Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Người đàn ông làm một bài thơ gây phiền lụy cho hai người đàn bà mê thơ


Tác giả Nguyễn Vĩnh hào hứng đọc thuộc vanh vách bài "Người đàn bà thơ" rồi kể lại đại ý: bài thơ này được ông sáng tác khoảng năm 2008. Trước đó một thời gian, tình cờ ông nhận được điện gọi, thư nhắn, cùng những lời thăm hỏi mong kết bạn sáng tác của cô Thy Minh từ Lâm Đồng gửi ra. Chị Thy Minh có gửi lời mời ông: Nếu vào Nam hay đi Tây Nguyên thì gặp nhau kết tình thi hữu. Người chưa gặp, nhưng gặp qua thơ đã nhiều, nhất là qua tập thơ Dấu thời gian của Thy Minh gửi tặng. Trong hồn Nguyễn Vĩnh đã rất cảm kích. Một ngày đẹp trời, tình thơ bật ra ngọn bút, ông làm một hơi bài thơ “Người đàn bà thơ” và gửi tặng Thy Minh. Theo thời gian, vì những lý do riêng của hai người, sau khi người tặng thơ - người nhận thơ, họ đã dần thưa liên lạc và ngừng hẳn. Cũng ứng với thời gian đó (khoảng năm 2010 - 2011), qua các phương tiện truyền thông và các “Kênh Câu lạc bộ Thơ”, tác giả thơ Nguyễn Thị Thanh Long ở Sài Gòn bỗng một ngày liên lạc với Nguyễn Vĩnh...


NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀM MỘT BÀI THƠ GÂY PHIỀN LỤY CHO HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ MÊ THƠ

NGÔ KIM ĐỈNH

Thời gian qua dư luận trên báo chí và mạng xã hội của những người yêu thơ bàn tán nhiều về bài thơ “Người đàn bà thơ”. Sự bình luận ở đây không nhằm vào giá trị nội dung hoặc nghệ thuật của bài thơ, mà có vấn đề liên quan chủ yếu đến hai người đàn bà cũng yêu thơ, làm thơ và một chút về “người thật” sáng tác ra bài thơ ấy. 
Chuyện ban đầu đơn giản là: bài thơ “Người đàn bà thơ” không có mặt trong tập thơ mới Những ký âm ngân của tác giả Nguyễn Thị Thanh Long, nhưng ở tập thơ mới ấy của chị (đã được xét trao tặng thưởng giải hằng năm của Hội Nhà văn TP.HCM) lại có một bài khác nằm trong “nghi án đạo thơ”. Lập tức, trên mạng xuất hiện ý kiến phản đối tập thơ này vào cơ cấu giải thưởng, cho dù sau đó Hội Nhà văn TP.HCM kết luận chị không đạo thơ mà chỉ chịu ảnh hưởng từ một bài thơ của tác giả khác, đồng thời chị cũng đã xin rút khỏi giải thưởng. Ngoài ra, dư luận cũng phê phán bài thơ “Người đàn bà thơ” là đạo văn - không phải của Nguyễn Thị Thanh Long khi chị đăng trên mạng xã hội cách đây mấy năm. Chị Thy Minh nhận bài “Người đàn bà thơ” là của mình. Sau đấy, lại xuất hiện bút tích và vật chứng, chứng minh bài thơ “Người đàn bà thơ” là của tác giả - nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Vĩnh (Hội viên Hội VHNT tỉnh Phú Thọ). Vậy, thực hư nghi án văn chương này thế nào?.

Sáng thứ 7 ngày 20.01.2018, khoảng 8h30’ tôi gọi cổng nhà thi sỹ Nguyễn Vĩnh ở trung tâm thị xã Phú Thọ. Ra mở cổng là một “Người trai” đứng tuổi, tóc muối tiêu mượt mà, xoã lưa thưa bồng bềnh trên “khuôn trăng” phúc hậu thật nghệ sỹ. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh đấy. Một giáo viên từng dạy chuyên toán có uy tín và là người làm thơ quen thuộc của Phú Thọ. 

                                             
Nguyễn Vĩnh và Ngô Kim Đỉnh



Thời tiết sáng nay đã ấm hơn, nên ở nhà, Nguyễn Vĩnh ăn mặc nhẹ nhàng, quần bò áo thun. Trông ông nhanh nhẹn lắm, so với cái tuổi 74. Đợi làm đôi chén trà nóng, hỏi thăm vài câu xoay quanh chuyện nhà, chuyện tập thơ mới ra của ông. Tôi đặt vấn đề: Ông hãy kể lại việc “ra lò” bài thơ và việc tặng thơ cho hai người đàn bà ra sao?.

Tác giả Nguyễn Vĩnh hào hứng đọc thuộc vanh vách bài "Người đàn bà thơ" rồi kể lại đại ý: bài thơ này được ông sáng tác khoảng năm 2008. Trước đó một thời gian, tình cờ ông nhận được điện gọi, thư nhắn, cùng những lời thăm hỏi mong kết bạn sáng tác của cô Thy Minh từ Lâm Đồng gửi ra. Chị Thy Minh có gửi lời mời ông: Nếu vào Nam hay đi Tây Nguyên thì gặp nhau kết tình thi hữu. Người chưa gặp, nhưng gặp qua thơ đã nhiều, nhất là qua tập thơ Dấu thời gian của Thy Minh gửi tặng. Trong hồn Nguyễn Vĩnh đã rất cảm kích. Một ngày đẹp trời, tình thơ bật ra ngọn bút, ông làm một hơi bài thơ “Người đàn bà thơ” và gửi tặng Thy Minh. Theo thời gian, vì những lý do riêng của hai người, sau khi người tặng thơ - người nhận thơ, họ đã dần thưa liên lạc và ngừng hẳn. 

Cũng ứng với thời gian đó (khoảng năm 2010 - 2011), qua các phương tiện truyền thông và các “Kênh Câu lạc bộ Thơ”, tác giả thơ Nguyễn Thị Thanh Long ở Sài Gòn bỗng một ngày liên lạc với Nguyễn Vĩnh. Hoá ra chị Thanh Long có quê gốc chính là thị xã Phú Thọ - nơi mà thi sỹ đa tình Nguyễn Vĩnh đang sinh sống và sáng tác. Thế là bạn thơ thêm lý do để giao lưu và gửi gắm tình thơ. Lại cảm kích trước tình cảm và tâm hồn thơ đồng điệu và diệu vợi... thế nào, Nguyễn Vĩnh lại chép tặng người bạn thơ mới bài thơ cũ “Người đàn bà thơ”. Ông còn gửi kèm theo lời nhắn: Em toàn quyền sử dụng. Rồi thời gian cứ trôi, lại thời gian thử thách đây, tác giả Nguyễn Vĩnh cũng ít liên lạc với chị Thanh Long. Và đến một hôm gần đây, Nguyễn Vĩnh chợt biết chuyện buồn do bài thơ gây ra với hai người... 

Ra về, xuôi theo đê sông Thao mùa gió lạnh, lòng tôi cũng gờn gợn buồn theo những nông nỗi ngẫu nhiêu, thậm chí đến trái khoáy ở cuộc sống này. Làm thơ, yêu thơ, yêu mến - đồng cảm với bạn thơ là lẽ đẹp ở đời. Phải có và đã có rất nhiều tình bạn văn chương đẹp trong làng văn nghệ Việt Nam. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi yếu tố “ngoại biên - tình ngay lý gian”, mà mọi người quan tâm phải chia sẻ, nhường nhịn và biết đủ - biết dừng. Quan tâm đến thơ đến văn chương đã đẹp, quan tâm đến Con Người còn đẹp hơn, giàu có ý nghĩa hơn. Nếu cần phản đối chuyện “đạo văn”, thì chúng ta kiên quyết phản đối hành vi “ăn trộm” văn của người khác “biến” thành của mình, đã và đang diễn ra đây đó trong làng văn, làng báo Việt Nam - chứ không phải ở trường hợp này.



Nguồn: Trang web Hội nhà văn TPHCM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trường hợp hy hữu!

Ông Đoàn Ngọc Hải kiên quyết từ quan

HUY THỊNH
TPO - Thành uỷ, UBND TPHCM đã gặp gỡ, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và động viên ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ tịch UBND quận 1 tiếp tục công tác nhưng ông Hải kiên quyết xin từ chức.

Sáng 23/1, nguồn tin riêng của Tiền Phong cho biết Thành uỷ TPHCM đã gặp ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ tịch UBND quận 1 để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và cả những bức xúc (nếu có) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời động viên ông Hải rút đơn, tiếp tục công tác nhưng ông Hải vẫn kiên quyết xin từ chức.

“Chúng tôi đã đề nghị ông Hải suy nghĩ kỹ và sắp tới sẽ tiếp tục gặp một lần nữa. UBND TPHCM cũng đã gặp ông Hải rồi. Nếu ông Hải vẫn kiên quyết thì Ban Thường vụ Thành uỷ và UBND TPHCM sẽ xem xét, xử lý theo quy định”, nguồn tin của Tiền Phong cho biết.

Như Tiền Phong đã thông tin, tại cuộc họp kiểm điểm của Ban Thường vụ Quận ủy quận 1 diễn ra ngày 8/1, ông Đoàn Ngọc Hải đã bất ngờ nộp đơn xin từ chức.

Trong đơn, ông Hải cho biết khi được phân công làm Phó chủ tịch phụ trách mảng đô thị vào tháng 3/2016, ông nhận thấy trật tự vỉa hè, lòng lề đường là nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung giải quyết dứt điểm bởi vấn đề này đã tồn tại hàng chục năm nay không giải quyết được, trong khi quận 1 là bộ mặt của TPHCM.

Ông Hải viết: "Là người đảng viên, tôi đã kiên định vượt qua mọi khó khăn, sự chống phá công khai và ngấm ngầm, sự đe dọa đến sinh mạng bản thân, gia đình từ các đối tượng bị mất nguồn lợi phi pháp từ lấn chiếm tài sản công và không gian sống của xã hội".

Theo ông Hải, quá trình triển khai lập lại trật tự vỉa hè từ tháng 1 đến tháng 10/2017, quận 1 đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa khắp cả nước, được Thủ tướng đánh giá cao và giao các địa phương thực hiện.

Tuy nhiên, nhìn nhận lại, ông Hải đánh giá mình đã không thực hiện được lời hứa trước nhân dân, trước kỳ vọng của các lão thành cách mạng về việc lập lại trật tự vỉa hè nên ông xin từ chức Phó chủ tịch UBND quận 1, xin thôi ủy viên Ban Thường vụ quận 1, thôi làm đại biểu HĐND quận 1 và bày tỏ mong muốn sau khi về làm dân sẽ tìm giải pháp căn cơ giúp người nghèo mưu sinh.

Trả lời báo chí về việc ông Đoàn Ngọc Hải xin từ chức, Chánh Văn phòng UBND TPHCM Võ Văn Hoan cho biết Thành phố đã giao Sở Nội vụ phối hợp với UBND quận 1 gặp riêng ông Hải để nắm rõ tâm tư, nguyện vọng, xác định rõ nguyên nhân dẫn đến việc xin từ chức để đề xuất giải quyết phù hợp, thấu tình đạt lý.

Bên hành lang hội nghị triển khai công tác cải cách hành chính diễn ra ngày 9/1, trả lời báo chí về năng lực của ông Đoàn Ngọc Hải, Chủ tịch UBND quận 1 Trần Thế Thuận cho rằng việc đánh giá cán bộ là vào dịp kiểm điểm cuối năm.

Về phía Ban Thường vụ quận uỷ cũng như thường trực UBND quận 1 cũng đã có có cuộc họp theo quy định và đánh giá ông Hải cũng có mặt được, mặt hạn chế trong nhiệm vụ của mình.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân viên thương vụ Việt Nam ‘mua vây cá mập cho gia đình’



>> Những ai đã “quy hoạch băm nát thủ đô”?
>> Huế: Lo ngại mất biệt thự tuyệt mĩ kiến trúc Pháp vì dự án khách sạn
>> Đà Nẵng: Ông Vũ “nhôm” kiếm hơn 140 tỉ từ dự án Harbour Ville bằng cách nào?

BBC - Đại sứ quán Việt Nam tại Chile xác nhận số vây cá mập, bị báo địa phương chụp hình, đã được một cán bộ thương vụ mua tại chợ 'để sử dụng trong gia đình'.

Thông cáo được truyền thông Việt Nam hôm 23/1 dẫn lại nói: "Văn phòng Thương vụ Việt Nam báo cáo số vây cá mập trên được thân nhân của một cán bộ thuộc văn phòng mua tại chợ dân sinh ở trung tâm thủ đô Santiago de Chile để sử dụng trong gia đình".

Sứ quán Việt Nam nói họ đang làm việc với bộ ngoại giao Chile để "phối hợp xác minh", và "sẽ xử lý nghiêm nếu có vi phạm" trong vụ phơi vây cá mập này.

Vụ việc gây xôn xao mấy ngày qua bắt đầu từ bài báo trên tờ El Mostrador của Chile cho hay vây cá mập được nhìn thấy trên nóc tòa nhà thương vụ của Đại Sứ Quán Việt Nam tại Chile, ở địa chỉ 2897 Eliodoro Yáñez, thủ đô Santiago.

Theo đó, bức ảnh được chụp ngày 18/1 khi người dân báo cáo ngửi thấy mùi hôi bốc ra từ khu vực Đại Sứ Quán.

Bài báo cũng cho hay cộng đồng khoa học quốc tế bày tỏ sự 'bối rối và kinh ngạc' trước sự việc.

Theo mô tả từ bài báo, các vây cá mập này xuất hiện trên mái nhà Đại Sứ Quán Việt Nam từ ngày 13/1. Hàng xóm cho hay ban đầu chỉ thấy một số lượng nhỏ, nhưng năm ngày sau thì đã có ít nhất 100 cái.

Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam Trần Tuấn Anh ngày 22/1 đã yêu cầu các đơn vị chức năng của bộ gồm Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ, Thương vụ Việt Nam tại Chile báo cáo, giải trình về sự việc.

Bộ Công thương cũng gửi văn bản tới Bộ Ngoại giao đề nghị phối hợp, chỉ đạo Đại Sứ Quán Việt Nam tại Chile xác minh sự việc.

"Mua ở chợ"?

Thông cáo của ngành ngoại giao Việt Nam cho hay số vi cá mập này được mua tại chợ dân sinh ở trung tâm thủ đô Santiago, theo báo Tuổi Trẻ.

Nhưng tờ El Mostrador dẫn lời chuyên gia bảo vệ cá mập Max Bello của The Pew Charitable Trust nói: "Chile không có trung tâm chế biến nào để lấy vây cá".

"Có thể quan sát thấy đây là những vết cắt tươi, có thể thấy cả cấu trúc xương", bài báo trên El Mostrador viết.

"Số vây cá mập được cho là đang trải qua quá trình phơi khô, một giai đoạn trước khi xử lý các yếu tố độc hại để tạo nguyên liệu cho món canh đắt nhất thế giới: súp vây cá mập. Món ăn này được tiêu thụ chủ yếu ở Trung Quốc và Việt Nam. Mỗi năm có thêm gần 100 triệu con cá mập bị giết trên thế giới."

"Ở Chile, việc cắt xén vây cá mập còn sống và sau đó ném thân cá xuống biển từng bị phát hiện và xử phạt. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên những mảnh vi cá mập được phát hiện đang trong quá trình sấy khô,"

Ông Alex Munoz - giám đốc National Geographic khu vực Mỹ La Tinh - phát biểu: "Không thể tin được. Tôi luôn muốn biết rằng vây cá được phơi khô ở đâu nhưng tôi không thể ngờ rằng người ta phơi ngay trong khu vực trung tâm Providence. Đây là lần đầu tiên tôi thấy điều này tại Chile".

Ông Matías Asun, giám đốc Greenpeace, chỉ ra rằng "cá mập là một loài nguy cấp, từ nhiều năm nay, các tổ chức bảo vệ động vật đã cố gắng bảo vệ loài này. Việc bắt và cắt vây cá mập, thường được sử dụng trong nhà bếp, là một hành động tàn bạo và bất hợp pháp bị xử phạt tại Chile."

Nhận định về vụ việc vây cá mập phơi trên mái Đại Sứ Quán Việt Nam, ông Matías Asun nói: "Một tình huống như thế này xảy ra ở lãnh thổ Chile là điều nghiêm trọng."

Bị cấm theo luật Chile?

Cũng theo tờ El Mostrador, "Theo luật pháp Chile, nước này cấm buôn bán và tiêu thu vây cá mập từ năm 2011. Luật cấm này áp dụng với vây của tất cả các loài cá mập, gồm 53 loài sinh sống tại vùng biển của Chile, chứ không phải chỉ vây của những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng."

"Việc phát hiện vây cá mập phơi trên nóc nhà toà đại sứ có thể gây ra một vấn đề về ngoại giao, vì nhân viên sứ quán đã lạm dụng quyền bất khả xâm phạm của các cơ sở lãnh sự để làm chuyện phi pháp."

"Vụ việc phơi vây cá mập phơi trên nóc nhà một toà đại sứ gây rúng động. Nó diễn ra vào đúng lúc bà Sylvia Earle, một trong những chuyên gia bảo vệ môi trường được kính nể nhất thế giới, đang thuyết trình về hiểm họa diệt chủng cá mập, và từ đó, hiểm họa mất cân bằng đại dương, tại hội nghị về tương lai của trái đất, một hội nghị khoa học quan trọng nhất tại Nam Mỹ."


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin buồn: THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT HỌA SĨ PHAN KẾ AN


.
.
.
.


TIN BUỒN
Chúng tôi vô cùng xúc động và kính tiếc báo tin:


Họa sĩ PHAN KẾ AN

Sinh ngày 20/3/1923 tại Hà Tĩnh. 
Quê quán: Thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm, 
thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

Ông là con trai của Khâm sai đại thần Phan Kế Toại 
từng giữ chức Bộ trưởng Nội vụ, Phó Thủ tướng 
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

 Nguyên Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa I.
Nguyên Chủ nhiệm CLB Văn Nghệ sĩ Xứ Đoài. 
đã từ trần hồi 10h13 ngày 21/1/2018, 
(tức mồng 5 tháng Chạp năm Đinh Dậu)
Hưởng thọ 95 tuổi. 
 Lễ viếng tổ chức vào hồi 7h30 đến 8h45
ngày 25 tháng 1 năm 2018.
 tại Nhà tang lễ BQP, số 5 Trần Thánh Tông, HN.
 .
Lễ an táng được tổ chức cùng ngày tại Gò Áng Độ, 
xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội.

* * *
Chúng tôi xin kính dâng lời cầu nguyện anh linh Họa sĩ Phan Kế An - người con của Đường Lâm cổ ấp thanh thản về cõi vĩnh hằng đoàn tụ cùng tiên liệt Phan tộc, trong muôn vàn thương nhớ của gia đình, thân hữu.
Và nghiêng mình chia buồn cùng toàn thể tang quyến trước mất mát vô cùng lớn lao này!


Hoạ sĩ “đại thụ” của nền mỹ thuật Việt Nam
qua đời ở tuổi 95 

Dân trí 
Thứ tư, 24/01/2018 - 10:29
 
Hoạ sĩ Phan Kế An, một trong những cây đại thụ của nền hội họa Việt Nam, họa sĩ hiếm hoi còn lại của thế hệ các họa sĩ thời kỳ mỹ thuật Đông Dương vừa qua đời lúc 10h13 ngày 21/1, hưởng thọ 95 tuổi.

Thông tin từ Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết, họa sĩ Phan Kế Anh sinh ngày 20/3/1923 tại Hà Tĩnh. Quê quán ở thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội. Ông là con trai của Khâm sai đại thần Phan Kế Toại từng giữ chức Bộ trưởng Nội vụ, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ông học khóa 18 tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux- Arts de l’Indochine), nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - 42 phố Yết Kiêu, Hà Nội. Họa sĩ Phan Kế An là một trong những hội viên đầu tiên của ngành hội họa - Hội Mỹ thuật Việt Nam ngay từ năm 1957… 

.
Chân dung họa sĩ Phan Kế An. Ảnh: Quang Việt.

Ông từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa I và đã được nhận Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huy chương Vì Sự nghiệp báo Nhân dân, Huy chương Vì Sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam; Huy chương Vì Sự nghiệp Văn học nghệ thuật.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, họa sĩ Phan Kế An tham gia hoạt động ở chiến khu Việt Bắc cùng với các họa sĩ đàn anh lúc bấy giờ là Mai Văn Nam, Tạ Thúc Bình, Vĩnh Noãn, Mai Văn Hiến, Lê Phá, Kim Đồng, Phan Thông, Nguyễn Tư Nghiêm, Tôn Đức Lượng, Nguyễn Văn Thiện..

Họa sĩ Phan Kế An thành công ở thể loại tranh sơn mài, tranh sơn dầu, mà nổi tiếng nhất là bức “Nhớ một chiều Tây Bắc” được vẽ vào mùa đông năm 1950, thời gian ông đi kháng chiến với tư cách là đặc phái viên của báo Sự Thật, bức tranh đã gợi cho họa sĩ - nhà thơ Đoàn Việt Bắc sáng tác thơ và nhạc sĩ Vũ Thanh phổ nhạc cho ca khúc “Nhớ một chiều Tây Bắc”.

Nhưng đặc biệt nhất, ông là họa sĩ đầu tiên được vẽ ký họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1948 ở chiến khu Việt Bắc và có khoảng 20 tác phẩm về Người.

Trong thời gian này ông đã sáng tác hơn 20 bức tranh về Bác, sau này được in lên báo Sự thật. Hầu hết văn nghệ sĩ tên tuổi thời đó như Nguyên Hồng, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Trần Lê Văn, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Anh Thơ... đều được ông ký họa.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Quang Việt kể: “Bố tôi (họa sĩ Quang Phòng) có lần kể, khoảng giữa năm 1947, khi bố tôi vừa về đến Bắc Kạn thì hai người bố tôi gặp đầu tiên chính là họa sĩ Tô Ngọc Vân và Phan Kế An. Trên khắp các nẻo đường kháng chiến ở Việt Bắc, có rất nhiều người nhớ đến Phan Kế An bởi ông vừa là họa sĩ (họa sĩ ngày ấy không nhiều), vừa là con trai của cụ Phan Kế Toại. 

.
Tác phẩm "Nhớ một chiều Tây Bắc" do họa sĩ Phan Kế An vẽ bằng chất liệu sơn mài 
năm 1955. Ảnh đang trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Quang Việt.

Bố tôi có một bà cô tên là bà giáo Thư, chỉ gặp ông Phan Kế An đúng một lần (khi ông cùng bố tôi ghé vào nghỉ nhờ ở Bắc Giang), mà mấy chục năm sau, bà cứ hỏi thăm “anh họa sĩ Phan Kế An” suốt.

Ông Phan Kế An khá thạo nghề y, Tây y. Ở Việt Bắc, nghe nói ông cũng đã chữa được bệnh cho một số người. Có lần, có một gia đình có người bị bệnh nhờ người ta đi gọi thầy thuốc nhưng lại dặn kỹ “Nhớ gọi ai thì gọi chứ không gọi ông Phan Kế An”. Vậy mà được tin, ông Phan Kế An vẫn vui vẻ đến chữa và chữa khỏi. Gia đình người bệnh vừa biết ơn vừa ân hận vì đã trót lỡ lời với ông Phan Kế An…

Cách đây 5-7 năm, một lần, gặp tôi, ông Phan Kế An khoe: “Tao vừa được sang thế giới bên kia, khoảng… 5 phút!” thì ra ông vừa bị một “cú” gì đó về sức khỏe liên quan đến tim, may mà ông và gia đình ông biết cách sơ cứu đúng phương pháp và ông đã “sống lại” trong bệnh viện”.

Lễ viếng họa sĩ Phan Kế An được tổ chức vào hồi 7h30 đến 8h45 tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ an táng được tổ chức cùng ngày tại Gò Áng Độ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. 

Hà Tùng Long




Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHÔNG CÓ FACEBOOK, TRUNG QUỐC ĐỨNG BÊN LỀ THẾ GIỚI!



Mac Văn Trang

KHÔNG CÓ FACEBOOK, 
TRUNG QUỐC ĐỨNG BÊN LỀ THẾ GIỚI!

Sau khi U23 VN thắng U23 Quatar 4-3 vào chung kết U 23 chấu Á, tôi tò mò đọc bài “CĐV châu Á choáng váng với chiến thắng lịch sử của U23 Việt Nam ở bán kết” trên trang VTV.vn. Chỉ sau 1 giờ, được biết: “Tính đến thời điểm này, thông báo chiến thắng của ĐT U23 Việt Nam trên trang Facebook của AFC đã nhận được hơn 13.000 lượt thích, 2.000 lượt chia sẻ và 1.800 bình luận. Con số này hứa hẹn sẽ tăng lên nhanh chóng trong những giờ tới khi kỳ tích của U23 Việt Nam đang lan tỏa rộng rãi trên các trang mạng trong nước và cả quốc tế”... Rất nhiều lời chúc mừng, khen ngợi, cảm phục... U23 VN từ các CĐV của các nước Đông Nam Á, của chấu Á, Úc châu và cả ở Hoa Kỳ... 


Nhưng tuyệt nhiên không thấy 1 CĐV nào của Trung quốc bình luận gì về U23 VN trên trang Facebook của AFC. Tôi đã nêu thắc mắc này trên FB, và 1 bạn cho biết TQ không dùng Google và Facebook, họ dùng mạng riêng do vậy không có kết nối với FB của AFC... 

Vậy ra TQ cậy to và sợ hãi, muốn bưng bít thông tin nên “một mình một chợ”, đứng bên rìa thế giới mạng xã hội toàn cầu?

Mong đừng có cái đầu ngu ngốc nào của Việt Nam, muốn học đòi TQ có mạng riêng, để người Việt bơ vơ giữa một Thế giới phẳng!

23/1/2018
MVT

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÌN CHỐNG THAM NHŨNG, CÀNG XEM CÀNG CHÁN


Những con voi tham nhũng Vũ Huy Hoàng, Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh... thuộc Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tạo ra một Chính phủ tham nhũng kinh hoàng nhất, tàn phá đất nước khủng khiếp nhất lịch sử Việt Nam.


Bài về Trung Quốc của Vũ Bồi Vân, Trần Quốc Việt dịch, 
Tôi kính trọng Vương Kỳ Sơn về nhân cách cùng ý thức trách nhiệm của ông với tư cách quan chức chính quyền, và tin ông thật sự đã làm được nhiều việc tốt. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không quan tâm đến chiến dịch chống tham nhũng hiện nay. Nó khó làm cho tôi phấn khởi hay có một chút vui thú nào, bất luận họ có thể bắt bao nhiêu quan tham đi nữa.

Vì những lý do sau:


1. Chiến dịch chống tham nhũng dù dữ dội đến mấy cũng chỉ giải quyết bề nổi của tảng băng.

Đã từ lâu, dưới thể chế này, hầu như "không có quan nào không tham"! Những ai bị đánh vì tham nhũng đúng là tham nhũng, và đa số những ai đánh tham nhũng cũng đang tham nhũng. Không có sự khác biệt căn bản giữa tham nhũng và không tham nhũng, chỉ khác ở mức độ tham nhũng. Sự kết hợp méo mó giữa chính quyền hoàn toàn trị với nền kinh tế theo thị trường đã tạo ra cường quốc tham nhũng số một xưa nay chưa từng có. 

Ngày nay có hơn mười vạn Hòa Thân, và hàng chục triệu Lưu Thanh Sơn và Trương Tử Thiện! Đối với những kẻ vẫn còn dám nói rằng "đại đa số đảng viên và cán bộ đều tốt và liêm khiết", tức họ không thừa nhận danh ngôn chí lý "quyền lực tuyệt đối đưa đến thối nát tuyệt đối"; Nói trắng ra, nói như họ là quá ngu dốt và phi lý.

Nhìn cảnh họ tổ chức khai hội “chiến dịch chống tham nhũng”, nơi tuyệt đại đa số những người ngồi trên bục và dưới bục hết thảy đều là những phần tử tham nhũng, tôi chỉ cười nhạt, và càng cười nhạt.

2. Chín mươi chín phần trăm những quan tham bị lộ chỉ là lũ chuột nhắt.

Những đại tham quan và đại gia đình tham nhũng mà cả nước hầu như ai cũng biết thật sự lại không bị chạm đến. Toàn thể gia đình họ đều tham nhũng qua nhiều đời. Trong cùng gia đình đã có người nắm quyền lực thì phải có người vơ vét tiền bạc. Tài sản của họ có thể bằng tài sản của cả nước. Tuy nhiên họ vẫn bình an vô sự. Thậm chí họ vẫn giữ đươc địa vị cao quý, cho nên họ tiếp tục tham nhũng không kiêng dè gì cả. Chuyện đời ngang ngược kỳ quái đến như vậy khiến nhân dân cả nước cực kỳ bất mãn, và đây là lý do khiến chế độ hiện nay mất lòng dân nhiều nhất.

3. Con số tham ô chính thức nhỏ hơn rất nhiều con số lưu hành ở trên mạng.

Tại sao cố tình che giấu những con số thực? Hay phải chăng sợ công chúng phẫn nộ? Hay anh cho rằng không công bố số thực thì chẳng ai biết rõ? Thực ra mọi người đều biết mức độ anh tham nhũng như thể nào dân nhìn thấu tất cả.

4. Cho dù tham nhũng đến mấy cũng chẳng ai bị tử hình.

Nên nhớ trong quá khứ các quan tham từng bị kết án tử hình. Tuy nhiên, 30 năm lại đây chuyện ấy dường như khó xảy ra. Nếu TQ xóa bỏ án tử hình thì lại chuyện khác. Nhưng TQ đã không xóa bỏ án tử hình. Không kết án tử hình các quan tham thì chẳng khác gì cho những kẻ tham nhũng chỗ dựa an toàn cuối cùng, càng khiến họ trở nên táo bạo xông lên, dồn dập hết lớp này đến lớp khác, sau khi những kẻ khác ngã ngồi xuống. 

Theo tôi, tham nhũng còn nguy hại hơn các tội khác rất nhiều. Giết người thì chỉ giết một người, hay vài người. Buôn lậu ma túy chỉ hại cuộc đời của một vài người. Nhưng tham nhũng hại cả quốc gia và dân tộc-ít ra đối với tất cả dân thường. Tham nhũng làm nhiễm độc đạo đức và lòng người trong xã hội nói chung. Nếu có một tội mà không nên xóa bỏ án tử hình, thì tội ấy chính là tham nhũng. Cần phải tăng cái giá của tham nhũng lên rất cao, và coi là trọng tội số một. Các quan tham nên bị trừng phạt nặng nề, còn tất cả của cải phi nghĩa thâu tóm được nên tịch thu hoàn toàn. Còn nếu như sau khi kẻ tham nhũng đi gặp Diêm Vương, thì mỗi xu của cải của y để lại cho người nhà kế thừa cũng phải bị tịch thu để sung vào ngân khố, để được xử dụng vì lợi ích của toàn thể nhân dân.

5. Nhân dân chẳng thấy một xu tiền bẩn tham nhũng nào.

Xin hỏi, tất cả tiền bạc tịch thu được đi đâu? Phải chăng nên giải thích rõ ràng cho nhân dân biết việc xử dụng tiền này?

6. Chiến dịch chống tham nhũng là bí mật, rất không minh bạch, và nhân dân không có quyền biết rõ ràng.

Những quan tham và những lĩnh vực có vấn đề mà nhân dân từ lâu đã phản ánh nhưng không bao giờ được điều tra và xử lý. Hội Hồng thập tự, đã điều tra xử lý chưa? Lĩnh vực xổ số, đã điều tra xử lý chưa? Lĩnh vực bệnh viện và ghép nội tạng, đã điều tra xử lý chưa? Lĩnh vực tiền phạt kế hoạch hóa gia đình, đã điều tra xử lý chưa? Những quan chức đã bị đồn đãi trong nhiều năm trời trong dân chúng và trên mạng là tham nhũng, đã điều tra xử lý chưa? Hơn nữa những quan tham đã bị điều tra trong một, hai năm, hay sau nhiều năm vẫn không bị xét xử. Bọn quan tham này hiện giờ ở đâu? Còn trước kia chỗ ẩn náu của chúng ở đâu? Hay họ có thể đã được thả ra để bí mật đi chữa bệnh? Hay họ đã lợi dụng thân thế để ra khỏi tù và nay đang kín đáo an hưởng hạnh phúc? 

Một quốc gia hoàn toàn thiếu minh bạch thì dân chúng hoàn toàn không biết gì. Thật rất khác xa với cách truyền thông tường thuật về nhất cử nhất động của Trần Thủy Biển khi ở tù-mọi thứ ông ta ăn, uống, ỉa, đái đều được kể lại rất rõ ràng. Về biện pháp "song quy" mà ủy ban kiểm tra và kỷ luật nội bộ của đảng chính trị xử dụng liệu có phù hợp với thượng tôn pháp luật hay không, tạm thời tôi không bàn đến. Nhưng rõ ràng điều này đáng tranh luận.

7. Những phần tử tham nhũng ở cái gọi là "những nhà tù cấp tỉnh".

Những quan tham cấp cao hưởng thụ cuộc sống và đãi ngộ xa hoa ở trong tù mà đa số dân thường suốt đời không bao giờ có thể hy vọng có được. Nhân quyền của những quan tham được bảo vệ, đặc biệt những người có nhân thân tốt. Đây không phải là chuyện cười siêu đẳng trong lịch sử nhà tù ở trong và ngoài nước- đối với nhân dân đây là chuyện cười mỉa mai đầy cay đắng, thật đáng khinh bỉ.

8. Cho dù chiến dịch chống tham nhũng có làm được gì chăng nữa, kết cục cuối cùng nhất định sẽ luôn luôn là tham nhũng lại càng nhiều hơn trước.

Chúng ta không cần phong trào chống tham nhũng. Cái chúng ta cần là thể chế dân chủ. Chúng ta cần nhân dân có quyền bầu ra chính quyền và giám sát chính quyền, buộc chính quyền chỉ nghe lời nhân dân. Đây chính là biện pháp chống tham nhũng mạnh mẽ nhất. Chính quyền chuyên chế mới là môi trường tốt nhất phát sinh ra tham nhũng. Cho dù phong trào chống tham nhũng có hà khắc như Chu Nguyên Chương thì cũng không giải quyết được tận gốc rễ của vấn đề. Tham nhũng mang tính thể chế cho nên chung cuộc đòi hỏi phải thay đổi thể chế để giải quyết triệt để vấn đề. Tôi có thể hiểu được tâm trạng cái gọi là "chữa cái ngọn trước để có thời gian chữa cái gốc sau", nhưng tôi hy vọng không phải chờ quá lâu để chữa cái gốc.

Tóm lại, tôi không tin và hy vọng vào chiến dịch chống tham nhũng dưới thể chế hiện nay ở TQ. Tôi cũng chẳng quan tâm đến nữa. Nhưng điều này không ảnh hưởng đến mối thiện cảm tôi dành cho Vương Kỳ Sơn. Vẫn còn một số rất ít những người lãnh đạo Đảng còn sống mà tôi hơi thiện cảm, như Chu và Vương. 

Tôi tin nếu Trung Quốc không tiến đến dân chủ càng nhanh càng tốt thì bao nỗ lực chống tham nhũng của Vương nhất định thất bại. Những phần tử tham nhũng sẽ giống như "cỏ dại lại mọc rậm rạp trên đồng mỗi khi gió ấm áp thổi về"! Giống như Chu năm xưa than thở khi từ biệt chúng ta, số phận của Vương chắc cũng không khá hơn- trừ phi Trung Quốc thật sự thấy ánh bình minh của nền dân chủ!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vụ ám sát Kirov dưới con mắt một cựu lãnh đạo KGB

Tác giả: Alexander Mikhailovich Orlov | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
Ngày 01/12/1934, đảng viên trẻ Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Nikolayev bí mật lẻn vào điện Smolny ở Leningrad dùng súng lục bắn chết Sergey Mironovich Kirov, ủy viên Bộ Chính trị, người lãnh đạo Thành ủy thành phố Leningrad. Hung thủ bị bắt ngay tại chỗ. Để điều tra vụ ám sát này, một ban chuyên án do Stalin lãnh đạo lập tức từ Moskva đến Leningrad.
Cho tới nay [1953, khi Orlov xuất bản cuốn The Secret History of Stalin’s Crimes tại New York], chưa bao giờ người ta công bố tình hình chi tiết vụ mưu sát Kirov. Nikolayev là người thế nào? Làm sao hắn ta có thể lẻn vào điện Smolny được canh gác cẩn mật? Làm sao hắn có thể bám sát và tới gần Kirov? Đâu là nguyên nhân khiến Nikolayev tiến hành hoạt động liều chết này – nguyên nhân chính trị hay nguyên nhân cá nhân? Tất cả mọi tình hình của vụ mưu sát này đều bị người ta ém nhẹm một cách thần bí.
Bản tuyên bố đầu tiên của Chính phủ Liên Xô khẳng định kẻ giết Kirov là một kẻ khủng bố Bạch vệ từ Phần Lan, Litva, Ba Lan thâm nhập vào đất Liên Xô. Sau đấy vài hôm, mấy tờ báo Liên Xô lại đưa tin các cơ quan của Bộ Ủy viên Nhân dân Nội vụ [còn gọi Bộ Dân ủy Nội vụ, tiếng Nga Народный комиссариат внутренних дел, viết tắt НКВД, ở đây chúng tôi dùng NKVD] đã bắt được 104 kẻ khủng bố Bạch vệ và đã hành quyết chúng. Rồi các báo chí bắt đầu tiến hành một đợt tuyên truyền rầm rộ chống các tổ chức Bạch vệ “đặt cơ sở tại phương Tây” (trước hết là Hội liên hiệp các binh chủng Nga). Nghe nói, các tổ chức này “đã nhiều lần cho gián điệp vào Liên Xô tiến hành các hoạt động ám sát”.
Tuyên bố nói trên, nhất là tin xử tử 104 kẻ khủng bố Bạch vệ, làm mọi người tin rằng các tổ chức kiều dân Nga có nhúng tay vào vụ ám sát Kirov, và việc này đã được cơ quan trinh sát điều tra rõ ràng. Thế nhưng, ngày thứ 16 sau hôm Kirov bị ám sát, tình hình bỗng thay đổi hẳn. Bây giờ các báo Liên Xô đều đưa tin kẻ chủ mưu ám sát Kirov là mấy người đứng đầu phái phản đối của Trosky-Zinoviev [nguyên là bạn chiến đấu của Lenin]. Như có một mệnh lệnh thống nhất từ trên xuống, tất cả các báo đều triển khai một đợt tuyên truyền chống lại các lãnh tụ phái phản đối trước đây. Lập tức Trosky, Zinoviev và rất nhiều người thuộc phái phản đối trước kia đều bị bắt giam. Nhà báo Radik luôn bám sát Stalin viết trên báo Tin Tức: “Mỗi một đảng viên đều biết là đảng ta sẽ dùng bàn tay sắt để đập tan lũ giặc ấy … Chúng sẽ bị tiêu diệt, nhổ tận gốc!”
Mọi người đều biết, Stalin vô cùng căm ghét các lãnh tụ phái phản đối trong đảng. Bởi vậy các nhà cách mạng XHCN ở nước ngoài bắt đầu lo Stalin có thể dùng cái chết của Kirov làm cái cớ khử Zinoviev và Kamenev. Vài tờ báo nước ngoài còn tung tin là hai người đó đã bị hành quyết. Chính quyền Liên Xô cho rằng cần phải đập tan luận điệu đó. Và thế là ngày 12 tháng 12, hãng tin TASS đưa tin: “Vì chưa có đủ bằng chứng phạm tội” nên vụ án Zinoviev và Kamenev sẽ không do Tòa án xét xử mà do “Hội nghị đặc biệt của NKVD” tiến hành xét xử.
Như vậy là chỉ trong thời gian hơn hai tuần, Chính phủ Liên Xô đưa ra hai cách giải thích hoàn toàn trái ngược về vụ ám sát Kirov: mới đầu quy tội cho bọn Bạch vệ từ nước ngoài bí mật lẻn vào Liên Xô; sau đó lại quy tội cho các lãnh tụ của phái phản đối trước kia. Trong tình hình đó, dĩ nhiên người dân Liên Xô nóng lòng chờ đón ngày mở phiên tòa xét xử vụ án, để xem Nikolayev sẽ nói gì trước tòa.
Thế nhưng họ bị bịt hết mọi thông tin. Ngày 28 tháng 12, Nhà nước công bố bản khởi tố khẳng định Nikolayev và 13 kẻ tòng phạm là những kẻ tham gia âm mưu ám sát Kirov. Hôm sau, báo chí đưa tin 14 tên tội phạm nói trên đã bị một tòa án bí mật kết án tử hình và bản án đã được thi hành. Trong bản khởi tố cũng như bản án đều không một chữ nhắc tới việc Zinoviev và Kamenev có tham gia âm mưu nói trên hay không.
Việc tòa án bí mật xét xử vụ Nikolayev càng làm cho mọi người không tin vào các tin tức của chính quyền, vì hai bản tuyên bố mâu thuẫn với nhau. Người ta không thể không tự hỏi: điều gì đã ngăn cản Chính phủ giao Nikolayev cho tòa án xét xử công khai (có vậy thì mới làm dư luận hết thắc mắc)? Ai cũng tin rằng kẻ giết Kirov chính là hung thủ bị bắt tại chỗ. Điều đó có gì đáng phải giữ bí mật? Đâu là lý do khiến Stalin không đưa vụ này ra xét xử công khai?
Thời gian ấy do đang công tác ở nước ngoài nên tôi chỉ có thể xem xét vụ này qua tin trên các báo. Nhưng ngay từ đầu tôi đã tin chắc đây là một thủ đoạn bẩn thỉu, cho nên tôi cho rằng hai tuyên bố của chính quyền Liên Xô đều không đáng tin.
Tôi không thể đồng ý với bản tuyên bố đầu tiên, vì thông tin nói 104 kẻ khủng bố bạch vệ bị xử bắn hoàn toàn là tin vịt. Nguyên là Tư lệnh bộ đội Biên phòng nước công hòa Xô Viết Ngoại Kavkaz, tôi biết rõ không thể nào có chuyện chừng ấy kẻ khủng bố lại có thể đột nhiên lọt vào biên giới Liên Xô được. Hơn nữa, trong tình hình thực hành chế độ chứng minh thư công dân Liên Xô rất chặt chẽ và đâu đâu cũng đặt dưới sự kiểm soát của cảnh sát thì dù thế nào, 104 tên khủng bố cũng không thể đồng thời ẩn náu tại Leningrad được. Ngoài ra, khi đưa tin vụ hành quyết nói trên, các báo đều vi phạm quy chế thông thường là công bố họ tên của kẻ bị hành quyết. Vì thế mọi người lại càng nghi ngờ các tin tức của báo chí.
Bản tuyên bố thứ hai nói Zinoviev và Kamenev có tham gia âm mưu ám sát Kirov cũng hoàn toàn bậy bạ. Từ lịch sử đảng Bonchevik Nga, tôi biết rõ xưa nay đảng phản đối mọi hành động khủng bố cá nhân, thậm chí phản đối việc ám sát Nga hoàng và các quan chức. Đảng cho rằng cách đó không có hiệu quả gì mà lại còn làm mất uy tín của cách mạng. Ngoài ra, Zinoviev và Kamenev thừa biết việc giết Kirov chính là hợp với ý muốn của Stalin, ông ta nhất định sẽ không bỏ qua dịp này để lấy cớ tiêu diệt các lãnh tụ của phái phản đối trước kia. Sự thật đúng là như vậy.
Ngày 23 tháng 1 năm 1935, tức gần một tháng sau ngày Nikolayev bị xử bắn, các báo đưa tin: Cục trưởng và Cục phó Phân cục Leningrad của NKVD cùng 10 cán bộ của họ bị cuộc họp kín của Tòa án Tối cao kết án tước đoạt tự do với tội trạng: “Đã biết tin có kẻ định ám sát Kirov nhưng lại chưa có các biện pháp ngăn chặn”.
Tôi hết sức ngạc nhiên trước sự kết tội quá nhẹ như vậy; trong số đó chỉ có một người bị án tù 10 năm, còn lại, kể cả Cục trưởng và Cục phó chỉ bị xử 2-3 năm tù. Lẽ ra, việc Kirov bị ám sát phải được Stalin coi là sự đe dọa đối với đường lối của ông ta, đồng thời cũng đe dọa chính mạng sống của Stalin. Nếu hôm nay NKVD xử qua quýt vụ ám sát Kirov, thì biết đâu ngày mai ngày kia khi Stalin rơi vào cảnh ngộ của Kirov thì sao. Những người hiểu Stalin đều biết khi ấy ông nhất định sẽ ra lệnh xử bắn Ủy viên Bộ NKVD Zagoda cùng tất cả các cán bộ phụ trách bảo vệ Kirov. Dù chỉ bắn một người nhưng cũng đủ để cả trăm người khác chớ quên họ phải dùng tính mạng mình để bảo vệ các lãnh tụ. Thế mà Stalin lại không làm như thế.
Điều làm tôi sửng sốt nhất là khi vừa nhận được tin Kirov bị ám sát, ông ta lại dám lập tức thân chinh đến Leningrad – vì tôi quá hiểu Stalin coi trọng an toàn của bản thân mình ra sao. Chuyến công cán ấy xảy ra vào lúc tình hình đang rất mất ổn định, cho thấy trong vụ này có chuyện gì không bình thường.
Stalin đặc biệt cẩn trọng đối với việc bảo vệ an toàn cá nhân mình, lúc nào ông cũng cảnh giác đề phòng bắt trăc. Thí dụ sau đây chứng tỏ điều đó.
Mọi người đều biết, mỗi lần tổ chức ngày lễ trên Quảng trường Đỏ, Stalin đều xuất hiện trên Lăng Lê-nin dưới sự bảo vệ của một đơn vị bộ đội tinh nhuệ và rất nhiều vệ sĩ đến từ Bộ NKVD. Tuy thế, Stalin luôn luôn mặc áo gi-lê chống đạn vừa dầy vừa nặng do nước Đức sản xuất riêng cho ông ta.
Để bảo đảm an toàn trên con đường đi về tòa biệt thự riêng của mình tại ngoại ô Moskva, Stalin từng yêu cầu NKVD buộc ba phần tư dân chúng cư trú dọc con đường ấy phải dọn đi nơi khác, dành nhà họ cho các cán bộ chiến sĩ NKVD vào ở. Trên quãng đường dài 35 km từ điện Kremlin đến biệt thự, suốt ngày đêm đều có người của Bộ này bảo vệ; họ chia làm 3 kíp trực, mỗi kíp 1.200 người.
Thậm chí Stalin cũng không dám tự do đi lại trong phạm vi điện Kremlin. Thí dụ mỗi lần ông đi từ phòng làm việc của mình đến Cung lớn Kremlin, các chiến sĩ bảo vệ phải dẹp hết những người có mặt dọc đường, dù họ là cán bộ cấp cao đến đâu.
Hàng năm, mỗi kỳ Stalin sắp đi nghỉ mát tại Sochi, bao giờ ông ta cũng hạ lệnh cho đoàn xe lửa chuyên dùng (đỗ ở Moskva) và chiếc tàu thủy dùng riêng (đậu tại thành phố Gorky) chuẩn bị sẵn. Có lần Stalin thích đi thẳng từ Moskva, khi ấy ông ta đáp xe lửa chuyên dùng. Có lần Stalin thích đi tàu thủy xuôi dòng sông Volga đến Stalingrad, rồi từ đó đáp xe lửa chuyên dùng đi Sochi. Mỗi lần đi nghỉ, bất cứ ai cũng không biết ông sẽ đi theo cách nào, đi vào giờ nào. Đoàn tàu cũng như tàu thủy chuyên dùng sau khi chuẩn bị xong thường phải đỗ mấy ngày chờ. Stalin chỉ thông báo cho người thân tin biết kế hoạch lên đường vài tiếng đồng hồ trước giờ xuất phát. Phía trước và sau đoàn tàu chuyên dùng bọc thép đều bố trí một toa chở đầy các chiến sĩ bảo vệ. Mọi vật phẩm hậu cần trên tàu được chuẩn bị đầy đủ tới mức có thể sống trên đó hai tuần lễ trong trường hợp đoàn tàu không chạy được, như khi bị bao vây … Cửa sổ toa xe có thể tự động đóng lại mỗi khi có báo động.
Tự xưng là lãnh tụ của giai cấp công nhân, nhưng Stalin chưa bao giờ đến thăm nhà máy nào đang có công nhân làm việc, vì sợ gặp công nhân.
Vì thừa biết Stalin cực kỳ coi trọng việc bảo vệ an toàn của mình nên tôi rất khó tin rằng ông ta lại mạo hiểm đến Leningrad trong tình hình bọn khủng bố còn đang hoạt động tại đó và các cán bộ NKVD ở đây không bảo vệ nổi Kirov. Cho nên chuyến đi Leningrad của Stalin khiến người ta cho rằng vụ ám sát Kirov là do một kẻ khủng bố gây ra thôi, thông tin về việc có cả một tổ chức khủng bố bị phát hiện hoàn toàn chỉ là tin bịa đặt
Mãi cho tới cuối năm 1935, khi trở về Liên Xô tôi mới có dịp làm rõ các bí mật trong vụ ám sát Kirov. Hồi ấy tôi đi qua Phần Lan đến Leningrad. Để được nói chuyện với Moskva bằng đường dây điện thoại chuyên dùng và đặt mua một vé tàu nhanh đặc biệt đi Moskva, trước tiên tôi đến tòa nhà Phân cục Leningrad của NKVD. Tại đây tôi gặp một trong mấy đồng chí mới được cử về đây phụ trách Phân cục này, đồng chí ấy trước kia từng cùng công tác với tôi trong thời Nội chiến. Trong khi trò chuyện, chúng tôi tự nhiên nói tới việc thay đổi nhân sự ở Leningrad sau vụ ám sát Kirov; qua đó tôi được biết hai vị Cục trưởng và Phó Cục trưởng tiền nhiệm của Phân cục này tuy có bị kết án tù vì “Vụ Kirov”, song thực ra họ chẳng hề bị bắt giam ngày nào. Theo chỉ thị của Stalin, hai vị đó được bố trí đến làm lãnh đạo Công ty “Mỏ vàng Lê-nin” tại Siberi, chuyên khai thác quặng vàng, nghĩa là vẫn được sống cuộc đời sung sướng.
Bạn tôi kể lại cho tôi biết về bầu không khí kinh hoàng ở Lenigrad do xảy ra vụ ám sát Kirov và việc Stalin đến công cán ở đây. Anh đã giúp Vụ trưởng Vụ kinh tế NKVD Mironov và Phó Thủ trưởng NKVD Akrranov tiến hành điều tra vụ ám sát.
Trước khi rời Leningrad về Moskva, Stalin đã bổ nhiệm Mironov tạm thời nhận nhiệm vụ Cục trưởng Phân cục Leningrad NKVD trong vài tháng. Trên thực tế Mironov trở thành kẻ nắm quyền ở đây. Khi tôi hỏi làm sao mà Nikolayev có thể luồn vào điện Smolny được canh gác nghiêm ngặt, bạn tôi trả lời: “Chính vì thế mà hai vị lãnh đạo Phân cục NKVD ở đây mới bị mất chức. Điều tệ hơn là vài hôm trước ngày Kirov bị giết, Nikolayev đã mấy lần định lẻn vào điện Smolny, nhưng bị ngăn lại. Giá như kịp thời áp dụng các biện pháp đề phòng thì Kirov chẳng hề hấn gì đâu.” Tôi cảm thấy buổi trò chuyện của chúng tôi chưa đi vào thực chất vấn đề, rõ ràng anh bạn tôi chưa muốn kể bất cứ chi tiết nào của vụ ám sát. Tôi bèn đứng dậy ra về; lúc ấy bạn tôi hốt hoảng hạ giọng nói: “Vụ án này nguy hiểm lắm, vì thế nếu muốn bình an vô sự thì nên biết càng ít càng tốt.”
Câu nói ấy quan trọng hơn mọi chuyện anh đã kể cho tôi nghe. Nó ngầm mách bảo tôi đoán ra hai lần thông báo của chính quyền về vụ ám sát này đều là bịa đặt cả, hơn nữa còn cho tôi biết manh mối của âm mưu đó là ở đâu. Hồi ấy ở Liên Xô chỉ có một người không bị trách cứ, và câu nói “Muốn bình an vô sự thì càng biết ít càng tốt” chỉ có thể có liên quan tới người ấy mà thôi.
Tôi tin rằng tại Moskva tôi nhất định sẽ nghe ngóng được tình hình thực sự của “Vụ án Kirov”.
Hình: Sergey Kirov (giữa) cùng Anastas Mikoyan and Joseph Stalin. Nguồn: History Today.
Xem thêm:


Phần nhận xét hiển thị trên trang