Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Tàu hậu cần quân sự Trung Quốc cấp hàng cho Gạc Ma




Hai tàu vận tải quân sự Trung Quốc neo ngoài bãi đá Gạc Ma, đang cấp hàng hóa cho lực lượng đồn trú. Phía sau là các công trình do Trung Quốc xây dựng trái phép trên bãi đá Gạc Ma của Việt Nam. 
Ảnh Mai Thanh Hải

(Thanh Niên 05/02/2018) Tàu hậu cần quân sự Trung Quốc 961 mới xuống hoạt động tại khu vực Trường Sa khoảng nửa tháng nay...

Chiều một ngày cuối tháng 1.2018, khi đang tác nghiệp trên đảo Len Đao (huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa) thì chúng tôi nghe hiệu lệnh báo động "Tàu quân sự nước ngoài tiếp cận vùng biển Cô Lin - Len Đao - Gạc Ma".

Từ đài quan sát trên nóc đảo Len Đao, chúng tôi phát hiện một tàu quân sự rất lớn mang số hiệu 961, mang cờ Trung Quốc đang chạy từ phía nam lên Gạc Ma. Đây là bãi đá của Việt Nam, bị Trung Quốc đánh chiếm từ ngày 14.3.1988 và giữa năm 2013 tập trung tôn tạo, xây dựng thành đảo nhân tạo với nhiều cơ sở hạ tầng với các trang thiết bị, vũ khí khí tài hiện đại.

Tàu 961 của Trung Quốc nhìn từ khoảng cách 15 km.
Tàu 961 là tàu vận tải tổng hợp kiểu 904A,B (AORH) thuộc biên chế hạm đội Nam Hải (Trung Quốc). Tàu này có lượng giãn nước 15.241 tấn, có chiều dài 152 m, động cơ gồm hai máy diezen công suất 24.000 mã lực, tốc độ 18 hải lý/ giờ. Tàu có chức năng vận chuyển hàng khô, nhiên liệu. Trên tàu có hai bệ pháo 37mm loại 76F (nòng đôi) tầm bắn 7,2km và hai bãi đáp trực thăng loại Z-8.

Tàu chạy tốc độ cao, rẽ sóng ở mũi tàu 961.
Khi tới gần Gạc Ma, tàu 961 giảm tốc độ dự định vào luồng để cập cầu cảng nhưng do sóng to gió lớn, nên 961 phải neo phía ngoài, cách mép xanh khoảng 4km.

Sáng hôm sau, mặc dù thời tiết xấu, sương mù rất nhiều và biển động cấp 5 - 6, nhưng tàu 961 vẫn dùng cần cẩu khổng lồ để cẩu hàng cho tàu 175 làm chức năng chuyển tải.

Tàu 175 là tàu kéo lớp hộ cứu tên đầu đủ là Nam Đà - 175 thuộc biên chế hạm đội Nam Hải (Trung Quốc) có trọng tài 1.470 tấn, lượng giãn nước 750 tấn, động cơ 1.800 mã lực, tốc độ 15 hải lý/ giờ và thủy thủ đoàn lên đến 56 người.

Tàu Nam Đà - 175 làm nhiệm vụ chuyển tải hàng từ căn cứ Gạc Ma ra tàu 961.
Việc cấp hàng giữa hai tàu và cảng diễn ra nhanh chóng trong buổi sáng.

Theo quan sát của chúng tôi, mỗi khi tàu Nam Đà - 175 nhận, chuyển hàng từ tàu 961, phía ngoài khu vực mép xanh nơi hai tàu cập mạn, luôn có một xuồng cao tốc chở lính Trung Quốc có vũ trang chạy qua lại cảnh giới. Khi tàu Nam Đà -175 cập cảng trong bãi Gạc Ma, việc bốc dỡ hàng cũng được thực hiện bằng cần cẩu cố định. Đặc biệt, trên cầu cảng luôn có hai xe điện chạy đi chạy lại để chở người lên xuống tàu, vào đảo và ra tàu.

961 và Nam Đà -175 cập mạn giao nhận hàng.
Buổi chiều, cả hai tàu di chuyển lên phía Bắc. Một số cán bộ Hải quân Việt Nam cho biết: Tàu 961 mới xuống hoạt động tại khu vực Trường Sa khoảng nửa tháng nay và mới chạy từ đá Chữ Thập lên giao nhận hàng hóa, nguyên liệu cho Gạc Ma, sau đó sẽ tiếp tục ngược lên phía bắc cấp hàng cho căn cứ Ga Ven, Su Bi...

Một số hình ảnh về quá trình cấp, chuyển hàng hóa của tàu vận tải quân sự Trung Quốc tại bãi Gạc Ma, do phóng viên Thanh Niên ghi lại ở khoảng cách 7 hải lý (gần 13km), cuối tháng 1.2018:

Cần cẩu trên tàu 961 thả hàng xuống tàu Nam Đà - 175 trong lúc sóng to gió lớn.
 
Xuồng cao tốc (bìa phải) chạy vòng cảnh giới.


Xuồng cao tốc cảnh giới chở lính có vũ trang.


Sau khi giao nhận hàng, tàu Nam Đà -175 nhanh chóng cơ động vào cầu cảng nằm sâu trong bãi Gạc Ma.

Cập cảng rất dễ dàng.
  

Cảng nằm ở phía tây bắc căn cứ liên hợp và dài khoảng 100m.


Lính Trung Quốc tập trung ở cầu cảng, gần đó là hai xe điện đang xếp hàng đợi chuyên chở vào sâu bên trong.

Tàu Nam Đà - 175 chạy tốc độ cao và vòng hẹp để tiếp cận 961.

Động tác tiếp cận rất nhanh do đã quen việc cập mạn chuyển tải.


Nhìn từ đảo Len Đao (từ trái qua phải): Tàu 996 của hải quân Việt Nam, bãi đá Gạc Ma, phía xa là tàu 961 của Trung Quốc.


Hai tàu 961 và Nam Đà - 175, nhìn từ đảo Len Đao.


Tàu 996 thả neo sát mép xanh đảo Len Đao do bộ đội lữ đoàn 146, Bộ tư lệnh vùng 4 Hải quân chốt.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ký ức Trịnh Công Sơn - Huế hôm nay






Một cửa sổ của căn phòng bẩn thỉu nơi tôi đang sống đã nhìn ra phía ngoài một góc thành phố đông đúc. Trong một buổi chiều, tôi nằm dài yên lặng trên ghế bố, nhìn ra ngoài cửa và tôi nhớ Huế.

Từ cửa sổ ngó ra, Huế, là hai cây bông bụt đỏ ối, những làn mưa nghiêng nghiêng trong một bầu trời ảm đạm.

Mỗi năm vào tháng này, tôi đi Huế. Đi ở đây, có nghĩa là trở về với những cái gì tầm thường như quý giá: một căn nhà chật hẹp, một tô bún bò gạo giã, bạn bè tại những quán cà phê nhỏ Mệ Tồn và giữ Huế trong tay suốt mùa hạ. 

Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người ở Huế đều có họ hàng với nhau.

Trước hết, tôi trở về để thưởng thức những vật tầm thường nhỏ bé đó. Tôi đã thưởng thức nó trong một thời gian ngắn trước khi biến cố Mậu Thân xảy ra.

Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia đình tản cư ngang qua đó. Hai hàng cây trước kia che chở đại lộ bằng những bóng mát cũng bị tróc gốc và trở thành những chướng ngại vật cho chúng tôi.

Nhìn vào Huế tháng Hai, tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ kính. Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này. Họ là những người còn sống sót trong những cuộc chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. 

Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận cùng của đau khổ. 

Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương, làm mặt nước tung bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ não. Các anh tôi và tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn réo ngang đầu. 

Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc Việt di chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Đó là những ngày đẹp trời của mùa xuân, với những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào nhau và không khí lành lạnh. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con đường đầy bóng mát trước cửa nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một tiêm bên kia sống, trong nội thành, đằng trước Trường Âm nhạc và Mỹ thuật.

Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh tôi và tôi ví những ngày của chúng tôi với những ngày của Anne Frank.

Tôi không biết bây giờ những gì có thể tìm thấy, khi tôi trở về Huế. Những cây cầu bắc ngang qua dòng sông nhỏ đã bị gãy. Tất cả mọi cây cầu An Cựu, Khe Ron, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao v.v… Một trong những cây cầu này đã chứng kiến sự trưởng thành của người bạn gái thân nhất, những dấu chân của nàng đã in hằn trên đó khi đi đến trường.

Khu nhà tôi ở bây giờ đã trở thành bãi dây kẽm gai. Căn nhà tôi, một phần lớn bị tàn phá, đã đầy rác. Ngày đầu tiên tôi trở về. Tôi ngồi duỗi dài chân tay trên một cái giường bị gãy và nhìn giọt mưa nhỏ rơi trên tôi, từ chỗ trống của mái nhà, tôi nghĩ rằng đang mơ. 

Thật sự, Huế chẳng còn gì cả. Bầu không khí thanh lịch, ấm áp của ngày xưa sẽ không bao giờ trở lại. Các kho tàng cổ kính và quý giá của Huế đã bị bom đạn đốt cháy.

Chỉ trong vòng hai tháng, tất cả mọi người dân của thành phố Huế đều trở thành những công nhân. Tập quán cổ truyền có từ lâu của một lối sống vương giả ở những gia đình ngày xưa đã bị xoá đi mất. Tôi đã nhiều lần bước ngang qua cầu Tràng Tiền gãy đổ nhiều nhịp. Tôi qua dòng sông Hương với con thuyền đầy người. Còn đâu sự êm đềm trong tâm hồn thành phố. Rất khó kiếm thấy một chỗ không bị lỗ chỗ bởi những hố bom.

Những con đường tráng nhựa sạch sẽ thuở nào nay đã trở nên lộn xộn, bẩn thỉu. Từng đám bụi bay lên cao suốt ngày ở hai con đường chính. Một bảng quảng cáo của rạp hát Châu Tinh vẫn còn treo ở trước cử chợ Đông Ba. Phim này dường như cũng là một điềm gở: Le Temps du Massacre.

Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố. Tôi đã mất nhiều thời gian ngồi trong quán cà phê trên đường Trần Hưng Đạo để quan sát những người qua lại buồn phiền, những người đã thăm được chiều sâu của sự buồn phiền. Tôi nhớ rằng tôi đã không tắm, không thay quần áo và không cạo râu cắt tóc trong hai tháng.

Sau giờ giới nghiêm, thành phố còn trở nên bi thảm hơn. Cửa nội thành đóng, đường phố bị bao phủ bởi một bầu không khí lạnh lẽo của bãi tha ma. Những ngôi mộ mới mọc lên như nấm dóc theo những con đường và lề đường trong công viên, trong vườn cam Tây Lộc và trong những cánh đồng nơi đàn bò ăn cỏ. Những bức tường của thành nội cũng đầy những vết đạn. 

Có lẽ hương hồn của những vị vua chúa ngày xưa và những quan lại cũng sợ hãi. Huế luôn luôn được nếm mùi bất hạnh. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà, hàng ngàn gia đình trong cuộc chém giết tàn nhẫn ngày hôm nay, người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. 

Sẽ không bao giờ có thành phố Huế cổ kính ngày xưa nữa. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải bốn thế hệ: ông, cha, con và cháu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền từ đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng xà nhà, từng bậc cửa.

Vì thế phải cần một thời gian lâu, mọi người có thể nhìn Huế mà không nhìn thấy khuôn mặt bị tàn phá. Huế của ngày xưa đã biến mất đi khi mái cao của cửa Thượng Tứ và cửa Đông Hoà đã bị tàn phá và đầy lỗ thủng.

Tôi bước dọc theo đường thành nội nơi mà hàng ngàn căn nhà đã bị đốt cháy rụi.

Tôi đi lên An Hòa, đứng trên ngọn đồi Uông Voi và nhìn chung quanh, cạnh những hố bom sâu hơn 10 thước. Nơi đây là nhà của hàng ngàn những gia đình nghèo khó. Họ đã trở về để nhìn lại những cây chuối non, những cột gỗ, những lăng tẩm, từng bậc đá ghi lại những dấu vết của những cái gì đã một lần ở đó.

Tất cả mọi thứ đều bị tàn phá. Huế đã phải lo cúng bái thêm nhiều linh hồn con đi lang thang. Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người. Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng càng ngày càng nhiều. 

Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống. 

Nhớ những ngày ở Huế trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi không bao giờ có thể quên được những người mẹ chạy theo xe chở xác, đã mang đứa con trai của bà và trong khi chạy, bà đã vỗ tay cười suốt con đường lầy lội đất đỏ.

Tôi cũng sẽ không bao giờ quên được những người lính Mỹ ngồi dài theo lề đường, nhìn bà ta đang cười ngạo nghễ. Tôi cũng nhớ một người đàn ông già, bước những bước nặng nề, trên vai ông một cỗ quan tài bé, trên quan tài có cắm ba nén hương đang cháy.

Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. 

Hàng đoàn người đã đào lỗ để tìm xác cha, anh, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể làm rung chuyển cả núi rừng. Nhiều cái chết do sự ác độc của loài người gây nên. 

Ngày kia tôi lẩn trốn trong một thư viện của Viện Đại học Huế, tâm hồn tôi là một tảng băng. Chung quanh tôi mọi vật đều bị tàn phai. Tôi không thể nói được gì cả, khi đời sống chỉ là một trò đùa. Trong một tháng, tôi đã sống ở nơi ẩm ướt, lạnh lùng, trong bầu không khí ảm đạm của thư viện. Tôi không biết phải làm cái gì với cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn của năng lực loài người để chịu đựng.

Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bún bò thịt nướng ở Kim Long, bún bò tiệm bà Rốt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng sông Hương và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún, rất cay, cay đến chảy nước mắt. Tôi sẽ gọi cô con gái trên thuyền mang cho tôi một con mực nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hòa hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…

CRYSTAL ERHAT (theo lời kể của Trịnh Công Sơn???)

Dispatch News Service International Inc, 1968 (bản dịch từ Anh ngữ của T.K. Dung, đăng lại trong cuốn "Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay" của Tạ Tỵ, Sài gòn, 1972) 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai? Tôi!





Mậu Thân hai ngàn người xuống đồng bằng 
Chỉ một đêm, còn sống có ba mươi
Ai chịu trách nhiệm về cái chết hai ngàn người đó? 
Tôi! Tôi - người viết những câu thơ cổ võ 
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong

Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm 
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ 
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ 
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ! 

Ai chịu trách nhiệm vậy? 
Lại chính là tôi! 

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời 
Tôi ú ớ 
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong 
Mà tôi xấu hổ 

Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay 
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ 
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

CHÊ LAN VIÊN
1987 

(Rút trong sổ tay Thơ, tập 5) 
Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (do Vũ Thị Thường sưu tầm và biên soạn)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc mở rộng phạm vi chống tham nhũng lên 200 triệu người


Tập Cận Bình
Từ trái sang, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, ông Vương Kỳ Sơn và ông Lý Khắc Cường. (Ảnh: Getty)
Hiến pháp mới của Trung Quốc sẽ được mở rộng thêm phạm vi chống tham nhũng lên tất cả bác sỹ, y tá và giáo viên.
Vào giữa tháng 1, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã quyết định sửa đổi hiến pháp của nhà nước. Việc sửa đổi này có thể sẽ diễn ra khi Quốc hội họp vào tháng 3. Đây sẽ là lần sửa đổi hiến pháp đầu tiên của Trung Quốc trong 14 năm qua, theo Asian Nikkei Review.
Đã có rất nhiều ý kiến ​​về việc đưa thêm “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với các đặc điểm Trung Quốc cho kỷ nguyên mới” vào hiến pháp. Tuy nhiên, mục đích thực sự của việc sửa đổi hiến pháp là việc thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia – cơ quan chịu trách nhiệm chống tham nhũng, và một sửa đổi để công nhận cơ quan chống tham nhũng mới này.
“Mục đích ẩn sau việc sửa đổi hiến pháp quốc gia là thực hiện cải cách hành chính thông qua một cuộc đại tu quan trọng đối với các tổ chức chính phủ để hạn chế quyền lực và thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước do Thủ tướng Lý Khắc Cường chủ trì”, theo một nguồn tin ở Bắc Kinh.
Kể từ khi giành quyền lãnh đạo của Trung Quốc vào năm 2012, Chủ tịch Tập Cận Bình đã triển khai một chiến dịch chống tham nhũng sâu rộng để loại bỏ các phe cánh chính trị đối lập.
Việc thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia liên quan chặt chẽ đến cuộc sống hàng ngày của người dân ở Trung Quốc. Cơ quan chống tham nhũng sẽ cùng chiến tuyến với Hội đồng Nhà nước, Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đây là các cơ quan hàng đầu của Trung Quốc chịu trách nhiệm về truy tố và điều tra.
Hiện nay, bằng cách thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia, cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được mở rộng để điều tra khoảng 200 triệu người, bao gồm các thành viên phi đảng viên, làm việc trong khu vực nhà nước.
Các tổ chức trực thuộc Ủy ban Giám sát quốc gia cũng sẽ được thành lập ở cấp quốc gia và cấp địa phương. Nó sẽ được trao quyền lực để giám sát các công chức, công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, các bác sỹ, y tá, giáo viên, các nhà nghiên cứu, thậm chí cả những người làm vệ sinh tại các tổ chức công cộng.
Trước đây, thông qua Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng do ông Vương Kỳ Sơn lãnh đạo, có hơn 1,4 triệu quan chức và những người khác đã bị bắt giữ. Trong số đó có rất nhiều quan chức trung thành thuộc phe cánh của cựu Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân.
Những quan chức này hầu hết có liên quan trực tiếp trong việc thực hiện cuộc đàn áp đối với Pháp Luân Công, hay Pháp Luân Đại Pháp, một môn khí công ôn hòa giúp nâng cao tâm tính và sức khỏe theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn, do Giang Trạch Dân phát động.
Theo chỉ thị từ ông Giang, các quan chức trung thành của ông đã vận động cảnh sát, toà án và nhà tù để bắt giam, bỏ tù và tra tấn các học viên Pháp Luân Công, cho dù điều này đi ngược lại với quan điểm của hơn 100 quốc gia trên thế giới.
“Những lợi ích về thể chất và tinh thần của Pháp Luân Đại Pháp khiến môn này phổ biến tới 114 quốc gia với hơn 100 triệu người theo tập”, trích bản Tuyên bố của thành phố North Bay, Canada nhân ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới 2017.

Trên thực tế, Ủy ban Giám sát quốc gia sẽ là “quyền lực thứ tư” của chính phủ, cùng với các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mặc dù 3 cơ quan quyền lực hiện tại không phân lập giống như các nền dân chủ phương Tây. Ở Trung Quốc, quyền lực thực sự là ĐCSTQ.
Đối mặt với sự tổn thất lớn nhất của những thay đổi này dự kiến ​​sẽ là Hội đồng Nhà nước do Thủ tướng Lý Khắc Cường đứng đầu.
An Bình / Daikynguyen

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhạc sĩ Hoàng Vân qua đời ở tuổi 88


Tác giả ca khúc "Hò kéo pháo", "Quảng Bình quê ta ơi"... mất tại nhà riêng ở Hà Nội vào khoảng 4h sáng 4/2.  


Từ Macedonia, nhạc trưởng Lê Phi Phi - con trai nhạc sĩ Hoàng Vân - chia sẻ bố anh mất trong lúc ngủ. Ông ra đi thanh thản. Lê Phi Phi sẽ về đến Hà Nội vào ngày 6/2 để chịu tang cha.
* Các tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ Hoàng Vân
00:24| 03:31
Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam - cho biết sáng nay, ông hoàn toàn bất ngờ khi nghe gia đình nhạc sĩ thông báo tin buồn với Hội. Hiện gia đình chưa thông báo ngày tổ chức tang lễ.
* Ca khúc "Tình yêu Hà Nội" của nhạc sĩ Hoàng Vân
Tình yêu Hà Nội - Hoàng Vân
 
 
 
Trước đó, năm 2015, nhạc sĩ Hoàng Vân bệnh nặng. Ông bị viêm phổi cộng với một số bệnh tuổi già. Ông từng điều trị gần một tháng tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, Hà Nội, vẫn không thuyên giảm. Nhạc sĩ ở trong tình trạng lúc mê lúc tỉnh và phải thở bằng máy, nhưng vẫn nhận biết con cháu, người thân. Lúc đó, con trai ông là nhạc trưởng Lê Phi Phi ở bên cạnh chăm sóc bố. Sau khi ốm nặng, ông bình phục trở lại và khỏe mạnh cho đến lúc mất.
Nhạc sĩ Hoàng Vân. 
Nhạc sĩ Hoàng Vân. 
Hoàng Vân sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình nho học. Sau năm 1954, ông được gửi đi tu nghiệp tại Nhạc viện Bắc Kinh, Trung Quốc. Khi về nước, ông chỉ huy dàn nhạc đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam kiêm chỉ đạo nghệ thuật, đồng thời tham gia giảng dạy môn sáng tác và phối khí tại Nhạc viện Hà Nội cho đến năm 1989. Học trò ông nhiều người đã thành danh như: An Thuyên, Trương Ngọc Ninh, Văn Thành Nho, Phú Quang... Năm 1975, ông đi thực tập một thời gian tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria.
Hoàng Vân bắt đầu sáng tác từ năm 1951 với những ca khúc được phổ biến rộng rãi tại vùng Tây Bắc, Việt Bắc như Chiến thắng Hòa Bình, Tin chiến thắng, Chiến thắng Tây Bắc... Năm 1954, ông sáng tác bài hát nổi tiếng Hò kéo pháo. Từ đây sự nghiệp sáng tác của ông bắt đầu nở rộ với nhiều ca khúc, hợp xướng, hòa tấu. Ngoài ra ông còn viết nhạc cho phim, kịch nói, chèo, cải lương. Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vào năm 2000.
Ngoài Hò kéo pháo, Hoàng Vân còn là tác giả của rất nhiều ca khúc nổi tiếng như: Tôi là người thợ lò, Hà Nội - Huế - Sài Gòn, Quảng Bình quê ta ơi, Bài ca giao thông vận tải, Chào anh giải phóng quân - Chào mùa xuân đại thắng. Sau 1975, ông sáng tác Bài ca xây dựng, Hát về cây lúa hôm nay, Tình ca Tây Nguyên. Ngoài ra, ông còn viết các ca khúc thiếu nhi Mùa hoa phượng nở, Em yêu trường em, Con chim vành khuyên... Ông còn viết nhiều hợp xướng, khí nhạc và phụ trách âm nhạc nhiều bộ phim nổi tiếng như Con chim vành khuyên, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội...
Lễ viếng nhạc sĩ Hoàng Vân diễn ra từ 7h30 phút đến 8h45 phút sáng 8/2 (tức ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Dậu) tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu diễn ra lúc 9h15 phút.
Hà Thu



Tác giả "Nhà văn An Nam khổ như chó" có cuộc đời thực ra sao?


“…Bây giờ thời thế vẫn thấy khó/ Nhà văn An-nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ Rồi nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết/ Mà thương cho tôi, thương cho anh/ Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!…”. Nhà thơ Bàng Bá Lân đúc kết: “Nguyễn Vỹ là nhà thơ có cảm tình với chó nhiều nhất, và lần nào anh đưa con vật đó vào thơ cũng đều xúc cảm được người đọc”. Chiều 30 Tết năm 1940, vì viết sách báo chống Nhật, Nguyễn Vỹ bị quân đội Nhật bắt giam trong hầm kín tại Sở Hiến binh Kampetai (Hà Nội) cùng 3 người khác, mãi cho đến 1945 mới được thả tự do. Giao thừa năm 1942, trong tầng hầm nhà giam ẩm thấp, chật chội như chuồng chó, Nguyễn Vỹ đã cảm tác viết bài thơ “Hai con chó”. Khi bên ngoài “Hà Nội đón mừng xuân Nhâm Ngọ/ Pháo nổ tưng bừng, đèn sáng tỏ”, thì bên trong “Chuồng ngục tối om kìa bốn xó/ Bốn thằng bơ vơ như bốn chó/ Chẳng được nói năng, chẳng được cười/ Hai chân chồm hỗm ngồi co ró…”. Rồi bên ngoài song sắt, cả con chó Nhật cũng bị lính Nhật đá văng “chó Nhật ăng ẳng chạy gần đó/ Rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi/ Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!”. Con chó còn xuất hiện nhiều lần trong thơ Nguyễn Vỹ, và đều chất chứa sự đồng cảm về thân phận bị áp bức, cùng khổ. 

   
Tác giả “Nhà văn An-nam khổ như chó” cuộc đời thực ra sao?
           
TRẦN TUẤN

Đến giờ dường như vẫn chưa có một hình dung đầy đủ về đời sống riêng của Nguyễn Vỹ (1912- 1971) – tác gia văn chương, báo chí thuộc hàng độc đáo nhất Việt Nam. Có chăng chỉ là ít nhiều giai thoại. Như “một hôm say rượu, Tản Đà trách Nguyễn Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ cái nỗi gì?” (dẫn theo Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân). Một người mở đầu cách tân thơ Mới ngang hàng với “Tình già” (Phan Khôi) bị giới phê bình “đánh đập” cho “lên bờ xuống ruộng”, nhưng vẫn “gan lỳ” theo đuổi đến tận cuối đời. Người đương thời từng lập ra nhiều tờ báo tư nhân nhất, bị đóng cửa, đình bản nhiều nhất, và cũng bị tù, bị phạt nhiều nhất vì đả phá chính sách cai trị của Pháp, Nhật, chính quyền Bảo Đại… Nhưng kể cả hai cuốn sách mang tính “hồi ký” dày cả ngàn trang của ông, là “Văn thi sĩ tiền chiến” và “Tuấn, chàng trai nước Việt” (cùng in ở Sài Gòn năm 1970, sau này đều đã tái bản) tác giả cũng chỉ chủ ý vào lý tưởng tranh đấu cho tự do bác ái và đời sống sáng tạo văn nghệ. Nên chuyến về thăm Quảng Ngãi quê cha đất tổ lần đầu tiên sau bao nhiêu năm sống ở hải ngoại của con cháu Nguyễn Vỹ, và đặc biệt là cuộc hội thảo lần đầu tiên về ông được tổ chức tại Quảng Ngãi là dịp may hiếm có. Hội thảo “Nguyễn Vỹ - Cuộc đời và sự nghiệp” do Hội VHNT Quảng Ngãi phối hợp với Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh tổ chức tại Quảng Ngãi ngày 30/10/2017.
Hôm ấy Quảng Ngãi bên ngoài mưa như trút nước. Áp thấp đang chuyển thành bão. Bên trong hội trường, khi ban tổ chức mời thay mặt gia đình lên phát biểu, bà Nguyễn Thị Diệu Phương, con gái ông Nguyễn Vỹ mắt nhòa đi vì xúc động. Cùng anh trai sang Pháp học từ nhỏ, hơn nửa thế kỷ nay mới cùng chồng người Pháp ông Dominique Coulot lần đầu về lại quê cha, bà nghẹn lời thốt lên bằng tiếng Việt “Vậy là tại đây, hôm nay, ba tôi đã được sống lại đời sống thứ nhì…”.
Còn đời sống thực, đời sống thứ nhất của Nguyễn Vỹ? Là tình nhân say đắm của thi ca, là kẻ sĩ suốt đời dấn thân và hành động, những điều này hẳn nhiều người đã biết. Chỉ biết rằng trong đời sống sáng tạo thi ca thế kỷ 20, hiếm có nhà thơ nào bị giới văn chương, phê bình “tấn công” nhiều như trường hợp Nguyễn Vỹ. Từ Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thế Lữ, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hoài Chân, kể cả Phan Khôi, Tô Hoài… đều tỏ ra “khó chịu”, cho rằng thơ ông chỉ là “trò quỷ thuật”. Để lại một cái “án thơ” mà đến nay nhiều người vẫn còn cảm thấy áy náy. Bởi ngay từ “Tập thơ đầu” (in năm 1934, khi mới 22 tuổi), Nguyễn Vỹ đã cách tân thơ quá mạnh, mở ra “trường thơ Bạch Nga”, thơ thị giác, lối thơ “12 chân”, rồi làm thơ bằng cả chữ Tây lẫn ta…    
Kịch liệt “chê” thơ cách tân Nguyễn Vỹ, nhưng “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh-Hoài Chân đã phải đề cao bài “Sương rơi”, và thừa nhận  “Gửi Trương Tửu” là một “kiệt tác”.
 “…Bây giờ thời thế vẫn thấy khó/ Nhà văn An-nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ Rồi nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết/ Mà thương cho tôi, thương cho anh/ Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!…”. Nhà thơ Bàng Bá Lân đúc kết: “Nguyễn Vỹ là nhà thơ có cảm tình với chó nhiều nhất, và lần nào anh đưa con vật đó vào thơ cũng đều xúc cảm được người đọc”.
Chiều 30 Tết năm 1940, vì viết sách báo chống Nhật, Nguyễn Vỹ bị quân đội Nhật bắt giam trong hầm kín tại Sở Hiến binh Kampetai (Hà Nội) cùng 3 người khác, mãi cho đến 1945 mới được thả tự do. Giao thừa năm 1942, trong tầng hầm nhà giam ẩm thấp, chật chội như chuồng chó, Nguyễn Vỹ đã cảm tác viết bài thơ “Hai con chó”. Khi bên ngoài “Hà Nội đón mừng xuân Nhâm Ngọ/ Pháo nổ tưng bừng, đèn sáng tỏ”, thì bên trong “Chuồng ngục tối om kìa bốn xó/ Bốn thằng bơ vơ như bốn chó/ Chẳng được nói năng, chẳng được cười/ Hai chân chồm hỗm ngồi co ró…”. Rồi bên ngoài song sắt, cả con chó Nhật cũng bị lính Nhật đá văng “chó Nhật ăng ẳng chạy gần đó/ Rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi/ Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!”. 
  Con chó còn xuất hiện nhiều lần trong thơ Nguyễn Vỹ, và đều chất chứa sự đồng cảm về thân phận bị áp bức, cùng khổ.
Với “Gửi Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ đã không “Nhớ nhau vảy bút làm mưa gió/Cho đống xương đời được nở hương” như Trần Huyền Trân. Mà kêu gọi “Múa bút tung gươm hả một phen?/ Cho bõ căm hờn cái xã hội/ Mà anh thường kêu mục, nát, thối?/ Cho người làm ruộng, kẻ làm công/ Ðều được an vui hớn hở lòng?”. Bài thơ này in lần đầu trên báo “Phụ nữ” khoảng đầu những năm 1930 tại Hà Nội thời đó đã bị kiểm duyệt cắt bỏ 14 câu. Là những vần thơ mạnh, khí khái “Quét sạch quân thù trên đất nước/Để cho toàn thể dân Việt Nam/Đều được tự do muôn muôn năm/ Để cho muôn muôn đời dân tộc/ Hết đói rét lầm than tang tóc...”.                                 
                                                  *

                                                
Nhà văn Nguyễn Vỹ cùng 3 con tại Đà Lạt năm 1953- ảnh tư liệu BẠCH NGỌC ANH


Tại hội thảo Nguyễn Vỹ, lần đầu tiên mọi người được thấy những bức ảnh khác về Nguyễn Vỹ. Là bộ ảnh trắng đen gần 40 tấm khổ lớn được người cháu rể là nghệ sĩ nhiếp ảnh Bạch Ngọc Anh khôi phục lại từ những tấm ảnh nhỏ cỡ 6x9 âm thầm lưu trữ trong album gia đình suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhìn Nguyễn Vỹ ăn vận lịch lãm tươi cười mãn nguyện bên vợ con, ít ai nghĩ ông nghèo!
Nhưng Nguyễn Vỹ nghèo, dẫu ông có những người vợ giỏi giang, thành đạt. Nghèo, bởi ông luôn cho đi, luôn chia sẻ với tấm tình ấm áp.      
Nghèo, từ thời ở Hà Nội, như ông kể trong “Văn thi sĩ tiền chiến”: “Nhiều tháng chúng tôi không có tiền... Có lần tôi được nhuận bút 10 đồng, Trương Tửu lấy 4 đồng đi uống rượu đế và ăn thịt chó, Vũ Trang lấy 4 đồng đi Nam Định để biểu diễn thôi miên”. Chiều 30 Tết năm 1936, “vạn bất đắc dĩ” Nguyễn Vỹ phải viết thư tay hỏi vay Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) 5 đồng, vì biết “trong làng văn hôm nay chỉ có ông có tiền”, dù lúc đó hai người còn chưa…quen biết nhau! Nhận được 5 đồng từ Nhất Linh, Nguyễn Vỹ cảm động “Tôi không biết cách nào trả ơn ông Nhất Linh: Tôi đưa tấm bạc rách lên môi, hôn nó”. Nhưng rồi 5 đồng bạc ấy Nguyễn Vỹ cũng trao lại cho chàng thi sĩ “con Nai vàng” Lưu Trọng Lư, để rồi không có tiền tiêu Tết. Nằm bẹp, đến chiều mùng 2 Tết Trương Tửu mới đem đến cho hai chiếc bánh chưng! Hai mươi năm sau, gặp nhau ở Sài Gòn, Nguyễn Vỹ đã trả Nhất Linh 5 đồng còn thiếu nợ từ thời tiền chiến. Nhất Linh đã đem 5 đồng ấy mua rượu uống để “kỷ niệm một giai thoại”.
Nhà văn An-nam thời ấy khổ, nghèo nhưng không hèn. “Đời sống vật chất của làng văn, làng thơ Hà Nội hồi tiền chiến, thật không xán lạn tý nào… Tuy đa số đều nghèo, và khổ, nhưng tất cả đều có một thái độ hiên ngang, một khí phách ngông nghênh, bất chấp những phù trầm của số kiếp” (Văn thi sĩ tiền chiến).
Năm 1945 vào Sài Gòn, nhà có bao nhiêu tiền Nguyễn Vỹ đều đem ra làm báo. Tờ này bị đình bản, đóng cửa lại ra tờ khác. Tuần báo “Thằng Bờm” chuyên “Hướng dẫn, giáo dục thiếu nhi Việt Nam”, trong số đặc biệt năm 1971 tưởng niệm sự ra đi của người sáng lập và điều hành Nguyễn Vỹ, tác giả An Khê viết: “Đã tuổi 63 anh còn hoạt động rất hăng, chủ trương ba tờ vừa nhật báo vừa tuần san, cắm cổ viết bài mãi để rồi không có một ngôi nhà, không một chiếc xe đi. Anh chết vì đi xe đò…”. Nguyễn Vỹ chết trong một tai nạn giao thông khi đi xe đò, chứ không phải xe hơi (tự lái) như tiểu sử lâu nay nhiều chỗ vẫn viết. Vợ con ở Đà Lạt, mình ông ở trọ Sài Gòn làm báo. Bữa ăn quen thuộc của ông Chủ nhiệm báo Nguyễn Vỹ là “một khúc bánh mì thịt mua ngoài xe hoặc một bữa dĩa cơm lao động”, vừa ăn vừa ngồi viết.
Túng thiếu, nhưng Nguyễn Vỹ kiên quyết từ chối nhận giải nhất Giải thưởng Văn chương toàn quốc của Tổng thống Ngô Đình Diệm cho bộ tiểu thuyết “Hai thiêng liêng” (1957) hiện kim lên tới 60 ngàn đồng.
Và nhuận bút vẫn trả cực kỳ đúng hẹn. Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ (Nguyễn Văn Bổn) hiện đang là thành viên Hội đồng Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) kể lại chỉ một tuần sau khi truyện ngắn “Gió khuya ngoài phố” của mình được đăng trên bán nguyệt san Phổ Thông năm 1963, đã được nhận 300 đồng nhuận bút. Số tiền đủ cho một tháng cơm trọ của cậu học sinh 17 tuổi xa nhà. Kèm theo là thư cám ơn của chính Nguyễn Vỹ ký tên. Năm 1969, nhân chuyến vào Sài Gòn đến thăm tòa soạn, chàng sinh viên xứ Quảng được đích thân Nguyễn Vỹ ân cần tiếp chuyện gần gũi, chân tình.
Người trong gia đình Nguyễn Vỹ kể, làm báo được đồng nào ông đều trợ cấp cho những học sinh, sinh viên nghèo. Mỗi mùa mưa bão miền Trung, ông lại cùng bạn trẻ ở các Thi văn đoàn Thằng Bờm đi huy động quyên góp từng lon gạo, từng chiếc áo cũ để mang về trợ giúp bà con miền Trung. Tại hội thảo, nhiều người chú ý tới bức hình chụp một tấm biển gắn lên tường nhà, ghi dòng chữ “Nhà hảo tâm Nguyễn Vỹ - báo Dân Chủ, Đà Lạt”. Ông Bạch Ngọc Anh giải thích, đó là một trong những nhà dân nghèo được ông Vỹ tặng nhà, đã gắn những dòng chữ trên trước cửa, để ghi ơn…

                                                                 *

                                                    
Nhà văn NGUYỄN VỸ cùng 3 người con tại Saigon năm 1965 - ảnh tư liệu BẠCH NGỌC ANH

Đời sống tình cảm của Nguyễn Vỹ là một “chương” đặc sắc và cũng rất đặc biệt trong cuộc đời ông. Người đời đồn rằng thi sĩ Nguyễn Vỹ có đến… 8 người “nâng khăn sửa túi”, nhưng chưa mấy ai tường hết câu chuyện. Tìm hiểu từ người thân, được biết người vợ đầu ông Nguyễn Vỹ là bà Trần Thị Dần, Hiệu trưởng trường Mẫu giáo Trí Hương (tại số 2 Cường Để, nay là đường Nguyễn Văn Cừ, Đà Lạt). Bà Dần sinh với ông Vỹ một người con gái là Nguyễn Thị Diệu Hạnh, được đưa sang Pháp học từ nhỏ, hiện định cư tại Úc.
Trước khi có Diệu Hạnh, bà Dần cũng đôi lần sinh nở nhưng không thành. Trong những lần đưa vợ đến nhà bảo sanh Trương Thị Lập (ở số 17 Phan Đình Phùng, Đà Lạt), Nguyễn Vỹ gặp người chủ nhà hộ sinh đoan trang, hiền hậu. Trái tim thi sĩ hay là duyên mệnh cột buộc sao đó, để rồi bà Trương Thị Lập sau này trở thành người vợ thứ hai của ông. Bà Lập sinh hạ cho Nguyễn Vỹ được hai người con, là ông Nguyễn Trí Thiện và bà Nguyễn Thị Diệu Phương. Cả hai cũng đều được du học tại Pháp từ nhỏ, sau này ông Thiện ở Thụy Sĩ, bà Phương ở Pháp cùng theo nghề Y khoa trở thành những bác sĩ chữa bệnh, dạy học, có cuộc sống hạnh phúc, con cái đề huề.
Sau này, ông Nguyễn Vỹ có con riêng với một phụ nữ khác là bà Phan Thị Thu Mai -  Thư ký tòa soạn “Thằng Bờm”. Cậu con trai khôi ngô của hai người không may mất sớm khi tuổi còn thiếu niên. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Bạch Ngọc Anh với những gì được chứng kiến và nghe gia đình kể lại, đã lý giải về những mối tình của cậu Nguyễn Vỹ. Rằng ông suốt ngày chỉ suy nghĩ và viết, thời gian để ăn uống bình thường còn không có, nói gì đến việc “tán tỉnh yêu đương”!. Nhưng bởi ông là người quá tài hoa, hào hiệp, lại chu đáo ân tình, nên “các bà theo nhiều”. Chuyến đi cuối cùng của ông là về Cần Thơ thăm một người bạn. Trên đường về ghé Bến Tre thăm một người bạn thân thiết nữa là ông Đạo Dừa (Nguyễn Thành Nam), chụp ảnh chung kỷ niệm. Khi về tới địa phận Long An thì bị tai nạn. Đó là ngày 4/2/1971.
            Tang lễ nhà văn Nguyễn Vỹ được tổ chức tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn). Những tấm hình ghi lại cảnh đưa tiễn nhà văn, ngoài giới văn nhân là từng đoàn dài sinh viên, học sinh xếp xếp hàng cúi đầu thương tiếc. Ông được an táng tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Năm 1983, nghĩa trang di dời để làm công viên Lê Văn Tám, di cốt nhà văn được hỏa táng đưa về chùa Giác Ngạn.
Đám tang cha, vì hoàn cảnh những người con không về được. Nhưng trò chuyện với bà Diệu Phương, mỗi lần nhắc đến cha là bà lại nấc nghẹn một niềm yêu kính, tự hào. Bà kể về những cuốn sách của cha mà anh em bà mang theo khi rời xa đất nước từ khi còn nhỏ. Rồi những tác phẩm mới mà cha gửi sang từ Việt Nam. Như cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” khi vừa in xong, đã lưu lại bút tích Nguyễn Vỹ “Trao về Nguyễn Trí Thiện (Genève) con trai yêu quý của Ba” chỉ ít ngày trước khi ông mất… Bà Phương bảo, đó là những báu vật mà dù thế nào anh em bà cũng không thể rời xa… 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia Biển Đông bị kỷ luật vì bài trên Facebook


RFA - Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Đà Nẵng ngày 5/2/2018 quyết định xử lý kỷ luật đối với ông Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng.

Truyền thông trong nước loan tin ông Trần Đức Anh Sơn bị kỷ luật vì đã đăng tải bài viết trên mạng xã hội mà nội dung bị cơ quan chức năng cho là sai sự thật, không đúng với quan điểm của Đảng và pháp luật nhà nước.

Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Đà Nẵng cho rằng vi phạm của ông Sơn là nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và cá nhân các Đảng viên.

Ông Trần Đức Anh Sơn được nhiều người biết đến về những công trình nghiên cứu Biển Đông của ông.

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, người có nhiều bài nghiên cứu về Biển Đông và hải đảo Việt Nam, vào chiều tối 5/2 cho RFA biết sự việc còn rất mới mẻ, và trong quyết định kỷ luật của Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Đà Nẵng không ghi rõ cụ thể bài viết nào của ông Trần Đức Anh Sơn bị cho là có nội dung sai phạm.

“Bây giờ không ai biết nội dung cụ thể là chuyện gì, nhưng so với công trạng của Sơn trong vấn đề đấu tranh bảo vệ biển đảo, tất cả công sức của Sơn ở trong cũng như ngoài nước trong 10 năm nay, cho dù có bị 1 khuyết điểm đi nữa thì nói nhỏ nhẹ với nhau chứ tại sao lại đem ra kỷ luật. Đóng góp rất lớn như thế mà đi kỷ luật, cảnh cáo Đảng thì ai đóng góp cho đất nước này nữa đây? Mà có những trường hợp khác động trời hơn mà lại phá lệ?

Cái vụ này nó không có nghiêm trọng gì. Nó chỉ là quan điểm học thuật thôi chứ không phải là bôi xấu hay nói xấu gì hết.”

Cũng trong ngày 5/2, Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Đà Nẵng cũng quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với 4 vị cán bộ lãnh đạo quản lý còn lại bị là bà Trần Thị Kim Oanh, phó trưởng Ban Nội chính Thành ủy; ông Trần Huy Đức, bí thư Đảng ủy, chánh Thanh tra Thành phố; bà Lê Thị Thu Hạnh, bí thư Đảng ủy, phó giám đốc Sở Ngoại vụ thành phố;  và ông Trần Văn Chung, bí thư chi bộ, trưởng phòng an ninh kinh tế, Công an thành phố Đà Nẵng.

Những người này bị cho là vi phạm những điều đảng viên không được làm; sử dụng con dấu của cơ quan, đơn vị không đúng với quy định.


Phần nhận xét hiển thị trên trang