Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Người về từ đại dương


https://baomai.blogspot.com/ 
Tuần Dương Hạm Lý-Thường-Kiệt (HQ.16)

LTS: Bài này được viết theo lời kể của 15 chiến sĩ Hải-quân thuộc Tuần Dương Hạm Lý-Thường-Kiệt (HQ.16) đổ bộ lên quần đảo Hoàng-Sa hôm 17-01-1974 để hạ cờ TC và dựng lại cờ của VNCH đã bị bọn TC xâm lược phá hủy. Sau trận hải chiến 19-01-1974 và khi bị phi cơ oanh tạc, các chiến sĩ này bị mất liên lạc với chiến hạm, do đó 15 chiến sĩ Hải-quân thuộc TDH. Lý-Thường-Kiệt đã rút ra khỏi đảo bằng bè cao su. Sau 10 ngày lênh đênh đói khát trên biển cả, 15 chiến sĩ này được ngư dân cứu thoát đưa về Quân Y Viện Qui-Nhơn, tuy nhiên có một người kiệt sức và hy sinh, 14 người còn lại trong tình trạng sức khỏe khả quan.


LỆNH ĐỔ BỘ LÊN ĐẢO

https://baomai.blogspot.com/

Ngày 17-01-1974, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên quần đảo Hoàng-Sa với một nhiệm vụ rất ư là đặc biệt. Tâm trạng chúng tôi lúc này 15 người thật háo hức, không một ai lo sợ gì hết, mặc dù biết rằng đổ bộ lên đảo chắc chắn sẽ gặp trở ngại lớn, vì hiện tại trên đảo đã có một số quân Trung Cộng lén đóng trên đó. Đây chính là một thử thách tinh thần to lớn, và chúng tôi biết rằng cuộc chạm trán này thật quan trọng, không những chỉ ảnh hưởng đến Quân Chủng Hải Quân mà còn cho cả 19 triệu dân Miền Nam ngàn đời không biết khuất phục.

Bởi vậy, chúng tôi hết sức hâm hở, mặc dù biết rằng phải đối đầu với lực lượng rất hùng hậu. Đã là con cháu Hưng Đạo Vương Trần-Quốc-Tuấn, Quan-Trung, Lê-Lợi… mang giòng máu hào hùng bất khuất của tiền nhân, chúng tôi phải nối gót để tô đậm thêm cho những chiến tích lẫy lừng, Bạch-Đằng, Chương-Dương, Hàm-Tử… mồ chôn hàng vạn tinh binh Mông-Cổ. Giờ đây, thời gian đã cách xa hàng ngàn năm, nhưng chiến trường vẫn là kẻ thù xưa – Bọn Tàu đỏ xâm lược. Bởi vậy , chúng tôi háo hức, chúng tôi sôi máu, chúng tôi hãnh diện khi cầm những lá cờ Việt-Nam vàng chói cấm lên đảo để tái xác định chủ quyền VNCH trên mảnh đất xa xôi nhỏ bé nhưng đầy thân yêu này.

https://baomai.blogspot.com/

Cuộc đổ bộ bắt đầu, 15 đứa chúng tôi được hướng dẫn thật kỹ càng, khi gặp trường hợp giao tranh với lực lượng của bọn Trung Cộng, những lời dặn dò càng tránh gây hấn càng tốt, chỉ tự vệ khi thích đáng cũng như có chỉ thị mới được nổ súng.

Để phòng ngừa bất trắc, chúng tôi được trang bị vũ khí nhẹ, gồm súng phóng lựu, lựu đạn và súng cá nhân, máy vô tuyến và phao cá nhân.

Những chiếc bè cao su được hạ thấp xuống từ Tuần Dương Hạm Lý-Thường-Kiệt. Chúng tôi bắt đầu rời tàu. Nhìn đồng hồ lúc này là 7 giờ 45 phút. Trời cũng vừa hừng đông. Mặt trời đỏ hồng từ dưới biển khơi chui lên thật đẹp. Chúng tôi có cảm tưởng mặt trời bị nhuộm máu. Máu sẽ đổ trong đó sẽ có máu của những người trai Việt hào hùng chống xâm lăng, bảo vệ lãnh thổ yêu dấu của quê hương, và máu của bọn TC xâm lược sẽ đổ như cha ông của chúng ngày xưa trên sóng nước Bạch-Đằng, Chương-Dương, Hàm-Tử…

Sóng dập dềnh tung bọt trắng xóa, chiếc bè cao su nhấp nhô, không đầy 10 phút, chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình.

Những ánh mắt nhìn nhau ngời sáng, niềm tin tất thắng trong nụ cười. Chúng tôi cùng bắt tay thề sống chết có nhau. Nếu một người hay nhiều hơn trong toán bị hy sinh thì bằng mọi giá những người còn lại sẽ ăn thua đủ cùng bọn hải khấu và cố gắng đưa thân xác trở lại với gia đình.

 https://baomai.blogspot.com/

Trung úy L. trưởng toán kiểm qua một lượt quân số trước khi chúng tôi rời bè lên đảo. Mặt trời cao dần, ánh sáng thật rực rỡ, niềm tin chiến thắng càng bừng lên trong óc chúng tôi. Tay cầm những lá cờ phần phật trước gió, chúng tôi hăm hở bước trên đá và san hô lởm chởm. Khi đặt chân lên đảo, một vài ngư phủ (quân Trung Cộng trá hình) ra hiệu cho toán dừng lại nhưng chúng tôi vẫn bước đi và nhìn chúng bằng đôi mắt ngạo nghễ. Trung úy L trưởng toán căn dặn chúng tôi:

– Các bạn nên thận trọng, đừng bao giờ nổ súng trước.

Chúng tôi thi hành lệnh và vẫn lẫm liệt tiến bước. Một vài cọc sắt, một vài bảng gỗ có ghi chữ Tàu (do bọn TC mới đặt lên để tạo vết tích) bắt gặp, bị chúng tôi nhổ ngay, và thay vào đó là lá cờ Việt Nam. Lúc này chúng tôi cũng vừa nhận ra, ngoài chúng tôi còn có các đơn vị khác đang tiến vào như anh em Biệt Hải, các nhân viên chiến hạm bạn. Tinh thần chúng tôi lên thật cao. Trên đường đi, toán chúng tôi bắt gặp một số ngư phủ của TC nhìn chúng tôi bằng đôi mắt cú vọ như muốn ăn tươi nuốt sống. Chúng chưa có phản ứng gì thì kệ chúng, chưa vội gì. Nếu chúng chửi bằng mồm thì mình chửi lại, tiếng chúng chúng nghe… và chúng tôi vẫn thản nhiên cắm Cờ.

Anh bạn mang máy truyền tin vẫn liên lạc đều với cấp chỉ huy ngoài chiến hạm. Cắm cờ quốc gia trên đảo, niềm hãnh diện mọc lớn trong tâm hồn chúng tôi. Thân thể của mẹ Việt-Nam phải được nguyên vẹn. Đất đai của Việt-Nam phải vẹn toàn, một tấc đất cũng không thể mất vào tay bọn TC xâm lăng. Chúng tôi như đi ngược lại thời gian, anh em luôn miệng kể chuyện tiền nhân ta đánh Tàu, nào Ô-Mã-Nhi phải lủi như chuột, Thoát-Hoan phải chui vào ống đồng mới bảo toàn được tính mạng. Hùng khí cao lên ngất trời, chúng tôi nghỉ lúc này mà được giao tranh với địch thì sướng biết mấy.

Cắm hết số cờ có sẵn, chúng tôi chờ lệnh. Lúc này, chúng tôi vừa nhận ra trên trời cao, phản lực của địch gầm thét, ngoài biển khơi, tàu của TC xuất hiện. Chúng tôi kiểm soát lại vũ khí. Đạn đã lên nòng, bây giờ dù cho quân số địch có đông đảo cỡ nào đi nữa, chúng tôi vẫn sẵn sàng nghênh chiến, ví dù 15 người chúng tôi có hy sinh, thì ít nhất cũng phải có hàng trăm tên giặc phơi thây và chắc chúng phải kiêng nể.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, chúng tôi phải dùng lương khô tiếp tục chờ lệnh. Ngoài khơi, chiến hạm ta và chiến hạm TC cũng đang trong tư thế ghìm nhau. Chúng tôi vững bụng, nếu bọn TC không đổ quân lên đảo thì đối với bọn lính TC, ngụy trang ngư dân, thì chúng tôi cũng như các đơn vị bạn thừa sức chống trả.

Một ngày trôi qua, bình minh lại rạng rỡ, chúng tôi tiếp tục dùng lương khô và chờ lệnh. Người hạ sĩ liên lạc máy cho biết là có mấy tàu lớn của TC đổ quân lên đảo Quang Hòa. Ngoài ra, chiến hạm của ta cũng như của địch đang còn vờn nhau, chưa bên nào được lệnh nổ súng.


GIỜ PHÚT QUYẾT LIỆT

Ngày 19- 01, ngày lịch sử của trận thư hùng trên đảo đã tới. Chúng tôi được tin các chiến hạm của TC xâm lược ồ ạt vây kéo, với ý định nuốt sống những chiến hạm của ta, đồng thời, chúng cho đổ bộ thêm quân lên đảo.

Khoảng 10 giờ hơn, chúng tôi nghe hải pháo nổ ầm ầm. Thật xa, chúng tôi nhận ra các chiến hạm đang nã hải pháo vào tàu địch. Tiếng súng lớn quen thuộc của chiến hạm cùng tiếng súng lạ của tàu địch khiến cả toán nôn nóng. Trung úy L ra lệnh cho chúng tôi bình tĩnh, kiểm soát lại súng đạn. Chúng tôi hồi hộp đợi chờ và tất cả đều thầm khấn vái Đức Thánh Trần phù hộ cho đoàn hậu duệ của Ngài lập lại những chiến công hiển hách ngày xưa.

https://baomai.blogspot.com/

Trên đảo đã có nhiều tiếng nổ, chúng tôi nhận ra vài đơn vị bạn đang giao tranh lẻ tẻ với địch và chúng tôi cũng nhận ra bọn TC đang đổ hàng chục đại đội lên đảo. Lúc này địch quân đông như kiến cỏ.

Nhiệm vụ cắm cờ của chúng tôi đã hoàn tất, chúng tôi được lệnh rút ra khỏi đảo để hải pháo của ta bắn vào những vị trí đổ quân của địch.

Thời gian này thật nghiêm trọng. Không một ai lo sợ cho bản thân, mà chỉ mong sao chiến hạm toàn thắng quân thù, vì thủy thủ yêu con tàu như yêu chính bản thân mình.

https://baomai.blogspot.com/

Tiếng đạn vẫn nổ ầm ầm rung chuyển cả mặt biển khơi. Hai bên đang dàn trận quyết sinh tử.

Ra tới mép đảo, bè cao su chỉ còn lại một cái duy nhất. Trung úy L. cho biết cứ theo con sóng mà rút ra. Mười lăm người chỉ còn một chiếc bè quá nhỏ. Chiều dài khoảng 2 thước, chiều rộng chỉ 1 thước mà thôi. Một số người bơi giỏi thì bám theo bè, còn những người khác ngồi trên bè, súng cầm tay, phòng ngừa bất trắc.

Chúng tôi đi dưới làn mưa đạn của bọn TC, một vài anh em cũng đã phóng lên mấy quả M.79 khi thấy bọn TC lấp ló. Chiếc bè xa dần bờ. Đột nhiên Trung úy L. la lớn khi ông vừa thấy một cột lửa khổng lồ trên biển khơi. Mọi người hồi hộp nhìn bóng dáng con tàu đang bị cháy. Lúc này 30 con mắt chúng tôi đều mở thật lớn, 15 trái tim hầu như ngừng đập. Rồi 15 khuôn mặt rang rỡ sáng ngời. Con tàu đang bốc cháy màu đen, đó là con tàu của bọn TC xâm lược. Chúng tôi vỗ tay thật lớn, reo hò thật to, gào lên hết sức hết hơi mình để lấn át tiếng sóng của biển khơi như ngày xưa quân Nam đã reo hò trên Bạch-Đằng-Giang khi đánh tan tinh binh Mông Cổ.

Chiến thắng đến rực rỡ như ánh sáng đang ngập tràn biển khơi. Trung úy L. kêu nhân viên mang máy truyền tin liên lạc với vị Chỉ-huy Chiến-trường và được biết chiến công này do chiến hạm của chúng tôi tạo nên. Trung úy L. đề nghị hát một bài. Bản “Việt Nam, Việt Nam”. Tiếng hát rộn ràng trong nắng, vang vang trên một vùng biển khơi, tiếng hát đầy chân thành cảm động mà quên đi là tất cà đang phải vật lộn với gian nguy hiểm nghèo.

https://baomai.blogspot.com/

Trung úy L. khích lệ Tinh thần anh em. Mọi người hăng hái tay chèo.

Nắng lúc này thật gắt, bây giờ anh em mới cảm thấy khát và đói. Máy vô tuyến bị nước biển vào hư luôn. Sóng mỗi lúc một cao úp lên chiếc bè mong manh. Chúng tôi ướt như chuột lột. Tuy vậy anh em vẫn cố gắng tay chèo để vật lộn với thủy thần.


THOÁT HIỂM

Ngày lại ngày, trời nước vẫn mênh mông. Trời sáng rồi lại tối, tối rồi lại sáng… ban ngày chúng tôi phải chịu đựng với cái nắng cháy của mặt trời, da bị nứt nẻ, nước biển dính trên người đóng khô thành muối thật xót. Tối lại, cái lạnh cắt da đồng lõa với những cơn sóng phủ lên người làm mọi người tê dại. Không nước uống, không thức ăn và dù bây giờ có thức ăn đi nữa thì có lẽ cũng không ai ăn nổi vì đã kiệt sức.

Biễn vẫn mênh mông, chúng tôi không còn đủ sức để nói với nhau một câu nào. Sáng rồi lại tối, ngày này qua ngày khác, chúng tôi tính là đã được tới ngày thứ chín. Mặt trời mọc rồi lại lặn thật bình thản, mặc 15 thân xác đang đi dần vào cỏi chết. Chúng tôi chỉ còn biết xin Thượng đế, Thánh tổ phù hộ. Đến ngày thứ 10, hầu như tất cả đều ngất đi vì quá kiệt lực. Mắt chúng tôi chẳng còn thấy gì nữa, ngay cả tiếng sóng biển cũng chẳng nghe. Thân xác đã chịu đựng quá giới hạn con người. Nắng, gió, sương lạnh, và những cơn sóng lớn cùng thiếu thực phẩm và nươc uống đã khiến chúng tôi tuyệt vọng, chờ chết.

Cho đến lúc chúng tôi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên một ghe chài của dân. Trong số 15 người, chỉ có một vài người … mở mắt được, nhưng cũng chẳng nói được lời nào, chỉ lờ đờ nhìn, tuy nhiên vẫn còn đủ tinh thần nhận định là … MÌNH CÒN SỐNG – MìNH ĐÃ SỐNG.

Khi được đưa về Quân Y Viện Qui-Nhơn, và được săn sóc thì tất cả mới đươc hồi sinh lại, và trong số 15 người chúng tôi, có một bạn đồng đội đã quá kiệt sức nên tắt thở khi về bệnh viện… đó là Cố Hạ Sĩ Nhất Quản kho Nguyễn-Văn-Duyên.

https://baomai.blogspot.com/


Bấy giờ nằm trong Quân Y Viện nghĩ lại, chúng tôi không khỏi rùng mình. Chúng tôi còn sống hôm nay có lẽ là nhờ Phật Trời, Thánh Tổ phù hộ, che chở cho những người con yêu của đất nước, đã chiến đấu cho sự sống còn của Tổ quốc cũng như cho chính nghĩa rạng ngời của một quốc gia nhỏ bé trước bọn TC bạo tàn xâm lược. Mười ngày lênh đênh trên biển cả với nắng cháy da, với sương lạnh cắt thịt, với những cơn sóng lớn nhồi cao cùng với 10 ngày không ăn uống mà chúng tôi vẫn còn sống quả là một phép nhiệm mầu.




Nguyễn Việt Kim​

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cấu trúc thơ hiện đại


Tiếp tục mục "đọc lý thuyết", trước hết đã hoàn thành đầy đủ bài của Roger Caillois về Montesquieu (tiểu luận tuyệt đối cần thiết đối với Montesquieu, không chỉ nhìn thấy được Montesquieu trong đầy đủ tầm vóc - điều này rất khó - mà còn khiến ta hiểu tầm vóc Montesquieu còn khủng khiếp hơn nhiều), tiếp tục cuốn sách về không khí của Bachelard(đã bắt đầu vào chương thứ nhất: đây là một trong những chương sách lý thuyết đối với tôi trác tuyệt nhất trong tổng số những gì tôi từng đọc), và cũng tiếp tục bài báo năm 1832 của Heinrich Heine về tình hình chính trị Paris, về Lafayette, về quân chủ và cộng hòa, cũng như về cuisine và máy chém (tiếp tục địa hạt Balzac, tôi đã tìm ra ở Heine một cái nhìn soi sáng theo một cách khác hẳn phong hóa và xã hội Pháp quãng thời gian Cách mạng tháng Bảy; Balzac và Heine là bạn của nhau).

Và tiếp tục với các lý thuyết gia văn học: đã có Leo Spitzer rồi (chính tiểu luận của Spitzer về Marcel Proust khiến tôi bắt đầu hình dung ra một hình thức xuất bản mới, không có tính chất thương mại: đó là cách thức chống lại cùng một lúc hai thứ, chống lại cái căn bệnh đáng ghê tởm không đọc gì khác ngoài sách introduction của giới nghiên cứu Việt Nam, cũng như chống lại những lời rao giảng cũng của cũng chính các nhà nghiên cứu ấy về những thứ họ hoàn toàn chưa bao giờ đọc; tất nhiên tôi cũng sẽ tiếp tục bài tiểu luận đó) sẽ là ai? Là Curtius? (xem ở kia) hay Erich Auerbach (xem ở kia)? Không, với cả hai nhân vật ấy tôi đều đã biết nên làm gì, đặc biệt là Auerbach, mà tôi sẽ rất sớm tập trung vào.

Sau Leo Spitzer chúng ta đến với một học trò của Spitzer: Hugo Friedrich. Ta có những người Đức nhưng rất Pháp của đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 (cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 thì lại có nhiều người Đức rất Ấn Độ, chẳng hạn anh em Schlegel mà ta sẽ sớm đề cập trong câu chuyện lớn của lãng mạn, cái yếu tố Ấn Độ ấy sẽ còn kéo dài mãi cho tới, chẳng hạn, Schopenhauer), tổng cộng, một cách chính yếu, bốn nhân vật, trong những gì mà chúng ta đang quan tâm: Spitzer, Curtius, Auerbach và Friedrich.

Hugo Friedrich là nhân vật không thể bỏ qua trong riêng lĩnh vực nghiên cứu thơ trữ tình. Trong lĩnh vực nghiên cứu Montaigne, Friedrich cũng có vị trí không nhỏ (Spitzer thì lại đặc biệt quan trọng ở địa hạt Rabelais). Nhưng cuốn sách Cấu trúc thơ hiện đại (xuất bản lần đầu giữa thập niên 50 của thế kỷ 20) cần được coi là một kiệt tác phê bình văn học. Tôi còn nhớ, năm 2002, tôi hay đi bộ cùng một người bạn Ailen, người bạn ấy làm nghiên cứu về thơ, Georg Trakl, Stéphane Mallarmé, Paul Celan, Ezra Pound. Vì chẳng hiểu gì nên tôi hỏi với cái mớ đó thì phải đọc cái gì thì mới may ra hiểu nổi? Câu trả lời ngay tắp lự: Cấu trúc thơ hiện đại của Hugo Friedrich.

Tôi sử dụng ấn bản dưới đây:


Friedrich đặt trọng tâm vào Rimbaud và Mallarmé, với Baudelaire là tiền triệu, và không mấy coi trọng thơ của Lautréamont.

Trong Cấu trúc thơ hiện đại, một nhà thơ cũng sẽ sớm được nhắc đến, Gottfried Benn:

Chúng ta sẽ sớm đến với Benn. Friedrich cũng sẽ sớm nhắc đến Eugenio Montale, mà chúng ta cũng sẽ không bỏ qua.




Chương I

Cái nhìn đầu tiên vào thơ thời hiện tại: các nghịch âm và “quy chuẩn”


Nếu thơ châu Âu thế kỷ 20 không có lối vào dễ dàng thì, ngược lại, nó mang một sự phong phú đáng kinh ngạc. Không còn có thể đặt nghi ngờ về tầm quan trọng của các nhà thơ Đức (từ G. TraklRilke thời kỳ chín muồi cho tới Gottfried Benn), của các nhà thơ Pháp (từ Apollinaire cho đến Saint-John Perse), các nhà thơ Ý (từ Palazzeschi cho đến Ungaretti), và cuối cùng, các nhà thơ anglo-saxon (từ Yeats cho đến T.S. Eliot). Tất cả các tác phẩm này cho thấy sức mạnh biểu đạt của thơ không thấp hơn, trong tình hình trí năng thời hiện tại, so với của triết học, của tiểu thuyết, của kịch, của hội họa hoặc của âm nhạc.

Những nhà thơ đó cho phép độc giả của họ có một kinh nghiệm, nó, trước cả khi họ thức nhận được một cách rõ ràng, đưa họ tới gần sát cái vốn dĩ là một trong các đặc trưng cốt yếu của thứ thơ này: sự khó hiểu của nó cuốn hút độc giả ngang mức với gây rối trí. Ma thuật ngôn từ của nó và bí ẩn của nó thực thi sự lôi cuốn mặc dù niệm năng còn chưa thể định hướng được ở trong đó. “Thơ có thể được truyền đi trước cả khi được hiểu”, T.S. Eliot từng nói vậy trong các tiểu luận của ông. Chúng ta có thể nói đến nghịch âm ở trước hội tụ này của sự cuốn hút và sự tối tăm: nó kích lên một sự căng, sự căng này lại kích trong tinh thần độc giả nỗi lo lắng thì nhiều hơn là sự tĩnh tâm. Sự căng này và nghịch âm này chắc hẳn nằm trong số những mục đích chính yếu mà toàn bộ thơ hiện đại tự đặt ra cho mình. Stravinski viết trong Văn pháp âm nhạc (1948): “Chẳng có gì buộc chúng ta phải tìm kiếm sự thỏa mãn trong dịu nhẹ. Kể từ một thế kỷ nay, các ví dụ dồn đống lại, về một phong cách nơi nghịch âm tự khẳng định trong tự do hoàn toàn. Nghịch âm đã trở thành một yếu tố tự thân. Tức là câu chuyện nằm ở chỗ nó không chuẩn bị cũng chẳng thông báo gì nữa hết. Nghịch âm cũng ít là phương tiện của sự hỗn loạn ngang mức với sự du dương ở tư cách đảm bảo cho an toàn.” Điều này cũng đúng, trong toàn bộ những gì mà nó hàm ngụ, đối với thơ.

Sự khó hiểu của nó được dự định từ trước. Baudelaire từng viết: “Có một vinh quang nhất định trong việc không được hiểu.” Đối với Gottfried Benn, hành động viết chính là “nâng các vật có tính cách quyết định lên đến ngôn ngữ của không thể hiểu, chăm chú hoàn toàn nhằm khiến cho những vật xứng đáng được hưởng một điều, là người ta không muốn dùng chúng để thuyết phục bất kỳ ai”. Saint-John Perse hướng tới nhà thơ bằng những lời phấn hứng: “Hữu thể chẻ đôi giữa các vật sắc nhọn nhân đôi. Mi là bản thân mi một cãi cọ giữa những kẻ tiến hành các cãi cọ của bọn họ, nói một thứ ngôn ngữ nhân bội giống như người nào lang thang nơi các chiến địa giữa các cặp cánh và những gai.” Montale tuyên bố có phần dè dặt hơn: “Hẳn sẽ chẳng ai còn viết thơ nữa nếu vấn đề nằm ở chỗ khiến cho mình trở nên hiểu được.”

Hẳn ta sẽ chẳng thể mang tới cho con người có ý chí tốt đẹp lời khuyên nào khác ngoài việc cố tập cho mắt của họ quen với bóng tối bao bọc lấy thơ hiện đại. Chúng ta quan sát thấy ở khắp mọi nơi một khuynh hướng cần tránh, nếu như mà có thể, các văn bản mà nghĩa hẳn không mang chút mù mờ nào. Bài thơ, nói đúng hơn, chủ định tự bày ra như một cấu trúc tự đầy đủ với chính nó, nhân lên nhiều lần trong soi rọi của các biểu nghĩa, được cấu tạo từ một mạng lưới những sự căng và các lực tuyệt đối thực thi một hành động gián tiếp lên các lớp thuộc hữu thể vẫn còn chưa xâm nhập được thế giới duy lý và rốt cuộc đặt thành chuyển động vầng hào quang ngữ nghĩa bọc bên ngoài các khái niệm.

Sự căng này, xuất phát từ các nghịch âm trong thơ hiện đại, vẫn còn tìm được những cung cách biểu hiện khác nữa: các khía cạnh của nguyên khởi cổ xưa, huyền bí hoặc duy linh đối lập với một trí năng tính cực điểm, sự giản dị của biểu đạt với sự phức tạp của nội dung, tính cách “phóng túng” của nội dung với sự tựu thành về phương diện ngôn ngữ, tính chất phù phiếm của chủ đề với bạo lực của chuyển động. Một phần, đó chỉ là những sự căng hình thức, thường được muốn đúng là như thế, nhưng chúng đóng vai trò của mình trong nội dung bài thơ.

Bài thơ hiện đại chiếm lấy các thực tại, những thực tại vật cũng như những thực tại người chắc chắn không phải bằng thức miêu tả, với sự nồng nhiệt của ánh mắt hoặc của sự động chạm quen thuộc. Nó dẫn chúng đi tới địa hạt của cái không quen thuộc; nó biến chúng trở nên xa lạ, gây biến dạng cho chúng. Bài thơ từ chối được đánh giá bằng các tiêu chí của cái mà người ta vẫn hay gọi là cái thực, dẫu cho nó hấp thụ vài tàn tích của cái thực vào bên trong, những thứ sẽ được dùng làm ván nhún lấy đà cho tự do của nó. Thực tại bị tách ra khỏi trật tự của thời gian, khỏi trật tự của không gian, khỏi những yếu tố cụ thể hoặc các yếu tố của tâm hồn. Viễn kiến này tuột đi khỏi những phân biệt - vốn dĩ bị vứt bỏ như là các xấu xa - thông thường là nhất thiết đối với một tri giác theo thuyết định mệnh về thế giới và hay đặt đối lập đẹp với xấu, gần với xa, ánh sáng với bóng tối, nỗi đau với niềm vui, bầu trời với mặt đất. Trong số ba thái độ khả dĩ trong hành động sáng tạo của thơ - cảm thấy, quan sát, chuyển hóa - cái thứ ba chiếm ưu thế trong thứ thơ này, cả trong thế giới quan của nó lẫn nơi quan niệm về ngôn ngữ của nó. Theo một định nghĩa vay mượn từ thơ lãng mạn và được tổng quát hóa theo đường lối lạm dụng quá mức, thơ “trữ tình” thường được coi như là ngôn ngữ của tâm hồn, biểu đạt của các yếu tố cá nhân hơn cả ở trong hữu thể. Ý tưởng về “sự nhạy cảm của tâm hồn” này chỉ ra cho chúng ta sự “nhẹ nhõm” (giải lao) mà con người cô độc nhất cảm thấy khi xâm nhập một nơi cư trú thuộc tinh thần mà anh ta chia sẻ với tất tật hữu thể được phú cho sự nhạy cảm. Chính sự thông giao về mặt tình cảm này, “chốn cư ngụ của tâm hồn” này là thứ mà thơ hiện đại vứt bỏ. Nó quay lưng đi khỏi cả khái niệm “nhân loại” theo nghĩa truyền thống, khỏi “sở kiến hành”, có lẽ thậm chí khỏi cả “cái tôi”, lẫn bản thân nhân cách của nhà thơ. Nhà thơ không còn tham gia với tư cách con người nơi sự sáng tạo ra tác phẩm của anh ta, mà chỉ với tư cách trí năng được áp dụng vào hành động thơ, với tư cách người thao tác làm việc về ngôn ngữ, với tư cách nghệ sĩ, người, trên một vật chất được lựa chọn theo đường lối võ đoán và nghèo biểu nghĩa trong nhiều trường hợp, chứng tỏ làm ra các chuyển hóa được đề xuất bởi trí tưởng tượng bạo chúa của anh ta hoặc thế giới quan phi thực của anh ta. Điều này không loại trừ việc một bài thơ như vậy có thể phun trào từ một mê hoặc của tâm hồn và đến lượt mình gây phấn khích cho nó, nhưng chuyện rất khác so với cái “sự nhạy cảm của tâm hồn” kia, hoặc giả các “trạng thái” lãng đãng của nó. Đúng hơn, cái giọng nhân bội và tuyệt đối của khách quan tính thuần chất không còn để mặc cho nó bị phân rã thành nhiều sắc thái tình cảm đa dạng nữa. “Tâm hồn? Tôi không có đâu”, Gottfried Benn từng nói như vậy về bản thân. Khi những sự mềm của dạng trạng thái tình cảm này tìm cách tự tạo lập, sự cứng của vài từ liền đối lập với mọi ý tưởng về du dương và nghiền nát chúng ra.

Ta có thể nói tới một khía cạnh nhiều kịch tính một cách gây hấn của thơ hiện đại.



(còn nữa)




Gaston Bachelard: Không khí và mộng
Roger Caillois về Montesquieu
Roland Barthes: "Sociologie và socio-logique"
Leo Spitzer: Phong cách của Marcel Proust
Jean-Pierre Richard: Hiểu biết và dịu dàng ở Stendhal
Sur Barthes (1)
Roland Barthes: "Michelet, Lịch Sử và Chết"
Roland Barthes: "Văn hóa và bi kịch"
Octavio Paz về André Breton
Jean Paulhan: Les Fleurs de Tarbes
George Steiner: Râu Xanh
Maurice Merleau-Ponty: Văn xuôi thế giới
Lý thuyết văn học và triết học
Michel Foucault: "Thư viện huyền hoặc" (về Flaubert)
Albert Béguin: Tâm hồn lãng mạn và giấc mơ
Nhìn lại lý thuyết

Phần nhận xét hiển thị trên trang

- Xin lỗi, nhà tôi hôm nay có việc hiếu!

Đỗ Thu Hà 



Khách du lịch Trung Quốc tại thác Bản Giốc ngày 16/01/2009. Ảnh AFP

1. Chuyện này rất cũ rồi, đã đăng Y360, cũng là lý do khiến mình phát điên mà đang dị ứng mạng xã hội thành đứa tham gia khá nhiệt tình. 

Dịp 1-10-2004, Đại sứ quán Trung Quốc và tỉnh Quảng Tây có mời Bộ Văn hóa Thông tin tham dự lễ hội du lịch Quảng Tây tổ chức tại thành phố Sùng Tả, nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị của đồng bào dọc hai bên biên giới, và thúc đẩy du lịch của hai vùng biên nghèo nhưng đầy tiềm năng. 

Mục đích quá dễ thương, bèn đề nghị báo cho đi và được gật đầu tắp lự, giấy tờ làm nhanh 15 phút. Cơ mà cả báo lẫn văn phòng Bộ đều lắc đầu khi được hỏi Sùng Tả ở đâu (hồi đó Gúc mép chưa phổ cập, tên trên bản đồ Tàu phiên khó).

Đoàn đi đông vui, quan chức trừ Bộ trưởng còn khá đầy đủ các Cục, Vụ quan trọng. Đại sứ Trung Quốc đi xe hơi tiễn từ Hà Nội lên tận cửa khẩu Hữu Nghị, mời ăn trưa long trọng, nhìn các tồng chí làm thủ tục xuất cảnh xong mới vẫy tay lưu luyến xuôi (Mà thằng này nó đồng môn với mình giời ạ, không còn xó nào ở Hà Nội mà nó không biết, thầy mình nó còn thăm nom đủ hơn mọi thế hệ sinh viên bọn mình). 

Qua cửa khẩu, đoàn xe (có còi hụ) cứ thế đi cả buổi chiều, cảm giác phải đi sâu vào nội địa Trung Quốc đến 500 km là ít nhất. Tối mờ mịt mới dừng ở một chỗ đèn đóm sáng choang giữa núi non trùng điệp : thành phố Sùng Tả.

Ngủ một giấc lấy sức, sáng hôm sau đoàn được thức dậy sớm, ngắm cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình, ăn sáng và ...lên xe đi tiếp gần hai tiếng đồng hồ nữa mới đến địa điểm khai trương Lễ hội Du lịch.

Đường đi cờ phướn giăng đầy, cảnh trí đẹp mê ly. Càng đến gần khu du lịch, cây cối càng xén tỉa đẹp đẽ, cột bê-tông gắn các tấm pin năng lượng mặt trời càng dày. Đường sá càng êm ru đen nhánh, xe phóng 100km/h chả thấy cảnh sát công lộ phạt quá tốc độ gì cả.

Và khu du lịch mở ra. Đẹp như mơ, quy hoạch ba tầng xoáy trôn ốc. Càng lên cao bungalow càng ẩn hiện kín đáo. Loa nấp trong các phiến đá, nhành cây phát những bản nhạc tình ca Tàu du dương, xe điện chạy rì rì không một làn khói...

Lên đỉnh cao nhất, tầm nhìn mở ra : Một dòng thác hùng vĩ dù đang vào mùa khô vẫn tung bọt trắng xóa, thảm lúa vàng trải mênh mông dưới chân, hai bên cây cối xanh rì. Một tấm banderole khổng lồ căng ngang : Thác Đức Thiên - Nam Trung hoa đệ nhất hùng quan! 

Cha mẹ ơi! Sững một giây rồi cả đoàn giật mình như phải bỏng : nó là thác Bản Giốc! Bên kia là đất nước mình! 

Cả ngày, họ dẫn đoàn đi hàng ngàn cây số, để sáng nay tạo ấn tượng chơi vậy đó! 

Tôi không nói lại về chuyện ai đã bật khóc, ai đã văng tục, ai cúi đầu xấu hổ và ai can chúng tôi về không nên viết gì. Chuyện cũ rồi kể để biết và nhớ.

2. Năm 2016, từ 15-2 đến 22-2, Tuần lễ Văn hóa Việt-Trung diễn ra tại Hà Nội. Trưởng đoàn Trung Quốc là nhà văn Vương Mông, phó chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc có buổi nói chuyện với Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội vào đúng sáng 17-2 (!). Mà Hội Nhà văn Việt Nam cũng khéo quên, hồn nhiên nghe văn hào vĩ đại diễn thuyết, quên hẳn hôm ấy ngày gì.

Thông cáo hoãn buổi diễn của đoàn nghệ thụât Nội Mông.
3. Hôm nay Đoàn nghệ thuật dân tộc Nội Mông sẽ có đêm diễn tại Hà Nội chào mừng 68 năm quan hệ ngoại giao Việt- Trung. Dù cái ngày đặt quan hệ ấy nó là ngày 18-1-1950 và hầu hết công dân mạng Việt Nam đều biết ngày hôm nay là Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Với một dân tộc luôn phải chịu nguy cơ bị xâm hại lãnh thổ thì nó có ý nghĩa gì?

Ngoại giao văn hóa, đến tận cùng ý nghĩa của nó, vẫn phải là đưa các dân tộc, thể chế chính trị, tôn giáo ... xích lại gần nhau, qua một hành trình tiếp xúc và cọ xát văn hoá hết sức tế nhị. Chẳng ai có ý định ôm thù hận đời này qua đời khác. Chúng ta có lẽ đã xác định họ thực lòng muốn bang giao hữu hảo. Nhưng dân tộc nào có hồn cốt ấy. Muốn thực lòng hữu hảo phải thuộc câu "nhập gia tùy tục". 

Còn người được cử ra làm ngoại giao văn hóa, có lẽ cũng nên thuộc nằm lòng những ngày giỗ chung của cả dân tộc : ngày 19-1; 17-2; 14-3 ; 5-8; 27-7 ... Để mỗi khi có hàng xóm tốt đề nghị chăng đèn kết hoa nhảy múa hớn hở thì đủ nhẹ nhàng nhưng kiên quyết mà lắc đầu : Xin lỗi! Hôm ấy nhà tôi có việc hiếu ! 

Chứ chẳng lẽ họ thâm thúy nổi tiếng nhất thế giới này, một cử chỉ một lời nói cũng nghiền ngẫm cả năm trời, mà mình thì cứ hồn nhiên như cô tiên thế mãi? 

FB ĐỐ THU HÀ 19.01.2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thú vui mới của giới siêu giàu: Mua xe tăng


Chúng ta đã quá quen với những chiếc siêu xe, du thuyền, máy bay… hạng sang. Nhưng có lẽ từ giờ tiêu chuẩn của sự sành điệu đã được nâng lên một tầm cao mới, khi phong trào mua… xe tăng nở rộ trong giới siêu giàu.

Anh em Michael và Geoff Howe là những nhà sáng lập công ty Howe and Howe Technologies, công ty đã bán cả một hạm đội xe tăng cho hoàng tử Dubai Hamdan bin Mohammed Al Maktoum.
Đương nhiên khách hàng của họ chỉ có thể là các tỷ phú, triệu phú – những người giàu nhất hành tinh. Bởi mỗi cỗ xe xa xỉ này có giá đến nửa triệu USD (hơn 11 tỷ đồng).

Thú vui mới của giới siêu giàu: Mua xe tăng - 1
Một mẫu xe tăng được rao bán
Khi anh em Howe không bán những cỗ xe cao cấp cho người thường, thì họ sẽ bán chúng cho chính phủ. Ví dụ như mẫu RS1 của họ được thiết kế nhằm giảm thiểu sức công phá của các thiết bị gây nổ. Mẫu RSBI Swat-Bot lại được thiết kế có thể dễ dàng di chuyển, nhằm mục đích bảo vệ cho các nhân viên cảnh sát. Mỗi chiếc như vậy ít nhất cũng có giá 100.000 USD (hơn 2 tỷ đồng).
Những chiếc xe tăng được sản xuất với mục đích dân sự và bán cho các tỷ phú thì có giá chát hơn, khởi điểm khoảng 595.000 USD. Nhưng với các tiện ích bổ sung như hình ảnh hồng ngoại cho các chuyến dã ngoại ban đêm hoặc lớp tăng thiết giáp cho mục đích có-trời-mới-biết càng được thể đẩy giá cao hơn nữa.
Tuy vậy ngoài mục đích có thể phô trương hết nấc trên những cỗ xe hoành tráng thế này, trải nghiệm cầm lái một cỗ xe không thể phá hủy hẳn cũng vô cùng thú vị.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Diễn.



Một đất nước mà đi đâu, ở đâu cũng thấy con người diễn thì đất nước ấy đang bị hủy diệt bởi sự dối trá.
Gã không muốn và cảm thấy ê chề xấu hổ nếu đất nước của gã là một Sân khấu vĩ đại với chỉ các màn diễn.
Gã không muốn và cảm thấy tận cùng đớn đau khi những đứa trẻ của đất nước gã lớn lên chỉ thấy sự diễn dối trá để rồi tin đó là thật, đến khi thấy sự thật, bộ mặt thật thì gào lên phản ứng bảo đó là sự dối trá chứ không phải sự thật.
Có nhiều ông quan, ông chúa của đất nước gã trước ống kính diễn bộ mặt đau khổ khi gặp kẻ bần hàn nhưng liền sau đó tưng bừng nâng ly cùng nhồm nhoàm sơn hào hải vị với các quan địa phương nơi có những kẻ bần hàn ấy.
Một nhà báo ở một tờ báo lớn viết chân dung một thượng thư nổi tiếng bình...dị, rằng ngài thượng thư chủ động tiếp nhà báo tại quán vỉa hè. Nhà báo xúc động khi ngài thượng thư kia kêu nóng, tuột chân ra khỏi đôi giầy mòn gót, một chiếc tất rách lòi ngón chân cái của ngài.
Gã bật cười vì sự ngây ngô đến... ngớ ngẩn của nhà báo kia vì gã thừa biết ngài thượng thư này ăn chơi thế nào và liên quan thế nào tới các doanh nhân bị lên thớt.
Một tối, lâu rồi gã nhận cú điện thoại của một nàng, lúc ấy nàng đang giữ một vị trí cao tại QH và bây giờ nàng đang là một trong ba người đàn bà quyền uy của hệ thống. Nàng khen một quan thượng thư rất xông xáo, nơi nào thiên tai, lũ lụt đếu có mặt. Gã cười bảo, ông ta diễn đấy, em ơi! Gã kể cho nàng nghe, cánh truyền hình khi đi theo ngài ấy, lúc nào ống kính chĩa về ngài, ngài bèn xắn quần lội bùn, mặt co rúm lại đau khổ trước thiên tai, mất mát của người dân.
Sau đó?
Tiệc tùng.
Hãy tưởng tượng đi các bạn của gã, nếu không bị ra tòa thì ngài phó chủ tịch tỉnh Trịnh Xuân Thanh có thể lúc này đang trên diễn đàn của tỉnh thuyết giảng về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về tình thương dân. Ngài sẽ to giọng lên án kẻ nào tham nhũng, ăn cắp của dân...
Diễn, và diễn. Đau khổ là các diễn viên đại tài đó diễn giỏi đến mức con cái họ cứ tin là thật và khi bố mình ra toà rồi vẫn đau đớn khóc thảm thương vì cho rằng bố mình bị oan.
Diễn.
Bao giờ ở đất nước của gã có một Đạo luật cấm diễn?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ý nhi, trái tim tự do


Y NHIThơ Ý Nhi sinh ra từ sự cần thiết. Sức hấp dẫn của ngôn ngữ thơ của chị trước hết không nằm trong bản thân nó mà nằm trong chúng ta, người đọc. Tính hấp dẫn ấy xảy ra khi trong bạn có một nhu cầu, sự khao khát lặng lẽ, cánh cửa muốn được mở. Bài thơ giúp bạn đi tìm sự thật mà bạn chưa hề đánh mất. Sự chọn lựa giữa một bên là nhiệm vụ đối với xã hội, sự có ích của thơ ca, và một bên là vui thú riêng của ngôn ngữ, trẻ thơ, không mục đích, bao giờ cũng là lựa chọn khó khăn của người viết.
Tôi cầm những đồng tiền lẻ 
Như nhà thơ cầm giữ từ ngữ 
Những đồng tiền nhàu nát 
Như những từ ngữ đã được dùng bao thế kỷ
Đồng tiền là ẩn dụ của chữ, chúng vừa giữ nguyên giá trị trao đổi vừa thay đổi, nhàu nát. Câu thơ ngắn, lối so sánh thích hợp, vật thể, không trừu tượng, như chính đời sống ngoài kia, vui buồn, cỏ cây, thời tiết, chiến tranh, lầm lỗi. Đó là một hiện thực vừa được chiếu sáng vừa được đánh giá lại. Đọc bằng phương cách thích hợp, đoạn thơ kín đáo ấy vang lên như một câu chuyện kể hay giai thoại. Giai thoại cũng là phương pháp để biến gian khổ thành niềm vui từng trải, giúp con người vượt qua sự giam cầm của cái cũ.
Giữa bao nhiêu mưa nắng đời thường 
Đã có lúc lòng con hờ hững 
Thấy hạnh phúc của riêng mình quá lớn 
Ngỡ chỉ mình đau đớn xót xa thôi
Giữa bao nhiêu năm tháng ngược xuôi 
Đã có lúc lòng con đơn bạc 
Quên cả những điều tưởng không sao quên được 
Như người no quên cơn đói của chính mình
Khác với tình yêu nam nữ, mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ không phải là quan hệ bình đẳng, một người cần chăm sóc, một người mang lại sự chăm sóc ấy. Tuy nhiên khi người con lớn lên, thân sinh già yếu, quan hệ từ từ đổi chiều.  Mối quan hệ giữa mẹ và con gái còn phức tạp hơn nữa, nhiều kỳ vọng và xung đột. Chính sự cách xa giữa mẹ và con là dấu hiệu của trưởng thành, không những của người con mà còn của các mối quan hệ. Trong các mối quan hệ, chúng ta chôn vùi giấc mơ của mình, lỗi lầm của mình, mới đầu vì người khác, về sau chính chúng ta cũng không nhìn thấy: 

Xin anh 
trong niềm vui 
nhớ đến em 
Xin anh 
trong nỗi buồn 
chia sẻ cùng em 
Xin anh 
mãi như em đã gặp 
đã yêu 
đã luôn chờ đợi 
Xin anh 
hãy yêu 
và tha thứ
Sự ngây thơ làm bạn tự do, sự vô tội làm bạn thanh thản. Nếu chúng ta tin tưởng một điều gì, điều ấy phải biến thành thực tế, nếu chúng ta không tin tưởng một điều gì, điều ấy không thể xảy ra; mối quan hệ giữa con người và lịch sử là tấm gương phản ánh niềm tin hay sự chống lại niềm tin của họ. Thơ hay, một lúc nào đó sẽ trở nên có ích, mặc dù nó không định thế, vì chạm vào cốt lõi của kinh nghiệm cá nhân. Một bài thơ thành công là sự tràn ngập ra ngoài biên giới của sự vật, như một tách nước được đổ đầy sắp tràn ra ngoài nhưng không tràn ra nhờ sức căng bề mặt. 

Xin anh giữ lòng trắng trong, thơ nhỏ 
sự can trường của kẻ đã phong sương 
để cùng em đi hết một con đường
Lời nhắn nhủ. Ước vọng yên bình trong thơ Ý Nhi là thái độ của tâm hồn trước chiến tranh, và lời cầu nguyện của chị là khuôn mặt khác của lo âu. Lịch sử của lo âu là lịch sử của người vợ, người mẹ, người phụ nữ. 
Thơ Ý Nhi giản dị nhưng không dễ hiểu. Chị thường chọn những tình tiết không ồn ào, khó nhìn, ở thời điểm đặc biệt chỉ tác giả mới nhận ra và kịp dùng ngôn ngữ chuẩn xác. Tôi không có ý nói rằng bài thơ nào của chị cũng được chuẩn bị kỹ, như thể bạn đã có sẵn nội dung, chỉ chờ cơ hội là viết xuống. Bất kỳ một quá trình sáng tác nào cũng làm biến đổi ý định ban đầu. Có một dòng năng lượng trong bài thơ sau đây chảy xuyên qua trang sách, như con sông đổ xuống từ trên cao, chảy giữa hai bờ mà vẫn tự do.
Tàu ngập ngừng trước ga lẻ rồi đi 
Gió thổi hút qua hàng xoan không lá 
Mưa tê buốt bàn tay ngoài cửa sổ 
Làng giữa đồng im vắng đã từ lâu. 
Có gì đâu nào có gì đâu 
Để em biết ngày mai rồi xuân đến? 
Chỉ mắt anh nhìn nơi đầu ga đưa tiễn 
Nói cùng em, cùng em.
Bạn đọc lần nữa. Chữ hơi cũ. Nhưng bạn nhìn nó nhiều lần, đọc nhiều lần, sẽ thấy nhiều cách nghĩ về nó, như tấm gương phản chiếu nhiều ngã đường, hiện thực kể lại nhiều sự thật. Mặc dù xuất thân từ khuynh hướng tả thực ở miền Bắc thời ấy, thơ Ý Nhi bắt đầu pha trộn những yếu tố lãng mạn cá nhân và khuynh hướng hiện đại. Chủ nghĩa hiện đại nhấn mạnh đến tiến hóa, đặt lòng tin vào sự phát triển và vào sự chọn lựa giữa cái ưu tiên và cái không ưu tiên. Mặt khác, Ý Nhi là một nhà thơ thành thị, dù có thể nhiều năm chị đã ở nông thôn. Đời sống thành thị vừa nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca Việt Nam vừa đẩy các nhà thơ về phía hiện đại. Nhà thơ như một đứa trẻ bắt đầu lớn khôn, đủ lớn để biết tất cả mọi chuyện, nhưng lại không đủ lớn để hiểu tại sao bi kịch diễn ra như thế và bằng cách nào con người có thể tránh chúng: chiến tranh, chia tay, tình yêu tan vỡ, thất vọng, phản bội. Bài thơ của Ý Nhi vì vậy đều ít nhiều có tính dang dở. Có lẽ chị tin rằng văn chương có thể làm thay đổi cuộc sống. Chủ nghĩa hiện đại tin tưởng vào lương tri của xã hội, tin rằng có một chân lý phổ biến. Tuy vậy chủ nghĩa hiện đại cũng thay đổi, đã từng bị thay thế bởi chủ nghĩa hậu hiện đại, rồi quay trở lại với sức sống mới. Hầu hết chúng ta đều thực sự muốn sống vì những nhu cầu sâu xa của mình thay vì sống theo quy ước trong công việc, sở thích. Sau những bài thơ có vần, cũng như nhiều người khác, Ý Nhi nghiêng về thơ tự do, là một hình thức mang đậm tính cá nhân. Một cá nhân chịu trách nhiệm, khiêm tốn mà kiêu hãnh: 

Không ai có thể làm anh sáng chói 
không ai khiến anh lu mờ 
anh tự mình 
rực rỡ hay tàn lụi
Khi chúng ta tự đồng nhất với một tập thể, một hệ tư tưởng, chúng ta để mặc cho bản ngã hướng về mục đích ngoài chính nó. Chúng ta có thể hy sinh cho người khác, cho những nghĩa vụ, nhưng con người không đồng nhất mình với nhiệm vụ và với người khác. Thơ hiện nay không hàm chứa nhiều ý định, không dùng nhiều lời tác giả. Ý Nhi là một trường hợp ít dùng lời tác giả. Một bài thơ thực sự mang lại trong khoảnh khắc nhiều năm tháng, mang lại trong một ngắt câu hay xuống dòng, điểm uốn của cuộc đời, bão táp của số phận. Khi số phận thay đổi, nội dung thay đổi; khi một dân tộc thăng hoa hay tàn tạ, trong chiến tranh mà thăng hoa, trong hòa bình mà tàn tạ, số phận của cá nhân phải được nhìn thấy trong tấm gương của dân tộc. Bài thơ đi tìm nhu cầu của nó ở người đọc, không những thế, nó sản sinh ra nhu cầu ấy: trước khi có bài thơ, người đọc không có nhu cầu ấy. Trước khi có tự do cá nhân, nhiều người đã không biết đến tự do.
Không phải niềm vui 
Không phải nỗi buồn 
Không phải hạnh phúc 
Không phải đau khổ 
Có thể là tất cả 
Có thể là một cái gì hoàn toàn khác biệt 
Praha trong hoàng hôn đã đem lại cho tôi 
Và tôi nhận biết Praha chính bằng điều đó
Ba câu cuối cùng hơi "Tây", nhưng vẫn là cách nói của Ý Nhi. Sự thay đổi thực sự của một bút pháp không diễn ra như việc học hỏi trực tiếp từ phương pháp sáng tác, mà được thúc đẩy bởi tiếng nói từ bên trong, riêng tư, cương quyết. Ngôn ngữ thơ Ý Nhi là ngôn ngữ hành động, có tính diễn tiến. Đó không phải là ngôn ngữ mô tả một tình trạng, mà hướng tới nhiều hơn hành động của một người. Tôi tiếc rằng trong thơ Ý Nhi, những giây phút tiếp cận hành động khi thơ chị đứng ở điểm uốn của thời gian, những giây phút ấy lẽ ra có thể nhiều hơn thế nữa. Thơ chị không hẳn là dấn thân, nhưng tràn đầy cảm giác liên kết, mạnh mẽ nhưng không đồng nhất. Đó là loại thơ trữ tình sâu sắc, nhân chứng của tình yêu trước cái chết, của niềm tin trước đổ vỡ. Sức mạnh bạo liệt của số phận và lịch sử một bên, và sự đề kháng mỏng manh nhưng bền bỉ của kiếp người, một bên. Thơ ít có những yếu tố tâm linh và tôn giáo, tuy cầu nguyện nhưng không đi tìm phép lạ ở nơi khác. Chị tin vào tính chất thiêng liêng của đời sống, tin vào sự mơ mộng của con người; sự mơ mộng ấy là khả năng tưởng tượng, tạo ra một thế giới hoàn mỹ, bất tận, từ dưỡng chất tạm bợ nơi trần thế. Chị đi tìm cái đẹp, có thật và tượng trưng, đi tìm giới hạn ngày càng được nới rộng của tồn tại, đi tìm ý nghĩa cuối cùng của đời sống. Thơ Ý Nhi mang lại những vui thú khác nhau, bằng một ngôn ngữ dịu dàng, trong sạch, nhưng cứng cỏi. Một lịch sử cá nhân ở giữa những ràng buộc quá khứ và hiện tại, sự cân bằng giữa cảm xúc trữ tình và suy tư về đất nước. Ý Nhi có thể phần nào tạo ra một ngôn ngữ mới, một cách nói mới của riêng chị, trong khi vẫn giữ mối liên lạc đằm thắm đối với kinh nghiệm và tha nhân, nhờ thế mà chị có thể đôi khi đi rất xa nhưng không trở nên lạ lẫm. 

Rồi ta về 
tìm qua ô cửa 
một chút gì bóng dáng đời ta 
một chút gì như đốm nắng trên tường vôi cũ 
một chút gì như tiếng chim khuyên 
nơi vườn hoang 
Rồi ta về 
cuộn trốn giữa yêu thương 
như đứa trẻ 
cuộn mình trong chăn ấm chiều đông 
Ôi quê hương quê hương 
mắt trũng sâu chờ đợi 
ta khóc ngập lòng trên lối về.
Hoài niệm, nhưng không chỉ là hoài niệm, mà mời gọi cảm thông, chia sẻ. Vì bày tỏ là đặt lòng tin. Là tặng người nào một vật gì: lòng tin là tặng phẩm. Sau những chấn thương, nếu được chăm sóc và hồi phục trở lại, người bệnh có khuynh hướng tin tưởng nhiều hơn vào khả năng chăm sóc của người khác, lắng nghe nhiều hơn các nguyên tắc y khoa và đạo lý. Trái lại, sau những chấn thương không hồi phục, người bệnh đánh mất lòng tin, trở nên yếm thế và đa nghi, cay đắng. Sự đảo lộn của các giá trị hiện nay, sự sụp đổ của các lý tưởng giáo điều đã từng dẫn một nửa dân tộc đi rất xa, gây ra hai hệ quả, ở những người hồi phục mau chóng, là lòng tin, vị tha, ở những người chịu chấn thương dai dẳng, không hồi phục, cố bám chặt vào các giá trị cũ, là cay đắng, bi quan, chống trả và chấn thương liên tiếp. Nhưng nguồn thơ Ý Nhi ở nơi giao hòa của phương pháp hiện thực và chủ nghĩa hiện đại đã tìm ra lối vượt lên. Trong ý nghĩa này, giữa các tác phẩm của các cây viết nữ cùng thế hệ, thơ Ý Nhi thiên về trí tuệ hơn cả. Không biểu lộ xúc cảm dễ dàng như ở nhà thơ nữ khác; nhờ thế, chị có khả năng quan sát tỏ tường, ghi lại chi tiết:
Giữa chiều lạnh 
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ 
Vừa nhẫn nại vừa vội vã 
Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời 
Vội vã như thể đó là lần sau chót
Không thở dài 
Không mỉm cười 
Chị đang giữ kín đau thương 
Hay là hạnh phúc 
Lòng chị đang tràn đầy niềm tin 
Hay là ngờ vực
Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên 
Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt 
Hay sau buổi chia ly 
Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu 
Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng
Giữa chiều lạnh 
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ 
Dưới chân chị 
Cuộn len như quả cầu xanh 
Đang lăn từng vòng chậm rãi.
(Người đàn bà ngồi đan)
Đó là một bài thơ mảnh khảnh mà vững vàng. Bài thơ như một người phụ nữ. Chiều lạnh, căn nhà như gia đình, nhưng không có người thứ hai, có thể những đứa trẻ đã đi xa, có thể người chồng đâu đó hay chưa từng hiện hữu, có thể cuộc chiến tranh vừa mới bắt đầu hay đã kết thúc từ lâu. Mọi chuyện thay đổi xảy ra bên ngoài căn nhà, thế giới xôn xao ngoài kia, và mọi chuyện cũng xảy ra bên trong căn nhà, như hình ảnh được quan sát từ bên ngoài, nhưng cũng là hình ảnh trong tâm trí nhà thơ. Trong bài thơ này và một số bài thơ khác nữa, Ý Nhi sử dụng được kỹ thuật phim ảnh và kỹ thuật hội họa, không những về thẩm mỹ mà còn về tinh thần. Những bài thơ sau bài này, viết năm 1984, cũng chứng minh rằng khả năng sử dụng những kỹ thuật ấy có thể làm nên nhiều việc. Sử dụng một ngôn ngữ nửa tự sự nửa trữ tình, mô tả mà không giải thích, đứng ngoài nhìn vào, trừ một vài lúc như để diễn dịch, chị làm cho toàn bộ bài thơ biến thành bức tranh. Ý Nhi có thể kết thúc bằng việc tạo ra sự kiện hay hành động, nhưng chị đã chọn cách thay đổi góc nhìn, nhận xét từ phía khác, kín đáo tâm tình trong khi vẫn quan sát khách quan. Đó là yếu tố hiện đại trong bút pháp của chị. Thời mới viết, chị có những câu thơ cảm động, nhưng dễ lẫn vào đám đông: 

Cây bàng vừa nhuốm lửa 
Khóm trúc mới đổ vàng 
Lòng suối Đôi rộng quá 
Chúng mình đưa nhau sang
Sau này, cũng mô tả hiện thực, cái nhìn của chị đã khác:
Đôi lần 
em nhìn tán cây mà ứa nước mắt 
vì màu xanh 
Đôi lần 
em nghe tiếng chim khuyên mà ứa nước mắt 
vì sự trong trẻo
Cái nhìn của chị tách ra khỏi cõi tình, nhìn sự vật từ phía trái, phía lo âu, nhưng bao giờ cũng chịu khó đi đến chung cuộc:
Để chiếc nhẫn ai đánh rơi 
Được nhặt lại 
Và dịu dàng chói sáng
Một nhà thơ nữ Hoa Kỳ mà tôi hay đọc, Dorianne Laux, cũng nghĩ như chị, với cách nói khác: 

No matter what the grief, its weight, 
we are obliged to carry it 
(Bất kể nỗi buồn ra sao, có nặng như chì 
chúng ta cũng phải mang nó đi) 

Ngôn ngữ Ý Nhi ít mỹ ngữ. Nhạc điệu trong thơ không réo rắt, chị quen thuộc với thể tự do hơn các nhà thơ cùng thời, như khác với Xuân Quỳnh, và có lẽ gần hơn với thơ Nhã Ca trước đây, chẳng hạn. Một người viết có chiều sâu văn hóa, tiết chế, điềm đạm, điều này tương ứng với đời sống nội tâm giàu có, sôi nổi, trải nghiệm. Thơ chị có tính triết học, giản lược, gợi ý. Dù vậy, trong những bài thơ dài, như bài thơ về Nguyễn Du, chị không ngần ngại diễn tả những ấn tượng một cách chi tiết và giàu nhạc tính. Nhạc điệu không chỉ là nối kết vần, mà còn là cách lên giọng xuống giọng, sự dừng lại, khoảng trống giữa các chữ, câu. Trong các yếu tố của thơ ca, tôi nghĩ, nhạc điệu gần nhất với vô thức. Một số nhà thơ hiện nay xa lánh khái niệm ý thức trong sáng tạo, có lẽ do ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực. Nhưng đối với thế hệ Ý Nhi, sự né tránh ấy không xảy ra, vì họ không chủ trương rõ ràng việc sử dụng vô thức khi viết. Những quan hệ xã hội, bạn bè, đặc biệt với các nghệ sĩ, những kỷ niệm về Hà nội, về quê cũ, được thể hiện như những đề tài quan trọng trong thơ chị, vì chúng tràn ngập trong ký ức.  Ký ức của nhà thơ chiếu rọi vào bia mộ, làm sáng lên những tên tuổi phủ bụi. Câu chuyện chị kể lại thong thả, đượm buồn, tự nhiên, nhưng thật ra vẫn được cân nhắc, tính toán về nghệ thuật. Qua những nhân vật ấy, xã hội ngày ấy, cuộc chiến tranh, thắng thua, được mất, kỷ niệm đẹp, những số phận bi tráng, sự căm phẫn lặng lẽ, cạm bẫy của dân tộc, tóm lại là những động lực của lịch sử, đều được chị mang tới với thơ. 

Dương Bích Liên uống rượu 
lặng im 
và vẽ
Đã vượt qua mối vướng bận đời thường 
đã vượt qua 
mối vướng bận vinh quang 
đã vượt qua nỗi lo sợ âm thầm 
khi phải đứng 
riêng về một phía
Phía nào? Phía cô độc trí thức. Cách dựng hình ảnh của Ý Nhi có tính phác hoạ với nét cọ mạnh, đậm, ngắn, độc đáo, ít gặp mà tự nhiên. Tuy vậy, không phải khi nào hình ảnh trong thơ chị cũng được như thế. 

mà lòng tôi giữa ồn ào thành phố 
vẫn có bờ lau sậy con tàu đi
Là một liên kết hình ảnh thuyết phục: thành phố- con tàu- lau sậy.
tôi xin nhắc tháng ngày gian khổ ấy 
đã thành sao lặng lẽ sáng trong tôi
Là liên kết dễ dãi: tháng ngày gian khổ- sao sáng. Bạn có  thể  tìm thấy trong thơ chị những mùa hè tươi tắn, xinh đẹp, sự sống sôi nổi, lòng yêu đời trong năm tháng chiến tranh. Bạn tìm thấy ở đó nỗi buồn, sự ngờ vực, nỗi bi quan, sự trầm tĩnh kỳ lạ của mùa thu, sự nghĩ ngợi, phóng chiếu. Thật ra niềm ước muốn trong thơ Ý Nhi không thể hiện sôi nổi, chẳng hạn như trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ,  nhưng có mặt thường trực. Đó là sự không thỏa mãn với hạnh phúc. Ý Nhi ít khi nói về mất mát và khổ đau trong chiến tranh: sự kiểm soát có ý thức đối với lịch sử, sự chống lại hoàn cảnh, trong khi vẫn không hề tách mình ra khỏi hoàn cảnh ấy. Chị có  thể  chịu ảnh hưởng của các nhà thơ khác trong thời gian đầu, nhưng mau chóng đứng tách ra bằng cách làm phức tạp trở lại những tình huống đã được đơn giản hóa, làm bất toàn trở lại những trạng thái hoàn hảo giả tạo. Rõ ràng chị đã vượt ra, thoát khỏi sức hút ghê gớm mà ngay cả những người viết tài năng khác, trước chị, cũng khó thoát được. 

ra đi 
như người đàn bà đi khỏi mối tình của mình 
Là ra đi như thế nào? Có thể thế này: 
Rồi em muốn được ra đi như thế 
Ra đi mà tràn đầy biết ơn
Nhưng có thể khác, hay ngược lại, tất nhiên. Thơ Ý Nhi là sự tuyên bố của tình yêu, của tự do, là hiến chương của trái tim. Cảm xúc mạnh mẽ, sự mở rộng các biên độ của câu thơ, đời sống nội tâm giàu có, giọng điệu có phần cực đoan, ngắn, đôi khi thản nhiên đến lạnh lùng, trên nền của chất nữ tính mạnh mẽ, lòng yêu quê hương, sự kiên định và chung thủy, tạo nên vẻ đẹp của bài thơ, đôi khi vượt ra ngoài dự định của tác giả. Nếu chúng ta không biết cách đọc hoàn cảnh sinh ra bài thơ, nền văn hóa mà tác giả sống ở đó, sự hiểu biết về một bài thơ trở nên hời hợt. Khoảng cách giữa nhà thơ và chất liệu sáng tác là khoảng cách giữa bài thơ và người đọc. Ý Nhi không phải là nhà thơ ngôn ngữ; chữ dùng của chị mang chứa nội dung được kiểm soát, chừng mực. Chị có một lòng tin rõ ràng vào tác động của ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng và đời sống. 

đến gần các nguyên mẫu 
không ràng buộc 
không tô vẽ
Những hình ảnh trong thơ xuất hiện trên một tấm thảm dệt khác, của văn hóa, chúng không hiện diện một cách lạnh lùng như những sự vật khách quan, nhưng cũng không phải là vật trang trí cho các ý tưởng. Ý Nhi có khả năng thẩm thấu vào ngòi bút của mình các quan tâm thời sự mà không làm thay đổi hướng đi của ngòi bút ấy. Chính ký ức, sự thăng hoa, siêu ngã, đã tiết chế những xúc cảm mạnh mẽ. Tuy vậy, vẫn có phút ranh giới giữa bản ngã và thế giới bị xóa nhòa, chị đau khổ khi thế giới đau khổ, và hạnh phúc khi thế giới hạnh phúc. 

Rồi ta về ngày thơ ngây 
trái mận trái mơ 
con giống đêm rằm 
đèn trung thu sáng nến 
phượng nở êm đềm trên mái rêu
Hoài niệm của chị là mong ước. Còn đây là hoài niệm suy tưởng:
Lòng cảm động nghẹn ngào trước đất 
đất khổ nghèo cay cực miền trung 
những cây cằn những ruộng nắng cháy lưng 
những đồng hẹp bãi cát dài loá mắt 
củ khoai gầy với căn nhà mái thấp 
con đường dài giữa những cánh đồng hoang
Đôi khi thế giới của Ý Nhi trở thành siêu thực, đó là khi chị tìm cách vượt qua, nới rộng biên giới thực tại, hơn là đi tìm một thế giới khác, huyền bí hay cứu rỗi. Thực ra thế giới mà chị sống đầy bí ẩn và đầy phép lạ, thực ra tự do mà chị đi tìm là tự do cao quý hơn hết thảy các giá trị khác, tự do tuyệt đối, gần hoang tưởng. Con người sống trong ràng buộc với người khác và với mọi giới. Sự tương quan ấy là tương quan thân mật và hỗ trợ. Con người và những sinh vật khác, những vật thể vô tri khác, là bình đẳng. Sự tương tác và lệ thuộc lẫn nhau tạo ra sinh thái lành mạnh cho vạn vật. Tự do thực ra là sự cân bằng và sự lệ thuộc lẫn nhau ấy.
Chị đã lường trước sự đói khát 
đã lường trước những đòn tra tấn hiểm nghèo 
đã lường trước cái chết 
nhưng chỉ đến khi đứng sau song sắt nhà tù 
chị mới hiểu tự do.
Đó không phải là cái cách một người đói hiểu giá trị của bữa cơm 
một người ốm quý trọng thuốc 
cũng không giống như kẻ bất hạnh luyến tiếc tình yêu.
Lúc no người ta không nhớ đến cái ăn 
lúc khỏe người ta quên thuốc 
người ta cũng sẽ thôi nghĩ về sự may mắn trong hạnh phúc.
Nhưng với chị 
ngay cả khi không còn tù ngục 
tự do vẫn như một ám ảnh 
một dày vò 
một khát vọng.
 
(Tự do)
Giọng nói của một người đàn bà, cổ điển mà đương thời, dịu dàng nhưng rắn rỏi, ít lời, giàu ngụ ý. Những tâm sự, than vãn, kêu gọi đều bị loại bỏ ra khỏi bài thơ. Nhân vật của bài thơ đứng cùng một phía với tác giả nhưng có thể không phải là một, những câu thơ tự do được sắp xếp thành những đoạn như các khổ thơ có vần. Nhân vật của chị không phải là người anh hùng, kẻ nổi loạn, hay nạn nhân, hay cũng có thể là tất cả những thứ ấy. Nhân vật ấy chính là cuộc đời, số phận của một người riêng lẻ nhưng cũng là của quê hương chúng ta. Một người phụ nữ đã lường trước cái giá phải trả cho tự do. Nhân vật nữ ấy được nhìn như một người dũng cảm, quyết liệt với mục đích. Mục đích gì? Tự do của chị, tự do cá nhân của những người khác, và của xã hội. 

nhưng chỉ đến khi đứng sau song sắt nhà tù 
chị mới hiểu tự do.
Đề kháng trước hoàn cảnh nghiệt ngã, đi từ sự khiêm tốn mà tới chỗ học hỏi, đi từ niềm tin mà tới tự tin, và tới nhận thức rằng tự do không phải chỉ là sự không bị cầm tù, không phải là trạng thái thoát khỏi xiềng xích. Không phải là phản ứng trước nghịch cảnh, mặc dù chúng có thể cần thiết. Tự do là bản chất của cuộc đấu tranh hôm nay của chúng ta. Tuy nhiên còn một điểm khác, tôi tin là chủ đề, từ góc nhìn xã hội. Trong một xã tự do, theo đúng nghĩa của nó chứ không phải là thứ tự do chào hàng, con người có thể dễ dàng nhận ra hạnh phúc của mình như khí trời tươi mát. Đó là khí vị của tự do cá nhân. Tự do cá nhân là tự do tuyệt đối, là cảm nhận và kinh nghiệm của một người, sống và hành xử trong một xã hội văn minh, trong mối quan hệ với tự do của người khác. Mặc dù trong phê bình văn học ngày nay, tính chân thực, tính chân thành không được xem là quan điểm có nhiều giá trị trong việc đánh giá một bài thơ, tôi vẫn tin rằng trong một số trường hợp, như thơ của Ý Nhi, đó là yếu tố quan trọng. Cư xử chân thành với ý thức tự do. Ngoài ra, là giả dối. 

Nhưng với chị 
ngay cả khi không còn tù ngục 
tự do vẫn như một ám ảnh
Bất kỳ một lý tưởng xã hội nào, mới thoạt trông có vẻ cao quý đến đâu, nếu không hướng tới tự do cá nhân, tự do cá nhân chứ không phải tự do của tập thể, thì cũng là một lý tưởng giả tạo. Nhưng giá trị của một cuộc đời đến từ khả năng cho đi chứ không phải khả năng nhận vào. Khả năng cho đi ấy tạo nên tự do. Trong cuộc đấu tranh, chỉ những người không giữ lại cho mình một điều gì mới là kẻ di chuyển dễ dàng nhất. Tự do không phải chỉ như tình trạng đối lập với tù đầy. Những người đang ở trong nhà mình, không một ngày bước vào nhà tù, vẫn không nhất thiết là kẻ tự do. Giọng của bài thơ trên là giọng tường thuật nhưng dồn dập, các câu thơ ngắn đều chỉ về một hướng. Chúng tụ lại ở phần cuối như những dòng chảy ùa vào khúc sông hẹp. Có một nỗi thôi thúc, gần như kêu gọi ngấm ngầm, tuyên ngôn lặng lẽ, vốn là điều ít gặp trong thơ Ý Nhi. Thật ra, chị có sở trường hơn khi nói về cuộc sống qua khuôn mặt của tình yêu và nói về tình yêu qua mặt nạ của bi kịch. 

Em đã đi qua mảng tường đổ chiến tranh 
đã đi qua dòng sông mùa nước lớn 
gió đã thổi trên mặt người rát bỏng 
bao ưu phiền năm tháng đã dần quen
Mưa mong manh như tơ nhện trong chiều 
cây thẫm lại bên mặt hồ lặng gió 
trời gần gụi, mây về trên mái phố 
lá đượm vàng bao lối vắng người qua
Em một mình trước những trang thơ 
em trò chuyện cùng anh trong xa cách 
bao nhiêu gian truân, bao nhiêu cực nhọc 
ngày dịu dàng, đằm thắm của tình yêu
Thật ra tôi chỉ định trích một khổ thơ, nhưng bài thơ kéo đi, không cưỡng lại. Bi kịch của đời sống không là nước mắt mà là các tình huống đặt con người vào chọn lựa khó khăn, nguy hiểm, không chỉ tình yêu mà còn về tư cách, tâm hồn.
Ta bước giữa những con đường mới 
Những đền đài mới 
Lòng kinh sợ 
Như đứa trẻ đi trong mưa lạc lối
Những bạn bè cũ đã cáo quan 
Ăn măng trúc măng mai ngồi câu bên sông vắng
Chị nói về Nguyễn Du hay về thời đại hôm nay? Bi kịch trong thơ Ý Nhi không phục vụ chính nó, như bi kịch Hy Lạp. Theo định nghĩa của Aristotle, bi kịch bắt nguồn từ giai đoạn sụp đổ của đế quốc Hy Lạp, là một phương pháp nghệ thuật để khán giả chia sẻ cảm xúc đối với số phận của nhân vật bị thua cuộc và bị thất bại. Bi kịch trong thơ Ý Nhi được mô tả nhằm tạo ra hậu cảnh của hành động, giải thích các xung đột và hành vi của nhân vật. Xung đột trong thơ nói chung thường là nội tâm nhưng không phải bao giờ cũng thế. Có những xung đột siêu hình hay xã hội, biểu hiện như những quyết định bắt buộc: 

Anh đưa em đi trốn 
Nỗi dày vò ngày mai
Ý Nhi vượt qua chủ nghĩa thương cảm. Chị đứng từ trung tâm của cảm xúc xã hội và lương tâm xã hội, để nhìn thấy sự thật, tất nhiên không phải bao giờ cũng trọn vẹn. Muốn như thế thơ của chị phải có tính chính xác, hướng dẫn. Nhưng bản chất của thơ trữ tình là chống lại hướng dẫn. Thơ chị vì vậy trở thành cái nhìn phía sau những hoang tưởng, con đường phía sau cánh cửa, công việc phía sau sự kết thúc, tình yêu phía sau cuộc đời, dù cuộc đời ấy có thể đã được sống, xem xét và ghi lại. Trong số những người đọc thơ hôm nay, có lẽ nhiều người vẫn tiếp tục sống ích kỷ, dối trá, và sau khi đọc một bài thơ hay họ vẫn tiếp tục tàn phá thiên nhiên, tra tấn đồng loại và ăn cắp, như một thứ quyền lợi đặc biệt giành được từ những tổn thương của các thế hệ trước, nhưng có lẽ không nhiều thì ít họ cũng sẽ sống một cách khó khăn trước, ít tha thứ cho mình hơn trước. Thơ trữ tình thực ra không tin vào tính điển hình, thần tượng, vào cái chính thống. Các giá trị khác, dù ghê gớm đến đâu, chỉ là nhất thời. Thơ trữ tình nhìn thế giới như toàn thể, thơ tự sự nhìn thế giới như các mảnh cắt; thơ trữ tình ngây thơ, thơ tự sự minh triết, vì vậy khác với nhiều người nghĩ, thơ tự sự trừu tượng hơn, khái quát hơn. 

không còn nhiều thời gian cho do dự 
không còn nhiều thời gian cho sai lầm
Không do dự thì ít hơn hay nhiều sai lầm hơn? Mọi thứ thay đổi. Hoàn cảnh xã hội thay đổi. Thể xác và tinh thần bạn thay đổi. Bạn không thể bám chặt vào một hệ thống giá trị. Bạn không thể đứng trong một lớp kính chắn bảo vệ mãi mãi. Không có một lớp bảo vệ nào như thế cả. Muốn sống sót bạn phải thích nghi, vượt lên, phải thay đổi. Đó cũng không phải chỉ là sự thay đổi để sống sót. Đó là sự thay đổi sinh ra từ lòng tử tế, sự tin cậy đối với người khác, sự công bằng đến mức nghiêm khắc, phẫn nộ của lương tri. Trong thời buổi chúng ta, từ vị trí đặc quyền hơn người khác, chỉ những người có lương tri mới muốn thay đổi. Chỉ những trái tim yêu thương mới cần thay đổi. Sự hoài niệm trong thơ Ý Nhi cũng không phải là sự hoài niệm thuần khiết. Cũng vậy, nhận thức về chiến tranh hai mươi năm và sự thật của cuộc chiến tranh ấy, quá khứ của một nửa nhân dân, và hoài niệm về quá khứ của một nửa nhân dân khác, mãi mãi sẽ thay đổi.  Dưới tác động của lịch sử cá nhân. 

Bấy giờ 
em băng qua ngã tư đèn đỏ 
để kịp đến nơi anh 
Bấy giờ 
cây cối 
cửa nhà 
xe cộ 
cuồn cuộn chảy một dòng ngũ sắc 
Bấy giờ 
những khuôn mặt 
thảy đều thơ dại 
Bấy giờ 
cỏ xanh 
trời xanh 
áo người rực rỡ 
Bấy giờ 
em gầy hao, đầy đặn 
hân hoan, buồn khổ 
dưới một ánh nhìn 

Có lẽ, trong vài trường hợp, thơ chị cần phải khó hiểu hơn, ẩn chứa hơn, và do đó đầy năng lượng hơn nữa. Cô gái nói về thể chất trước, nói về tinh thần sau, đi từ hai thái cực, từ gầy hao đến đầy đặn, hay từ hân hoan đến buồn khổ. 
dưới một ánh nhìn 
Chỉ trong một ánh nhìn, đối tượng mới có thể thay đổi mau thế. Chủ thể của ánh nhìn là chàng trai. Nhưng chính ánh nhìn cũng làm biến đổi người phụ nữ, và chủ thể trở thành người phụ nữ. Các tác động xuyên qua điểm nhìn di động làm mờ nhòa ba câu cuối, làm cho hình ảnh cô gái trong bài thơ vừa thật, vì gầy hao và đầy đặn là thật, vừa mơ hồ, vì ánh nhìn. Đoạn kết nâng bài thơ lên, làm cho kỷ niệm về một tình yêu trở thành sự nhìn nhận lại. Chữ bấy giờ được lặp đi lặp lại. Có một nỗi buồn trong thơ Ý Nhi, không phải sự sầu cảm melancholy, nhưng là tiếng thở dài kín đáo, sự phê phán được nén lại, nụ cười hiền lành nhưng không khoan nhượng, trở thành ngọn gió thổi từ quá khứ; tôi nghĩ, đó là một trong những điều làm nên thơ Ý Nhi. Trong những giây phút yếu đuối, khoảnh khắc đen tối, người khác có thể đến gần chúng ta, yêu mến chúng ta hơn. Cũng như sự thay đổi vật chất, thay đổi xúc cảm tạo ra năng lượng. Tôi đọc thơ chị như đọc tự truyện. Cảm giác ấy có được vì bài thơ đi từ tổng quát đến riêng biệt, từ trừu tượng đến cụ thể, hơn là ngược lại. Đôi khi đoạn kết như lời cảnh giác, cầu nguyện. Đôi khi giọng thơ khởi đầu nhẹ nhõm, vui tươi, trẻ thơ, rồi bỗng những câu kế theo làm người ta lưỡng lự, ngẫm nghĩ. Có lẽ trong đời, chị cũng từng như thế, khởi sự hồn nhiên, xông xáo, quyết liệt, rồi trải qua năm tháng chiến tranh, trong khi một số người gục ngã, một số người thăng tiến, thì chị lang thang, nhẫn nại, quan sát, nghĩ ngợi, như một thiểu số tinh hoa của cả hai bên đã được chiến tranh chọn lựa để lưu giữ ký ức cần thiết, những bài học tế vi không thể ồn ào rao giảng. 

Đã đến hồi lìa bỏ 
cái chuyến xe chật chội, chậm rì này ..
Đã đến hồi từ giã 
cái chặng đường cơ cực, mù mờ này.
Đã đến hồi vỡ nát 
trái tim trĩu nặng yêu thương.
Đã đến hồi lịm tắt 
niềm hy vọng đắng cay.
Lìa bỏ 
từ giã 
vỡ nát 
lịm tắt 
úp mặt trên đường 
Lặng im – trăn trối
 
(Về cái chết của bác sĩ Zhivago)
Bài thơ viết về số phận một người, mắc kẹt giữa các bên trong chiến tranh, bị đầy ải bởi cuộc cách mạng bạo lực và giả trá, tước đoạt quyền được sống hạnh phúc của mỗi cá nhân, nhân danh sự thay đổi thế giới vì quyền lợi của gia cấp cần lao. Bài thơ không phải là sự phản kháng hay tấm gương phản ánh. Ý Nhi đã làm đúng một việc như nhà văn B. Pasternak đã làm: mô tả sự vật như nó là, bình thản, lặng lẽ, đau khổ được nén lại, mà thật ra cũng không phải đau khổ, một thứ gì tựa như số phận được chia sẻ. Bài thơ diễn tả giờ phút cuối cùng của một con người, yêu thương mà quyết liệt, lưu luyến mà không bám chặt, bi đát mà không phẫn nộ. Giọng của bài thơ không phải của nhân vật, cũng không phải của cái tôi trữ tình. Đó là giọng khẳng định, chấp nhận, ít nhận xét, nghiêng về trừu tượng, phi cá nhân, Như ống kính chú mục vào khung cảnh, người đọc chỉ chú ý đến nhân vật ấy, giờ phút ấy, sự kết thúc ấy. Đó là một giọng thơ tiết chế cảm xúc nhưng không hoàn toàn khách quan. Vì chị dùng nhiều tính từ bổ sung cho các từ ngữ khác: chật chội, chậm rì, cơ cực, mù mờ, vỡ nát, trĩu nặng, các chữ ấy làm cho phương pháp của chị  tuy khách quan mà xúc cảm, tuy thản nhiên mà hiện diện. Đó là, tất nhiên, vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu của bài thơ này, của một bút pháp. Tình yêu của người phụ nữ dành cho người đàn ông như một biểu tượng. Có lẽ trong những nhân vật tiểu thuyết ít có nhân vật nào như bác sĩ Zivago, mang trong mình số phận của tầng lớp trí thức. Bạn xua đi những ảo tưởng về chân lý, đúng sai, nhận ra con đường đã lựa chọn, có thể đã đúng, có thể đã sai, muốn nhìn lại sự vật như nó chính là. Đó là khả năng trở thành một người khiêm tốn. Trong khi đời sống của cá nhân ngày càng cô lập, đối tượng của thơ ca là chính đời sống của nhà thơ ấy. Đời sống ấy trước hết là đời sống văn hóa và tâm hồn. 

Không ai trói buộc 
không ai gông cùm 
không ai đánh đập 
không ai chửi mắng 
sao ta sống như trong lồng cũi
Sự hấp dẫn của một quá khứ mà một số người viết hiện nay vẫn còn tự hào, sự hấp dẫn ấy không lay chuyển được Ý Nhi. Nhưng im lặng cũng là một đức tính nữ tính, một cố gắng phi thường chống lại hoàn cảnh. Sự miễn dịch ấy, sự chống trả ấy trở thành sự nhàn nhã của trái tim mạnh mẽ, đập đều đặn trong lồng ngực. Mọi người đều biết, chỉ khi lo âu hay sợ hãi, lỗi nhịp, bạn mới nghe tiếng động của trái tim. Trường hợp khác, ở người can trường lặng lẽ, tiếng đập của nó không thể nghe thấy. 

Chỉ một chút yếu hèn toan tính 
Con có thể lạc đi hạnh phúc suốt đời mình 

Năm hai mươi tuổi, nếu người ta đọc được những dòng này. 
Đối với một cá nhân như thế, lối vào căn nhà tâm hồn của họ hoặc ngay lập tức hoặc rất khó khăn. Tuy vậy, Ý Nhi chưa chú tâm hướng sự phân tích sắc bén đến những góc khuất của lịch sử, những sự thật đau đớn của các gia đình, chưa khai thác quyền năng vô thức, những yếu tố lầm lỗi và tội lỗi. Thơ chị dừng lại nhiều hơn ở ý thức của một người có suy nghĩ trong sáng, mẫn cảm, đi tìm động lực của lịch sử qua những số phận có thể được ghi chép. Điều ấy không ngăn chị trở nên hồn nhiên, có những phút gần như buông thả, trong sung sướng hoặc khổ đau. 

Sao hôm nay tôi muốn được là tôi 
với tóc tết đuôi sam 
với áo rộng thùng thình
Tư duy thơ Ý Nhi hướng nhiều đến sự trôi chảy, kế tục. Đối với chị, quá khứ và hiện tại không gián đoạn, hiện tại và tương lai không gián đoạn. Nỗi sầu cảm, nếu có, hay ngược lại, niềm hy vọng, bao giờ cũng sinh ra từ sự liên tục này, đều đặn lặng lẽ nhưng không buồn rầu, kín đáo nhưng không đè nén, rộng lượng. Tuổi thơ được khắc họa lóng lánh trong kí ức, lại như tiếng thở dài. Ý Nhi ở trong nhóm một số tác giả ít ỏi vượt qua ranh giới chia đôi hai phía của chiến tranh, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa thua cuộc và thắng cuộc, giữa cô đơn và đám đông, trật tự và tự do. Đọc thơ chị bao giờ tôi cũng có ấn tượng rằng tác giả muốn nói nhiều hơn thế, nhưng thôi, cũng đành, bao giờ tôi cũng có cảm giác muốn đứng lên bước đi, ngồi xuống lắng nghe, tóm lại là làm một điều gì. Thơ chị không có nhiều hành động, vì vậy mà nó kêu gọi hành động, trước nỗi vong thân của người Việt trong đời sống đương đại. Thật khó khăn để đánh giá toàn bộ tác phẩm của một nhà thơ mà không nhận xét về tiểu sử, cá tính, sự phát triển riêng. Cuộc đời chị, tôi tin là không khác mấy những điều chị viết: cái nhìn, mục đích đời sống, lòng yêu công bằng, sự đòi hỏi không mệt mỏi, cách làm việc không nghỉ của một trái tim. 
Không ai trói buộc 
không ai gông cùm 
không ai đánh đập 
không ai chửi mắng 
sao ta sống như trong lồng cũi
Đời sống càng kỹ thuật hóa, sự tiếp xúc càng tăng lên giữa người và người, thì bí mật của mỗi cá nhân càng tăng. Các giao tiếp bề mặt gây ra quan hệ giả tạo. Tuy nhiên, mặt khác, các chuẩn tắc không cố định mà thay đổi mỗi ngày. Bạn không thể dựa vào những chuẩn tắc cố định, đã xác lập từ nhiều năm trước. Như một người trí thức, bạn không thể đặt lòng tin toàn vẹn vào bất kỳ lý tưởng nào, bất kỳ thần tượng nào: bạn chính là chuẩn tắc. Từ biệt không thương tiếc các nguyên mẫu văn hóa, nề nếp cũ, tự tin, bình tĩnh, Ý Nhi chọn cho thơ mình một lối đi dưới lá, giữa hai hàng cây, giữa cánh đồng đi về phía ký ức chưa bị tổn thương, tuổi thơ chưa bị đánh mất, về phía toàn vẹn chưa bị phá nát của một quê hương, về phía tự do. 

Ðôi khi 
ta như chiếc gàu thả sâu trong lòng giếng 
cứ va đập 
va đập mãi vào bờ đất 
cho đến hồi 
chỉ còn lại một vốc nước nhỏ.
Thơ ca là niềm vui thú mà nó sinh ra ở người viết và người đọc. Niềm  vui thú ấy làm cho bạn bước chậm lại, nghe ngóng, chú ý, làm lương tri của một người trở nên trong suốt, vững chãi. Nghệ thuật không đứng một mình, sự phá phách ngôn ngữ không đứng một mình, khi nào chúng có thể trả lời những câu hỏi của con người, và những câu hỏi ấy là vô tận, khi ấy chúng trở thành cần thiết. Sự trầm tư, nỗi buồn hay hối hận, viễn kiến, hoan lạc mà không khinh bạc, sự dừng lại, tỉnh thức, sự thương xót, những giây phút ấy làm cho đời sống có ý nghĩa. Không có chúng, ý nghĩa ấy, mỗi người chúng ta sống một cuộc đời tẻ nhạt, cô quạnh, không được thăm viếng và không được xem xét cẩn thận. 
Bởi vì chúng ta đi tìm trong thơ ca những điều tốt đẹp hơn bản thân chúng ta.
Nguyễn Đức Tùng 
Cypress, supermoon, 1. 1. 2018 

Phần nhận xét hiển thị trên trang