nông trang Lênin, mua lại với giá rẻ mạt sau khi Liên Xô sụp đổ, được chia ra những mảnh nhỏ bán lại với giá rất đắt cho các nhà đầu tư. Pavel Groudinine chiếm 44% cổ phần, và bố trí con trai vào chiếc ghế quan trọng là quản lý địa ốc.

Các căn hộ tại đây được bán bằng nửa giá thị trường cho 350 « xã viên », cộng thêm số tiền vay không tính lãi trả dần trong 15 năm. Đại đa số các gia đình khác phải mua đúng giá, và con em họ muốn vào khu vui chơi dành cho trẻ em hàng tháng phải trả phí 25.000 rúp (357 euro), trong khi xã viên chỉ mất 40 euro.

Ứng cử viên "cộng sản" Groudinine và những người ủng hộ.
Maxim Souraikin, ứng cử viên cộng sản thứ nhì trong cuộc bầu cử tổng thống lần này, đã ly khai khỏi đảng, tố cáo : « Groudinine không phải là người cộng sản. Đó là một nhà tư bản đóng vai dân chủ xã hội ». 

Trong bài phóng sự « Vua dâu đối mặt với ông chủ điện Kremlin », thông tín viên nhật báo La Croix tại Matxcơva cũng ghi nhận bên cạnh những lời ca ngợi, còn có không ít chỉ trích. Một người về hưu cho biết đã bị tước đoạt tài sản trong giai đoạn tư hữu hóa thập niên 90, một cựu nhân viên phàn nàn về những hứa hẹn đã bị nuốt lời, một nhà buôn mỉa mai về cuộc sống vương giả của giám đốc Groudinine…

Nhiều câu hỏi được đặt ra đối với gia tài của Pavel Groudinine (thu nhập 2,2 triệu euro trong sáu năm gần đây), chủ yếu nhờ đầu cơ địa ốc chứ không phải trồng dâu. Tuy nhiên theo La Croix, trong một nước Nga thiên tả nhưng cởi mở trước thực tế tự do, ứng cử viên Groudinine có thể chinh phục được một lớp cử tri đã mệt mỏi với chế độ của ông Putin, và lo ngại trước sự giảm sút phúc lợi xã hội trong hai năm suy thoái kinh tế.

Các cô gái Bắc Triều Tiên tại Olympic Pyeongchang, 12/02/2018.
Vẻ đẹp tự nhiên của phụ nữ Bắc Triều Tiên chinh phục Hàn Quốc quen « dao kéo »

Nhìn sang một nước mang danh cộng sản là Bắc Triều Tiên,Le Monde cho biết « Phụ nữ miền Bắc mê hoặc phương Nam ».

Từ khi Kim Yo Jong, em gái của lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un vào Hàn Quốc cho đến khi ra đi, các caméra không ngừng chĩa vào cô : lễ khai mạc Thế vận hội Pyeongchang, bốn cuộc gặp với tổng thống Moon Jae In, buổi trình diễn của đoàn ca nhạc nữ Samjiyon…

Truyền thông Seoul cũng rất chú ý đưa hình ảnh của 230 nữ cổ động viên Bắc Triều Tiên, đoàn Samjiyon và trước đó là ngôi sao nhạc pop nữ Hyon Song Wol. Hiện tượng này phản ánh sự quan tâm của nam giới Hàn Quốc đối với phụ nữ Bắc Triều Tiên. Một chuyên gia truyền thông giải thích : « Ở miền Nam, giải phẫu thẩm mỹ quá phổ biến, còn vẻ đẹp của các cô gái miền Bắc tự nhiên hơn, cổ điển hơn ».

Lực lượng an ninh Israel kiểm tra xác chiếc F16 tại làng Harduf, 10/02/2018.
Israel đối đầu trực diện Iran tại Syria

Còn tại Trung Đông, bài xã luận của Le Monde nói về « Israel trước các cuộc chiến ở Syria ». Vụ không kích của Israel hôm 10/2 vào Syria, sau khi một máy bay không người lái của Iran xâm nhập vào không phận Nhà nước Do Thái, rồi vụ một chiếc F16 của Israel bị bắn hạ, một lần nữa lại nhắc nhở rằng không chỉ có một, mà là nhiều cuộc chiến tại Syria.

Bằng chứng là cuộc tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ vào vùng đất Kurdistan ở Syria cách đây một tháng, Mỹ không kích vào quân đội Bachar Al Assad đang đánh vào Lực lượng Dân chủ Syria ở miền đông… Vụ đối đầu trực diện đầu tiên giữa Iran và Israel, cho thấy sự bắt rễ của Iran vào Syria là một thử thách an ninh quan trọng đối với Tel Aviv.

Nhà nước Do Thái cần phải nỗ lực chứng tỏ sự khả tín của Không Quân nước mình, sau khi lần đầu tiên từ 35 năm qua, một chiến đấu cơ bị bắn rơi. Le Monde cho rằng nguy cơ xung đột lan rộng đang tăng lên : thử hình dung nếu chiếc F16 bị hạ trên lãnh thổ Syria và các phi công bị bắt, thì sự thể sẽ ra sao ?

Ca sĩ Johnny Hallyday và hai con gái nuôi gốc Việt Jade, Joy.
Johnny Hallyday : Vợ sau và 2 con nuôi thừa kế gia tài, con ruột đi kiện

Tại nước Pháp, sự kiện đang được chú ý là việc thừa hưởng gia tài của ca sĩ nhạc rock nổi tiếng Johnny Hallyday, qua đời vào cuối năm ngoái. Hai người con ruột của ông là Laura Smet và David Halliday chuẩn bị khởi kiện, vì Johnny Hallyday để lại toàn bộ gia sản cho người vợ sau, bà Laetitia và hai bé gái con nuôi gốc Việt, Jade 13 tuổi và Joy, 9 tuổi.

Trong bài « Johnny Hallyday, gia tài tẩm thuốc độc », Le Figaro nhận định cuộc chiến này là lâu dài và phức tạp. Nếu áp dụng luật Mỹ, thì hai người con ruột sẽ trắng tay, còn nếu áp dụng luật của Pháp, chú trọng tính huyết thống, Laura Smet và David Hallyday có thể hy vọng thương lượng trên thế mạnh. Như vậy địa chỉ thường trú là chi tiết mang tính quyết định.

Johnny Hallyday đã đưa vợ và hai bé Jade, Joy sang Los Angeles sống trong những năm 2000, nhưng năm ngoái ông quay về Pháp chữa bệnh và qua đời tại đây.

Nếu các thẩm phán cho rằng ca sĩ người Pháp thường xuyên ở California, thì sẽ phải áp dụng đúng theo di chúc của ông. Ngược lại, luật pháp của Pháp cấm việc truất quyền hưởng gia tài của con cái. Người vợ sau cùng chỉ được một phần tư, số còn lại phải chia đều cho các con, dù là con ruột hay con nuôi. Le Monde trong bài « Johnny, lúc chết lại càng ‘Mỹ’ hơn » đặt vấn đề là liệu có thể không để lại gì cho những người con của mình bằng cách chuyển sang cư ngụ tại một đất nước xa lạ.

Nhân loại đã đặt chân lên Mặt Trăng cách đây nửa thế kỷ!
Con người sẽ tái ngộ Chị Hằng ?

Trên lãnh vực khoa học, Le Monde tìm cách trả lời câu hỏi « Vì sao con người quay lại với Mặt Trăng ? » 

Thật khó thể tưởng tượng là nửa thế kỷ sau chương trình Apollo, vào thời buổi của trí thông minh nhân tạo và công nghệ vi tính, lại không thể gởi người lên thăm Chị Hằng. Lý do đầu tiên là tài chính. Không còn sự chạy đua sôi nổi giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong thập niên 60 và thời thế cũng đã đổi thay : Đối với phi thuyền Apollo, nước Mỹ đã huy động tổng lực trong mười năm trời, còn bây giờ thì không thể mơ nổi. Trở ngại thứ hai là kỹ thuật : Không thể để các phi hành gia chịu đựng những rủi ro như trong chương trình Apollo trước đây.

Tuy vậy nhiều người vẫn đặt niềm tin vào « tập hai » của cuộc chinh phục Mặt Trăng, sau quyết định ngày 11/12/2017 của tổng thống Mỹ Donald Trump. Riêng giám đốc cơ quan CNES của Pháp trông cậy vào chương trình thám hiểm Hỏa Tinh bằng các phi thuyền tự động. Ông nói : « Người ta thích cái mới. Mặt Trăng thì đã lên rồi. Cần nhớ rằng trong hai vụ phóng phi thuyền Apollo sau cùng, phải trả tiền cho các nhà báo mới được đưa tin ».

« Finding Phong », bộ phim về người chuyển giới Việt

Trong bình diện điện ảnh, nhiều tờ báo Pháp giới thiệu bộ phim tài liệu « Finding Phong » của hai đạo diễn Trần Phương Thảo và Swann Dubus-Mallet, nói về một nam thanh niên người Việt quyết định tìm lại giới tính đích thực của mình qua việc giải phẫu chuyển giới.

Bộ phim bắt đầu theo kiểu nhật ký, với tự sự của nhân vật, rồi sau đó theo thể loại phim tài liệu cổ điển. Chuyến đi Thái Lan của Phong chiếm vị trí chính của phim, và Le Monde cho rằng những trao đổi với người thân của nhân vật là rất cảm động. Libération cho biết người mẹ không hề muốn con trai thay đổi giới tính, bà nói : « Con trai giống như gạo tẻ nuôi sống chúng ta mỗi ngày, còn con gái như gạo nếp, thỉnh thoảng mới dùng đến ». Tờ báo nhấn mạnh đến sự cảm thông đáng ngạc nhiên của người cha, và sự do dự của gia đình, đã đóng góp vào sự phong phú của bộ phim, nhưng điều đáng tiếc là phim dừng lại với cuộc giải phẫu. Các đạo diễn giải thích : « Nếu quay lại giai đoạn mới trong cuộc sống của nhân vật, thì phải mất đến mười năm », nhưng theoLibération thì « Tại sao lại không thể ? »

Bạo lực, cải cách tú tài, việc làm : Tựa chính báo Pháp

Tựa chính các báo Paris hôm nay tập trung cho thời sự nước Pháp. Le Figaro lo lắng trước « Sự gia tăng đáng lo ngại của bạo lực vô cớ » : mỗi ngày có 777 vụ bạo hành kiếu này xảy ra tại Pháp, cho thấy môi trường xã hội đang xuống cấp. Về giáo dục, Le Monde đặt vấn đề « Cải cách kỳ thi tú tài : Giáo chức lo ngại những gì ? ». Nếu chính phủ ấn định năm môn thi trong đó có phần thi vấn đáp, thì giáo viên các môn khoa học, hóa lý, sử địa, kinh tế lo ngại giờ học sẽ bị giảm.

Trên lãnh vực kinh tế, nhật báo Les Echos cho biết tin vui « Việc làm : Nước Pháp thoát khỏi mười năm khủng hoảng » : số nhân viên trong lãnh vực thương mại đã tương đương với năm 2007, và tiền lương tương đối khá.

Về điện ảnh, nhật báo Công Giáo La Croix chạy tựa « Đức tin ở trung tâm nghệ thuật thứ bảy », với bài phỏng vấn đạo diễn Xavier Giannoli về bộ phim nói về sự kiện Đức Mẹ hiện ra, được trình chiếu tại các rạp kể từ hôm nay.

Libération nhìn sang « Bagdad thời hậu chiến ». Vào lúc một hội nghị quốc tế đang diễn ra tại Koweit để tài trợ cho việc tái thiết Irak, tờ báo mô tả một thủ đô bị tàn phá bởi nhiều năm chiến tranh và nạn khủng bố.


Phần nhận xét hiển thị trên trang