Coi Trung Quốc là người bảo trợ chính, Hun Sen đã quên rằng nước này từng là trụ cột của chế độ khát máu Pol Pot.
Bây giờ, bước sang năm cầm quyền thứ 34, Thủ tướng Campuchia, Hun Sen, 65 tuổi đã dành hơn một nửa cuộc để gọt giũa và cập nhật câu chuyện về việc ông ta và đám lính Khmer Đỏ đào ngũ tìm cách lật đổ Pol Pot vào tháng 1 năm 1979 .
Nhiều yếu tố vẫn giữ nguyên, trong khi những yếu tố khác đã thay đổi dần cùng với thời gian. Lúc đó, cũng như bây giờ, người ta kể rằng Hun Sen đã chạy trốn sang Việt Nam vào tháng 6 năm 1977 để tránh vụ thanh trừng của Pol Pot; nhưng lúc đó, chứ không phải bây giờ, người ta cho rằng Trung Quốc phải chịu phần lớn trách nhiệm về những tội ác của chế độ Pol Pot.
Thủ tướng Hun Sen đứng trong lễ khai mạc Diễn đàn Doanh nghiệp và Đầu tư Campuchia –Trung Quốc, ngoại ô Phnom Penh, Campuchia (1 tháng 12 năm 2016). Ảnh: AP Photo/Heng Sinith
Trong bức thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Kurt Waldheim, tháng 1 năm 1979, Hun Sen, bộ trưởng ngoại giao của chính phủ Phnom Penh do Việt Nam dựng lên, kể rằng chính phủ mà ông vừa giúp lật đổ, là “chế độ diệt chủng man rợ của bè lũ Pol Pot, công cụ của chính sách bành trướng của Bắc Kinh”.
Một thập kỉ sau, Hun Sen viết trong một tiểu luận rằng “Trung Quốc là gốc rễ của tất cả những tội ác ở Campuchia” - và có lý do chính đáng để nói như thế. Sau khi chế độ Pol Pot sụp đổ vào năm 1979, Trung quốc tiếp tục yểm trợ cho đến năm 1991, mỗi năm hàng trăm triệu USD nhằm chống lại Phnom Penh.
Đáng chú ý là câu chuyện cuối cùng của Hun Sen về sự sụp đổ của Pol Pot - một bộ phim tài liệu được chiếu trên giờ vàng trên TV Campuchia vào ngày 3 tháng 1 vừa rồi, và sau đó phát lại cả trên truyền hình lẫn trên mạng – không có một từ nào nói tới Trung Quốc.
Bộ phim dài 90 phút này đã nói loanh quanh về vấn đề Trung Quốc, trong khi tìm cách đánh bóng Hun Sen, như một người anh hùng, giữa làn sóng đàn áp, dẫn đến việc giải thể đảng đối lập Đảng Cứu quốc Campuchia (Cambodia National Rescue Party) và bỏ tù lãnh đạo Kem Sokha, trước cuộc bầu cử toàn quốc vào ngày 29 tháng 7 tới, bằng những cáo buộc về kế hoạch “cách mạng màu” do Mỹ lãnh đạo.
Rất nhiều thay đổi đã diễn ra trong bốn thập kỷ qua. Lãnh đạo của Trung Quốc và Việt Nam đã thay đổi nhiều lần, và trong số những nhân vật chính của những sự kiện năm 1979, chỉ còn một mình Hun Sen - và bây giờ thấy mình cũng như Pol Pot ngày xưa: phụ thuộc vào sự ủng hộ của Trung Quốc.
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới thăm Phnom Penh từ ngày 10 đến 11 tháng 1, với món quà là 19 hiệp định về viện trợ và đầu tư. Ông ta cũng mang theo di sản còn lại cuối cùng của tính chính danh trên trường quốc tế. Cả Mỹ lẫn EU đều đã rút một số khoản viện trợ và hiện đang đe doạ xóa bỏ các đặc quyền về thương mại nhằm phản ứng lại việc Hun Sen đàn áp đảng đối lập của nước này.
Bộ phim, Hành quân cứu nước (Marching Toward National Salvation), được xây dựng xung quanh cuộc phỏng vấn kéo dài với Hun Sen, với những người thân cận của ông ta, và một số quan chức Việt Nam, và đã thận trọng để tránh nhắc tới sự ủng hộ của Trung Quốc đối với Khmer Đỏ nhằm chống lại cuộc xâm lăng của Hà Nội. Cuối cùng, câu chuyện biến thành vụ phong thánh cho Hun Sen.
Câu chuyện quen thuộc về việc những người nổi dậy Khmer Đỏ được Việt Nam hậu thuẫn đã lật đổ chế độ diệt chủng do Bắc Kinh ủng hộ đã bị quy giản thành câu chuyện về Hun Sen, lúc đó mới 25 tuổi, chạy trốn khỏi cuộc thanh trừng của chế độ mà ông từng phục vụ, và sau đó bỏ ra 18 tháng để thuyết phục Việt Nam đem quân vào.
“Hun Sen vừa là chỉ huy quân đội vừa là chiến lược gia chính”, người kể chuyện trong phim nói như thế, sau khi Hun Sen trừng trị Khmer Đỏ và thuật lại vụ chạy trốn của ông ta tới Việt Nam sau khi vụ thanh trừng của Pol Pot lan đến khu vực của ông vào tháng 6 năm 1977.
Ngay cả những nhân vật được Hà Nội ủng hộ trong câu chuyện về vụ lật đổ Pol Pot - chủ tịch sáng lập Đảng Nhân dân Campuchia, Chea Sim, và chủ tịch nhà nước trong những năm 1980, Heng Samrin, cũng chí được nhắc tới duy nhất một lần, ở phần cuối phim. Theo bộ phim, hai người này – từng là những trụ cột chính của tam đầu chế quyền lực của đảng cầm quyền Campuchia - chỉ đơn giản là đã lãnh đạo “cuộc nổi dậy”, giúp thực hiện kế hoạch xâm nhập do một mình Hun Sen điều khiển.
“Không phải ngẫu nhiên mà Hun Sen trở thành nhà lãnh đạo”, chỉ huy trưởng cảnh sát quốc gia, Sao Sokha, một đồng minh thân cận của Hun Sen, nói thêm. “Tất cả quân đội lúc đó đều muốn nghe Hun Sen. Họ muốn nghe nhiều hơn nữa những lời giáo huấn của ông”.
Tuy nhiên, trong câu chuyện mới này về việc Hun Sen chống lại Khmer Đỏ, người ta đã làm lu mờ ảnh hưởng to lớn của vận động trong khu vực giữa đồng minh quan trọng duy nhất của Trung Quốc là Pol Pot, một bên, và Việt Nam cùng đồng minh của mình là Liên Xô, ở phía bên kia.
Sau vụ đổ vỡ quan hệ Xô - Trung trong những năm 1960, Trung Quốc tỏ ra thận trọng trước những kẻ thù tiềm tàng ở châu Á - từ Nhật Bản và Hàn Quốc ở phía Bắc, đến Việt Nam, Philippines và các nước đòi chủ quyền trên biển Đông khác ở phía Nam - nhưng họ lo lắng nhất trước các tính toán của Liên Xô.
“Đến năm 1975”, Andrew Mertha viết trong tác phẩm Brothers in Arms: Chinese Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979, “viễn cảnh về việc Trung Quốc bị Liên Xô ngăn chặn ở phía Bắc, và ở phía Nam thì bị Việt Nam, đồng minh của Moscow, cản trở, làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày càng lo lắng thêm”.
Metha viết, việc Khmer Đỏ giành được quyền lực ở Campuchia vào tháng 4 năm 1975, tạo ra “cơ hội để Trung Quốc làm dịu bớt ảnh hưởng của trục Việt-Xô” - trong khi “sự thù nghịch của chế độ mới với Việt Nam, hình thành từ nhiều thế kỷ căng thẳng sắc tộc ... làm cho Phnom Penh tách ra khỏi Hà Nội và Moscow”.
Trong khi Trung Quốc đang ngày càng cảnh giác với những tính toán của Liên Xô ở Đông Nam Á và liên minh với Việt Nam sau vụ đổ vỡ quan hệ Xô - Trung-Xô, thì chính Việt Nam lại đang ngày càng quan tâm hơn tới những tính toán của Trung Quốc về quyền bá chủ ở châu Á sau khi Mỹ rút lui.
Trong bộ phim này, Hun Sen tiến gần nhất đến việc công nhận nền địa chính trị là đoạn ông ta giải thích về giai đoạn kéo dài 18 tháng, kể từ khi tới Việt Nam năm 1977 và vụ đưa quân Việt Nam vào Campuchia, tháng 12 năm 1978. Việt Nam, ông thủ tướng nói với những lời lẽ đầy hối hận, ban đầu đã bác bỏ các yêu cầu của ông ta, bằng cách nói rằng Campuchia là nước có chủ quyền.
Nhưng thái độ của Việt Nam đã thay đổi khi Khmer Đỏ tiến hành một loạt cuộc đột kích đặc biệt dã man vào Việt Nam, thảm sát nhiều thường dân. Người dẫn chuyện kể rằng, tháng 5 năm 1978, các quan chức Việt Nam đã cho Hun Sen thấy rằng họ đã sẵn sàng chấp nhận yêu cầu của ông này và bắt đầu đưa điệp viên Campuchia, được binh lính Việt Nam trợ giúp, quay về làm công tác trinh sát, trước khi đưa quân đội vào.
Người ta đã không nhắc đến những vụ xâm nhập lớn đầu tiên của Việt Nam vào Campuchia, tháng 9 và tháng 12 năm 1977, nhằm đẩy lui các cuộc tấn công của Khmer Đỏ - lúc đó Khmer Đỏ tuyên bố rằng lực lượng Việt Nam chỉ còn cách thủ đô Phnom Penh 50 dặm.
Hun Sen đề cập đến chuyện này ở giữa phim, khi ông ta nhận xét rằng Khmer Đỏ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Hà Nội vào ngày 31 tháng 12 năm 1977. Các lực lượng Việt Nam rút lui vào ngày 6 tháng 1 năm 1978, một năm và một ngày trước khi họ giành chiến thắng cuối cùng.
Về phần mình, Trung Quốc khuyên Khmer Đỏ hạn chế bớt các cuộc tấn công của họ vào Việt Nam sau quân đội nước bắt đầu rút lui vào đầu năm 1978, vì không muốn bị lôi kéo vào một cuộc xung đột không cần thiết giữa lân bang phía nam và đồng minh hiếm hoi ở Campuchia.
Tuy nhiên, những cuộc cướp bóc và khiêu khích của Khmer Đỏ ở Việt Nam – dù bề ngoài có phi lí tới đâu, khi Khmer Đỏ tuyên bố trên radio rằng họ có thể đánh bại các lực lượng Việt Nam nếu mỗi người Campuchia giết được 30 lính Việt Nam – chỉ làm cho Khmer Đỏ và Trung Quốc xích lại gần hơn.
Trung Quốc không muốn mất Campuchia, đồng minh duy nhất của họ ở Đông Nam Á, vào tay Liên Xô. Mặc dù không cung cấp viện trợ quân sự nhằm chống lại cuộc xâm lăng của Việt Nam vào tháng 1 năm 1979, nhưng họ vẫn ủng hộ Pol Pot trong suốt 12 năm sau đó, nhằm làm mất ổn định kẻ thù của họ là Việt Nam, chính quyền bù nhìn ở Phnom Pênh, và làm cho đất nước này sa lầy trong cuộc chiến không bao giờ chấm dứt ở Campuchia.
Rất nhiều, nhưng không phải tất cả đều thay đổi trong 40 năm qua.
Tương tự như Pol Pot trước đây, Hun Sen gắn tuổi thọ về chính trị của ông ta vào Trung Quốc, nước này, một lần nữa lại nhìn thấy các lực thù địch trên khắp châu Á trong khi họ tìm cách nâng địa vị của mình thành bá chủ khu vực và vui mừng vì có đồng minh mạnh mẽ ở Phnom Penh.
Mối đe dọa của Liên Xô đã không còn, nhưng các cuộc tấn công chính trị gay gắt của Hun Sen vào tất cả những thứ mang nhãn hiệu Mỹ ở Campuchia, là chất keo kết dính ông ta với Trung Quốc để mong được giúp đỡ, có thể được coi như những cuộc tấn công tương tự của Pol Pot vào Việt Nam: đây là tôi, hay con tốt của siêu cường Trung Quốc.
Mặc dù Hun Sen chưa bao giờ nói rõ được màu sắc chính trị của “cuộc cách mạng màu” đang lên men nhằm chống lại ông ta, do đảng đối lập được lòng dân của Campuchia khởi xướng, khi ông giải tán chế độ dân chủ 25 năm tuổi của nước này do Liên Hiệp Quốc dựng lên vào cuối năm ngoái, nhưng mục tiêu mà ông ta nhắm tới, cả trong phe đối lập lẫn trong xã hội dân sự còn mong manh là tiếng nói của người Mỹ.
Tờ The Cambodia Daily, là tờ báo tiếng Anh do người Mỹ làm chủ, ra đời cách đây 24 năm, đã bị buộc phải đóng cửa - nhưng tờ Phnom Penh Post, do người Australia làm chủ thì không. Hai chương trình phát thanh do người Mỹ quản lý, Voice of America và Radio Free Asia đã bị đóng cửa - hai phóng viên của họ thì bỏ tù vì “tội gián điệp” – nhưng chương trình của Radio France International thì không.
Học viện Dân chủ Quốc gia (National Democratic Institute) do Mỹ tài trợ bị đóng cửa – trong khi Viện Konrad Adanaeur của Đức, từng làm việc tích cực với phe đối lập trong việc phát triển các chính sách, thì không bị động tới. Thông điệp gửi tới Trung Quốc là rõ ràng.
Hun Sen chỉ là nhân vật mới nhất trong một dây các nhà lãnh đạo Campuchia neo sự tồn tại lâu dài và di sản của mình vào Trung Quốc, như siêu cường khu vực.
Pol Pot cũng không phải là người đầu tiên.
Vua Norodom Sihanouk, người khai sinh nền độc lập của Campuchia vào năm 1953, cũng đã chuyển hướng mạnh mẽ về phía Trung Quốc trong giai cai trị cuối cùng của ông. Ông đã đi xa hơn, đến mức cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ vào năm 1965, vì tin rằng tương lai của châu Á phụ thuộc vào Trung Quốc.
Cả Pol Pot lẫn Sihanouk đều bị những nhóm lợi ích cạnh tranh với nhau trong lòng chế độ cản trở - phe thân Mỹ, do Lon Nol lãnh đạo đã lật đổ Sihanouk vào tháng 3 năm 1970, và phe thân Việt Nam, Hun Sen nằm trong số những nhà lãnh đạo, đã lật đổ Pol Pot và Khmer Đỏ vào tháng 1 năm 1979.
Hun Sen có thể đã chứng tỏ là giỏi hơn cả hai người kia trong việc chọn thời điểm trong ván bài của Trung Quốc. Nhưng, như một người tự tuyên bố là suốt đời nghiên cứu lịch sử và địa chính trị, ông ta sẽ được tha thứ vì đã lo lắng cho đảng của mình.
Lại liên quan đến địa bàn của Nguyễn Thanh Nghị, con trai Ba Dũng. Chuyện gì đây ? Thế này thì còn ai dám đến Phú Quốc du lịch nữa ? Lỡ vi phạm pháp luật như luật giao thông có khi cũng bị đem ra phố bêu danh. “Đây không đơn giản là việc làm tự phát của một cá nhân, mà là có tổ chức của Cơ quan Công an. Xét thấy việc làm rất phản giáo dục và phản cảm. Luật nào cho phép hành xử như vậy? Việc làm có dấu hiệu làm nhục người khác, cá nhân tổ chức bị xâm hại có quyền khiếu nại, khởi kiện hoặc thậm chí tô cáo để yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật”.
Công an bêu danh người mua bán dâm giữa phố
30/1/2018 - (PLO)- Trên mạng xã hội facebook đang lan truyền đoạn clip dài hơn 4 phút, trong đó thể hiện hình ảnh lực lượng công an đưa 3 người phụ nữa và một thanh niên ra giữa đường, bêu tên họ về hành vi chứa chấp, mua bán dâm. Công an đưa hai người bán dâm, một người mua dâm ra giữa đường đọc tên, nêu hành vi mua bán dâm của họ. Xem Clip trong trang gốc.
Công an bêu danh người mua bán dâm giữa đường
Clip ghi rõ cảnh công an cầm micro đọc rõ to hành vi mua bán dâm của họ, yêu cầu bước lên cho người đi đường nhìn mặt. Theo đó là nội dung được đọc công khai về một vụ bắt mua bán dâm, chứa chấp mại dâm và đề nghị UBND huyện Phú Quốc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính…
Theo tìm hiều của Pháp Luật TP.HCM, sự việc xảy ra tại đường CMT8, thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang vào chiều 29-1.
Chưa hết, vị công an còn lần lượt đọc tên và mời những người có liên quan đang đứng xếp hàng ngang lên phía trên và có lời giới thiệu về nhân thân, vụ việc vi phạm có liên quan… Như với thanh niên mua dâmthì giới thiệu họ tên ngụ ở đâu, do hoàn cảnh độc thân chưa vợ nên tìm đến mua vui, rồi cô tiếp viên họ tên, quê quán ở tỉnh trong đất liền, ra Phú Quốc để làm ở quán…
Những cô gái bán dâm bịt mặt vì xấu hổ.
Để rộng đường dư luận, đầu giờ chiều 30-1, PV báo Pháp Luật TP.HCM đã liên hệ với Trưởng Công an thị trấn Dương Đông, tuy nhiên vị này không nghe điện thoại. Trong khi đó một phó trưởng công an huyện Phú Quốc dù nghe điện thoại nhưng khi PV giới thiệu tên và xưng cơ quan công tác thì vị này vội nói đang đi xe ngoài đường và cúp máy.
Trước vụ việc trên, sau khi coi clip, Luật sư Nguyễn Văn Đức – Phó trưởng văn phòng Luật sư Vạn Lý – TP Cần Thơ cho biết: “Đây không đơn giản là việc làm tự phát của một cá nhân, mà là có tổ chức của Cơ quan Công an.
Xét thấy việc làm rất phản giáo dục và phản cảm. Luật nào cho phép hành xử như vậy? Việc làm có dấu hiệu làm nhục người khác, cá nhân tổ chức bị xâm hại có quyền khiếu nại, khởi kiện hoặc thậm chí tô cáo để yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật”.
Trong khi đó, Luật sư Trần Nguyễn Duy Thăng (Đoàn Luật sư TP Cần Thơ) cho biết: “Theo quan điểm của tôi bất kỳ công dân nào đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu người nào đó vi phạm thì xử phạt họ tùy theo mức độ vi phạm. Hiện nay, việc mở phiên tòa xét xử lưu động cũng đã không còn nên việc công an phát loa về vụ việc vi phạm hành chính như vậy là xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người này. Vậy thì lại càng không đúng và chưa phù hợp với quy định pháp luật. Luật đâu có việc mang loa đi hô to tờ trình như vậy.
Theo Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
Bên cạnh đó, Ðiều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: "Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ". Do đó, trong trường hợp này, người bị nêu tên bên trên có quyền làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền (cơ quan công an, tòa án nhân dân…) để được giải quyết theo đúng trình tự của pháp luật”.
GIA TUỆ http://plo.vn/an-ninh-trat-tu/cong-an-beu-danh-nguoi-mua-ban-dam-giua-pho-753758.html
Bản quyền hình ảnhREUTERSImage captionQuốc hội Mỹ thông qua đạo luật Caatsa hồi tháng 8 mặc dù tổng thống Trump phản đối đạo luật này
Tổng thống Nga Vladimir Putin nói danh sách những người Nga vừa được Mỹ công bố là nhắm vào toàn bộ nhân dân Nga.
Danh sách vừa công bố bao gồm 210 người Nga trong một phần luật trừng phạt của Mỹ vì cáo buộc Moscow can thiệp bầu cử Mỹ.
Ông Putin nói danh sách là hành động không thân thiện nhưng cũng nói ông không muốn leo thang tình hình.
Mỹ vừa công bố danh sách 114 nhà chính trị gia Nga và 96 doanh nhân lớn trong một phần của đạo luật nhằm trừng phạt Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ. Nhưng Mỹ cũng nói danh sách không mang tính "trừng phạt".
Chính phủ Mỹ được yêu cầu đưa ra danh sách này sau khi Quốc hội thông qua đạo luật "chống lại những đối thủ của nước Mỹ thông qua trừng phạt" (CAATSA) hồi tháng 8.
Đạo luật này nhằm trừng phạt Nga vì can thiệp vào cuộc bầu cử của Mỹ năm 2016 và những hành động mới đây của Nga với Ukraine.
Quốc hội Mỹ muốn liệt kê và tố cáo những cái tên đã hưởng lợi từ mối quan hệ mật thiết với Tổng thống Vladimir Putin và thông báo rằng họ có thể trở thành mục tiêu của các lệnh trừng phạt trong tương lai.
Những người có mặt trong danh sách?
Được nhắc đến một cách không chính thức là "Danh sách Putin", danh sách chưa được phân loại này có đến 210 cái tên. Trong đó, 114 người làm việc trong chính phủ hoặc có mối quan hệ mật thiết với chính phủ, hoặc là các doanh nhân chủ chốt.
96 người còn lại là những doanh nhân lớn có tài sản hơn một tỉ đôla.
Hầu hết các đồng minh lâu năm của ông Putin cũng bị nêu tên, rất nhiều trong số đó là siloviki (những cố vấn an ninh) gồm giám đốc Cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB) Alexander Bortnikov và giám đốc Cục Tình báo đối ngoại (SVR) Sergei Naryshkin.
Trước đó ông Putin cũng đã từng điều hành FSB.
Bản quyền hình ảnhPA/EPAImage captionÔng chủ Chelsea, Roman Abramovich và Thủ tướng Dmitry Medvedev cũng nằm trong danh sách
Những người nắm giữ và kiểm soát các nguồn năng lượng của Nga cũng bị liệt kê bao gồm giám đốc hãng Gazprom - Alexei Miller, giám đốc hãng Rosneft - Igor Sechin và giám đốc điều hành các hãng dầu khí khác cùng với giám đốc của những ngân hàng hàng đầu của Nga như giám đốc ngân hàng Rossiya - Yuri Kovalchuk.
Các đầu sỏ chính trị còn bao gồm Kirill Shamalov, người được cho là con rể của ông Putin, mặc dù Kremlin chưa bao giờ xác nhận cuộc hôn nhân của ông với Katerina Tikhonova, hay thông tin Katerina là con gái của ông Putin.
Các đầu sỏ kinh tế nổi tiếng khác cũng có mặt trong danh sách này như những ông chủ của các câu lạc bộ hàng đầu tại Anh như Alisher Usmanov (Arsenal) và Roman Abramovich (Chelsea).
Liệu họ sẽ đối mặt với những lệnh trừng phạt mới?
Không phải vào thời điểm này. Tài liệu từ Bộ Tài chính Mỹ nhấn mạnh: "Đây không hẳn là một danh sách trừng phạt. Việc liệt kê ra những cá nhân và các thực thể doanh nghiệp không nên được xem như là những đối tượng mà tới đây Mỹ sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt,"
Tài liệu cho biết thêm: "Việc công bố danh sách không tuyệt mật này cũng không hẳn chỉ ra được Chính phủ Mỹ đã nắm được thông tin về sự tham gia của những cá nhân trong các hoạt động phi pháp."
Mặc dù vậy, có một danh sách tuyệt mật bao gồm những thông tin chi tiết về các cáo buộc tham gia trong các hoạt động tham nhũng.
Danh sách này có ý nghĩa như nào với Nga?
Phân tích từ Steve Rosenberg, phóng viên đài BBC ở Moscow cho rằng tin tốt lành cho Kremlin đó là danh sách này không giống như một danh sách trừng phạt và nó sẽ kết thúc tại đây.
Nhưng những quan chức và "những đầu sỏ chính trị" của Nga bị nêu tên bởi bộ tài chính Mỹ cũng lo ngại cho các khả năng bị trừng phạt trong tương lai.
Trước khi danh sách này được công bố, Kremlin cũng tuyên bố Bộ Tài chính Hoa Kỳ đang cố gắng can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống của Nga.
Đạo luật Caatsa hạn chế số tiền mà người Mỹ có thể đầu tư vào các dự án năng lượng của Nga và gây ra nhiều cản trở cho các công ty của Mỹ mong muốn được hợp tác với Nga.
Nó cũng áp đặt những lệnh trừng phạt lên Iran và Bắc Hàn.
Khi ký kết đạo luật này, ông Trump kèm theo một tuyên bố cho rằng đạo luật này "có những thiếu sót nghiêm trọng".
"Với tư cách là Tổng thống, tôi có thể có được những thoả thuận tốt hơn với các quốc gia khác so với những gì Quốc hội làm," ông tuyên bố.
Dưới đạo luật Caatsa, danh sách những cái tên bị liệt kê phải được đưa ra vào hôm thứ Hai (29/1). Thực tế là nó chỉ được công bố khoảng 10 phút trước 12h đêm, phản ảnh sự lạnh lùng của ông Trump với việc này, và thể hiện sự phản đối của ông trong việc trừng phạt Nga dưới các sắc lệnh trừng phạt mới.
Trước đó, chính phủ Mỹ lập luận rằng đạo luật Caatsa đã thúc đẩy chính phủ các nước trên thế giới huỷ bỏ các hợp đồng quốc phòng trị giá hàng tỷ đôla với Nga, vì vậy các biện pháp trừng phạt thêm là không cần thiết.
"Theo hướng đó, nếu như luật này đang được thực thi thì các biện pháp trừng phạt cấm vận đối với các công ty hay các cá nhân cụ sẽ không cần thiết bởi vì trên thực tế đạo luật này đang được sử dụng như là một biện pháp răn đe đầy cứng rắn," phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Heather Nauert cho biết.
Nga phản ứng ra sao?
Khi đạo luật Caatsa được thông qua, ông Medvedev tuyên bố điều này đồng nghĩa với việc Mỹ chính thức tuyên bố một cuộc chiến thương mại toàn diện với Nga.
Phản ứng lần này của Nga có sự dao động của một cơn giận dữ sâu sắc và một biện pháp có chừng mực hơn.
Phát ngôn viên của Kremlin, Dmitry Peskov, người nằm trong danh sách, nói thêm: "Việc công bố một danh sách như thế có thể làm hỏng hình ảnh và danh tiếng của các công ty, những nhà doanh nhân, các chính khách và thành viên lãnh đạo."
Bản quyền hình ảnhREUTERSImage captionThủ tướng Nga Dmitry Medvedev nói Nga sẽ "bình thản" tiếp tục phát triển kinh tế bất chấp các biện pháp chế tài mới nhắm vào nước này
Ông nói thêm: "Đây không phải là lần đầu tiên nước Nga ở trong tình thế mà có những bình luận thiếu tích cực hướng về phía chúng ta, vì thế chúng ta không được nhân nhượng."
Nhà hoạt động đối lập Nga Alexei Navalny khen ngợi việc công bố các cái tên và gọi đây là "danh sách tốt".
Nguyễn Quang Dy - Quốc gia không có bạn hay thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn (“Nations have no permanent friends or foes, they only have permanent interests”) Lord Palmerston. Trong dòng chảy ồn ào của năng lượng bóng đá, bỗng văng vẳng bên tai câu sấm của cụ Tản Đà “dân hai nhăm triệu ai người lớn, nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Không biết câu đó có vận vào vận nước hay không, nhưng nhiều người Việt vẫn hồn nhiên và bình chân như vại. Đúng là “Hà Nội không vội được đâu!”
Jim Mattis và Trần Đại Quang
Ngày 19/1/2018, tại Đại học John Hopkins, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis đã công bố phiên bản rút ngắn của Chiến lược Quốc phòng – National Defense Strategy (NDS), chỉ vài ngày trước khi đi thăm Đông Nam Á. Chiến lược Quốc phòng (NDS) và Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) là hai văn kiện quan trọng nhất để ấn định chính sách của chính quyền Trump sau một năm cầm quyền. Như tình cờ, ông Mattis đến thăm Việt Nam (24-25/1/2018), chỉ vài ngày trước lễ kỷ niệm 50 năm “Tết Mậu Thân”. Tại Hà Nội, ông Mattis đã gặp các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam (một quốc gia cựu thù, nay thành đối tác chiến lược). Sau khi thông báo tàu sân bay USS Carl Vinson sẽ đến thăm Đà Nẵng (tháng 3/2018) bộ trưởng quốc phòng Mattis đã đến thăm chùa Trấn Quốc như một cử chỉ có ý nghĩa tượng trưng.
Trong không khí tràn đầy phấn khích (như lên đồng) sau mấy trận thắng ngoạn mục của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam (trừ trận chung kết bị thua sát nút hơi đáng tiếc), chúng ta hãy bình tĩnh thử giải mã một chuỗi sự kiện diễn ra đầu năm 2018 trong quan hệ Mỹ-Việt (Từ NDS đến USS Carl Vinson đến chùa Trấn Quốc) xem có gì đặc biệt.
Chiến lược Quốc phòng mới
Trước hết, NDS 2018 đã thay thế cho “Quadrennial Defense Review” (cứ bốn năm một lần chính quyền Mỹ xem xét lại chính sách quốc phòng). Định hướng mới của NDS là “cạnh tranh, răn đe, và chiến thắng” (compete, deter, and win). Với ngôn ngữ sắc gọn và thẳng thừng (pithy and blunt), NDS đặt trọng tâm phải ưu tiên chuẩn bị cho khả năng xảy ra xung đột trước mắt, tăng cường hoạch định chiến lược và hợp đồng tác chiến với đồng minh và đối tác. NDS chuyển hướng bố trí lực lượng để tập trung đánh thắng “một cường quốc lớn”, phù hợp với trọng tâm chiến lược cạnh tranh (với Trung Quốc và Nga). NDS dựa trên mô hình tác chiến toàn cầu để có thể “tiêu diệt, cơ động, và dẻo dai” (lethal, agile, and resilient).
NDS 2018 xác định 5 thách thức lớn nhất đối với lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ là (1) Trung Quốc, (2) Nga, (3) Bắc Triều tiên, (4) Iran, (5) khủng bố, nhưng Mỹ sẽ tập trung vào Châu Á-Thái Bình Dương và Châu Âu là hai khu vực được ưu tiên cao nhất, trong khi khoanh lại những bất ổn tại Trung Đông. Trong khi Mỹ dự kiến sẽ cạnh tranh quyết liệt với Trung Quốc và Nga, tại Biển Đông và Biển Hoa Đông cũng như Châu Âu, có lẽ Trung Quốc mới là đối thủ số một (first among equals) mà Mỹ phải đối phó trong bàn cờ chiến lược mới, nhằm bảo vệ nước Mỹ (homeland) và để cạnh tranh tại các “vùng xám” (gray zones).
NDS 2018 xác định “cạnh tranh nước lớn” với Trung Quốc và Nga là hai mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia (chứ không phải khủng bố). Đây là lần đầu tiên (kể từ 9/11) Trung Quốc và Nga đã thay thế chủ nghĩa khủng bố như là mối đe dọa lớn nhất. Theo ông Mattis, trọng tâm chiến lược của Mỹ là phải giành lại lợi thế cạnh tranh với Trung Quốc và Nga. NDS 2018 là một bước điều chỉnh căn bản (tuy vẫn là “rượu cũ bình mới”). Ngày nay, “những người săn rồng” (dragon slayers) đang mài sắc vũ khí chống Tàu, trong khi “những người yêu gấu trúc” (panda-huggers) dường như đang bị gạt ra rìa hoặc phải lánh mặt (sidelined or gone hiding). Alibaba của Jack Ma từ lâu muốn mua công ty MoneyGram nhưng bị Mỹ vận dụng luật Đầu tư Nước ngoài ngăn chặn với lý do an ninh quốc gia. Một số doanh nghiệp Trung Quốc khác như ZTE và Hoa Vy (Huawei) cũng bị Mỹ phạt hoặc ngăn cấm.
NDS 2018 phải giải quyết hai vấn đề nổi cộm hiên nay là “tư tưởng tác chiến” (operational concepts) và “đào tạo quân sự chuyên nghiệp” (professional military education). Ông Mattis đã phải dùng đến những lời lẽ nặng nề để chỉ trích tình trạng đào tạo hiện nay là “trì trệ, chỉ chú trọng đến việc đạt điểm bắt buộc, làm phương hại năng lực chiến đấu và sáng tạo” (stagnated, focused more on the accomplishment of mandatory credit at the expense of lethality and ingenuity). Vì vậy, “lợi thế so sánh của chúng ta đã bị xói mòn trong mọi lĩnh vực chiến tranh” (our competitive advantage has eroded in every domain of warfare).
Muốn thực sự thay đổi tình trạng thiếu sẵn sàng chiến đấu hiện nay, Mỹ phải tăng ngân sách quốc phòng (sẽ công bố trong vài tuần tới). Ngân sách quốc phòng (dự kiến hơn $600 tỷ) phải ưu tiên cho việc “xem xét lại bố cục hạt nhân và hệ thống chống tên lửa đạn đạo (Nuclear Posture Review and Ballistic Missile Defense Review). Nếu không duy trì đầu tư theo yêu cầu để khôi phục khả năng sẵn sàng chiến đấu và hiện đại hóa quân đội nhằm đáp ứng tình hình mới, Mỹ sẽ mau chóng mất ưu thế quân sự và năng lực hợp đồng tác chiến. Ông Mattis cũng cảnh báo là chính phủ Mỹ có thể phải đóng cửa vì “hết ngân sách”, và nếu điều đó xảy ra thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động quân sự gồm huấn luyện, bảo dưỡng, và tình báo.
NDS 2018 rõ ràng mang đậm dấu ấn của ông Mattis, chắc được sự ủng hộ của ông McMaster (Cố vấn An ninh Quốc gia) và ông John Kelly (Chánh văn phòng Nhà Trắng) là ba ông tướng trong “trục người lớn”, cùng ông Rex Tillerson (Ngoại trưởng) tuy vai trò Bộ Ngoại Giao bị suy yếu. Nếu ông Rex Tillerson mất chức và được thay bằng ông Mike Pompeo (Giám đốc CIA) như đồn đoán thì đây vẫn là nhóm trụ cột có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc, đang có ưu thế sau một năm chính quyền chập chững không có chiến lược rõ ràng. Ông Mattis và Lầu Năm góc có lập trường cứng rắn tại Biển Đông, đã thông báo tàu sân bay USS Carl Vínon sẽ thăm Việt Nam (3/2018), và cử tuần dương hạm USS Hopper tuần tra gần Scarborough Shoal (17/1/2018) trước khi ông đi Việt Nam. (“In the Trump Era Vietnam Is Less Sure of Its Bet on U.S. Ties”, Joshua Kurlantzick, World Politics Review, Jan 29, 2018).
Hợp tác chiến lược Mỹ-Việt
Trong chuyến thăm Việt Nam, ông Mattis đã nhấn mạnh hai nước là “đối tác có suy nghĩ giống nhau” (like-minded partners) cùng chia sẻ các giá trị như tôn trọng luật lệ quốc tế và quyền tự do hàng hải tại Biển Đông. Đây là sự “phối hợp, cộng tác, và tham vấn bình thường” (normal coordination, collaboration, consultation) trong quan hệ hai nước, bỏ lại những vấn đề quá khứ sau lưng để bắt đầu một thời kỳ mới. Người phát ngôn bộ Quốc phòng Mỹ thông báo hai bên đã nhất trí để tàu sân bay USS Carl Vinson đến thăm Đà Nẵng vào tháng 3/2018. Ông Mattis cũng khẳng định “Mỹ không đánh đổi Biển Đông lấy Triều Tiên”, và nhấn mạnh trong NDS 2018 Mỹ cam kết cộng tác với các đối tác trong khu vực như Việt Nam để duy trì trật tự dựa trên pháp luật và hướng tới một “khu vực Indo-Pacific tự do và rộng mở”.
Trong Chiến lược Quốc phòng (NDS) công bố 1/2018, và Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) công bố 12/2017, Chính quyền Trump tập trung vào cạnh tranh nước lớn với với Trung Quốc trong mối tương quan với chống khủng bố và tăng cường liên kết với đồng minh và đối tác ở Châu Á-Thái Bình Dương. NDS xác định quan hệ đối tác của Mỹ với Indonesia và Việt Nam là “cơ chế liên kết an ninh” (networked security architecture) để thúc đẩy “khu vực Indo-Pacific tự do và rộng mở” (a free and open Indo-Pacific). Tuy vậy, cho đến nay Indonesia và Việt Nam vẫn muốn “quan hệ gần gũi nhưng không quá gần với Washington” như một phần trong chính sách đối ngoại đa phương của họ (Diplomat, January 23, 2018).
Gần đây, quan hệ hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt đã có nhiều tiến bộ, nhất là sau các chuyến thăm Mỹ của lãnh đạo Việt Nam như Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang (7/2013), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (7/2015), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (5/2017). Hai bên đã thảo luận về hợp tác chiến lược, bao gồm việc Mỹ sẽ cho tàu sân bay đến thăm Việt Nam. Tháng 8/2018, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch đã gặp bộ trưởng Bộ Quốc phòng Jim Mattis tại Wasington để trao đổi cụ thể hơn về vấn đề này. Hai nước tiếp tục thúc đẩy hợp tác chiến lược theo nội dung “Bản Ghi nhớ” (MOU, ký năm 2011), “Tuyên bố Tầm nhìn Chung về Quan hệ Quốc phòng” (JVS, ký năm 2015), “Kế hoạch hành động 3 năm giai đoạn 2018-2020” và các thoả thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước. Theo giáo sư Alexander Vuving, “Việt Nam nắm chìa khóa cân bằng lực lượng ở khu vực” (Vietnam holds a key to the regional balance of power). (“The Evolution of US- Vietnam Ties”, Eleanor Albert, CFR, November 9, 2017).
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng (George Mason University), các nước khu vực hiểu rằng Tổng thống Trump có thể ve vãn Trung Quốc (vì Triều Tiên), nhưng ông Mattis có lập trường cứng rắn với Trung Quốc. Chiến lược Quốc phòng mà ông Mattis vừa công bố nhấn mạnh Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh chiến lược số một. Tại một hội nghị quốc phòng tại Ấn Độ giữa Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ với Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân của Nhật và Ấn Độ, Đô đốc Harry Harris cũng cảnh báo “Trung Quốc là một lực lượng phá hoại… trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương…” và kêu gọi các nước trong khu vực phải tăng cường khả năng phòng thủ và hợp tác với nhau để bảo vệ quyền lưu thông hàng hải.
Từ lâu, Việt Nam đã muốn có một đối tác chiến lược để “cân bằng mềm” (soft balancing) với các nước lớn trong khu vực. Việt Nam muốn thăm dò xem mức độ cam kết của Mỹ thế nào và khả thi đến đâu. Trong khi đó, ông Mattis nói rõ mục đích của Mỹ là tìm cách tăng cường hợp tác quốc phòng với đồng minh và đối tác. Vì vậy trên đường đến Đông Nam Á, ông Mattis đã nói với báo chí rằng ông đến Việt Nam để lắng nghe nhiều hơn là nói. Ông muốn biết thái độ của Việt Nam đối với nhu cầu hợp tác quốc phòng với Mỹ. Ông có thể bàn về vấn đề mua bán vũ khí và tàu sân bay của Mỹ sẽ đến thăm Việt Nam trong năm nay. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam xác định chiến lược quốc phòng với Mỹ và vai trò của Mỹ trong chiến lược đó, và qua đó nói rõ nhu cầu của Việt Nam hiện nay là gì. (VOA, 25/01/2018).
Theo Diplomat (23/1/ 2018), Jim Mattis là bộ trưởng quốc phòng thứ ba của Mỹ đến thăm Việt Nam, tiếp theo các vị tiền nhiệm đã đến thăm Việt Nam là ông Leon Panetta (6/2012), ông Ash Carter (6/2015), và Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Tham mưu trưởng Liên quân (8/2014). Từ năm 2016, TNS John McCain (chủ tịch Ủy Ban Quân vụ Thượng Viện) đã thúc đẩy kế hoạch tăng cường hợp tác hải quân, bao gồm tập trận và tăng cường năng lực tuần tra biển cho Việt Nam. Theo kế hoạch này, các tàu chiến Mỹ đã đến Đà Nẵng và tập trận trên biển, rồi thăm cảng Cam Ranh. Cho tới nay, các hoạt động tập trận và tăng cường năng lực tuần tra biển cho Việt Nam mới chỉ là bước đầu. Năm 2017, Mỹ đã bàn giao cho Lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam chiếc tàu tuần tra lớn nhất (Hamilton-class Coast Guard cutter).
Tuyên bố của Trump tại APEC Đà Nẵng (10/11/2017) về tầm nhìn “Indo-Pacific Tự do và rộng mở” tuy làm dư luận chú ý, nhưng chưa làm rõ nội dung địa chiến lược. Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ (NSS, công bố 12/2017) cũng chỉ nhắc qua đến Việt Nam trong danh sách “các đối tác an ninh và kinh tế đang nổi lên” (growing security and economic partners) bên cạnh các nước khác như Indonesia, Malaysia, và Singapore. Chiến lược Quốc phòng (NDS, công bố 1/2018) đã bổ xung cho tầm nhìn “Indo-Pacific”. Trong khi đó, điểm cốt lõi trong Chiến lược Quốc phòng của Việt Nam là mở rộng và phát triển quan hệ quốc phòng ở Đông Nam Á, cũng như với các đối tác cùng suy nghĩ như Mỹ, Úc, Ấn và Nhật, để đối phó với tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông. (“Can Vietnam’s Military Stand Up to China in the South China Sea?” Derek Grossman, Rand Asia Policy vol. 13, no. 1, January 2018).
Theo khuyến nghị trong báo cáo này của Rand Corporation, “các nhà hoạch định chính sách và tư lệnh quân đội Mỹ cần tận dụng diễn biến tích cực hiện nay, nhắm vào các lĩnh vực cụ thể để hợp tác quốc phòng song phương sâu sắc hơn. Rand cho rằng Quân đội Việt Nam vì nhiều lý do “có thể chưa sẵn sàng cho một xung đột trên biển kéo dài với Trung Quốc tại Biển Đông” (likely unprepared for a sustained maritime standoff with China in the South China Sea), vì thiếu hụt về “tư tưởng tác chiến và đào tạo trong các lĩnh vực không quân và và hải quân, và khiếm khuyết về năng lực hàng hải và hợp đồng tác chiến với các loại vũ khí” (operational concepts and training in the air and sea domains to shortcomings in MDA capabilities and the interoperability of its weapon systems). Nhưng dù Mỹ có muốn giúp Việt Nam về các mặt đó thì sự hợp tác vẫn còn rất khó khăn vì lâu nay Việt Nam vẫn nghi ngờ ý đồ của Mỹ và ngần ngại không muốn tỏ ra khiêu khích Trung Quốc. (“Can Vietnam’s Military Stand Up to China in the South China Sea?” Derek Grossman, Rand Asia Policy vol. 13, no. 1, January 2018).
Trung Quốc không phản đối
USS Carl Vinson trên biển
Ngày 19/10/2017, Bộ Hải Quân Mỹ cho biết Tướng Nguyễn Chí Vịnh (thứ trưởng Bộ Quốc Phòng) cùng 11 sỹ quan Việt Nam đã đến tham quan tàu sân bay USS Carl Vinson (ngoài khơi California). Tàu này là soái hạm của Carrier Strike Group 1, lớp Nimitz, có hơn 60 máy bay chiến đấu và gần 3,000 thủy thủ. Tháng 2/2017, Carl Vinson Strike Group bắt đầu hoạt động tại Biển Đông và tháng 4/2017 được điều đến bán đảo Triều Tiên, tập trận với hải quân Nam Hàn tại Tây Thái Bình Dương và với hải quân Úc tại Ấn Độ Dương. Tháng 1/2018, Carl Vinson lại rời căn cứ San Diego (Mỹ) để triển khai tiếp tại Tây Thái Bình Dương.
Theo chuyên gia hải quân Mỹ James Holmes, tác giả của Red Star Over the Pacific: China’s Rise and the Challenge to US Maritime Strategy, “nếu chúng ta coi việc tuần tra của USS Hopper qua Scarborough Shoal là “đi qua vô hại” (innocent passage) thì chúng ta thừa nhận chính điều mà tự do hàng hải lên án: Trung Quốc có chủ quyền hợp pháp đối với Scarborough”. Mấy thế hệ người Mỹ đã được đào tạo để không dám “khiêu khích” và “làm mất lòng” người Trung Quốc khi thách thức sự bành trướng của họ. Điều này vẫn còn, bất chấp hai văn kiện chính sách mới của Mỹ là NSS và NDS vừa công bố nhằm thách thức chủ nghĩa bành trướng trắng trợn của Bắc Kinh. (National Interest, January 24, 2018).
Theo Reuters (26/1/2018), người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói họ không phản đối chuyến thăm Việt Nam của một tàu sân bay Mỹ (dự kiến đến Đà Nẵng tháng 3/2018): “Chừng nào hoạt động trao đổi quân sự này giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực, thì tất nhiên là chúng tôi không phản đối”. Tuy Bắc Kinh “không phản đối” nhưng chắc họ “không ủng hộ” và “không hài lòng”, vì họ thường “nói vậy mà không phải vậy”. Theo Carl Thayer, Trung Quốc có thể lập luận rằng Mỹ là “kẻ ngoại cuộc” ở Biển Đông, nên khi Mỹ cho tàu chiến tuần tra (FONOP) họ có thể đẩy Trung Quốc vào tình thế phải có “hành động tự vệ” như tiếp tục quân sự hóa 7 hòn đảo mà họ đã chiếm đoạt.
Năm 2010, một tàu sân bay của Hạm đội 7 đã thả neo ngoài khơi Đà Nẵng, để đón một đoàn quan chức Việt Nam đến thăm. Nhưng theo Carl Thayer, thứ nhất, USS Carl Vinson đến Đà Nẵng là một sự kiện đặc biệt vì lần đầu tiên có một tàu sân bay Mỹ cặp cảng Việt Nam. Thứ hai, Đà Nẵng có vị trí đặc biệt đối với Biển Đông, nên sự kiện này xác nhận Việt Nam ủng hộ sự hiện diện của Hải Quân Mỹ tại đây để đối trọng với Trung Quốc. Thứ ba, sự kiện này chứng tỏ Hà Nội muốn mở rộng quan hệ quân sự với Washington. Trung Quốc “không phản đối” là vì họ không làm gì được, như là “một chuyện đã rồi” (fait accompli).
Việc “Trung Quốc không phản đối” USS Carl Vinson đến thăm Việt Nam có thể được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Trung Quốc có thể lấy cớ để xây dựng thêm các hạng mục quân sự trên các đảo họ chiếm đoạt ở Biển Đông. Họ không phản đối có thể ám chỉ rằng tàu Mỹ hiện diện (để làm ổn định tình hình) thì được, nhưng tuần tra (FONOP) thì không được. Theo Thayer, Bắc Kinh không phản đối vì không muốn làm thay đổi quan hệ quân sự với Washington. “Trung Quốc và Mỹ đã có các hoạt động quân sự chung, và họ đã từng cho tàu sân bay Mỹ đến thăm Hong Kong”. Việc phản đối có thể làm gián đoạn quan hệ quân sự của Trung Quốc với Mỹ, trong đó có việc tàu chiến Trung Quốc đến thăm Mỹ (Hawaii).
Tại sao chọn Đà nẵng
Trong chuyến thăm Việt Nam, ông Mattis đã khen kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vào loại nhanh nhất khu vực, nên tự do hàng hải và việc tiếp cận Biển Đông là thiết yếu cho kinh tế và an ninh quốc gia. Việt Nam có vị trí tiếp giáp với Biển Đông nên là nước chủ chốt trong khu vực đang tranh chấp với Trung Quốc về lãnh thổ và hải đảo. Ông Mattis cũng cảm ơn lãnh đạo Viêt Nam đã ủng hộ Mỹ về vấn đề Bắc Triều Tiên. Trong buổi công bố NDS 2018, ông Mattis nói Trung Quốc là đối thủ canh tranh chiến lược, dùng “kinh tế kẻ cướp” (predatory economics) để bắt nạt các nước láng giềng, và quân sự hóa Biển Đông.
Theo một số chuyên gia, đối sách của Việt Nam hiện nay về cơ bản vẫn là dựa vào Mỹ để đối trọng với Trung Quốc như một giải pháp tình thế. Tuy Việt Nam không ưa Mỹ và sợ Mỹ nhưng vẫn cần Mỹ. Đây là một nghịch lý phản ánh tình thế “lưỡng nan” (catch-22) trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, hầu như chưa thay đổi mấy từ giữa năm 2014 đến nay, đặc biệt là trong một năm qua. Gần đây, khi Trung Quốc trắng trợn gây sức ép, dọa tấn công Trường Sa (tháng 7/2017) nếu Việt Nam không buộc hãng Repsol (Tây Ban Nha) dừng khoan dầu tại lô 136-03 (bãi Tư Chính), Việt Nam đã phải nuốt hận nhân nhượng Trung Quốc, mặc dù ngân sách thâm hụt đang rất cần tăng nguồn thu từ dầu khí. Kể từ khủng hoảng dàn khoan HD 981 (5/2014) đến khủng hoảng Bãi Tư Chính (7/2017) Việt Nam ngày càng cô đơn.
Việt Nam không biết chắc lập trường của Chính quyền Trump đối với Đông Nam Á về lâu dài như thế nào (với tình trạng “trống đánh xuôi kèn thỏi ngược”) nên phải tăng cường quan hệ đa phương với các nước như Nhật, Ấn Độ, Úc, Singapore, Nam Hàn. Việt Nam ủng hộ vai trò đứng đầu khu vực của Nhật và tranh thủ chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ, nhằm tăng cường an ninh của mình, và đối phó với tham vọng của Trung Quốc. Trong khi NDS 2018 nhấn mạnh vai trò quan trọng của Indonesia và Việt Nam là hai đối tác chính trong “Cơ chế Liên kết An ninh” (networked security architecture), chuyến thăm của ông Mattis nhằm khẳng định cam kết của Mỹ vì tự do hàng hải tại Biển Đông, và tăng cường hợp tác chiến lược với các quôc gia đó. Mỹ muốn thúc đẩy hợp đồng bán 48 máy bay chiến đấu cho Indonesia (trị giá $4,5 tỷ) và tàu sân bay USS Carl Vinson đến thăm Việt Nam. (Secretary of Defense Mattis’s Trip to Southeast Asia: A Few Thoughts, Joshua Kurlantzick, CFR, January 26, 2018).
Tuy chính sách cân bằng (hay “đu dây”) không còn hiệu lực, buộc Việt Nam phải xích lại gần Mỹ hơn, nhưng chính quyền Trump đã bỏ rơi TPP và ve vãn Trung Quốc vì vấn đề Triều Tiên, làm Việt Nam (và ASEAN) lo ngại Donald Trump có thể bỏ rơi Biển Đông. Dù Barack Obama đã bỏ cấm vận vũ khí, mở rộng cửa cho hợp tác chiến lược, nhưng Việt Nam vẫn sợ Trung Quốc trả đũa nếu xích lại quá gần Mỹ, và nếu để Mỹ sử dụng lá bài chiến lược Cam Ranh để đối trọng với Trung Quốc. Tuy đó có thể là một lý do hai bên chọn Đà Nẵng để tàu sân bay Mỹ cập bến, nhưng cũng còn có những lý do khác để lý giải quyết định này.
Một số chuyên gia lập luận rằng họ chọn Đà Nẵng vì gần mỏ khí Cá Voi Xanh (cách đất liền có 100 km). ExxonMobil đã ký hợp đồng trị giá $10 tỷ với PetroVietnam (13/1/2017). Đây là dự án dầu khí lớn nhất Việt Nam, có thể đóng góp cho ngân sách tới $20 tỷ, trong khi Việt Nam đang rất bí ngoại tệ để trả nợ đến hạn ($10-12 tỷ/năm). Dự kiến hai bên sẽ chính thức khởi động dự án khai thác khí vào cuối năm 2017. Nhưng ngày 7/11/2017 đại điện ExxonMobil đột ngột quyết định hoãn dự án này đến năm 2019, làm dấy lên tin đồn là Trung Quốc gây sức ép để dừng dự án này, mặc dù cựu CEO của ExxonMobil là Rex Tillerson (ngoại trưởng Mỹ). Nếu đúng như vậy thì thì khủng hoảng bãi Tư Chính (lô 136 của Repsol) có thể lặp lại với dự án Cá Voi Xanh (lô 118 của ExxonMobil) và với Ấn Độ (lô 128 của ONGC Videsh).
Nhưng kịch bản cũ của Trung Quốc có hiệu quả hay không còn phu thuộc vào thái độ của Mỹ và Ấn Độ (là hai cường Quốc Hải Quân). Nói cách khác, Mỹ và Ấn Độ không phải là Tây Ban Nha, và hai cường quốc này đang liên kết với Nhật và Úc để hình thành “Tứ giác Kim cương” (như một “Mini NATO”) tại khu vực “Indo-Pacific tự do và rộng mở”. Vì vậy, sự kiện tàu sân bay USS Carl Vinson đến thăm Đà Nẵng (mặc dù chưa phải Cam Ranh) có thể là một tín hiệu răn đe mới đối với Trung Quốc, vừa nhằm bảo vệ lợi ích cụ thể của ExxonMobil, vừa có ý nghĩa tượng trưng để triển khai Chiến lược Quốc phòng mới của Mỹ.
Theo Greg Poling (AMTI director, CSIS), sẽ là một sai lầm nếu dựa vào thiện chí của Trung Quốc... vì cơ hội hoàn tất một bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông đang tắt dần. Trong khi đó, có vẻ như chẳng bao lâu nữa máy bay chiến đấu của Trung Quốc sẽ bắt đầu hoạt động đều đặn từ các căn cứ không quân ở Trường Sa… Trung Quốc đang ở tư thế sẵn sàng cho những cuộc leo thang mới ở Biển Đông. Đây sẽ là hồi chuông cảnh tỉnh cho nhiều người…Nó cũng đặt ra cả thử thách và cơ hội cho Chính quyền Mỹ, nhưng đến nay Washington vẫn làm quá ít để chuẩn bị đối đầu với thử thách lẫn nắm bắt cơ hội. (“Why a South China Sea Diplomatic Breakthrough Is Unlikely”, Gregory Poling, Foreign Affairs, January 25, 2018).
Thăm Chùa Trấn Quốc
Jim Mattis ở chùa Trấn Quốc
Không biết ông Mattis có mê tín hay không, nhưng ngày 25/1/2018 giữa các cuộc gặp cấp cao, đã đến thăm chùa Trấn Quốc (tại Hồ Tây, Hà Nội) như để “cầu an”. Trao đổi với nhà sư trụ trì, ông Mattis ca ngợi không gian thanh bình của ngôi chùa cổ gắn liền với sự ra đời của nhà nước đầu tiên ở Việt Nam. Sự quan tâm đến lịch sử, văn hóa Việt Nam của ông Mattis cho thấy ông muốn tạo dựng lòng tin với người Việt. Theo tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, chuyến viếng thăm chùa Trấn Quốc của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ “mang tính biểu tượng để gửi đi một thông điệp về sự tôn trọng và hiểu biết về lịch sử của ông Mattis đối với Việt Nam”. (“Tàu sân bay Mỹ sẽ có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam”, VOA, 26/01/2018).
Dư luận cho rằng ông Mattis là người có lập trường cứng rắn với Trung Quốc, nên viếng thăm chùa Trấn Quốc còn gửi đi một thông điệp sâu sắc hơn. Theo Lê Hồng Hiệp, “Bản thân chữ Trấn Quốc liên quan đến bảo vệ đất nước và lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh bị đe dọa từ phương Bắc. Tôi nghĩ chuyến thăm ngôi chùa này của ông Mattis còn gửi đi một thông điệp là Mỹ có thể tăng cường hợp tác với Việt Nam để giúp Việt Nam bảo vệ tốt hơn lãnh thổ quốc gia của mình, giống như ý nghĩa của tên ngôi chùa đó.”
Chỉ ba ngày sau khi ông Mattis rời Hà Nội, một phái đoàn khác do bà Tina Kaidanow, (phó trợ lý ngoại trưởng về quan hệ chính trị-quốc phòng) đã đến Việt Nam để tham gia cuộc đối thoại lần thứ chín về chính trị, an ninh và quốc phòng song phương (từ 28/1 đến 4/2/2018). Dư luận cho rằng phái đoàn này sẽ tập trung làm việc với phía Việt Nam về các vấn đề cụ thể, có thể gồm công tác chuẩn bị cho chuyến thăm của USS Carl Vinson, và khả năng Việt Nam mua vũ khí của Mỹ (như máy bay tuần tra săn ngầm P-3C Orion, và máy bay trực thăng tấn công Supra Cobra AH-1W). Tuy hai bên đều có nhu cầu mua/bán vũ khí và thiết bị, nhưng đến nay công việc này vẫn dậm chân tại chỗ (vì những lý do “nhạy cảm”!).
Thay lời kết
Trong không khí sôi sục (như lên đồng) sau vài thắng lợi ngoạn mục (tuy chưa trọn vẹn) của đội tuyển U23, những sự kiện hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia dường như bị lu mờ. Năm Đinh Dậu sắp hết và Tết Mậu Tuất sắp đến, làm nhiều người Việt nhớ lại bi kịch Tết Mậu Thân (cách đây một nửa thế kỷ) với những tâm trạng khác nhau. Một nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng Việt Nam dường như vẫn loanh quanh tại ngã ba đường như sa lầy hay bị nhốt trong cái hang tối của ý thức hệ. Tuy Việt Nam cần đồng minh, nhưng muốn thoát ra khỏi hang phải tự mình, vì không ai có thể làm thay được. Trong dòng chảy ồn ào của năng lượng bóng đá, bỗng văng vẳng bên tai câu sấm của cụ Tản Đà “dân hai nhăm triệu ai người lớn, nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Không biết câu đó có vận vào vận nước hay không, nhưng nhiều người Việt vẫn hồn nhiên và bình chân như vại. Đúng là “Hà Nội không vội được đâu!”
NQD. 30/01/2018 Tác giả gửi cho viet-studies ngày 30-1-18 http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_DauNamNhinLaiMyViet.html
30/01/2018 - Căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" là tổ chức khủng bố. Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tiền thân là tổ chức “Tân Dân Chủ”. Tổ chức có trụ sở đặt tại 2807 Anaheim, CA 92814, Mỹ; điện thoại 7605233011; trang web: chinhphuquocgia.com, cuutuchinhtri.org, phamvanlong.com, cpqgvnlt.com.
Họ và tên: Đào Minh Quân
Đối tượng cầm đầu, chỉ huy gồm: Đào Minh Quân còn có tên Đào Văn (66 tuổi tại Thừa Thiên - Huế), quốc tịch Mỹ, trú tại Santa Ana, California, Mỹ, tự xưng “Thủ tướng” của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Quách Thế Hùng (70 tuổi, trú tại 5386 Somerset St, Los Angeles, California 90032, Mỹ); Kelly Triệu còn có tên gọi khác là Triệu Thanh Hoa (50 tuổi, quốc tịch Mỹ); Phạm Lisa còn gọi là Phạm Anh Đào (39 tuổi, trú tại 614 Progressive Way, Denmark, South California 29042, Mỹ).
Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” do Đào Minh Quân (nguyên Trung úy Ngụy) cùng một số đối tượng ngụy quân, ngụy quyền thành lập năm 1991, tại Mỹ.
Các hoạt động khủng bố:
Sau khi thành lập, Đào Minh Quân và số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đến các trại tỵ nạn người Việt ở Hồng Kông và các nước Đông Nam Á tuyển mộ lực lượng, đưa về Việt Nam theo đường hồi hương để tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại.
Năm 2015, số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chỉ đạo cơ sở móc nối, lôi kéo phát triển lực lượng, thành lập các “chí nguyện đoàn” trong nước; khảo sát tìm địa điểm lập căn cứ, mua vũ khí nhằm thực hiện các hoạt động manh động, khủng bố, nhưng đã bị cơ quan An ninh Việt Nam kịp thời phát hiện ngăn chặn, bắt, xử lý 4 đối tượng (Hà Ngọc Hân, Mai Xuân Nghĩa, Lương Tuấn Vinh, Nguyễn Văn Hội).
Riêng Mai Xuân Nghĩa lẩn trốn sang Lào, sau đó xâm nhập về nước cùng với Đào Quang Thực lên kế hoạch mua vũ khí tấn công khủng bố nhưng bị cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bắt giữ.
Năm 2017, số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” bên ngoài ráo riết phát triển lực lượng, thành lập các nhóm “Phượng Hoàng”, “Mãng Xà”, “Biệt động quân”, “Đại Việt” nhằm khủng bố, phá hoại, ám sát cán bộ; chúng đã cử 2 thành viên là Phan Angel (Phan Thị Đào, 62 tuổi, quốc tịch Mỹ) và Nguyen James Han (Nguyễn Thanh Hân, 51 tuổi, quốc tịch Mỹ) về nước cung cấp tài chính và trực tiếp chỉ đạo hoạt động.
Theo sự chỉ đạo của số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, các đối tượng trong nước đã thực hiện ném bom xăng gây cháy 320 chiếc xe tại Kho tạm giữ xe vi phạm giao thông của Công an TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 8-4-2017; đặt bom xăng tại nhà xe và cổng ga đến quốc tế sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất ngày 22-4-2017 và tiến hành khảo sát, lên kế hoạch gây cháy, nổ trụ sở các cơ quan công quyền và một số nhà máy, xí nghiệp nhưng đã bị cơ quan chức năng Việt Nam ngăn chặn.
Tháng 4-2017, cơ quan chức năng Việt Nam đã khởi tố, bắt tạm giam 15 đối tượng là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” (Điều 84 BLHS Việt Nam năm 1999); tháng 12-2017, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa vụ án trên ra xét xử và tuyên phạt các đối tượng từ 4 đến 16 năm tù.
* “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… là phạm tội “Khủng bố”, “Tài trợ khủng bố” và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Lý lịch 7 đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" ở nước ngoài
1. Đối tượng Đào Minh Quân Họ và tên: Đào Minh Quân; Bí danh: Minh Quân, Anh Thương; Sinh: 27/7/1952; Quê quán: Kỳ Hương, Tam Kỳ, Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: PO BOX 2807 ANAHEMIM, CA 92814, Mỹ; Quốc tịch: Mỹ; Vai trò trong tổ chức: “Thủ tướng” tự xưng của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Tháng 8/2017, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân về tội “Khủng bố chống chính quyền nhân dân” theo Điều 84 BLHS Việt Nam.
2. Đối tượng Kelly Triệu Thanh Hoa
3. Đối tượng Lâm Ái Huệ
4. Đối tượng Phạm Thị Anh Đào
Họ và tên: Phạm Thị Anh Đào; Bí danh: Lisa Phạm; Sinh: 4-6-1979 tại TP. Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: 614 Progressive Way, Denmark, South California 29042, Mỹ; Quốc tịch: Mỹ; Vai trò trong tổ chức: Thành viên tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, nhiệm vụ kích động khủng bố, phá hoại manh động chống phá Việt Nam; Tháng 8-2017, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Phạm Lisa về tội “Khủng bố chống chính quyền nhân dân” theo Điều 84 BLHS Việt Nam.