Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Cải cách về kinh tế và chính trị tại Việt Nam


Nguyễn Hồng Hải - Việt Nam và Trung Quốc cũng đang tìm một mô hình thay đổi phù hợp hơn, tuy chưa đề cập tới chuyện đa đảng nhưng ít ra đã có nhìn nhận thực chất về những hạn chế và yếu kém của mô hình cũ và đang thay đổi dần dần. Giai đoạn hiện tại vẫn là giai đoạn giao thoa giữa cái mới và cái cũ. Để có sự phát triển bền vững, lâu dài thì cần nhìn đội ngũ lãnh đạo kế cận tiếp theo sẽ là những ai để có thể tiếp tục những hướng cải cánh mới và mạnh mẽ hơn cho Việt Nam hay không trong tương lai.

Hình minh họa
Năm 2017 đánh dấu khá nhiều những cải cách về kinh tế và chính trị tại Việt Nam, đây cũng là năm đầu tiên kể từ thời điểm sang Canada tôi quan tâm trở lại tới những vấn đề về kinh tế, chính trị tại Việt Nam vì trước đó không có những thay đổi thực sự nào đáng để chú ý. Trước hết cũng phải chúc mừng cho người dân và doanh nghiệp tại Việt Nam khi bức tranh tổng thể về kinh tế của đất nước có những dấu hiệu khởi sắc rõ rệt. 

Thể hiện qua những con số như chứng khoán tăng gần 50% trong năm 2017 và tiếp tục tăng mạnh đầu năm 2018. Dòng vốn ngoại đổ vào Việt Nam khá mạnh mẽ. Kinh tế tăng trưởng vượt tất cả mọi dự báo của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Du lịch Việt Nam lần đầu tiên đón hơn 13 triệu khách quốc tế. Ngân hàng và các công ty lớn tại Việt Nam lại bắt đầu thông báo những khoản lãi khủng, những khoản tiền thưởng lớn cho nhân viên…

Cũng giống như thành công của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam. Mỗi sự thành công đều có những nguyên nhân sâu xa đã được chuẩn bị từ trước đó. Năm 2017 là năm lần đầu tiên các báo lớn trong nước đăng tải nghị quyết của Bộ Chính Trị Việt Nam đề cập tới việc cải cách về kinh tế và hệ thống chính trị sâu rộng. Như vậy, mọi thứ không còn là chỉ phát biểu và lời nói của cán bộ lãnh đạo mà nó đã bắt đầu cụ thể hóa bằng chính sách và hành động. Cuối năm âm lịch, tôi muốn tổng kết một số điểm nhấn quan trọng mà tôi cho rằng nó có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của Việt nam trong hiện tại và tương lại.

Điểm nhấn đầu tiên trong việc cải cách phải nhắc đến là việc chống tham nhũng tại Việt Nam. Đây là điều mà những người kinh doanh quan tâm nhất đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài. Họ muốn biết việc chống tham những là thực chất hay chỉ là cuộc đấu đá phe phái chính trị tạm thời. Khi đã bỏ vốn kinh doanh tại một quốc gia, đặc biệt đổ tiền vốn vào làm ăn lớn và lâu dài. Nếu quốc gia đó vẫn bị điều hành bởi các nhóm lợi ích và tham nhũng tràn lan thì các chính sách sẽ liên tục thay đổi phục vụ cho quyền lợi các nhóm lợi ích, người kinh doanh nghiêm chỉnh sẽ rất khó có cơ hợi để kinh doanh và dễ bị mất tài sản, lợi ích vào tay các nhóm lợi ích khác nhau.

Công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam và Trung Quốc có những dấu hiệu vượt qua khỏi đấu tranh về phe nhóm. Bởi thông thường nếu chỉ đấu tranh giữa các phe nhóm sẽ chỉ tập trung vào một tới hai vụ trọng điểm lớn. Sau đó, khi đã có phân định thắng thua thì các bên sẽ có những thỏa thuận để chuyển giao về lợi ích và quyền lực. Việc đấu tranh cũng chỉ tập trung chủ yếu ở Trung ương. Nếu nhìn cách Việt Nam chống tham những hiện tại thì hoàn toàn khác với trước kia. Việc chống tham những trải rộng từ việc kỷ luật, cắt chức các quan chức từ Trung ương tới địa phương. Tất cả các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tư nhân đều trong tầm ngắm, các vụ án xét xử liên miên, một người phải hầu tòa liên tục vì liên quan tới nhiều vụ án khác nhau. Những luật bất thành văn trong Đảng cộng sản từ trước tới nay bị phá vỡ cụ thể như Ủy viên Bộ Chính trị vẫn bị xét xử, nhiều quan chức về hưu cũng bị “ sờ gáy”, không còn khái niệm “ hạ cánh an toàn”.

Tất nhiên tại Việt Nam vẫn sẽ có những nghi ngờ vì có nhiều người vẫn chưa bị đụng tới hoặc được nương nhẹ, điều này cũng dễ hiểu khi đứng dưới giác độ của quản lý, giống như một người lãnh đạo tiếp nhận một doanh nghiệp làm ăn bết bát, phần lớn nhân viên đều kém về năng lực và đạo đức, người lãnh đạo lại chưa hiểu biết gì về thị trường mới thì việc đầu tiên là phải phân loại. Những đối tượng nào cần sa thải và những đối tượng nào cần tiếp tục sử dụng và đào tạo lại để hệ thống có thể tiếp tục hoạt động mà không thể sả thải tất cả cùng một lúc. Nếu chống tham nhũng chỉ là vỏ bọc cho việc đấu đá phe phái thì thông thường người ta cũng chỉ tập trung vào bắt bớ phe đối lập mà cũng không quan tâm tới xây dựng các giải pháp để ngăn chặn và phòng ngừa tham những. Nhưng hiện tại ở Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản trong cách tiếp cận vấn đề chống tham nhũng. Như các thay đổi liên quan tới tổ chức bổ nhiệm nhân sự, xây dựng lại tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, các giải pháp chống chạy chức, chạy quyền, các giải pháp liên quan hạn chế quyền lực, việc kê khai tài sản bắt đầu được thực hiện nghiêm túc hơn, những vấn đề liên quan tới quà cáp, mối quan hệ địa phương và Trung ương đã thay đổi….

Đa đảng cũng là một trong những giải pháp để giảm thiểu tham nhũng nhưng kèm với nó vẫn phải có những nỗ lực từ những người đứng đầu. Việc chống tham tại những quốc gia như Việt Nam hoặc những quốc gia đa đảng nhưng mức độ phát triển và dân chủ còn thấp quanh Asean, thậm chí cả như Nga và Ấn độ thì đều phải xuất phát từ nỗ lực của người đứng đầu, không phải tự nhiên mà dân Philippines bầu cho một ông Tổng thống ăn nói rất “ bỗ bã” nhiều hành động khá cực đoan bất chấp pháp luật, vì họ cảm nhận bản chất ông ta muốn làm cho đất nước tốt lên bằng việc chống tham nhũng và tệ nạn.

Điểm nhấn thứ hai là việc sử dụng hệ thống các chuyên gia và tư vấn trong phát triển kinh tế và cải cách. Thể hiện bên Đảng thì thành lập các Ban Kinh Tế, Ban chống tham nhũng. Phía chính phủ cũng đẩy mạnh sự dụng các chuyên gia kinh tế và chính trị, các cuộc gặp và thảo luận với doanh nghiệp tại các diễn đàn doanh nghiệp để lấy ý kiến phục vụ điều hành của chính phủ thực hiện nghiêm túc và bài bản hơn trước khá nhiều. Thực tế đối Việt Nam, chỉ cần một chính phủ cầu thị và biết lắng nghe sẽ có rất nhiều giải pháp để phát triển. Cũng không khó để các chuyên gia phát hiện các bệnh và có liệu pháp điều trị cho kinh tế Việt Nam. Vai trò của những lãnh đạo trẻ có học thức, có năng lực, ít dính dáng tiêu cực trong chính phủ được sử dụng nhiều hơn. (Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh, Vương Đình Huệ…). Trong những chính sách về kinh tế của Viêt Nam đưa ra năm 2017 thì có những đột phá lớn sau đây:

- Bộ công thương cắt giảm 50% điều kiện kinh doanh, đây là bước đột phá mang tính lịch sử. Một trong những phiền phức lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam và cũng là điều kiện cho tham những là thủ tục rườm rà và đủ các loại giấy phép. Việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh. Số doanh nghiệp thành lập mới tại Việt Nam năm 2017 đạt con số kỷ lục là 154.000 doanh nghiệp. Nhiều giải pháp khác nhau cũng được đưa ra để hỗ trợ cho doanh nghiệp mới thành lập như sự vào cuộc của giới truyền thông, sự vào cuộc của các quỹ đầu tư mạo hiểm… đã làm cho môi trường khởi nghiệp tại Việt nam thực sự sôi động trong năm vừa qua.

- Hội nhập và giao thương được đẩy mạnh: Để kinh tế đất nước phát triển thì từ xa xưa người ta đã đúc kết đất nước phải mở rộng giao thương với các nước khác trên thế giới. Với thời đại công nghiệp và công nghệ thông tin, một quốc gia muốn đất nước phát triển nhanh hơn thì phải tạo các điều kiện khác nhau đảm bảo cho quá trình hội nhập và giao thương hàng hóa của đất nước với thế giới càng nhanh chóng càng hiệu quả càng tốt. Năm 2017 có nhiều quyết định nhằm hỗ trợ cho logistic tại Việt Nam như Thành lập liên minh hỗ trợ xuất khẩu, các tuyến đường vận chuyển lớn đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc hình thành bắt đầu cho nỗ lực một vành đai một con đường. Các cầu vận tải hàng không được thành lập. Các hiệp định thương mại lớn như WTO bắt đầu có hiệu lực …. Năm 2017 cũng là năm Việt Nam tổ chức diễn đàn thanh toán không dùng tiền mặt hoành tráng nhất với những cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ và sẽ cho phép các công ty lớn về thanh toán không dùng tiền mặt vào hoạt động tại Việt nam. Điều này sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh nhanh chóng, minh bạch hơn rất nhiều.

- Du lịch “ mỏ vàng của Việt Nam” đã được chú ý một cách nghiêm túc: Có lẽ ai cũng đều biết Việt Nam có lợi thế về điều kiện tự nhiên rất lớn để phát triển du lịch, thậm chí còn hơn nhiều Thái Lan. Nhưng chưa có những nỗ lực thực sự từ Trung ương liên quan tới phát triển du lịch. Năm 2017 mọi việc đã thay đổi, đã có nghị quyết về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt nam, luật du lịch được thông qua năm 2017. Hàng loạt các hoạt động liên quan tới quảng bá du lịch của Việt Nam được thực hiện, bổ nhiệm những người nổi tiếng làm đại sứ du lịch, cấp thị thực điện tử cho du khách nước ngoài, bắt đầu có những nỗ lực nhằm thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch và các doanh nghiệp công nghệ, tiếp thị, thanh toán, bảo hiểm… Con số 13.7 triệu khách du lịch tới Việt nam năm 2017 chắc sẽ còn tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo nếu Việt Nam tiếp tục có những bước đi và quan tâm đúng hướng tới lĩnh vực này.

Điểm nhấn thứ ba liên quan tới việc bắt đầu đưa ra những giải pháp liên quan tới việc cải tổ bộ máy nhà nước. Như việc phân chia quyền lực giữa Trung ương và địa phương. Ban hành cơ chế đặc thù thử nghiệm cho một số tỉnh thành phố. Sáp nhập các tỉnh thành. Thành lập các khu đặc khu kinh tế. Đã từ lâu hệ thống chính trị của Việt Nam có nhiều hạn chế lớn gây cản trở cho việc điều hành và quản lý. Một số điểm cụ thể sau đây:

- Tuy rằng Việt Nam có duy nhất một đảng nắm quyền, nhưng các tỉnh thành và địa phương tổ chức thành hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân để quản lý. Vai trò của hội đồng nhân dân rất mờ nhạt trong quản lý nhưng nhiều khi tạo ra sự kiềm chế và những rào cản trong việc điều hành của ủy ban nhân dân. Các quan chức sợ đưa ra những quyết định đột phá, vì sợ trách nhiệm. Những quyết định mới đưa ra chậm chạm và lúc nào cũng cần thống nhất ý kiến tập thể. Khi sai cũng không có cá nhận chịu trách nhiệm. Nên tốt nhất là tổ chức lại theo mô hình thị trưởng. Tập trung vào một cơ quan duy nhất đề điều hành địa phương và người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về những điều hành của mình.

- Bộ máy nhà nước Việt Nam được phân quá nhiều tầng nấc, quá cồng kềnh. Không những mỗi cấp chính quyền được phân ra bên Đảng, bên chính quyền mà lại còn tầng nấc từ Trung ương, tỉnh, huyện, cấp xã, phường, xóm. Với thời đại công nghệ thông tin hiện tại, gần như người dân nào cũng có điện thoại, internet phổ cập tới nông thôn, làng xóm. Việt Nam bắt đầu nghiên cứu thành lập các thành lập thành phố thông minh, chính phủ điện tử. Ngoài việc cần sáp nhập hai hệ thống hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân làm một thì cần loại bỏ cấp xã, phường, xóm. Thay đổi quản lý công dân theo dạng công dân điện tử, các giấy tờ thủ tục dần được số hóa. Số lượng tỉnh thành của Việt Nam là 64 cũng quá lớn so với số dân và số tỉnh thành của Trung Quốc chỉ có hơn 20 tỉnh thành thì cũng đang cần nghiên cứu để sáp nhập lại.

- Phân cấp và phân quyền giữ Trung ương và địa phương: Một trong những điểm được nói đến nhiều tại Việt nam là tham nhũng “ quyền lực”. Với tổ chức hiện tại như ở VN quyền lực tập trung quá nhiều tại Trung ương và các địa phương rất khó chủ động trong việc điều hành và phát triển địa phương . Dẫn đến hiện tượng địa phương thường chạy lên trung ương để “ xin xỏ”. Cấp dưới chạy cấp trên xin phê duyệt… Do vậy, để chống tham nhũng và tạo thế chủ động cho địa phương thì việc phân quyền mạnh mẽ hơn cho các cấp địa phương và định rõ trách nhiệm cho cá nhân là quan trọng. Đang có những thay đổi trong việc phân quyền trong bộ máy chính quyền tại Việt Nam. Điển hình như việc Việt nam đang có dự án sẽ mở ra nhiều khu kinh tế mở. Mô hình này khá thành công tại Trung Quốc biến những khu vực vốn nghèo nàn lạc hậu thành những trung tâm kinh tế bằng việc giao quyền chủ động cho các lãnh đạo khu kinh tế. Đây cũng “ những phòng thí nghiệm” cho các chính sách của Việt Nam và sẽ nhân rộng ra khắp cả nước nếu thành công. Sài gòn cũng đã bắt đầu được giao cơ chế đặc thù để thử nghiệm. Người ta cũng bắt đầu nghiên cứu tới kế hoạch tăng lương cho các công chức song song tới việc cắt giảm biên chế. Bởi dẫu sao muốn người giỏi và hạn chế tiêu chức vẫn phải đảm bảo chế độ cho những người làm công chức, quản lý đất nước.

- Ngay cả hệ thống tòa án và xét xử của Việt Nam cũng có những thay đổi tích cực hơn. Từ việc xét xử “ án tại tòa” khác hẳn với trước đây, hoặc việc truyền thông công khai các diễn biến tại phiên tòa cũng cho người dân có cái nhìn đa chiều về các vụ án.

Có thể còn khá nhiều cải tổ và cải cách khác tại Việt Nam, mà việc đọc và tổng hợp một số thông tin báo chí tôi cũng chưa nắm được hết. Nhưng bức tranh về kinh tế và chính trị tại Việt Nam đã có nhiều nét sáng sủa hơn trước khá nhiều và đang dần biến đổi về chất. Thế giới đang chứng kiến những sự thay đổi và thử nghiệm các mô hình khác nhau. Kể cả nước Mỹ vốn được coi là hình mẫu chuẩn cho nền kinh tế thị trường và dân chủ thì người dân cũng đã chán ngán với mô hình cũ làm nhiều người dân mất việc và các doanh nghiệp mang vốn và công nghệ ra nước ngoài. 

Việt nam và Trung Quốc cũng đang tìm một mô hình thay đổi phù hợp hơn, tuy chưa đề cập tới chuyện đa đảng nhưng ít ra đã có nhìn nhận thực chất về những hạn chế và yếu kém của mô hình cũ và đang thay đổi dần dần. Giai đoạn hiện tại vẫn là giai đoạn giao thoa giữa cái mới và cái cũ. Để có sự phát triển bền vững, lâu dài thì cần nhìn đội ngũ lãnh đạo kế cận tiếp theo sẽ là những ai để có thể tiếp tục những hướng cải cánh mới và mạnh mẽ hơn cho Việt Nam hay không trong tương lai. Ít nhất từ Tết năm nay Việt Nam cũng ăn mừng lớn hơn với nhiều màu sắc hơn so với năm ngoái. Trong khi năm ngoái không có một điểm bắn pháo hoa trên cả nước thì riêng Hà nội năm nay cũng có tới 30 điểm bắn pháo hoa như để mừng cho thành công bước đầu của những cải cách mới.

Nguyễn Hồng Hải
[*] Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, không nhất thiết phải trùng với quan điểm của Ban Biên Tập Dân Luận. Mời độc giả tham khảo và cùng phản biện.
(Dân Luận)

Lời của tác giả:Do mục đích của trang là tập hợp các góc nhìn khác nhau về kinh tế và chính trị của Việt Nam và khai trí. Nên tôi gửi bài viết này với góc nhìn kinh tế độc lập không đứng dưới giác độ của phe phái nào và cũng không phải như nhưng con vẹt để ca tụng chế độ. - Nguyễn Hồng Hải tại Canada.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đầu Xuân nói chuyện Chó


Huỳnh Hùng - Chó Tây vì sống ở phương trời Tây: Muốn nuôi, phải cho chó đi học hết 4 khóa “Dog Obedience Trainings.” phải được cấp 4 giấy chứng chỉ tốt nghiệp có đóng dấu ký tên đàng hoàng tử tế! Nhờ mấy khóa học này mà nó biết cách đi ị đi đái đúng cách chứ không làm bậy tùm lum tá lả trên mặt thảm trong nhà như lúc trước. Phải đóng tiền hàng năm để có "tấm thẻ bài cho chó". Chó có lịch trình chích phòng ngừa đủ các thứ bệnh chó mà chủ chó phải triệt để tuân hành. Nhưng mà vấn đề đau đầu nhất phải là cái dịch vụ cắt tóc chó...
Năm nay theo Dương lịch là năm 2018, Âm lịch thì chạy vòng vòng, chu kỳ 60 năm, nên gọi Năm Mậu Tuất 2018. Con Chó xuất hiện trên báo Xuân đã hơn một thế kỷ, tiếc rằng vì nhiều lý do nên không thể cất giữ, nên không thể biết những năm ấy người ta đón Xuân, thưởng Xuân như thế nào, xưa có giống nay chăng?

Ngày ấy, trước 1975, rất ít người ở nước ngoài nên khi ăn Tết là chỉ nói đến trong nước. Sau này khi người Việt bỏ nước ra đi nên mới có Xuân tha hương.

Cho nên Năm Chó phải nói đến chó, cả Ta lẫn Tây, có giống hay khác nhau như thế nào?

Nguồn gốc của chó: có từ lâu, nhưng không biết khi nào, từ đâu chó xuất hiện. Hiện nay chó sói được xem như là tổ tiên của chó nhà. Có nhiều loại, cho đến nay có khoảng hơn 300 loài chó.

Khi qua tay con người:
- Chó nhà trở thành gia súc trong các gia đình Việt Nam. Có người cho rằng, chó đã theo các thủy thủ và các cha nhà thờ truyền giáo vào thế kỷ 17 đến Việt Nam, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, hay nói chung là các nước vùng Đông Á (Nhật Bản, Đại Hàn, China...) và Đông Nam Á.

Vì sao chó lại được đem từ châu Âu sang và trở nên con vật không thể thiếu trong nhà, nhiều sách vở cho rằng, các nước Đông Á, Đông Nam Á thời đó theo văn hóa Khổng Mạnh, nên khách đến nhà mà bị chó sủa, chồm lên đòi cắn khách thì không có lòng hiếu khách mà đuổi khách.Khi người phương Tây đến, hay nói đúng hơn khi Pháp đô hộ Việt Nam thì tại các thành phố lớn mới bắt đầu phong trào nuôi chó giữ nhà, sau đó lan đến thôn quê. Chó giữ nhà Mèo thì bắt Chuột, hai con vật này là loại gia súc thường nuôi, vậy Mèo không sủa không cắn chỉ cào, như vậy không thất lễ với khách, thì nuôi Mèo có nguồn gốc từ đâu, giống như Chó không? Chắc hẳn rằng giả thuyết trên không đúng lắm.

- Chó là con vật thông minh nhất trong các loài vật, người ta có thể nuôi và dạy dỗ để chúng có thêm tên như: - Chó giữ nhà, Chó săn, Chó dẫn đường, Chó làm xiếc, Chó kéo xe tuyết, chăn lùa gia súc (cừu, bò, gà, vịt, ngỗng…), Chó cảnh sát, Chó giải trí (đua chó, tranh đua thi chó đẹp, chó xấu, chó kiểng…)... để giúp ích, phụ với người trong cuộc sống.

- Chó là con vật trung thành, có tình nghĩa, đây là yếu tố chính quan trọng mà con người thích chó, quý chó hơn những con vật khác. Từng là gia súc thời xưa, ngày nay sau hơn hai trăm năm chó trở thành con thú kiểng, tiến xa hơn là người bạn của loài người, chỉ có chó mà thôi.

Ai cũng biết, thân phận nước nghèo, hay người dân nghèo đều bị thua thiệt trăm bề. Chó Ta hay chó ở phương đông hay nói chung là Chó châu Á cũng vậy, sanh ngày nào, thuộc giống nào, sanh trên cạn hay dưới nước đều xấu số, hên đâu không thấy đều xui xẻo từ lúc sinh ra cho đến khi chầu trời.

Con đường từ con vật trở thành người bạn của con người thật dài và nhiều thử thách, khởi đầu người ta hành hạ bắt giữ nhà, bắt "lao động", việc làm tùy theo công việc của chủ như đi săn, dẫn đường, hay bắt chuột như chó Phú quốc... Làm thì nhiều mà trả lương thì không tỷ lệ thuận với công sức đã bỏ ra, tùy thuộc vào chủ giàu hay nghèo, giàu thì có cơm thừa canh cặn, đôi lúc có tí xương để gặm, còn chủ nghèo thì cơ khổ suốt đời, chỉ có "ca ca", đã là ca ca nhưng cũng đủ loại: đặc, lỏng nhiễm khuẩn hay không nhiểm khuẩn! Như thế cũng chưa xong một đời chỉ biết phục tùng và phục vụ cho người, thế mà khi nào giận ai, ghét ai, chê ai con người đều dùng tên chó, thêm chữ trước: "Đồ chó" hay kèm thêm chữ sau: “Đồ chó điên!” “Đồ chó chết!” “Đồ chó đẻ!” “Đồ chó dại!” “Đồ chó ghẻ!” để chưởi hay mắng nhiếc để thỏa mãn cơn giận dữ hay thú tánh của mình:

Chưa hết đâu, ngày hôm qua đang lao động giúp chủ, hôm nay chủ có khách, không có tiền mua heo bò gà đãi khách, nên mới có câu:

“Hôm qua còn sủa gâu gâu
Hôm nay lên đĩa để hầu quý anh.”

Đọc một chuyện cũ ở Hà Nội:
“Nhật Tân Phố Chó, Quảng Bá Phố “Phò”!

"Nhắc đến hai con phố ấy dân Hà Nội không ai lại không biết. Quảng Bá và Nhật Tân đều là 2 con đường nằm ven Hồ Tây, trên đê sông Hồng. Quảng Bá là con đường hoạt động nhộn nhịp của cánh chị em “bán phấn buôn hương” (dân Hà Nội gọi các nàng Kiều này là “Phò”), còn Nhật Tân vốn nổi tiếng bởi trên con đường này có hàng loạt quán thịt chó mà dân Hà Thành đã gọi nôm na là “liên hiệp thịt chó” Nhật Tân."

Đọc ngang đây không biết nên vui hay buồn: Chó cũng được so sánh với Người, cũng có tên đường tên phố như mấy chị mấy em.

Heo Bò Gà là ba loại thịt chính mà dân Việt ưa chuộng, không biết người miền Bắc ăn thịt chó vào lúc nào và thịt chó không thể thiếu như thịt heo bò gà. Ngược lại trước năm 1954 miền Nam không có. Sau năm 1954 khi chia đôi đất nước, miền Nam có một vài quán đếm trên đầu ngón tay do những người miền Bắc di cư mang theo cho vùng đất mới một món mới: "Thịt chó di cư". Nhưng món thịt chó này không đủ sức hấp dẫn, lôi kéo, chào mời để làm thành một món ăn không thể thiếu, hay là ngang hàng với thịt heo bò gà.

Nhưng sau 1975, sự di dân ồ ạt của người Bắc vào Nam, kèm theo dân miền Nam bỏ nước ra đi, kinh tế suy sụp trong khoảng mười năm từ 1975-1985, các quán thịt chó phát triển ồ ạt, thịt chó có lẽ đứng ngang hàng với heo bò gà.

Tuy nhiên, hầu như trên mọi nẻo đường Hà Nội đều có thể tìm nhanh ra một cửa hàng bán thịt chó vì đây là một món khoái khẩu. Ðến những dịp cuối tháng thì không phải dễ kiếm thịt chó để ăn. Nếu thực khách không đến sớm thì chỉ có cơ hội nhìn tấm biển nhà hàng thịt chó mà thôi.

Tình trạng ăn nhậu nhiều làm ít, không tiền, nhà không chó, "tự nhiên" chỉ việc đi qua hàng xóm trộm chó là xong, lâu ngày chó hàng xóm cũng cạn, nên chọn làng xa hơn, từ làm ăn lẻ tẻ, cá thể thành đội quân trộm chó, tập thể rồi trở thành nghề trộm chó để sinh sống vì chó ngày nay cũng có giá hơn xưa, bán được nhiều tiền.

Ông bà ta có câu "Sinh Nghề Tử Nghiệp" hay đúng hơn là tai nạn nghề nghiệp: Nhiều vụ ăn trộm chó bị dân làng phát giác, chặn bắt. Họ đập chết tại chỗ mấy tên trộm chó, rồi sau đó đổ xăng đốt cháy rụi xác chết các tên trộm cùng với xe gắn máy và chó chết… Thật rùng rợn. Cảnh chết cháy vì trộm chó này là đặc thù chỉ có ở xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Vì ăn trộm một con chó mà bị đánh và đốt xác chết nhục nhã như một con chó thui. Nhìn cảnh này kinh hãi thật, và kinh sợ cho lòng người bây giờ, cũng không trách cho người dân, khi đời sống bị đe dọa, không còn được luật pháp bảo vệ, nên họ làm càn, nói theo mấy anh Lương Sơn Bạc bên Tàu: thế thiên hành đạo! ai cũng là ông trời con cả cuối cùng là loạn mà thôi.

Nói như thế, ở miền bắc dù chó ngang hàng với bò heo gà, nhưng thật ra khi ăn trong gia đình, hay làm tiệc mà khách mời là chốn thâm tình thì heo bò gà, nhưng tiệc mà đông khách, vì đông nên ít thâm tình thì chó là sự chọn lựa đầu tiên.

Ăn thịt chó, hành hạ con chó như vậy chưa đủ: hay thì công đầu của con người, nếu sai, không đúng là do lỗi hay tội của chó:

Con người lại đem chó vào Phong Thủy: chó đá đặt ở cửa hông hay cửa sau nhà, tránh đặt chó đá ở cửa chính, đầu chó phải hướng ra cửa, nhưng có một điều phải chú ý, về số lượng chỉ 1 đến 2 con là lợi nhất, nhưng không phải cửa chính mà cửa bên hông, cửa sau và không nên đặt nó ở phương Đông Nam... Có lẽ chó nhỏ con, tướng xấu, ăn tạp nên cửa chính dành cho Sư tử?

Phong thủy cũng nêu ra cần đặt chó theo phương vị và màu sắc. Nếu đặt ở phương Bắc phải là chó đen, nếu ở phương Tây nên là chó trắng, phương Nam nên là chó màu vàng sẫm. Những người sinh tuổi Thìn không nên đặt tượng chó trong nhà vì Thìn Tuất xung nhau, tránh được thì tránh, đặc biệt không nên đặt trong phòng ngủ của mình. Đối với người sinh tuổi Dần, Ngọ, Mão đặt chó trong nhà rất thích hợp.

Người Việt mình lại thích bói toán đầu năm, để xem năm nay làm ăn thế nào, sức khỏe tốt hay xấu...

Con người đem Chó vào thơ văn: Chó còn gọi là Cầy hay Khuyển

+ Khai bút đầu xuân của ông Nguyễn Xuân Tụ: Bính Tuất 2006

CHÓ gâu gâu, nghe pháo Dân chủ cúp đuôi,
“bấn xúc xích, chạy vung xích CHÓ”!

HEO ủn ỉn, nhìn xấp Đô la híp mắt,
“cuống cà kê, nói toạc móng HEO”!

Thế mà 12 năm đã trôi qua, không biết có ai đối đặng với ông Tụ không, chớ cam tâm làm nô bộc thì chó vẫn hoàn chó thôi: “Con không chê nhà khó, CHÓ không chê chủ nghèo.” Năm nay Mậu Tuất 2018 ông có có câu đối mới nào không hay chỉ vẫn là Chó cúp đuôi khi nghe pháo Dân Chủ, hết pháo rồi thì chó vẫn sủa gâu gâu. Rồi năm tới Heo Kỷ Hợi 2019 nói ngay nói thật, đếm đô la, chớ đụng đến tiền Yuan.

+ Nhà thơ trẻ quá cố Tường Vân ở Hải Phòng, vẽ thật đúng chân dung anh Khuyển:

Bảo ra đường
Ra đường
Bảo nằm gầm giường
Nằm gầm giường
Bảo sủa
Sủa
Bảo im
Im
Và cứ thế triền miên
Một đời con chó!
Đúng là thân "Khuyển Mã"!

Còn chó Tây thì sao, chắc hẳn rằng nó có đời sống ngon lành hơn chó Ta, nó không dọn vệ sinh khi em bé ị bậy ra sân, mà có thức ăn riêng, đóng hộp, đến nỗi con người vì thèm thịt chó đến nỗi mờ mắt không chịu đọc kỹ (“dog foods”) tưởng là thịt chó, mở ra ăn ngon lành. Người phương Tây đối xử chó khác người phương Đông, nâng niu chìu chuộng, quan trọng hơn là không làm thịt nó. Đại Hàn, dù Bắc Hàn hay Nam Hàn, một bên dư ăn dư mặc còn bên kia thiếu thốn trăm bề, bên nào cũng mê ăn thịt chó, giàu nghèo đều giống nhau ở điểm này, chớ đừng bảo rằng ăn vì chó rẻ hơn bò heo gà. Anh ba tàu, dù tàu Cộng hay tàu tự do Đài Loan đều ăn tuốt, thế cho nên cộng sản hay tự do tuy khác nhau nhưng lại giống nhau ở điểm này. Chưa chắc đây là cộng sản Nga sô là cộng sản gốc, nòi, chính gốc, còn tự do gốc là anh Mỹ vì thế hai anh ni là đạo theo thôi, nên có chút thay đổi chăng?

Thời liệt cường xâu xé nước Tàu, yêu sách cái gì thì nước tàu hồi đó cũng cam chịu làm thân khuyển mã đều dâng hiến, miễn sao vẫn còn tại vị để ngồi vơ vét tài sản, đất đai của dân mình là chuyện tốt rồi.

Một hôm, ông Đại sứ Anh quốc ở Bắc kinh đem biếu Từ Hi Thái Hậu một con chó nhỏ loại “Toy Pooddle” làm quà. Vài hôm sau vị Đại sứ này gặp lại bà Từ Hi trong cung điện, và nhân tiện hỏi thăm về con chó:

“Thưa Mẫu hậu. Mẫu hậu có thích con chó tôi biếu hay không?”
(“How do you like the dog, Your Majesty?”

Mụ Từ Hi trả lời:

“Cảm ơn Ông nhiều. Con chó mà ông cho tôi, ngon hết xẩy. Hẩu xực lớ!”
(“Oh! Thank you very much. It was delicious.”)

Hết nói nỗi hay hết ý kiến bây giờ dân mình gọi là "Cạn Lời".

Điều này đã sáng tỏ, ăn thịt chó không liên quan gì đến giá tiền (chó rẻ, bò heo gà đắt hơn), chả liên quan đến cộng sản hay tự do... chỉ là thân con chó mà thôi, chó dùng để sai khiến, làm thịt... Ôi, đau đớn thay cho thân khuyển mã!

Chó Tây vì sống ở phương trời Tây: Muốn nuôi, phải cho chó đi học hết 4 khóa “Dog Obedience Trainings.” phải được cấp 4 giấy chứng chỉ tốt nghiệp có đóng dấu ký tên đàng hoàng tử tế! Nhờ mấy khóa học này mà nó biết cách đi ị đi đái đúng cách chứ không làm bậy tùm lum tá lả trên mặt thảm trong nhà như lúc trước. Phải đóng tiền hàng năm để có Dog License: "tấm thẻ bài cho chó" cấp bởi cơ quan thẩm quyền về chó của thành phố. Chó có lịch trình chích phòng ngừa đủ các thứ bệnh chó mà chủ chó phải triệt để tuân hành. Cứ vài tháng phải đem chó đi “clean” răng tốn mỗi lần cũng vài trăm bạc (vì phải đánh thuốc mê chó trước khi “clean” răng!), rồi tốn tiền thiến chó. Nhưng mà vấn đề đau đầu nhất phải là cái dịch vụ cắt tóc chó: Cứ 4 tuần mất $25.00 tiền cắt tóc (cộng tiền “tips”) còn người, chỉ tốn 8 đồng cho mỗi lần cắt tóc cộng thêm hai đồng tiền tips, tốn hết 10 đồng. Thật là bất công! Không bất công đâu, thời người xuống hàng chó ngựa đó mà.

Ở Việt Nam mình, giờ người có tiền, hay người biết làm ăn đều bắt chước phương Tây nuôi chó kiểng, chó bẹc giê, có điều không chăm sóc kỹ như trên, mà nuôi để cho đi nhảy đực gây giống, hay nuôi chó đẻ để bán... Hồi xưa miền bắc, rồi sau 1975 cả nam lẫn bắc đều nuôi heo nhưng cực khổ không có tiền nhiều, giờ nuôi chó dẫn đi chơi , rồi đi nhảy đực... mà tiền vô như nước, cũng như hết giờ hành chánh đi lái xe ôm, đi bán vé số kiếm thêm thu nhập, chỉ vài năm sau là có xe hơi nhà lầu. Thời kỳ nuôi heo nuôi lợn cáo chung! Thời kỳ chó ngựa lên ngôi chăng?

Con chó trời tây sống trong chăn ấm nệm êm, đi chơi cũng có người dẫn đi, lỡ ỉa ra sân cỏ, trên đường có người sẵn sàng cầm bao ni lông hốt gọn. Chả trách gì ở trời tây bên Paris, vì có đầy tình người, nên không cho người đi hốt cứt chó, nên coi chừng đạp mìn khi đi du lịch, chó vô tư xả bình, còn người kiếm chỗ xả bình thật khó khăn? Than với ai đây, vậy mà có người nói trời Âu có đầy ắp tình người đó.

Sướng như thế đó, nhưng đôi lúc thấy chó buồn muốn chảy nước mắt, nó muốn sống như những con chó bẹc giê của các đại gia bên Việt Nam, được đi nhảy đực, làm cái nhiệm vụ thiêng liêng gây nòi giống, bên cạnh cái sung sướng trời ban cho bị cướp mất để mua để đổi lấy "chăn ấm nệm êm", nên có người cho rằng ở Mỹ thua Paris, London là vậy: không có tình người, không có nền văn hóa lâu dài, mà họ trách đúng thiệt, Mỹ mới lập quốc chỉ mới hơn hai trăm năm.

Tết tây 2018 đã đến, Tết ta Mậu Tuất 2018 sắp đến, một vài giòng lượm lặt trên net, cuối cùng không biết con Chó năm nay 2018 có giống con chó Mậu Tuất 1958 năm xưa không, hay những con chó anh em khác như Canh Tuất 1970, Nhâm Tuất 1982, Giáp Tuất 1994, Bính Tuất 2006. Mong rằng nó khác, nó thay đổi, chớ bắt chước hoài câu “Con không chê nhà khó, CHÓ không chê chủ nghèo” thì muôn đời chó vẫn hoàn chó, thân khuyển mã vẫn muôn đời là thân chó ngựa. Rồi thân tàn ma dại trong chăn ấm nệm êm mà mất đi chuyện đi nhảy đực để gây nòi giống!!!

Bên Giòng Sông. Tết Mậu Tuất 2018 - Ánh Dương

Huỳnh Hùng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quê hương, dân tộc, toàn cầu hoá


Bài này hay. GS Dũng đã dùng lý thuyết phân tầng xã hội để giải thích tại sao đa số dân Anh muốn Anh rút ra khỏi Liên hiệp Châu Âu, hoặc đa số dân Mỹ bầu D. Trump làm Tổng thống Mỹ. Đó là vì những người bị “bỏ lại phái sau”, những người (công nhân, nông dân) không những không được hưởng lợi của đổi mới và hội nhập mà còn mất đi rất nhiều thứ trong quá trình đó, đã kiên quyết bỏ phiếu chống lại những người "ưu tú", những nhóm "tiền phong" "ăn trên ngồi trốc" được hết mọi thứ, thậm chí "bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình". Có lẽ chính vì biết thế mà ở nước này, đám người "ưu tú", "tiền phong" đó không dám thực hiện trưng cầu ý kiến hay tổ chức bầu cử một cách dân chủ về bất cứ vấn đề gì.
Quê hương, dân tộc, toàn cầu hoá
Trần Hữu Dũng - Mỗi quốc gia phải chấp nhận nhu cầu “nhìn ra ngoài”, nhưng cũng phải tôn trọng những người gắn bó với làng mạc, đất đai. Những người thụ hưởng lợi ích của toàn cầu hóa có trách nhiệm chăm lo những người bị “bỏ lại phái sau”. Trách nhiệm ấy không chỉ là trách nhiệm đạo đức nhưng còn là nhu cầu chính trị và kinh tế. Thiếu nó, xáo trộn xã hội sẽ xảy ra. Các nhà lãnh đạo chính trị, những nhà văn hóa cần ý thức những điều ấy trong những hoạch định chính sách cho quốc gia, nhất là trong lĩnh vực đối ngoại.
Kết quả hình ảnh cho Quê hương, dân tộc, toàn cầu hoá
Có lẽ bạn, cũng như tôi, khi du lịch hoặc đến làm việc ở một nơi mà giọng nói hoặc khuôn mặt của mình không giống người địa phương, thường được hỏi: Ông/bà từ đâu đến? Hoặc, thân mật hơn, gốc gác của ông/bà ở đâu?



Câu hỏi ấy, thoạt nghe thì đơn giản nhưng lắm khi không dễ trả lời. Tôi là người Việt Nam, sống ở Mỹ nhiều năm, nên mỗi khi tôi sang Âu Châu, chẳng hạn, khi được hỏi: Anh từ đâu đến, thì tôi không khỏi ngập ngừng trong vài giây để chọn câu trả lời: Tôi từ Việt Nam, hoặc tôi từ bang Ohio (nơi tôi đang sống), hoặc từ Mỹ.

Tình tự quyến luyến với quê hương, gốc gác, thay đổi theo thời gian và cuộc sống của mỗi người. Có điều là, khi sự di chuyển ngày càng dễ dàng (không những trong một quốc gia mà còn quốc tế, thậm chí liên lục địa) thì cảm giác về “gốc gác” ngày càng nhạt mờ.

Từ cá nhân đến quốc gia, và thế giới

Ghi lại vài cảm nghĩ trên đây không chỉ để chia sẻ sự nhớ nhung man mác, lắm lúc nhói đau, của mỗi chúng ta lúc xa quê. Sự gắn bó đối với quê hương là tự nhiên và cao quý, nhưng phải nhìn nhận rằng nó không chỉ thể hiện qua những bài thơ, những bản nhạc, hay những câu chuyện kể với nhau qua ly rượu, chén trà. Qua lịch sử và trong thực tế hiện tại, lắm khi nó cũng là lực cản những biển đổi tích cực trong xã hội, là nguồn gốc nhiều phong trào chính trị phản tiến bộ. Các hậu quả tiêu cực này có thể truy về hai đặc tính liên hệ đến tình tự của cá nhân đối với cộng đồng gốc rễ của mình.

Một là, hầu hết mọi quốc gia ngày nay đều là đa chủng tộc, một số được hình thành sau Thế Chiến II do sự thỏa thuận (có phần áp đặt) giữa các cường quốc thực dân cũ, do đó gốc rễ của một người không nhất thiết là gốc rễ của người khác, dù cùng một quốc gia.

Hai là, vì nhiều lý do, mức độ lưu động của mỗi người giữa các vùng miền và nghề nghiệp có khác nhau. Do đó, lợi ích của tiến bộ công nghệ, của toàn cầu hóa (mà phần lớn bắt nguồn từ sự luân lưu dễ dàng của hàng hóa lẫn lao động) là không đồng đều đối với những người cùng quốc gia, nói chi đến giữa quốc gia này và quốc gia khác.

Phát hiện hai đặc tính gắn liền với “gốc rễ” ấy, nhiều nhà bình luận đã đưa ra những giải thích rất thuyết phục đối với những sự kiện chấn động thế giới trong vài năm gần đây.

(1) Đa số dân Anh muốn Anh rút ra khỏi Liên hiệp Châu Âu

Dù nước Anh là thành viên của Liên hiệp Châu Âu (EU) từ năm 1973, đã có nhiều người Anh phản đối việc này ngay từ đầu, viện dẫn không ít lý do -- từ lịch sử, văn hoá, đến kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, tin rằng những người phản đối là thiểu số, và để dứt khoát khẳng định chính sách của Anh là kết chặt với cộng đồng châu Âu, thủ tướng Anh David Cameron đã mở một cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 6-2016, đinh ninh rằng đa số đồng bào của ông sẽ bỏ phiếu ở lại EU.

Thật bất ngờ khi đa số phiếu (phải nói cho chính xác: không phải đa số dân Anh, vì có nhiều người không bỏ phiếu) là muốn Anh rời khỏi EU!

Đã có rất nhiều giải thích kết quả này. Thú vị và sâu sắc nhất có là nhận xét của David Goodhart, nhà bình luận người Anh. Theo Goodhart, nước Anh ngày nay có hai nhóm ngày càng đối nghịch nhau.Một nhóm là những người tốt nghiệp đại học, tư duy phóng khóang, dễ dàng tiến thân trong sự nghiệp, cũng như dễ dàng chuyển từ công nghiệp này sang công nghiệp khác, rời vùng này sang vùng khác (kể cả ra nước ngoài). Goodhart gọi họ là “những người từ Bất-Cứ-Nơi-Nào" (“people from Anywhere”) vì họ hầu như không còn cảm thấy bị buộc chặt vào một nơi nào. Nhóm thứ hai là thành phần mà Goodhart gọi là “những người từ Một-Nơi-Nào-Đó (“people from Somewhere). Nhóm này tương đối bảo thủ hơn nhóm thứ nhất, ý thức mạnh mẽ hơn về căn tính quốc gia, và trân quý lối sống cỗ truyền mà họ cảm thấy đang dần mất đi. Theo Goodhart, chính nhóm thứ hai đã bò những lá phiếu quyết định nước Anh đòi “ly dị” với EU.

Điều đó cũng dễ hiểu, bởi lẽ đa số nhóm thứ nhất là thị dân, hưởng thụ những thành quả của tiến bộ công nghệ, của viễn thông, của toàn cầu hóa. Nhóm thứ hai (theo ước lượng của Goodhart thì không dưới 20% dân Anh) thì trái lại, họ sống ở nông thôn, ở các thành phố nhỏ trong nội địa, thu nhập không cao và bị chửng lại, và cảm thấy bị “bỏ lại phía sau”. Rồi gần đây, những người này lại thấy những nét văn hóa cộng đồng thân thuộc của họ bị hăm dọa bởi những làn sóng di dân từ các văn hóa rất khác.

(2) Trump đắc cử tổng thống Mỹ

Sau vụ Anh bỏ phiếu rời EU (sự kiện này thường được gọi là “Brexit”, gộp hai chữ “British” và “exit”) vào mùa hè 2016 thì việc Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ vào mùa thu tiếp đó, càng gây một sự ngạc nhiên hầu như chưa từng có cho giới bình luận Tây phương, nếu không nói là đại đa số người Mỹ. Tại sao một người không hề có kinh nghiệm chính trị, ăn nói bỗ bã, lắm “thói hư tật xấu”, như Trump lại có thể thắng bà Hillary Clinton, một chính trị gia lão luyện và khôn khéo?

Trong hàng nghìn bài báo, hàng chục quyển sách phân tích, giải thích kết quả bất ngờ này, nhiều nhà bình luận đưa ra nhận xét tương tự như của David Goodhart trên đây. Eugene Robinson của báo Washington Post viết: Ngày nay, lằn ranh phân cách (trong xã hội Mỹ) có lẽ là giữa (một bên là) những thành phố lớn và (bên kia là) những vùng xa ngoại ô và những thị trấn nhỏ; giữa những người tốt nghiệp đại học và những người học vấn kém hơn; giữa những người nhận lãnh lợi ích của toàn cầu hoá, và những người không được những lợi ích ấy, và giữa những người da trắng hiện là đa số và các nhóm dân thiểu số mà chỉ trong vài thập niên sắp đến sẽ trở thành đa số. Kết quả các cuộc thăm dò ý kiến đều cho thấy nhóm thứ nhất (tương tự như “những người từ Bất-Cứ-Nơi-Nào” của Goodhart) chọn bà Clinton, trong lúc nhóm thứ hai (tương tự như “những người từ Một-Nơi-Nào-Đó”) bỏ phiếu cho ông Trump. Nói cách khác, theo ngôn ngữ của tôi trong bài này, những người ít nặng tình với cộng đồng gốc rễ thì chọn bà Clinton, còn những người nặng tình với gốc rễ, thậm chí bài ngoại, thì bảo thủ hơn, chọn ông Trump.

Cần nhấn mạnh rằng tình tự cộng đồng của những người ở thôn quê, tỉnh nhỏ, thu nhập không cao… chẳng phải hoàn toàn là do kỳ thị chủng tộc hoặc giới tính (Hillary Clinton đã rất sai lầm khi ám chỉ như thế -- và bị cho là miệt thị đông đảo cử tri -- trong một diễn văn tranh cử). Sự quyến luyến với cộng đồng của những người này cũng có nhiều lý do kinh tế rất cụ thể. Sống ở tỉnh nhỏ, có thu nhập thấp… họ thường phải nương tựa vào gia đình, vào láng giềng, trong sinh hoạt hàng ngày (như giữ con cho nhau, hoặc đưa đón đi chợ, đi khám sức khoẻ, hay những việc vặt vãnh khác). Mạng lưới gia đình, xóm giềng đối với họ là cần thiết, là rất quan trọng, vì lý do kinh tế. Sự quyến luyến với cộng đồng, gốc rễ của họ không chỉ là tình cảm trừu tượng.

(3) Phong trào chống di dân từ nước ngoài và chia rẽ tôn giáo

Ngoài hai sự kiện Brexit và Trump kể trên, vài diễn biến khác cũng được nhiều người cho là có nguyên nhân từ tâm thức “gốc gác”. Chẳng hạn như ở Trung Âu và Đông Âu gần đây có phong trào chống đối di dân từ Trung Đông và Bắc Phi. Tất nhiên, sự chống đối này cũng có lý do kỳ thị chủng tộc, nhưng cũng phải nhìn nhận rằng nó có phần phản ảnh sự “sợ hãi” của dân địa phương rằng văn hóa bản địa sẽ bị loãng đi, biến dạng, khi những người nhập cư đem đến cộng đồng quen thuộc của họ một nền văn hóa rất khác...

Trong một cuốn sách gần đây, giáo sư (cũng có thời là lãnh tụ một đảng lớn ở Canada) Michael Ignatieff đã phân biệt “toàn cầu hóa kinh tế” và “toàn cầu hóa đạo đức” (globalization of morals). Theo Ignatieff, quả là toàn cầu hóa kinh tế có làm cho các quốc gia gần nhau hơn, nhưng ông đặt câu hỏi: Hình thức toàn cầu hóa (kinh tế) ấy có làm hệ đạo đức của các quốc gia (ông gọi đó là “toàn cầu hóa đạo đức”) giống nhau hơn không? Ignatieff cho rằng câu trả lời sẽ là “không”. Theo ông, toàn cầu hoá không chỉ xoá bỏ biên giới hiện hữu, đem con người gần nhau hơn, mà oái oăm thay, nó có thể tạo ra những biên giới mới. Trong lúc biên giới chính trị và kinh tế mờ nhạt đi thì biên giới tôn giáo và chủng tộc lại sâu đậm hơn.

Lấy sự thảm sát dân Rohingya ở Myanmar để dẫn chứng, Igntieff cho rằng dân chủ không nhất thiết sẽ gia tăng sự tôn trọng nhân quyền: Chính những người Myanmar từng tranh đấu cho dân chủ (dẫn đầu là bà Aung San Suu Kyi) đã làm ngơ, nếu không ngầm ủng hộ sự tàn sát ấy. Tại sao như thế? Theo Ignatieff, Myanmar là một quốc gia đa chủng tộc và người dân Myanmar có những ý thức khác nhau về “gốc rễ”, tùy theo họ là thuộc phe (đa số) theo đạo Phật, hay phe thiểu số theo đạo Islam như người Rohingya. Chính sự “mở cửa” (toàn cầu hóa) của Myanmar sau khi dân chủ được tái lập đã phơi trần sự khác biệt này, đưa đến sự đàn áp có tính diệt chủng như hiện này.

Chúng ta phải làm gì?

Từ những nhận định đầu tiên về sự quý báu của tình cảm đối với gốc gác, quê hương… đến nhận xét về những sự kiện gần đây liên hệ đến tác động của tình cảm này đối với xã hội, quốc gia, và quan hệ quốc tế thì phải nhìn nhận rằng vấn đề “gốc rễ” không phải là đơn giản. Nó có nhiều hậu quả phức tạp, bất ngờ, thậm chí tiêu cực. Nó có thể gây ra những rạn nứt trong xã hội, tuỳ thuộc vào ảnh hưởng chênh lệch của toàn cầu hoá, của di dân đối với những thành phần xã hội và kinh tế, ở những vùng miền khác nhau.

Chúng ta cần nhìn nhận sự đan xen chặt chẽ giữa các xu hướng công nghệ và xu hướng xã hội. Toàn cầu hóa ưu đãi những thành phần dễ dàng chuyển từ nghề này sang nghề khác. Nhìn từ một gốc cạnh nào đó, sự mềm dẻo (trong di dân và nghề nghiệp) là một dạng bất công bình thu nhập. Những người thích ứng nhanh với công nghệ, dễ dàng di chuyển từ vùng này đến vùng khác, đổi từ nghề này sang nghề khác, trong cùng một quốc gia cũng như quốc tế, sẽ là những người có thu nhập gia tăng nhanh chóng, nhưng lại là những người mà ý thức về nguồn gốc, về quê hương ngày càng (tương đối) kém mặn nồng. Ngược lại, những người không dễ di chuyển, khó thay đổi nghề nghiệp, thì lại thường giữ được tình càm gốc gác quê hương một cách thiết tha hơn.

Nói cách khác, không phải ai cũng chấp nhận sự thay đổi nhanh chóng do toàn cầu hoá đem lại. Sự đối kháng không chỉ vì chủng tộc, vì văn hoá, mà còn vì kinh tế, như trong trường hợp những người lo ngại bị toàn cầu hoá bỏ lại phía sau.

Muốn phát triển kinh tế, tiến bộ công nghiệp thì ta cần những người dễ dàng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng, nhưng chúng ta cũng không nên quên những người, vì lý do này hoặc lý do khác, khó thay đổi. Sự chia rẽ giữa hai thành phần này, nếu ngày càng rộng hoặc không giảm đi, sẽ phát sinh những biến động trong một quốc gia cũng như trong quan hệ quốc tế.

Dù muốn dù không, thay đổi là tất yếu. Những người chấp nhận và thích ứng với những thay đổi ấy sẽ khấm khá, thịnh vượng hơn. còn những người không chấp nhận sẽ bị bỏ lại phía sau. Nhưng phải nhận rằng trong sự thay đổi ấy chúng ta sẽ mất đi một phần của chính chúng ta, những tình cảm về gốc rễ, về đặc tính của cộng đồng.

Nhìn nhận sự mất mát (ít nhất cũng là mờ nhạt) ấy không có nghĩa là chúng ta phải chống lại thay đổi. Nhưng mỗi chúng ta phải thích ứng theo cách của từng người; cách thích ứng của người này không giống của người khác, không chỉ vì sở thích mỗi người một khác mà còn vì hoàn cảnh của mỗi cá nhân, tùy cách chúng ta được dạy dổ, truyền thống gia đình của chúng ta.

Mỗi quốc gia phải chấp nhận nhu cầu “nhìn ra ngoài”, nhưng cũng phải tôn trọng những người gắn bó với làng mạc, đất đai. Những người thụ hưởng lợi ích của toàn cầu hóa có trách nhiệm chăm lo những người bị “bỏ lại phái sau”

Trách nhiệm ấy không chỉ là trách nhiệm đạo đức nhưng còn là nhu cầu chính trị và kinh tế. Thiếu nó, xáo trộn xã hội sẽ xảy ra. Các nhà lãnh đạo chính trị, những nhà văn hóa cần ý thức những điều ấy trong những hoạch định chính sách cho quốc gia, nhất là trong lĩnh vực đối ngoại.

Trần Hữu Dũng
13/12/2017
Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Xuân Mậu Tuất, 2/2018



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủ tướng trả lời chất vấn về nợ công và biến động của GDP


05/02/2018 - Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản trả lời chất vấn Đại biểu Quốc hội Hoàng Quang Hàm, Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ về vấn đề nợ công, ODA và biến động của tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
GDP biến động phù hợp với chu kỳ sản xuất
Theo đó, về biến động của tốc độ tăng trưởng kinh tế, văn bản cho biết, tăng trưởng GDP của nước ta trong quý I thường thấp, sau đó tăng lên trong những quý tiếp theo có nguyên nhân chủ yếu do hoạt động sản xuất, kinh doanh quý I bị ảnh hưởng nhiều vì trùng với dịp nghỉ lễ, Tết cổ truyền. 


Các hoạt động sản xuất (cả công nghiệp và nông nghiệp), kinh doanh, xây dựng, đầu tư, tín dụng thường không bắt đầu sôi động ngay vào đầu năm, chủ yếu tập trung vào quý IV cuối năm, là cơ hội để gia tăng các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng để phục vụ các dịp lễ Tết, đồng thời cũng là thời điểm kết thúc niên độ ngân sách của năm, nhiều nhiệm vụ phải hoàn thành trước khi bước sang năm mới.

Tốc độ tăng trưởng GDP có sự khác biệt giữa các quý trong năm với mức độ khác nhau tùy thuộc vào diễn biến tình hình kinh tế của năm đó. Với những năm có những biến chuyển kinh tế tích cực, tốc độ tăng trưởng GDP cao thì sự khác biệt này là lớn hơn. Sự biến thiên giữa các quý của tốc độ tăng GDP cũng phù hợp với sự thay đổi theo chu kỳ của các yếu tố khác như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đầu tư, xuất nhập khẩu...

“Tốc độ tăng trưởng GDP là chỉ tiêu kết quả, chịu sự tác động của yếu tố chu kỳ sản xuất, chu kỳ tăng trưởng và yếu tố mùa vụ của các hoạt động kinh tế. Hiện tượng tốc độ tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước trong năm, nhưng quý I năm sau thấp hơn quý IV của năm trước đã được các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá là phản ánh đúng chu kỳ và mùa vụ trong tăng trưởng của năm.” – Văn bản trả lời của Thủ tướng giải thích rõ và cho biết, qua tổng hợp cho thấy, cơ cấu giá trị GDP của một năm cũng có sự khác biệt, bình quân giá trị GDP quý I chiếm khoảng 18%; quý II chiếm 24%; quý III chiếm 26% và quý IV chiếm 32% tổng giá trị GDP cả năm, trong đó Quý IV có tỷ trọng lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất quyết định kết quả tăng trưởng của cả năm.

Việc tính toán GDP theo quý là nhằm phục vụ công tác điều hành kế hoạch năm. Để đánh giá kết quả và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế thì cần đánh giá cả năm, trung hạn và dài hạn.

Về nợ công và ODA, văn bản trả lời của Thủ tướng nêu rõ: Theo chức năng và nhiệm vụ được giao, hàng quý, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi, đã có báo cáo Ban Chỉ đạo về tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ để Ban Chỉ đạo xem xét, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các giải pháp.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch đầu tư năm 2017 nguồn vốn ODA và vay ưu đãi, nhằm xây dựng báo cáo toàn diện, đầy đủ về những kết quả đạt được, những vướng mắc, khó khăn và kiến nghị của các bộ, ngành, địa phương, nhà tài trợ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai làm việc cụ thể với các chủ dự án, cơ quan chủ quản, nhà tài trợ và các cơ quan liên quan, đề nghị cho ý kiến về nhu cầu và khả năng giải ngân vốn nước ngoài nguồn cấp phát từ ngân sách trung ương sát thực tế nhất có thể trong từng năm 2018, 2019, 2020. Số lượng dự án và đối tượng được khảo sát, lấy ý kiến là tương đối lớn nên mất nhiều thời gian để tổng hợp báo cáo. Hiện vẫn còn một số cơ quan, tổ chức chưa có ý kiến trả lời.

Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành soát lại tổng thể nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài từ ngân sách trung ương trong các năm 2018-2020, bao gồm: (i) Các dự án mới ký hiệp định; (ii) Các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư và đang chuẩn bị đàm phán, ký kết hiệp định; (iii) Các dự án đang thực hiện phải điều chỉnh tổng mức đầu tư dẫn tới tăng nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài so với trước đây; (iv) Các dự án chuyển đổi cơ chế tài chính từ bảo lãnh hoặc cho vay lại vốn nước ngoài sang cấp phát từ ngân sách nhà nước; (v) Các dự án sử dụng vốn nước ngoài đã giải ngân từ năm 2016 trở về trước nhưng chưa quyết toán.

Sau khi tổng hợp được nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài các năm 2018 -2020 sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi cho ý kiến trước khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.


ĐBQH Hoàng Quang Hàm

Xem xét các phương án hoãn, giãn tiến độ các dự án

Về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 nguồn vốn nước ngoài và tác động đến trần nợ công, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 26/2016/QH14 ngày 10 tháng 11 năm 2016, tổng mức vốn đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước tối đa là 2 triệu tỷ đồng, trong đó 300.000 tỷ đồng vốn nước ngoài cấp phát từ ngân sách trung ương, đã bao gồm 30 nghìn tỷ đồng thuộc khoản dự phòng chung của Kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Khi xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 nguồn vốn nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã căn cứ vào thực tế giải ngân nguồn vốn nước ngoài các năm trước và tính khả thi của việc giải ngân nguồn vốn này trong giai đoạn 2016 - 2020, theo đó với số vốn trung hạn 270 nghìn tỷ là cơ bản đáp ứng được yêu cầu giải ngân thực tiễn của các dự án đã có trong kế hoạch trung hạn, đã ký kết hiệp định và đang thực hiện.

Bên cạnh đó, để thực hiện chủ trương tranh thủ và tận dụng cơ hội sử dụng nguồn vốn ưu đãi (như IDA, ADF) trước khi nước ta hoàn toàn tốt nghiệp ODA do đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương và triển khai đàm phán, ký kết một số hiệp định dự án mới trong 2 năm 2016 và 2017 với số vốn khả năng có thể giải ngân khoảng 29 nghìn tỷ đồng (phù hợp với khoản dự phòng của nguồn vốn nước ngoài trong kế hoạch trung hạn là 30 nghìn tỷ đồng).

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng kế hoạch trung hạn nguồn vốn nước ngoài, có một số tình huống phát sinh ngoài dự kiến như: Khoản vốn của các dự án sử dụng vốn nước ngoài đã giải ngân từ năm 2016 trở về trước nhưng chưa quyết toán (14.033,795 tỷ đồng đã được Quốc hội thông qua và sử dụng một phần trong dự phòng trung hạn); các dự án đang thực hiện phải điều chỉnh tổng mức đầu tư dẫn tới tăng nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài so với trước đây (dự án tuyến đường sắt đô thị của Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh); một số dự án dự kiến chuyển đổi cơ chế tài chính từ cho vay sang hình thức Nhà nước đầu tư trực tiếp (như 4 dự án đường cao tốc của VEC, dự án đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng)...

Như vậy, theo Thủ tướng, trong trường hợp những khoản phát sinh ngoài dự kiến tiếp tục được Quốc hội xem xét, thông qua thì việc rà soát lại kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 nguồn vốn nước ngoài là cần thiết. Trong đó, cần xem xét các phương án hoãn, giãn tiến độ các dự án, điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn phù hợp với giới hạn trần nợ công, nợ Chính phủ và bội chi ngân sách trong các năm còn lại của kế hoạch trung hạn, bảo đảm không ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả đầu tư cũng như mối quan hệ đối ngoại giữa nước ta và các đối tác phát triển, các nhà tài trợ.

Bên cạnh đó, Thủ tướng nhấn mạnh, đến năm 2018, khi nước ta “tốt nghiệp” hoàn toàn ODA thì các dự án sử dụng nguồn vốn vay kém ưu đãi hơn cần được xem xét thận trọng, tổng mức vốn nước ngoài sẽ giảm dần do hạn mức vay vốn của các địa phương là có hạn.

Xuân Hưng
https://baomoi.com/thu-tuong-tra-loi-chat-van-ve-no-cong-va-bien-dong-cua-gdp/c/24866238.epi

GDP quý I.2017 chỉ đạt 5,15% nhưng tăng trưởng mạnh mẽ trong các quý II, III, IV năm 2017 

Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2017 (Ảnh: I.T)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

CUNG ĐÀN SỐ PHẬN


- Hồi ký của Lộc Vàng (Kim Dung/ Kỳ Duyên chắp bút)


KD: Bạn đọc thân mến. Một niềm vui lao động vất vả của mình đã biến thành hiện thực. Công ty cổ phần sách Alpha- Sống- và Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa xuất bản và phát hành cuốn CUNG ĐÀN SỐ PHẬN- cuốn Hồi ký của Lộc Vàng- người nghệ sĩ lãng tử mê đắm hát nhạc vàng đến mức bị… tù tội. Nhưng số phận của ông, của một người lao động lương thiện hóa thành một kẻ tù tội, từ một vụ việc đơn giản hóa thành một “vụ án chính trị”, cũng phản chiếu rất rõ hành trình nhận thức của một dân tộc qua những thăng trầm dâu bể của thời cuộc.
Sách do mình- Kim Dung/ Kỳ Duyên chắp bút, với hơn 200 trang in khá đẹp.
Trong khuôn khổ của Blog, mình chỉ xin đăng lại LỜI GIỚI THIỆU để bạn đọc hiểu cái duyên gặp gỡ của mình với nhân vật chính- Lộc Vàng- một con người đau khổ, bất hạnh, có cả sự bồng bột của tuổi trẻ kiêu bạc, lãng tử, nhưng rất ý thức và quyết liệt bảo vệ “quyền con người” của chính ông, dù trải qua tù tội, đói rét.
Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ, và chung vui với Lộc Vàng, một người lao động- nghệ sĩ “nổi tiếng” một cách bất đắc dĩ, và với mình, một người cầm bút chỉ mong muốn sự công bằng XH cho mọi người dân, cho chính nhân dân mình
Cảm ơn bạn đọc đã lắng nghe
Và cảm ơn Công ty cổ phần sách Alpha- Sống và Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xuất bản và phát hành
—————- 
LỜI GIỚI THIỆU
Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời/ Mỗi số phận chứa một phần lịch sử/                                                                         Mỗi số phận rất riêng,  rất nhỏ (Evghenhi Aleksandrovich Evtushenko) 
Đó là một chiều cuối đông. Tôi và hai người bạn thân hẹn nhau đến quán Lộc Vàng, quán café từ lâu thành nổi tiếng, bởi ông chủ quán- Lộc Vàng- là người mê hát nhạc vàng đến nỗi bị đi tù. Xưa nay, chỉ nghe nói trộm cắp, giết người, tham nhũng, hối lộ… những tội tày đình mới phải đi tù. Có ai chỉ vì mê hát mà lại bị đi tù? Tôi có chút tò mò…
Rồi ông Lộc Vàng xuất hiện. Một người đàn ông tầm thước, gầy gò, gương mặt hiền lành, có phần khắc khổ, nhưng rất cá tính với bộ ria mép đen nhánh, ngồi tiếp chuyện chúng tôi. Có lẽ năm tháng cuộc đời với những đắng cay, bất hạnh đã khiến gương mặt ông, kể cả lúc cười vẫn có gì đó rất trầm tư, buồn bã. Câu chuyện giữa nhóm bạn bè chúng tôi với ông chủ quán Lộc Vàng xoay quanh chuyện đời ông. Quả là vì ông quá mê hát nhạc vàng (ngay cái tên Lộc Vàng đã nói lên “chất” người của ông), vào những năm tháng chính quyền cấm ngặt loại hình nhạc “yếu đuối, ủy mị” này, mà ông đã phải bước chân vào nhà tù khi tuổi đời còn rất trẻ, mới mười tám đôi mươi, cái tuổi trai tráng, sức lao động tràn đầy- “bẻ gẫy sừng trâu”. Ông tâm sự rất lâu, rất lâu. Rồi ông nói về người vợ tào khang đã khuất mà ông nhất mực yêu quý, dường như có cả sự hàm ơn nữa. Và ông khóc khi nói về người đã khuất. Nước mắt một người đàn ông lãng tử, kiêu bạc từng vào tù ra tội hẳn đầy nỗi ẩn khuất, dằn vặt, xót xa…
Nhắc đến nhạc vàng, ông như linh hoạt hẳn lên. Ông bảo rằng, ngay cả các ca sĩ chuyên nghiệp hiện nay hát nhạc vàng cũng chưa chuẩn, khó lọt tai ông. Bởi có thể họ vì chiều theo thị hiếu của khán giả. Hoặc họ không cảm nhận được sâu sắc một cách nguyên vẹn và tinh tế cái hồn vía của nhạc vàng mà vô tình làm “thất thoát” đi. Hoặc do cả các nhạc sĩ để có thể tồn tại các tác phẩm, thích ứng hoàn cảnh mà chấp nhận sự thêm bớt ca từ. Còn ông, ông dứt khoát và quyết liệt bảo vệ cái hay cái đẹp của nhạc vàng như những liền anh liền chị Kinh Bắc bảo vệ các làn “quan họ cổ” vang, rền, nền, nảy; rất tình tứ và vời vợi nỗi buồn vui của kiếp nhân sinh sau lũy tre làng. Chuyện cuộc đời ông chất chứa xen lẫn những đắng cay, may rủi, cho đến tận tuổi U 70 giờ đây, ông chỉ muốn được chia sẻ với người đời. Có thế, gánh nặng tù tội trong tâm hồn ông mới cất được.
Cả nhóm bạn bè chúng tôi im lặng. Bất ngờ một người bạn bảo tôi: Hay chị chấp bút, viết hồi ký cho bác Lộc Vàng đi. Được đó.
Được lời như cởi tấm lòng, ông tỏ ra mừng rỡ.
Tôi im lặng trước đề nghị bất ngờ đó. Bỗng nhiên nhớ tới bài viết “Cháo bà Chạch” trên Thư Hà Nội của báo VietNamNet năm nào khi tôi về đó làm việc. Bà Chạch chỉ là người bán cháo đậu xanh, chè đỗ đen cho lũ trẻ con hàng phố chúng tôi suốt cả tuổi thơ. Dạo đó, ấn tượng với tôi nhất là bà thường đội một vành khăn nâu sát xuống phía trán, mặc chiếc váy sồi, thắt ruột tượng, phía trên là chiếc áo dài tứ thân, thắt lại hai vạt ở giữa. Mùa đông, bà khoác thêm chiếc áo bông Tàu mỏng màu đen, nhưng đã bạc màu. Bà đi đôi dép mỏng xỏ mỗi ngón chân thứ hai, giữa mu bàn chân là một chiếc quai dép vắt ngang. Đó là thời Hà Nội cũ, của những năm 60.
Thoắt cái, những năm 70, sau thống nhất đất nước, tôi gặp lại bà Chạch. Vẫn gánh cháo đậu xanh, chè đỗ đen năm xưa. Nhưng giờ bà ăn mặc khác lạ. Thay cho chiếc váy sồi, tấm áo dài tứ thân ngày nào là chiếc quần “chân què” (là quần, nhưng không xẻ ở giữa mông như bây giờ), tấm áo nâu sồng. Đôi vai bà như trĩu xuống hơn vì gánh nặng của thời gian. Mấy ngón chân của bà như bấm chặt hơn trên đôi guốc gỗ mòn vẹt.
Hóa ra, đôi khi để hiểu lịch sử đã sang trang, người ta chỉ cần nhìn vào sự thay đổi cách ăn mặc của một người đàn bà quê mùa chuyên bán món cháo rẻ tiền cho trẻ thơ của một khu phố cổ..
Còn với ông Lộc Vàng, để hiểu lịch sử một thời cuộc ấu trĩ, xơ cứng mang đậm tính “hạn chế của lịch sử”, người ta phải xót xa chứng kiến những trầm luân nổi chìm vào tù ra tội của một số phận, một thân phận trẻ trai nhưng lại có một niềm yêu thích âm nhạc “không hợp thời cuộc” ấy. Để rồi mấy chục năm sau cũng những bản nhạc vàng tình tứ, phong nhã, phong lưu ấy, quá khứ với ông là đầy ải nghiệt ngã, thì hiện tại là thăng hoa trên sân khấu nhỏ hằng đêm, thậm chí trên sân khấu lớn Nhà Hát Lớn. Như chưa bao giờ người đàn ông mang tên Lộc Vàng ấy có những năm tháng rủi ro bị đầy đọa chỉ vì mê và hát nhạc vàng.
Ông Lộc Vàng, chỉ là thân phận của một người lao động mong manh, bé nhỏ trong đời sống của một đất nước quá nhiều thăng trầm, giông bão bởi chiến tranh tàn phá, hay mò mẫm dựng xây. Thế nhưng, số phận của ông vô tình phản chiếu sinh động tầm nhìn của thời cuộc một đất nước tư duy tiểu nông, hạn hẹp đang mầy mò đổi mới trên hành trình hội nhập văn minh.
Hai thời cuộc đó khác nhau một tầm tư duy, khác nhau bởi cái … thước đo lịch sử?
Chỉ là số phận của một con người tù tội trái ngang khởi đầu là vô danh, bỗng trở nên nổi tiếng một cách bất đắc dĩ. Xét cho cùng vẫn mang một ý nghĩa triết luận sâu sắc khi đặt họ trong dâu bể đất nước. Xin mượn ý câu thơ của nhà thơ Nga nổi tiếng, “mỗi con người dù bé nhỏ đến đâu, cũng mang một phần lịch sử”. 
                                                                   Kim Dung/ Kỳ Duyên



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tượng Tâm linh Phật pháp Linh Phong của Trần Bắc Hà


Đây là công trình tâm huyết của bác Trần Bắc Hà. Xem thêm cho rõ:Ở Singapore, ông Trần Bắc Hà vẫn “tất bật” với công việc.
Tượng Phật ngồi lớn nhất Đông Nam Á tại Bình Định
09/10/2017 Với chiều cao là 69 m, đường kính chân tượng là 52 m Tượng Phật Thích Ca ở Bình Định là Tượng Phật cao nhất Đông Nam Á hiện nay. Sau gần 2 năm thi công phần vỏ khuôn tượng, tháng 11 tới đây, Tượng Phật Thích Ca (ngồi) ở Núi Bà (Chùa Ông Núi), xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định dự kiến sẽ hoàn thành.

Quần thể công trình Tâm linh Phật pháp Linh Phong- Ảnh Fanpage Bình Định Thông Tin


Tượng Phật Thích Ca ngồi cao nhất Đông Nam Á với chiều cao là 69 m và cao 108m (tính từ tòa sen), đường kính chân tượng là 52 m và Chùa được thiết kế, xây dựng bên trong Tượng Phật.

Ảnh Fanpage Bình Định Thông Tin

Phần vỏ khuôn tượng là giai đoạn cuối cùng của công trình Phật giáo tỉnh Bình Định- Ảnh Vinhcuu.vn

Theo báo Bình Định: Công trình này được khởi công vào năm 2009, chia làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu của dự án gồm 4 công trình lớn được tập trung thi công, đã hoàn thành năm 2016. Gồm có công trình trọng điểm tượng Thích ca Mâu ni Phật. Theo Ban quản lý Dự án Tâm linh Phật pháp Linh Phong, tượng Thích ca Mâu ni Phật có chiều cao 69 m, bao gồm cả phần chân đế tượng cao 15 m; toàn bộ đều được đúc bê tông cốt thép tại chỗ. Tượng Đức Phật ngự trên tòa sen, ở lưng chừng núi, trên độ cao 129 m so với mặt nước biển, nhìn ra biển Đông, lưng tựa vào ngọn núi cao nhất trong quần thể khu di tích Núi Bà. Dưới chân tượng là Trung tâm thuyết pháp Phật giáo và hành lang La Hán, thư viện Phật giáo, bảo tàng Xá Lợi Phật, nơi để du khách đến hành lễ, chiêm bái.


Phần vỏ tượng do công ty Vĩnh Cửu nhận thi công chế tác. Với công nghệ tiên tiến gồm 05 máy CNC và 03 máy phun G.R.C, gần 7600 mảnh ghép (module) khác nhau với tiết diện mỗi module từ 1m2 đến 2m2 được hoàn thành qua nhiều công đoạn sau đó được ghép lại thành vỏ tượng, trong thời gian sản xuất và thi công gần 02 năm.




Phần vỏ khuôn tượng dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 11 tới đây- Ảnh Fanpage Bình Định Thông Tin

Công trình Phật giáo này tọa lạc trên một vùng đất kỳ vỹ, non xanh nước biếc, lưng tựa vào dãy núi Bà vững chãi, trước mặt là biển Đông bốn mùa sóng vỗ; ngay trên tuyến đường ĐT 639 đi qua phía đông bắc tỉnh; và quốc lộ 19B nối sân bay Phù Cát với TP Quy Nhơn, quần thể tâm linh Phật pháp Linh Phong (có diện tích gần 64 ha, tại Núi Bà, thuộc địa bàn xã Cát Tiến - huyện Phù Cát, bao gồm cả khu vực chùa Linh Phong) sẽ tạo ấn tượng mạnh với du khách khi đến Bình Định.


Ảnh Fanpage Bình Định Thông Tin


Công trình này tọa lạc tại vị trí đắc địa- ảnh vitamin8x

Và đây cũng là công trình mang tính nghệ thuật tâm linh đặc sắc nhất của tỉnh Bình Định, tương lai hứa hẹn sẽ là một địa điểm mới thu hút khách thập phương về chiêm bái, tham quan du lịch.

Song Ngư (TH) / Tin Nhanh Online
http://binhdinh.tintuc.vn/tin-tuc/thang-11-nay-khanh-thanh-tuong-phat-ngoi-lon-nhat-dong-nam-a-tai-binh-dinh.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang