Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

Khi nào thì nước Nga sụp đổ?




Tiếp…. Tôi (Inozemtsev) nghĩ là không bao giờ.

PV: Có một ấn tượng là Putin không khát máu, trong khả năng có thể ông luôn cố gắng giữ cân bằng mong manh giữa thói phàm ăn của “Leviathan” (quái vật huyền thoại trong Kinh Cựu Ước – ND) và những người được gọi là “dân thường” ở nước Nga. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế suy thoái “chạm đáy” và sự bất mãn chống đối tăng lên ở khắp nơi, Putin có nguy cơ rơi vào tình cảnh của Gorbachev. Một người đã phải chao đảo giữa các thế lực bảo thủ và các nhà dân chủ, và vì vậy, đã vô tình làm lung lay khối thống nhất của Đảng Cộng sản, nhà nước, uy tín cá nhân của ông và đất nước Liên Xô lúc đó. Ông có cảm nhận như vậy không?
Inozemtsev: Tôi không nhận thấy bất kỳ “những điều tương tự” nào giữa Putin và Gorbachov. Gorbachov từng là một nhà cải cách, còn Putin lại làm tất cả để không có cải cách. Vì vậy, Gorbachov phải chao đảo giữa các phe nhóm, xét trên quan điểm: tiến lên phía trước hay không? Ông đã phải cố gắng tìm những người ủng hội cải cách và tìm cách bắt các đối thủ phải im lặng. Trong khi đó, Putin không tiến về phía nào cả, chỉ đứng tại chỗ và làm bộ là “đoàn tầu sắp chuyến bánh”. Với ý nghĩa như vậy thì chẳng có sự chao đảo nào cả trong hành xử của Putin. Có lẽ phải có khiếu khôi hài đặc biệt thì mới nhận thấy được, rằng Putin chao đảo giữa Kudrin và Sechin. Ông Kudrin và các cộng sự được trả thù lao rất hậu hĩnh để soạn thảo các chương trình cải tổ. Nhưng khi các cuộc bầu cử lắng xuống, may mắn nhất là những văn bản này được xếp ngăn kéo, còn tệ hơn thì có lẽ chúng được dọn đi rất xa.
Tôi tuyệt nhiên không thể nhìn nhận một cách nghiêm túc những câu chuyện tầm phào  của một số quí vị không rõ danh tính khẳng định, rằng Putin sẽ nghĩ lại, và sau khi thắng cử ông sẽ bỗng nhiên trở thành một người Châu Âu thực thụ, sẽ bắt đầu tự do hóa kinh tế và nhiều vẫn đề khác. Một người không hề thay đổi quan điểm của mình trong suốt 18 năm, sẽ không thay đổi trong sáu năm tiếp theo. Nhất là khi ông ta không còn là trẻ con, để mỗi tuổi một khôn lớn. Đồng thời, tôi nhất trí là Putin không khát máu, ông chỉ khát tiền, như tất cả bạn bè ông. Putin hiểu rất rõ là hiện thời có thể và cần phải “vắt sữa” nước Nga, nơi dân chúng hoàn toàn  không cưỡng lại việc đó, và ông cũng không đời nào dai dột siết ốc quá mức, đến nỗi xảy ra cách mạng. Putin không hề muốn bắn giết như ở Maidan (quảng trường trung tâm ở Kiev, thủ đô Ucraina – ND), để rồi sau đó ông và các bạn ông phải chạy trốn. Tôi không nhận thấy bất kỳ sự chao đảo nào của Putin, như Gorbachev trước đây. Ngược lại, ở ông có một sự đánh giá tình hình rất tỉnh táo và thực tế.
PV: Vào giữa những năm 1980, việc dầu hỏa trên thị trường quốc tế sập giá là một “trái bom” gây bất ổn nặng nề cho Liên Xô. Hiên nay, những tác nhân nào và vào lúc nào chúng có thể làm suy yếu trầm trọng Liên Bang Nga?
Inozemtsev: Có hai tác nhân bên ngoài, có khả năng làm suy yếu trầm trọng nước Nga. Tuy nhiên, cả hai tác nhân này đều ít khả năng có hiệu lực thực sự. Thứ nhất, đó vẫn chính là giá dầu lửa, tác nhân đã dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô. Tuy nhiên, ở nước Nga  hiên nay tình hình đã khác nhiều, chúng ta đã có kinh thế thị trường đủ trưởng thành,  có khả năng điều chỉnh để thích ứng với thj trường bên ngoài. Trường hợp thu nhập dầu lửa giảm mạnh do giá dầu sập, có thể phá giá đồng rúp rất đáng kể, mà vẫn tiếp tục cân đối được thu chi trong ngân sách và chính sách tài khóa. Mặt khác, bản thân cấu trúc của nền kinh tế Nga hiện nay cũng hoàn thiện hơn nhiều nhiều lần so với cấu trúc kinh tế thời Xô Viết. Một gánh nặng oằn lưng cho nền kinh tế là công nghiệp nặng Xô Viết thua lỗ triền miên, đã được vứt bỏ.
Vấn đề là ở chỗ nền tảng kinh tế Nga chỉ bị hủy hoại thực sự nghiêm trọng, khi giá dầu tụt xuống mức $20-25/thùng trong thời gian từ hai đến ba năm. Mặt khác, trong trường hợp này, không chỉ kinh tế Nga mà kinh tế nhiều nước khác cũng bị hủy hoại trầm trọng. Do đó, các tay chơi chủ chốt trong nghành dầu lửa có thể không cho phép xảy ra tình trạng mất giá kéo dài như vậy. Tôi có thể giả định “mức giá thấp kéo dài” là ở khoảng $40/thùng, chứ không thể là $20/thùng. Vì vậy, tôi đoan chắc rằng trong 5-10 năm sắp tới, kich bản nói trên sẽ không diễn ra. Còn để các nền kinh tế hàng đầu thể giới không còn quan tâm đến dầu lửa nữa, cần thêm ít nhất 40-50 năm.
Thứ hai, nước Nga có thể bắt đầu thay đổi nếu xuất hiện một hình mẫu hấp dẫn, một thí dụ cho thấy những thay đổi có thể dẫn đến những kết quả tích cực như thế nào. Tôi chủ động không nói đến Ba Lan, Đông Âu, thậm chí các nước Baltic. Người ta sẽ nói là chúng tôi, những người Nga hơi đặc biệt, hơi khác thường một chút, chả đến lượt bọn Ba Lan, Phần Lan chỉ bảo chúng tôi. “Đánh thức” nước Nga chỉ có thể là Ucraina ruột thịt, giả sử nếu như Ucraina có thể nhanh chóng trở thành một nước Châu Âu phát triển và gia nhập EU vào năm 2025, trở thành một “Jerusalem mới”, miền đất hứa nào đó. Phải nói trong trường hợp Ucraina, Điện Kremlin rất may mắn: trong chính quyển Kiev các quí ông đạo tặc lần lượt thay thế nhau, ông sau còn tham lam hơn ông trước. Thanh niên tài năng bỏ đi hết, cải cách hoàn toàn chững lại. Điều này lại cộng hưởng với làn sóng căm ghét đễ hiểu của người Ucraina đối với người Nga. Tóm lại, về mọi phương diên, tình hình rất có lợi cho Putin. Có thể nói, Ucraina trở thành một thí dụ điển hình cho một cách thức hành xử không nên có. Và đó chính là tác nhân bên ngoài mạnh mẽ nhất hiện nay đang củng cố chế độ chính trị Nga. Tôi cũng nghĩ là toàn bộ Hội đồng Bộ trưởng Kiev cần phải được đề cử nhận huân chương “Vì những công lao với Tổ quốc” các hạng khác nhau của Nga, một việc lẽ ra phải làm từ lâu.
PV: Hậu quả của những chao đảo thời Gorbachev là “cuộc diễu hành chủ quyền” của các nước cộng hòa dân tộc, sự phân liệt Liên Xô xảy ra trước khi Liên Xô chính thức kết thúc sự tồn tại của mình. Tuy nhiên, liệu một kịch bản tương tự có thể diễn ra ở Liên Bang Nga không? Những khu vực lãnh thổ nào, theo nhìn nhận của ông, có thể lãnh đạo phong trào này?
Inozemtsev: Định kỳ ở các tạp chí khác nhau, các tác giả khác nhau, phần lớn là ở Phương Tây cố gắng bảo vệ luận điểm nước Nga sắp sửa tan vỡ. Đương nhiên, thích nói nhất về vẫn đề này là các đồng chí Ucraina, nhưng không chỉ có họ. Chẳng hạn, trong số tạp chí The Economist xuất bản gần đây, đề tài chủ yếu là vấn đề: “Bao giờ nước Nga tan vỡ?”. Tôi nghĩ rằng không bao giờ.
Trong vấn đề này, điểm duy nhất có thể tranh cãi là khu vực Bắc Caucasus. Khu vực này có gắn kết dân tộc và quốc gia với nước Nga, ở mức thấp hơn nhiều, so với mức gắn kết này của Tadjikistan và Uzbekistan với Moskova tại thời điểm Liên Xô sụp đổ. Hiên nay, ở Ingushetia toàn bộ người Nga, Ucraina và Belorussia chỉ chiểm ít hơn 1% dân số. Và khu vực đó, về bản chất là một lãnh thổ thuộc địa, kiểm soát theo kiểu bán quân sự, và thậm chí không phải là khu thuộc địa định cư. Chúng ta đã cho phép chính quyền địa phương đuổi hết người Nga đi và chẳng nghĩ được cách nào giải quyết sự bất cân xứng này cả.
Vì vậy, tôi nghĩ rằng, nguy cơ ngóc đầu dậy của chủ nghĩa dân tộc, khởi đầu cho một cuộc đấu tranh mới giành độc lập ở Bắc Caucasus là có thực. Một cuộc nổi dậy rất có thể sẽ không phải là dưới những khẩu hiệu tương đối thế tục như thời Dudaev (tổng thống nước cộng hòa Chechnya ly khai – ND), mà dưới những khẩu hiệu Hồi giáo. Người ta có thể nói rằng, làm gì có chuyện nổi dậy, vì ai sau đó sẽ “nuôi” Caucasus? Xin thưa là logic đơn giản này có thể không có hiệu lực. Khi người ta cuồng tín, chẳng có luận cứ kinh tế nào thuyết phục được họ cả.
Chúng ta nên nhớ rằng, Liên Xô tan vỡ trước hết ở những khu vưc có ít người Nga. Những nước như Azerbaijan và Armenia tách khỏi nước Nga tương đối nhanh chóng và dễ dàng, bởi vì ở những nơi đó không có sự hòa nhập sâu sắc của văn hóa và người Nga. Thực ra, đó là vấn đề chung của các đế quốc thực dân. Cũng như vậy, một lần người Anh đã đi khỏi Ấn Độ, người Nga đi khỏi Trung Á. Và tôi xin lưu ý rằng, hôm nay rất ít người tiếc nuối về điều này. Cũng như chắc chắn rằng, sẽ chẳng ai vui mừng về việc chinh phục Tadjikistan và sáp nhập Tadjikistan vào Nga dưới dạng một tỉnh mới.
Nhưng đồng thời, bằng tất cả sự tôn trọng của mình đối với sự toàn ven lãnh thổ Nga, tôi muốn nói rằng Bắc Caucasus không phải là khu vực có ý nghĩa sống còn với nước Nga. Dù thế nào, cũng không phải vì nó mà nước Nga sụp đổ. Và nhìn chung, tôi cho rằng vào lúc Liên Xô sụp đổ, việc Chechnya tách khỏi nước Nga, như các nước Cộng hòa Caucasus và Trung Á khác, có lẽ là một phương án tốt hơn rất nhiều cho nước Nga. Hơn hẳn việc nước Nga hiện nay thường xuyên phải cống nạp cho các “vương hầu” địa phương. Khu vực Bắc Caucasus vốn là một phần trong chính sách thuộc địa và cạnh tranh chiến lược toàn diện của Đế chế Nga, một di sản không còn mang lại bất cứ lợi ích cho nước Nga hiện đại.
Tiếp theo phần 4: Nước Nga không cần lãnh đạo thế giới….

Phần nhận xét hiển thị trên trang

À ra là thế!

Các "đồng chí" (tоварищи) và món "mộc tồn", chuyện hậu trường kỉ niệm Cách mạng Tháng Mười

Cách mạng Tháng Mười (1917-2017) tròn 100 năm. Thật ra, theo lịch Tây thì là Cách mạng Tháng Mười Một mới đúng (lịch của Nga lúc đó lệch một chút)

Đồng chí Ngô Thế Long ở Viện Thông tin Khoa học Xã hội sẽ kể một chuyện hậu trường về mối quan hệ giữa "đồng chí" (có đồng chí Ivan) và "mộc tồn".

Ivan, giống như lãnh tụ Kim Nhật Thành, là rất thích món mộc tồn. Khi cụ Kim sang khu biệt thự Hồ Tây gần Phủ Tây Hồ ngày nay, thì cụ Hồ vẫn thịnh tình thết đãi món quốc hồn quốc túy này. Đã kể ở đây (tháng 8/2016).

Chuyện của đồng chí Long vui, thực tế, và sâu sắc không kém. Kể đầu tháng 11/2017, qua Fb (cả lời, ảnh và chú thích ảnh).



---
Tоварищи, готовься решающей битве! - Các đồng chí, chuẩn bị cho trận chiến quyết định!

Vodka Nga "Tоварищ". Rất tuyệt.




Long Ngo The


Tháng 5 năm 1990, Viện tôi tiếp một cán bộ của Viện Đông Phương thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô sang dự kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch HCM. Lâu ngày tôi quên mất tên Ông ta rồi. Thôi cứ gọi là Ivan là tên thường gặp của người Nga. Ivan thông thạo tiếng Việt và cũng ... rất thích món mộc tồn! Sau một buổi làm việc, Ông nói với Chu Đình Long, lúc đó phụ trách đối ngoại của Viện tôi, muốn được thưởng thức món đặc sản đó của Việt Nam.

Và thế là chúng tôi đến quán thịt cầy ở ngõ Hàng Hương. Buổi đó, ngoài Chu Đình Long và Ivan, còn có Anh Hoàng Hưng, Chu Trung Can và tôi.

Khi thức ăn đã được bày ra mâm và rượu đã rót vào chén, Ivan nâng cốc lên và nói : "Chúc sức khỏe các đồng chí!". Tôi bèn bảo : "Rượu thịt chó với nhau còn đồng chí cái gì". Ivan cười và nói: "Nghĩa "đồng chí" của các Ông gốc từ tiếng hán, có nghĩa gì khác không tôi không biết, còn của chúng tôi là Tоварищ. Từ này xuất phát từ Tовар, có nghĩa là hàng hóa. Thời Nga Hoàng, người dân đi buôn lậu trong đêm tối và gọi nhau là Tоварищ, có thể hiểu theo nghĩa đẹp là bạn hàng hay gọi là đồng bọn cũng được".

À ra là thế. Và mỗi lần nâng chén lại "Chúc sức khỏe Tоварищи!"

https://www.facebook.com/long.ngothe.12/posts/698690543667777

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử


Tác giả: Vũ Đức Liêm
Bất cứ quốc gia dân tộc hiện đại nào cũng tìm kiếm cho mình một nền văn hóa, văn minh, hay một vương quốc khởi đầu qua việc kết nối với một thực thể mờ ảo trong quá khứ. Đó là nơi huyền thoại dựng nước bắt đầu, và cũng là nơi chứng kiến sự va chạm giữa các diễn ngôn lịch sử. Phù Nam là một câu chuyện như thế ở Đông Nam Á.
Trong số các nền văn hóa kim khí quan trọng trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó phát triển các xã hội phức tạp và hình thành nhà nước: Đông Sơn/ Cổ Loa, Sa Huỳnh/Champa, Óc Eo/ Phù Nam, thì Phù Nam ít được chú ý hơn cả. Bao trùm lên nó là huyền thoại về vương quốc được hình thành đầu tiên ở Đông Nam Á, với cảng thị sầm uất như Óc Eo, trung tâm tôn giáo, chính trị như Angkor Borei. Dù chỉ tồn tại khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII CN, vương quốc này không chỉ là trung tâm của kết nối giao thương giữa các cộng đồng khu vực với Ấn Độ, Trung Hoa mà còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong diễn ngôn chính trị-lịch sử ở thời kỳ hiện đại bởi vì dựa vào những cứ liệu lịch sử không rõ ràng của giai đoạn này mà chủ nghĩa dân tộc Campuchia tìm cách khẳng định sự hiện diện của dân tộc Khmer hàng nghìn năm trước ở vùng hạ lưu Mekong.
Bài viết này lập luận rằng Phù Nam không thể là sản phẩm chiếm hữu, độc quyền của một quốc gia dân tộc nào cả. Thực tế, nó là một thực thể lịch sử đứng giữa các đường biên hiện đại ở hạ lưu Mekong mà một phần di sản của nó đã trở thành bộ phận không tách rời của nước Việt Nam. Thực tế lịch sử đó cần phải được tôn trọng. Lịch sử của Phù Nam cũng chính là một phần của lịch sử Việt Nam.
Các huyền thoại về Phù Nam
Sau hơn nghìn năm bị “lãng quên”, người đầu tiên đưa Phù Nam trở lại là học giả Pháp Paul Pelliot (1903: Le Fou-Nan, BEFEO). Ông sử dụng tư liệu Trung Hoa để phác họa lịch sử vương quốc mà ông cho là bắt đầu từ thế kỷ I CN đến khoảng thế kỷ VI-VII CN. Những nghiên cứu sau đó sẽ khảo sát khía cạnh ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, văn bia… để tìm kiếm phác thảo chi tiết về vương quốc bí ẩn này. Tiếp sau khảo cứu của George Coedès (1944), cuộc khai quật của L.Malleret ở Óc Eo là dấu mốc quan trọng về nhận thức đối với Phù Nam. Các cuộc khai quật khảo cổ quy mô những thập kỷ gần đây ở Việt Nam, từ Nền Chùa (Kiên Giang), Óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Đá Nổi (An Giang), Cây Gáo (Đồng Nai), Lưu Cừ (Trà Vinh), Bình Tả- Gò Xoài (Long An), Gò Thành (Tiền Giang), Phụng Sơn Tự-Chùa Gò (TP.HCM), đến Cát Tiên; và ở Campuchia bởi các nhà khảo cổ học Campuchia, Mỹ, Pháp… như dự án Khảo cổ hạ lưu Mekong- LOMAP của ĐH Hawaii và bộ Văn hóa Nghệ thuật Campuchia, đã gia tăng đáng kể hiểu biết của chúng ta về diện mạo của Phù Nam và các tương tác vùng của nó.
Lịch sử hình thành Phù Nam được trùm phủ bởi các truyền thuyết và huyền thoại. Huyền thoại này được ghi vào bi ký và phản ánh gần như nhau trong các sách cổ Trung Hoa như Tấn thư, Nam Tề thư, Lương thư. Theo đó, thực thể này lần đầu tiên được người Trung Hoa ghi chép ở thế kỷ III, bắt đầu từ chuyến thăm của hai vị sứ thần là Khang Thái và Chu Ứng tới vương quốc họ gọi là Phù Nam. Rằng có một người từ Ấn Độ, Malay hay các vùng biển phía Nam nào đó tên là Hỗn Điền – Kaundinya được thần báo mộng, nhặt được cây cung ở dưới gốc cây và chỉ hướng đi thuyền lớn ra biển. Thuyền đến biển Phù Nam, dưới sự cai trị của một nữ hoàng là Liễu Diệp. Liễu Diệp cho người ra chống lại, Kaundinya giương cung bắn, tên xuyên qua mạn thuyền, Liễu Diệp sợ, xin hàng. Kaundinya cưới Liễu Diệp và cùng trị vì. Bia Champa Mỹ Sơn 3 (năm 658) kể một câu chuyện tương tự, nhưng nhuốm màu sắc huyền thoại hơn, thần thánh hóa ảnh hưởng của Hindu giáo với các tước hiệu, tên các vị thần và dòng dõi các tộc cổ xưa có liên hệ với châu thổ sông Hằng.

a: Hình thần Vishnu trên mảnh vàng, di chỉ Gò Tháp; b: Hình thần khắc trên mảnh vàng, Cát Tiên. (ảnh: Nguyễn Tiến Đông); (Lê Thị Liên, 2011).  
Như vậy, dù câu chuyện về sự lập nước diễn ra như thế nào đi nữa, diễn ngôn của nó phản ánh sự tương tác giữa những người bản địa với những người từ bên ngoài (Ấn Độ), mang theo các yếu tố mà trong nhiều thập kỷ, học giả phương Tây gọi là nhân tố “Ấn Độ hóa” như tôn giáo, thiết chế chính trị, nghệ thuật, luật pháp… Còn Liễu Diệp, vị nữ hoàng bản địa có lẽ là thủ lĩnh của một bộ lạc mà sử Trung Hoa mô tả là “còn trần truồng” (Lương Ninh 2006). Tuy vậy, chắc chắn các nhóm bản địa đã đóng vai trò năng động trong quá trình hình thành nên thực thể chính trị này, chứ không đơn thuần là kết quả của quá trình tương tác ngoại lai. Sự kết hợp này do đó mở đầu cho vương triều Phù Nam, vương quốc mà ngay cả phổ hệ của những người đứng đầu vẫn còn là một thách thức đối với các sử gia.
Hình thần Vishnu trên mảnh vàng, di tích Đá Nổi (ảnh Lê Xuân Diệm). (Lê Thị Liên, 2011)
Khung cảnh của Phù Nam
Lịch sử của Phù Nam có lẽ nên được kể từ 5000-7000 năm trước. Bắt đầu với cuộc di cư của các cư dân nói tiếng Nam Đảo (Austronesians) từ đảo Đài Loan xuống Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Họ mang theo lúa nước, lợn, dừa, khoai lang, và kỹ nghệ làm gốm, đóng tàu… qua các hòn đảo, duyên hải trên Biển Đông (Peter Bellwood 2006, 2007, 2014, 2017; Solheim 2007). Cuộc du hành này là một trong những hiện tượng kỳ vĩ của nhân loại, đưa Austronesians thành nhóm ngôn ngữ trải rộng nhất trong lịch sử thời tiền hiện đại, băng qua 1/3 địa cầu, kết nối hàng chục nghìn hòn đảo trải dài từ Nhật Bản đến đảo Madagascar và quần đảo Tây Thái Bình Dương.
Bản đồ vùng phân bố của dân nói ngôn ngữ Austronesia (Nam Đảo), Peter Bellwood, 1997.
Một trong các nhóm này được cho là đã cập bến vùng duyên hải miền Trung và Nam Việt Nam từ đảo Borneo và quần đảo Philippines (Peter Bellwood 2017). Điều này đã được chứng thực không chỉ qua bằng chứng ngôn ngữ học (Leonard Andaya 2008), mà còn phản ánh qua đường phân bố của nhiều loại hiện vật khảo cổ. Một trong số đó chính là dải phân bố của các vật phẩm ngọc bích, đặc biệt là khuyên tai hai đầu thú từ Đài Loan tới văn hóa Sa Huỳnh, quần đảo Philippines, hạ lưu Mekong và phía Bắc bản đảo Malay.

Vùng phân bố các vật phẩm ngọc bích từ Đài Loan trong vùng Đông Nam Á (Hsiao-Chun Hung, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Berenice Bellina, et al., 2007).
Huyền thoại Phù Nam mang theo những câu hỏi lớn từ tộc người, thể chế chính trị, quan hệ lãnh thổ, phạm vi địa lý, kinh đô, trạng thái kinh tế, và tương tác khu vực. Mỗi khía cạnh của nó đều chứa đựng những diễn dịch lịch sử có tác động trực tiếp đến nhận thức về quá khứ của một vùng đất rộng lớn từ phía Nam biển Hồ xuống hạ lưu Mekong và một phần của Tây Nguyên. Điều càng có ý nghĩa là vùng đất này ngày nay nằm trên hai quốc gia khác nhau: Việt Nam và Campuchia.
Nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học (Hsiao-Chun Hung, Yoshiyuki Iizuka, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Bérénice Bellina, et al) đăng trên PNAS (2007) cũng chỉ ra phần lớn các vật phẩm này khá tương đồng trên nhiều phương diện và được làm cùng thời (500 TCN-500 SCN). Điều đó có nghĩa là dải đất và duyên hải kéo dài hơn 3,000 km xung quanh biển Đông đã được kết nối trong những tương tác sôi động ở các thế kỷ tiếp giáp CN. Đó là cơ sở của Óc Eo và Phù Nam.

a. Các vật phẩm ngọc bích: A-Gò Mả Vôi (văn hóa Sa Huỳnh) và các di chỉ ở Phillipines và Đài Loan. (Hsiao-Chun Hung, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Berenice Bellina, et al., 2007)
b. Khuyên tai hai đầu thú và vật phẩm đá quý và thủy tinh từ văn hóa Sa Huỳnh
(Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002)
c. Khuyên tai hai đầu thú trên thái dương một di cốt tại di chỉ Giồng Cá Vồ (Cần Giờ)
(Vũ Đức Liêm, Triển lãm khảo cổ học Việt Nam tại bảo tàng Khảo cổ học Herne, Đức).
Khi các nhóm cư dân này bước vào thời kỳ kim khí, nhiều khu định cư đã được xác lập nơi ngày nay là các di chỉ khảo cổ lớn như Nền Chùa (Kiên Giang), Óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Đá Nổi (An Giang), Cây Gáo (Đồng Nai), Lưu Cừ (Trà Vinh), Bình Tả- Gò Xoài (Long An), Gò Thành (Tiền Giang), Giồng Cá Vồ, Chùa Gò (TP.HCM), kéo dài lên Cát Tiên ở phía Bắc, khu vực Angkor Borei ở phía Đông, cách Châu Đốc khoảng 50 km. Những trung tâm định cư và hình thái tổ chức xã hội phức tạp này sau đó tiếp xúc với thiết chế chính trị và tư tưởng tôn giáo từ Ấn Độ trong các thế kỷ tiếp giáp công nguyên để từng bước hình thành nên cấu trúc chính trị Phù Nam.
Một vương quốc, một đế quốc, một mandala, một “bá quyền” hay…
Chúng ta biết gì về cấu trúc chính trị và lãnh thổ của Phù Nam? Người Trung Hoa gọi nó là “quốc” (vương quốc, nước) đơn giản vì trong thế giới quan của họ, “quốc” phản ánh tất cả các hình thái tập trung quyền lực xã hội. Đương nhiên người đứng đầu “quốc” sẽ là vương (vua), cũng như người Ấn gọi tất cả những người nắm quyền khác là Raja. Nhưng đó là cách bên ngoài nhìn Phù Nam. Tư liệu Trung Hoa thậm chí còn cung cấp một bảng phổ hệ không đầy đủ về các vương triều Phù Nam. Một vài tấm bia ở vùng hạ lưu Mekong cũng nhắc đến vị hoàng tử hay nhà vua nào đó.
Ngay từ đầu các học giả đã gọi nó là một vương quốc, hay thậm chí là “đế quốc” vì sử nhà Đường nói rằng Chân Lạp (nhà nước sơ kỳ của người Khmer ở phía Bắc) từng lệ thuộc Phù Nam. Những người khác thì gọi nó là nhà nước Ấn Độ hóa, nhà nước sơ kỳ đầu tiên ở Đông Nam Á, hay một “bá quyền” (hegemony, Kenneth R. Hall) cho đến khi Oliver W. Wolters, sử gia ở ĐH Cornell (Mỹ), đề xuất gọi những thể chế sơ kỳ trong khu vực là mandala (1982, 1999). Mandala là khái niệm từ tiếng Sanskrit mà Wolters dùng để chỉ tình trạng chính trị riêng biệt và thường không bền vững, trên phạm vi địa lý xác định một cách mơ hồ, không có biên giới định rõ. Trong hệ thống này, các trung tâm nhỏ có nhu cầu tìm kiếm sự bảo trợ và liên minh chính trị ở khắp nơi. Vì thế, mỗi mandala gồm có tôn chủ và các tiểu thủ lĩnh phụ thuộc; trong khi chỉ có tôn chủ mới được quyền nhận cống nạp và thần phục thì các nhóm lệ thuộc luôn tìm cách tạo lập một hệ thống mandala của riêng mình khi có điều kiện. Điều này xuất phát từ đâu? Wolters giải thích đó là do điều kiện tự nhiên phân tán, chia cắt bởi thung lũng, rừng rậm, đầm lầy, dân cư thưa thớt và các quan hệ quyền lực lỏng lẻo.

Bản đồ phân bố các di chỉ Đá Nổi, Gò Tháp, Cát Tiên (Lê Thị Liên 2011).
Dù nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà khảo cổ và sử gia về giai đoạn sơ sử Đông Nam Á, quan điểm này vẫn còn là vấn đề tranh luận ở Việt Nam. GS. Lương Ninh không tán đồng với quan điểm cho Phù Nam là một mandala, ít nhất là ở giai đoạn mà ông gọi là thời kỳ “đế quốc” (thế kỷ III – VI CN). Ông cho ở giai đoạn sơ kỳ, có thể tổ chức bộ máy Phù Nam còn lỏng lẻo, phân tán, chưa ổn định, nhưng sau đó, chính quyền được củng cố lại như một quy luật lịch sử (2009: 68-69).

Bản đồ kênh cổ kết nối các trung tâm của Phù Nam. Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002.
Cuối cùng, điều mà chúng ta biết được là Phù Nam tồn tại dựa trên các trung tâm chính trị và thương mại như Angkor Borei và Óc Eo. Những trung tâm này kiểm soát, kết nối hệ thống các khu đô thị/ định cư cổ phân bố cả hai bên đường biên giới Việt Nam-Campuchia. Nền chính trị, ý niệm quyền lực, nghi lễ tôn giáo của nó gắn bó chặt chẽ với sự thực hành chính trị và tư tưởng quyền lực Ấn Độ. Họ xây dựng các kênh đào, có các trung tâm sản xuất thủ công như đồ gốm và chế tác đồ trang sức, cũng như một mạng lưới các trung tâm tôn giáo phức tạp. Phạm vi “lãnh thổ” Phù Nam có thể được phác thảo thông qua mạng lưới này. Bản đồ phân bố các di chỉ khảo cổ hạ lưu sông Mekong (Lê Thị Liên 2011) và bản đồ các con kênh cổ kết nối các di chỉ quan trọng của Phù Nam dưới đây (Charles Higham 2002) gợi ý về cấu trúc lãnh thổ và tương tác khu vực của thể chế này.
Phù Nam trong mối giao thương giữa Ấn Độ – Đông Nam Á-Trung Hoa

Bản đồ thương mại Á châu, khoảng năm 600 (James C.M. Khoo. Art & Archaeology of Fu Nan, 2006)
Để hiểu được điều này, chúng ta cần định vị Phù Nam trong khung cảnh rộng lớn hơn của lịch sử toàn cầu, giai đoạn mà nhiều sử gia gọi là thời kỳ “toàn cầu hóa” đầu tiên. Con đường tơ lụa kết nối Trung Hoa với thế giới Địa Trung Hải, nơi mà Viện Nguyên Lão Rome nhiều lần cấm các thành viên mặc lụa bởi vì sản phầm này làm chảy máu vàng và bạc ra khỏi đế chế. Xuôi về phía nam hàng nghìn km, có một tuyến giao thương không kém phần quan trọng nhưng ít được biết đến hơn. Nhà khảo cổ học người Anh, Ian Glover gọi đó là Con đường tơ lụa phương Nam (2000), hình thành do sự gia tăng thương mại của Rome với Ấn Độ, Đông Nam Á, và Trung Hoa. Cuốn sách bàn về chính trị cổ xưa của Ấn Độ là Arthashastra (viết bởi Kautilya, c. 350-275 TCN) đã đề cập đến việc người Ấn đi về phía Đông để tìm vàng. Điểm đến của họ là hòn đảo có tên Suvarnadvipa (Đảo Vàng), mà nhiều khả năng là đảo Java. Các văn bản Phật giáo đề cập đến việc nhà vua Asoka cũng phái các tăng đoàn đến vùng đất được gọi là Suvarnabhumi (Đất Vàng), nơi mà cả Malaysia, Thailand và Myanmar đều cho là thuộc về mình. Bản thân truyền thuyết về sự ra đời của Phù Nam cũng đã phản ánh sự dịch chuyển của những người Ấn Độ này.

Tượng thần Vishnu, niên đại thế kỷ VI, cao 1.6 m, khai quật tại Đồng Tháp năm 1998 (Võ Sĩ Khải 2000)
Tại sao Phù Nam lại quan trọng ở giai đoạn đầu của kết nối trên Biển Đông? Vì nó là trung tâm của một mạng lưới các giao thương ven bờ. Các sử gia về lịch sử thương mại và kỹ thuật hàng hải trong khu vực như Paul Wheatley, Oliver W. Wolters, Kenneth R. Hall, Micheal Jacq-Hergoualc’h, và Pierre-Yves Manguin đều gợi ý rằng cho đến trước thế kỷ VI-VII, giao thương hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương được trung chuyển chủ yếu qua eo đất Kra, miền Nam Thailand ngày nay. Hạn chế kỹ thuật hàng hải, tri thức địa lý cùng với nỗi lo cướp biển và các cơn bão đã khiến thủy thủ đoàn không dám mạo hiểm đi qua eo Mallaca. Chuyến đi của nhà sư Pháp Hiển ở thế kỷ thứ V là một ví dụ. Sau khi đi đường bộ đến Ấn Độ, ông quyết định trở về Trung Quốc trên một con tàu thương mại Ba Tư. Chuyến hành trình được Pháp Hiển ghi lại trong cuốn Phật Quốc Ký của mình, đã trở thành một thảm họa thực sự. Con tàu của ông bị bão đánh dạt hơn 1000 km về bờ biển phía Bắc Trung Quốc, thay vì địa điểm hướng đến là Quảng Châu (Tansen Sen 2003). Hơn nữa, việc chuyển hàng qua dải đất Kra cũng sẽ giúp giảm được hơn 1200 km đi lại. Phù Nam vì thế trở thành một đầu mối thương mại trong vùng vịnh Thailand, cùng với vương quốc người Môn là Dvaravati trên lãnh thổ trung tâm Thailand ngày nay.
a: Đồng tiền Roma thời hoàng đế Antonius Pius tìm thấy ở Óc Eo (Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002).
b: Đồng tiền Roma thời hoàng đế Victorius (268-70), được đúc ở Cologne (Đức), được phát hiện tại U-Thong (Thailand). (Ian Glover 1989).
Sự thịnh vượng của Phù Nam được phản ánh qua số lượng phong phú các hiện vật khảo cổ được tìm thấy mà phần lớn trong số chúng là những vật phẩm thương mại giá trị. Rất  nhiều trong số chúng có nguồn gốc ngoại lai từ Rome, Ấn Độ, Trung Hoa và các khu vực thuộc Đông Nam Á: từ các đồng tiền, chuỗi hạt đá quý, thủy tinh, đồ kim loại, đồ trang sức vàng, ngọc, các vật phẩm tôn giáo như lá vàng khắc chữ Sanskrit, hay khối lượng phong phú hình các linga, tượng thờ…
Các đồ trang sức bằng đá quý và thủy tinh cũng gợi ý về các trung tâm chế tác ở vùng châu thổ Mekong và sự gắn bó chặt chẽ với nhiều vùng sản xuất khác trên đất Ấn Độ. Số lượng đồ gốm rất đa dạng tại các di tích này cho thấy sự phát triển của thủ công nghiệp, trong khi các con kênh cổ có thể được dùng cho cả mục đích giao thương và sản xuất nông nghiệp.

a: Tiền Phù Nam và tiền Pegu (Lương Ninh 2009).
b: Tiền bạc tìm thấy tại Ba Thê, giống như những đồng tiền mà L.Malleret khai quật tại Óc Eo. (Bảo tàng An Giang).  (John N. Miksic 2000).
Việc tìm thấy nhiều đồng tiền đúc bằng bạc cho thấy sự phát triển của hoạt động trao đổi. Sự tương đồng của những đồng tiền này với các đồng tiền tìm thấy trên bán đảo Malay, Thailand, và Myanmar cho thấy không gian tương tác khu vực rộng lớn của các cư dân Phù Nam. Chính sức hấp dẫn đó mà ngay từ thế kỷ III, người Trung Hoa đã phái sứ đoàn đến vùng đất này.

Mảnh vàng lá khắc chữ và đồ trang sức bằng vàng khai quật năm 1987 tại Long An (Võ Sĩ Khải 2000).
Trong khi đó số lượng phong phú các tượng Phật và Hindu, nền tháp và di tích các công trình tôn giáo cũng như vật phẩm tôn giáo cho thấy đời sống tinh thần phức tạp và đa dạng của các nhóm cư dân Phù Nam. Nhiều trung tâm tôn giáo được ghi nhận trên vùng hạ lưu Mekong, cùng với đó là sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc (xem thêm Lê Thị Liên 2006, Nghệ thuật Phật giáo và Hin-du giáo ở ĐBSCL trước thế kỷ X).

Mảnh vỡ tượng đất nung được cho là các vị thần của Rome cùng với tượng phật và một linga nhỏ (Võ Sĩ Khải 2000).
Phù Nam và Chân Lạp
Chân Lạp là tên người Trung Hoa ghi chép về vương quốc sơ kỳ của người Khmer. Theo các văn bia, vương quốc này cũng là một thực thể chính trị chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, thành lập cuối thế kỷ VI ở vùng cao nguyên phía Nam Lào (Vat Phou, Champasak). Sử nhà Đường có chép việc Chân Lạp vốn là thuộc quốc của Phù Nam, đến thế kỷ thứ VII thì lớn mạnh và chinh phục Phù Nam. Sau đó Chân Lạp bị chia rẽ, phân làm Thủy Chân Lạp (ở phía Nam) và Lục Chân Lạp (ở phía Bắc). Campuchia ngày nay nói rằng vì thế mà họ là người kế thừa của Phù Nam!
Tấm bản đồ dưới đây phản ánh thành quả nghiên cứu hơn một thập kỷ của dự án khảo cổ Hạ lưu Mekong-LOMAP trong việc xác định không gian địa lý của hai thực thể: Phù Nam và Chân Lạp.

Bản đồ không gian Phù Nam và Chân Lạp (Miriam Stark 2006)
Phù Nam là Phù Nam và Chân Lạp là Chân Lạp. Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam.
Trước hết, Chân Lạp được tạo dựng bởi người Khmer. Người Khmer nói tiếng Nam Á (Austroasiatic). Địa bàn phân bố của những người tạo dựng nên Chân Lạp trải dài từ khu vực cao nguyên Khorat, dọc lưu vực sông Chi, sông Mun, theo dãy Dangrek về phía đông đến vùng cao nguyên Champassak của Lào. Chân Lạp được thành lập sau Phù Nam và ban đầu còn phải nhận sự lệ thuộc.
Thứ hai là chính Chân Lạp đã tấn công phá hủy Phù Nam, sau đó rút về phía Bắc của Biển Hồ. Lịch sử cư trú của người Khmer ở hạ lưu Mekong sau thời kỳ Phù Nam là hầu như không được đề cập đến. Nhà sử học Nhật Bản Yumio Sakurai nói rằng nhiều vùng đất như Đồng Tháp Mười đã bị bỏ hoang cả nghìn năm sau sự sụp đổ của Phù Nam. Sứ thần nhà Nguyên Chu Đạt Quan đến Angkor vào thế kỷ XIII, ghi chép về vùng đất xung quanh hai bờ sông hầu như bỏ trống, chỉ có trâu hoang và rừng rậm. Nhà khảo cổ người New Zealand, Charles Higham đã lập tấm bản đồ trong đó đánh dấu các địa điểm có văn bia Khmer từ thế kỷ IX đến XIII, cho thấy họ hầu như không có sự hiện diện nào từ khu vực phía Nam Phnom Penh (2002).

Bản đồ phân bố các văn bia Khmer từ triều đại Mahidharpura (c. 802–1219) (Charles Higham 2002)
Cuối cùng, Phù Nam đang dần bước ra khỏi huyền thoại. Càng tách lịch sử ra khỏi huyền thoại thì chủ nghĩa dân tộc càng ít chỗ “ẩn nấp”, đó là lí do chúng ta cần đưa vương quốc này ra ánh sáng khoa học. Điều đó không chỉ giúp quá khứ được hiểu đúng mà quan trọng hơn thực tế lịch sử và các di sản của nó được tôn trọng, trong đó có vấn đề lãnh thổ, biên giới.
Lịch sử Phù Nam và vùng hạ lưu Mekong chắc chắn sẽ là những chủ đề được quan tâm trong tương lai. Hiện tại, các bảo tàng cấp tỉnh ở An Giang, Đồng Tháp, Long An, thành phố Hồ Chí Minh… có rất nhiều các hiện vật được khai quật, đang chờ đợi các nhà nghiên cứu. Chúng sẽ góp phần làm sáng tỏ bức chân dung ẩn giấu của Phù Nam. Thực tế, huyền thoại về Phù Nam là một ẩn dụ cho cách tiếp cận lịch sử của người Việt hiện đại, rằng lịch sử Việt Nam dường như vẫn chủ yếu được viết và nhìn từ châu thổ sông Hồng. Đã đến lúc chúng ta cần những cách thức tiếp cận lịch sử đa dạng, và mở rộng không gian của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bởi vì, dù phía sau Phù Nam là huyền thoại gì đi nữa, nó đã trở thành một phần của Việt Nam, cũng như lịch sử Phù Nam đã là một bộ phận của lịch sử Việt Nam.
Vũ Đức Liêm là giảng viên khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội, nghiên cứu Lịch sử tại ĐH Hamburg. Hướng nghiên cứu chính: Lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á cận hiện đại.
Tham khảo
  • Charles Higham. 2002. Early Cultures of Mainland Southeast Asia. Oxford University Press.
  • Ian Glover. 1989. Early trade between India and Southeast Asia : A link in a world trading system, Center for Southeast Asian Studies. University of Hull.
  • Ian Glover and Peter Bellwood. 2004 Southeast Asia from Prehistory to History. Routledge Curzon.
  • James C. M. Khoo. 2000. Art & Archaeology of Fu Nan: Pre-Khmer Kingdom of the Lower Mekong Valley. Bangkok: Orchid Press, Bangkok.
  • Lê Thị Liên. 2006. Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X. HN: Nxb Thế giới.
  • Lê Thị Liên. 2011. Hindu Deities in Southern Vietnam: Images on small archaeological artifacts, in Early Interactions Between South and Southeast Asia, eds., Pierre-Yves Manguin, ‎A. Mani, ‎Geoff Wade, Singapore: ISEAS.
  • Lương Ninh. 2009. Nước Phù Nam. Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  • Oliver W. Wolter. 1999.  History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives. Southeast Asian Program Publications No. 26, Cornell University, Ithaca, New York, 1999.
  • Paul Wheatley.1983. Nagara and Commandry. Origins of Southeast Asian Urban Traditions (Chicago:UC, Dept. of Geography, Research Papers Nos. 207-208, 1983).
  • Peter Bellwood. 2017. First Islanders: Prehistory and Human Migration in Island Southeast As. Wiley Blackwell.
  • Phan Huy Lê. Qua di tích Óc Eo và thư tịch cổ thử nhận diện nước Phù Nam. Nghiên cứu Lịch sử, 11/2007.
  • Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh. 1998. Khảo cổ học tiền sử và sơ sử thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ. Thành Phố Hồ Chí Minh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tàu Pháp tuần tra Biển Đông



Nathalie Guibert
(Báo Pháp Le Monde số ra ngày 1 tháng 11 năm 2017)
Từ đáy lòng, xin cảm ơn tàu săn ngầm Auvergne
André Menras, Hồ Cương Quyết
Mỗi người Việt Nam yêu nước, mỗi công dân trên thế giới gắn bó với tự do và hòa bình chỉ còn biết vui mừng trước sáng kiến này của nước Pháp: một cuộc xuất quân để hiện diện và khảo sát vùng biển Đông Nam Á đang bị Tàu đe dọa cấm thiên hạ bén mảng. Phóng sự của báo Le Monde xác nhận về căn bản mối hiểm họa chờ chực xảy ra: «Hiểm họa là một ngày nào đó sẽ thấy Biển Nam Trung Hoa đóng lại như một cái hồ, mọi quyền lợi của các cường quốc khác bị Tàu bắt làm con tin». Trung Quốc đã «bắt làm con tin» rồi các đảo và vùng biển Việt Nam tại Hoàng Sa, tại Gạc Ma… Trung Quốc đang thuận đường kiểm soát một khoảng không gian độc lập lớn của nước Philippines được tổng thống Duterte của họ chống cự èo uột …  
Về luật pháp, nước Tàu chỉ thừa nhận có luật pháp Tàu. Nước Tàu tự đặt ra ngoài Công ước LHQ về quyền Biển mà chính họ có ký. Tòa Trọng tài La Hague mới xác nhận không mập mờ những vụ nước này xâm phạm luật pháp quốc tế: «Trung Quốc không có các quyền do lịch sử để lại» đối với đại bộ phận vùng nước chiến lược ở Biển phía Nam Trung Hoa; nước này đã «vi phạm chủ quyền … »; Trung Quốc đã «làm cho việc tranh chấp thêm nghiêm trọng»… Tóm lại, Trung Quốc đang âm thầm xây dựng Vạn Lý Trường Thành trên biển của họ bằng chính sách dùng đại bác, đã dùng sức mạnh quân sự để các quốc gia trong vùng mất đi chủ quyền của họ và dùng con đường thương mại đầy sức mạnh chiến lược để thách thức cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Đây rành rành là một chiến lược xâm lược bắt đầu từ năm 1974 khi nước Trung Hoa của họ Mao đã dùng quân sự chiếm quần đảo Hoàng Sa trước sự câm tiếng (của thế giới) ai ai cũng thấy. Và bây giờ thì Tập Cận Bình đang hoàn tất vụ thâu tóm này.
Trong bối cảnh đó, có ý nghĩa hơn là một cuộc xuất quân để khẳng định luật lệ quốc tế, sự hiện diện về quân sự tại các quốc gia bị đe dọa ở vùng dễ bùng nổ này có ý nghĩa là một hành động phòng vệ chính đáng. Tuyệt đối chính đáng và cần thiết vì luật pháp và chưa muộn đâu, còn vì hòa bình nữa.
Bởi vì, việc duy trì không gian quốc tế bị đe dọa không thể chỉ thu gọn lại ở cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng giữa Bắc Kinh và Washington. Cuộc ra quân này rõ ràng có tầm cỡ toàn cầu, phổ quát. Nước Pháp đã mở ra con đường bày tỏ sự cảnh giác quyết liệt và sống còn này. Cầu mong cho tấm gương Pháp này sẽ nhanh chóng được noi theo bởi những quốc gia liên quan như: Anh quốc, Châu Âu, Australia, New Zealand, Ấn Độ, Nhật Bản … Điều này sẽ có tác dụng đẩy lùi lũ cướp biển và mang lại sự vững tâm cho những ngư dân tội nghiệp bị bọn Bắc Kinh vùi dập.
André Menras, Hồ Cương Quyết

Tàu Pháp tuần tra Biển Đông

Le Monde - Tàu săn ngầm Auvergne của Pháp vào tháng Mười (2017) đã tiến hành lần đầu tiên một cuộc xuất quân tại vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - nơi có nhiều nước tranh chấp chủ quyền, đứng đầu bảng là Trung Quốc. Cuộc tranh chấp địa-chính trị này khiến vùng biển nằm giữa Việt Nam, Philippines, Trung Hoa và Malaisia trở thành một trong những điểm nhạy cảm nhất toàn cầu. Khu vực đặc biệt này luôn luôn được «thăm viếng» cả trên mặt nước cũng như dưới ngầm. Có nghĩa là cuộc xuất quân của Pháp lần này được theo dõi chặt chẽ. Trên con tàu săn ngầm này, nhà báo nữ Nathalie Guibert kể lại nỗi lo âu của thuyền trưởng Xavier Breitel và cách thủy thủ đoàn đã làm để không châm ngòi cho những phản ứng đối địch.
image
image
*
Trên con tàu Auvergne trên vùng biển phía Nam Trung Hoa, con tàu săn ngầm của Pháp dã thực hiện một chuyến ra quân lần đầu tiên tại vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền.
Một trận bão tung hoành phía Bắc, gió hơn 75 km/ giờ. Phiá sau những vòi nước đang trút xuống quân cảng Kota Kinabalu của Malaisia, khó mà nhìn ra những hòn đảo bao quanh vùng bờ biển nước ấm và bùn. Con tàu chiến Pháp nhổ neo khỏi nơi đây giữa hai đợt gió mạnh, dưới bầu trời đầy mây mù trắng như sữa. Thứ Sáu 20 tháng Mười, tàu Auvergne, con tàu săn ngầm mới sinh của Hải quân Pháp đi vào vùng biển nằm ở phía Nam Trung Hoa trực chỉ quần đảo Trường Sa. Những rạn đá nằm gần Philippines này được tất cả các nước trong khu vực đeo đuổi, mà hàng đầu là Trung Quốc, nước đã xây đắp ở đó các công trình vĩnh cửu. Trong những ngày sắp tới, con tàu sẽ tiến thẳng tới Trường Sa nằm ngoài khơi Việt Nam. Cả ở đó, Bắc Kinh cũng quân sự hóa quần đảo đang còn tranh chấp này, tạo thành đường phòng thủ tiền phương của cánh phía Nam Trung Quốc.
«Việc đã rồi»
Các tấm bản đồ của người Anh được đặt lên bàn điều khiển hải hành tàu Auvergne. Các chú thủy thủ Pháp phải học tất cả về biển phía Nam Trung Hoa, có những điểm sâu tới 4.000 mét. Đây là nơi qua lại vận chuyển một nửa nền giao thương thế giới. Những căng thẳng trong vùng và quốc tế đều gia tăng vì tác động của chính sách bành trướng của Bắc Kinh mà người phương Tây đánh giá là «việc đã rồi». Tại đây, Hải quân Pháp lần đầu tiên tiến hành tác nghiệp đầy đủ tới mạn Bắc của khu vực.
Tàu săn ngầm có nhiệm vụ ưu tiên là tác chiến săn ngầm. Những quốc gia vùng Thái Bình Dương (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Pháp, Australia) tất cả đều hiện diện về quân sự ai ai cũng thấy ở vùng biển này. Ngày thứ Sáu này, ba tàu săn ngầm Nga vừa tới Manilla, trước thềm một cuộc Hội nghị bộ trưởng quốc phòng Đông Nam Á. Khi thuyền trưởng Xavier Breitel thông báo «Có vật dưới ngầm», chắc chắn đó là những con tàu của Trung Quốc, trong đó có cả những tàu ngầm hạt nhân mới nhất của Quân Giải phóng Nhân dân. Ngày 28 tháng Mười, Bắc Kinh vừa mới thông báo rằng để chuẩn bị triển khai nhiều hơn nữa nước này sẽ thành lập tại Hải đội phía Nam thêm một đơn vị cứu hộ ngầm.
Nếu tàu Auvergne và trực thăng Caïman phát hiện sóng âm của một trong những con tàu kia, thì đó cũng lại là một «lần thứ nhất» nữa. «Nếu bảo đó là tàu Mỹ, thì ta đã đề cao họ (người Trung Quốc) quá mức!», một sĩ quan kỹ thuật hàng đầu trên tàu nói nhạo. Liệu người Tàu sẽ phản ứng ra sao? Từ năm 2015, có cả chục tàu Pháp đi lại gần quần đảo Trường Sa. Hải quân Pháp có phương tiện hạn hẹp, nhưng các chuyến hải hành trên vùng biển Nam Trung Hoa càng ngày càng đều đặn làm nhiệm vụ trinh sát.
Mặc dù các tàu này đều đi vào các vùng biển quốc tế, nghĩa là ngoài 12 hải lý (22,2 km) cách xa các đảo tranh chấp, song một nửa số tàu của Pháp này đã bị Hải quân Bắc Kinh «theo dõi»: cách đơn giản là bị hỏi han qua radio hoặc thô lỗ hơn thì cho tàu chạy bám theo. Nước Trung Hoa không phải là «mối đe dọa», chỉ huy của ta dẫu sao cũng nhắc nhở đoàn tàu bám theo đó. «Đây chỉ đi ngang thôi mà, và đi trên vùng biển quốc tế, như mọi con tàu. Đi ngang không gây hấn gì chỉ cốt thấy luật giao thương vẫn có giá trị thôi mà», chỉ huy của ta nói.
Nước Pháp muốn hành động khác với Hoa Kỳ, nước này tiến hành các «hoạt động tự do giao thông» rất đủ lệ bộ hợp thức. Thực vậy, các tàu chiến Mỹ đã đi vòng quanh nhiều lần các đảo đang tranh chấp, họ đi ngang đi dọc các vùng rạn đá và bãi nổi, đi thành những vòng số 8 trên mặt biển… Vào tháng Tám, tàu sân bay USS McCain đã đến sát đá Vành Khăn (Mischief) tới 6 hải lý, thuộc quần đảo Hoàng Sa, và đó là lần thứ ba họ tác nghiệp như vậy trên biển phiá Nam Trung Hoa kể từ khi Donald Trump được bầu làm tổng thống, người thường xuyên trách cứ Bắc Kinh về những hành động xâm lấn thực địa của nước này. Bắc Kinh đã ngay lập tức kết án đó là «hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Trung Hoa», và khẳng định đã «đuổi» con tàu Mỹ đi.
Tàu Auvergne dự tính đi cách các đảo tranh chấp từ 30 đến 13 hải lý. Tàu bắt đầu kín đáo đi hướng tới vĩ tuyến 10. Các radar và hệ thống định vị đều ngắt, máy dò sóng âm tắt, trực thăng cho vào nhà chứa, theo cách này con tàu sẽ không lớn hơn một con tàu chở hàng nếu bị phía «bên kia» dò ra. Nhưng rồi nó cũng vẫn hành động như một con tàu chiến dang hoạt động. Bữa thứ Sáu đó, các thủy thủ được đưa vào vị trí chiến đấu từ lúc 20 giờ. Đêm xuống, các cờ tín hiệu, các đèn chiếu và máy ảnh đều vào vị trí để ngộ nhỡ có «trao đổi» với tàu chiến Trung Quốc. Các trọng liên 12,7 mm lên đạn và đặt bên sườn boong tàu. Tàu Auvergne sẵn sàng bị tiếp cận. «Tôi chờ đợi bị theo dõi», thuyền trưởng nhấn mạnh. Khi đó, cần ghi lại cho đầy đủ. «Mặt sau của mọi sự là một cuộc chiến tranh thông tin». Chỗ tinh vi của vấn đề là phản ứng nhân danh an ninh biển theo luật quân sự chung, không bao giờ gây cảm giác tuân theo luật quân sự kiểu Tàu. «Tôi giữ nguyên hành trình, giữ nguyên tốc độ». Thứ Bảy ngày 21, đá Công-Đo (Commodore) hiện ra ở phía bên trái màn hình cuộc hải hành. Bên ngoài, nhiệt độ nóng ẩm, chỉ có những ngư dân trên biển. Nhưng phía xa bên trên màn hình, khi gần tới đá Vành Khăn, phát hiện hai dàn radar Tàu. Chúng đang hoạt động. Rồi gần trưa, phát hiện dàn radar Tàu thứ ba. Phía Đông, một tàu vận tải lương thực quân sự của Tàu cũng đang trên đường tới đá Vành Khăn. Vượt vĩ tuyến 10, theo đúng kế hoạch, tàu săn ngầm Pháp lộ diện. «French warship!», trực ban nói qua radio. Các radar trên tàu Auvergne lại bật – các khí tài quân sự Trung Quốc dĩ nhiên đã bắt được sóng. Trực thăng chuẩn bị cất cánh, cùng với máy dò sóng âm, đó là một phao ném xuống mà lũ tàu ngầm rất sợ. Nhưng chẳng có tín hiệu gì. Chẳng có con tàu nào đang đi tới tàu Auvergne của ta.
Lảng tránh. Từ trên boong, chúng tôi theo dõi chặt chẽ những con tàu bằng gỗ sặc sỡ đang bơi trong vùng. Nom chúng giống hệt tàu cá của ngư dân, chúng không chạy loăng quăng, đó là những dân binh Tàu cải trang thành dân thường, có nhiệm vụ tiên phong tại vùng Trường Sa. Họ chưa hành động gì, tàu Auvergne vẫn giữ nguyên hải trình, cứ lướt sóng mà đi. Nếu thay đổi tốc độ, nếu quay đầu, nếu rẽ ngoặt, đó sẽ là những thao tác quân sự mang tính khiêu chiến trên biển.
«Rắc rối là ở chỗ, nếu tránh những «ngư dân» kia, hải trình của mình sẽ đi vuông góc vào vùng biển đang tranh chấp», sĩ quan trực ban nhận xét.
«Đồ hộp»
Ra đi đã hai tháng, các thủy thủ Auvergne đều đã mệt. Con tàu săn ngầm mới và «đa chức năng» này được thiết kế cho một thủy thủ đoàn giảm bằng nửa bình thường, khiến anh em đều kiệt sức, và một đêm thức dài dặc đã khiến thần kinh họ căng thẳng. Công việc coi như xong. Máy dò âm thanh cả đêm hoạt động của tàu Auvergne sục sạo dưới biển cứ reo lên the thé làm thủy thủ đoàn thức giấc.
Chủ nhật 22, sáng sớm con tàu ra khỏi vùng Trường Sa. Trực thăng bốc bay lên bầu trời xám xịt, bảo đảm con tàu không bị theo dõi. Khi nhận ca trực ban mới sáng sớm nay, cậu «midship» (sĩ quan nhỏ tuổi nhất) hứa hẹn một ngày đẹp tuyệt cho những con tàu ngầm nào dõi theo tàu Auvergne: «được run rẩy trong các vỏ đồ hộp của quý vị!» Đến gần Scarborough, vùng bãi cạn mà Trung Quốc đang tranh chấp với Philippines, tàu của ta phát hiện một tàu tuần duyên Trung Quốc, nó tảng lờ con tàu của ta. Trong khi bên ta vẫn đón đợi một cuộc gặp gỡ ít nhiều lịch thiệp trên mặt biển, các máy dò sóng âm vẫn quét khắp vùng dưới mặt nước, hy vọng lôi cuốn những kẻ đối lập và lật tẩy dấu vết bằng âm thanh của chúng. «Chúng tôi cược rằng khi đến địa điểm nào đó, cái tàu ngầm rất có thể đang ở đó sẽ di chuyển đi chỗ khác», một sĩ quan ở vị trí trung tâm tác nghiệp giải thích. «Tại vì, một tàu ngầm nào đó đang có mặt ở đây sẽ không thể không phát hiện ra chúng ta», thuyền trưởng giải thích rõ hơn. Đến 19 giờ, hình như đã túm được một chú tàu ngầm. Đã ghi nhận một chú rất có thể là một tàu ngầm. Nó cũng lẩn trốn mình. Trên mặt biển động, tàu Auvergne hướng Trường Sa thẳng tiến. Thứ Hai, chiếc trực thăng trở lại sau chuyến tuần tra cuối cùng với một ghi nhận có tàu bên dưới mặt nước. Nó chộp được chú nữa vào sáng thứ Ba. «Về mặt chiến tranh chống tàu ngầm, không phát hiện được gì không hẳn đã là thất bại. Mình vẫn làm cho bên đối phương nghi ngờ. Và nếu có ai đó trong vùng, thì mình cũng làm cho hắn ta đủ khó chịu rồi», chàng dẫn đường A. giải thích rõ hơn. Khi «không có va chạm trực tiếp với bên phía Trung Quốc, thì đó cũng là một thông tin!», sĩ quan tác nghiệp R. nói. Bắc Kinh có hai mươi tiền đồn ở vùng Hoàng Sa và trên tám đảo vùng đó, họ đã xây dựng kiên cố. Ngày hôm sau, hướng hải hành ra đảo Lincoln, tàu Auvergne bơi một vòng để hướng xuống mạn Singapour, được hộ tống bằng cả một bầy đàn hải âu săn cá chuồn. Đi ngang bãi cạn Bombay, vào buổi trưa thứ Tư, lại phát hiện các dàn radar Trung Quốc. Ý chí không gì lay chuyển của Bắc Kinh. Phản ứng của Bắc Kinh diễn ra tức khắc khi tàu Auvergne vướt qua để lại bên mạn phải cái căn cứ chính của Quân Giải phóng Nhân dân trên đảo trên đảo Woody, đi dọc vùng biển cạn Macclesfield. Một máy bay tuần tra biển của Trung Quốc bay từ mạn Đông Bắc hiện ra trên màn hình radar. Một chứng cớ, nếu còn cần đến chứng cớ, về việc Trung Quốc gửi phương tiện tuần tra của họ xa vùng biển được thừa nhận của họ. Chiếc máy bay tới thám sát tàu Auvergne. «Rất chuyên nghiệp. Tàu của ta vẫn không bao giờ cảm thấy bị đe dọa», thuyền trưởng Breitel phán. Trên không, chiếc máy bay tuần tra ở lại khoảng cách 12 hải lý, bay một vòng quanh tàu Auvergne. Rồi nó bay về phía Nam trước khi bay về phiá chính Bắc. Và khi hai lần tàu săn ngầm Auvergne thay đổi hoạt động, thì cũng hai lần chiếc máy bay kia điều chỉnh đường bay. Dù không nói năng gì, rất có thể Hải quân Trung Hoa vẫn theo dõi tàu Auvergne từ khi nó bắt đầu chuyến viễn du. Và họ đã áp dụng một nguyên tắc của nhà chiến lược Tôn Tử: «Khi hành động, thì làm như bất động. Khi đến gần, thì làm như đi ra xa. Khi đã ở xa, hãy làm như đang ở cận kề». Trung Quốc làm cho các nước trong vùng quen với thái độ của họ, bộ tham mưu Pháp nhấn mạnh. Nhưng giữa lảng tránh và dùng sức mạnh, bao giờ Bắc Kinh cũng bầy tỏ ý chí khôn glay chuyển của họ là gia cố các vị trí của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. «Nếu ở đây người ta nhạo báng được quyền tự do giao thông, thì trong thời gian ngắn điều đó sẽ diễn ra khắp nơi», lời của Denis Bertrand, đô đốc chỉ huy vùng biển Thái Bình Dương của Pháp. Điều nguy hiểm là một ngày nào đó được thấy biển phía Nam Trung Hoa đóng lại như một cái hồ, bắt giữ làm con tin tất cả quyền lợi của tất cả các cường quốc khác». 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Anh 'muốn tăng hợp tác thương mại với VN'


Nghị sỹ Edward VaizeyBản quyền hình ảnhAFP
Image captionNghị sỹ Edward Vaizey là phái viên thương mại Anh về Việt Nam, Campuchia và Lào
Với tư cách là đại diện của Chính phủ Anh trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại với Chính phủ Việt Nam, Nghị sỹ Edward Vaizey cho rằng Việt Nam là một đất nước "năng động, kì diệu" với nhiều tiềm năng mà nhiều người Anh chưa biết tới.
Trả lời Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Vaizey cho rằng Việt Nam có nhiều ngành công nghiệp nổi trội có thể tạo cơ hội cho hai nước Anh - Việt thúc đẩy hợp tác, đặc biệt là lĩnh vực du lịch.
Ông hy vọng sẽ có nhiều khách du lịch Anh đến thăm Việt Nam và có nhiều người Việt Nam đi du lịch Anh hơn.
Từ góc độ của nước Anh, Nghị sỹ Vaizey cho rằng kinh tế Việt Nam đang phát triển rất nhanh và nước Anh "vô cùng ghen tỵ về tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam".
Ông hi vọng chính phủ hai nước sẽ tăng cường hợp tác về các lĩnh vực giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất hàng hóa.
"Theo hiểu biết của tôi thì Việt Nam đánh giá cao hệ thống giáo dục của Anh và tôi rất hi vọng các trường đại học của Anh sẽ tăng cường sự hiện diện của mình tại Việt Nam," ông Vaizey nói với Thông Tấn Xã Việt Nam.
"Tôi cũng cho rằng các công ty hiện đại của Anh có thể làm việc với các công ty hiện đại của Việt Nam trên các lĩnh vực như công nghệ, hình thức mới của năng lượng và các dự án cơ sở hạ tầng và xây dựng lớn."
Hoàng tử Anh William thăm Hà Nội năm 2016Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHoàng tử Anh William thăm Hà Nội năm 2016
"Chúng tôi đánh giá cao tay nghề của người lao động Việt Nam."
Trước sự kiện Brexit, ông Vaizey cho biết dù bất cứ điều gì xảy ra, một trong những ưu tiên hàng đầu ông đặt ra vẫn là thúc đẩy giao thương giữa Anh và Việt Nam, đồng thời "đảm bảo để Chính phủ Anh nhận thấy tầm quan trọng của việc đạt được hiệp định tự do thương mại với Việt Nam".
Đánh giá về việc Việt Nam tổ chức hội nghị thượng đỉnh APEC, Nghị sỹ Vaizey cho rằng Thủ tướng Anh Theresa May "lấy làm tiếc" trước việc Mỹ xem xét lại Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Tuy nhiên ông cho rằng "bản thân khu vực cũng mạnh để có thể tiếp tục TPP và thúc đẩy những mối quan hệ thương mại giữa các nước trong khu vực".
Ông Vaizey cho biết Anh muốn có những mối liên hệ gần gũi với những kế hoạch thực hiện TPP và luôn ủng hộ việc xóa bỏ rào cản thương mại giữa các nước.
Mặc dù có nhiều biến động chính trị xảy ra tại Anh trong 6 tháng đầu năm 2017, trao đổi thương mại Anh - Việt vẫn có tín hiệu tích cực.
Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2017, Việt Nam xuất khẩu sang Anh đạt gần 2,399 tỷ USD, tương đương cùng kì năm 2016. Nhập khẩu từ Anh và Việt Nam đạt 341,5 triệu USD, giảm 0,5% so với cùng kì năm trước.
Theo Cục Thống kê Anh, các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Anh bao gồm thủy sản, máy vi tính và linh kiện, gỗ và sản phẩm gỗ nội thất, giày dép, sản phẩm dệt may, hạt điều, cà phê, cao su và các chế phẩm từ cao su, điện thoại.
Hồi tháng Hai, ông Liam Fox, Bộ trưởng Thương mại Anh thăm Hà Nội, bày tỏ hy vọng tăng quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tu lieu:

Thủy chung’ đến thế là… cùng
Ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Công Thương vừa báo cáo với Quốc hội Việt Nam rằng tất cả các cá nhân trong Hội đồng Thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) giai đoạn từ 2006 đến 2015, Hội đồng Quản trị của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) giai đoạn từ 2008 đến 2014 đều đã bị kỷ luật (hoặc… phê bình nghiêm khắc, hoặc… kiểm điểm rút kinh nghiệm). Cũng theo ông Anh thì bộ này đang “khẩn trương xem xét thi hành kỷ luật về mặt hành chính đối với các tập thể và cá nhân của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem)”.

Có bằng chứng là ông Đinh La Thăng từng yêu cầu các thành viên PVN gửi tiền vào OceanBank năm 2010.

Nói cách khác, về cơ bản, Bộ Công Thương sắp hoàn tất việc “xem xét, xử lý” những tập thể và cá nhân đã được xác định là liên đới về trách nhiệm đối với 12 “đại dự án” trị giá 63.610 tỉ (trong đó 14.350 tỉ là vốn do ngân sách cấp, 47.000 tỉ là tiền vay của cả ngoại quốc lẫn hệ thống ngân hàng Việt Nam), song hiện nay, vốn do ngân sách cấp chỉ còn khoảng 27% (3.956 tỉ). Bộ Công Thương không cho biết khoản nợ mà 12 “đại dự án” tạo ra hiện còn bao nhiêu ngàn tỉ chưa thanh toán mà chỉ xác định đến giờ, lỗ lũy kế của 12 “đại dự án” là 16.126 tỉ!

Vào lúc này, một nửa trong 12 “đại dự án” đang vận hành (Đạm Ninh Bình, Đạm Hà Bắc, Đạm DAP 1 Lào Cai, Đạm DAP 2 Hải Phòng, Đóng tàu Dung Quất, Thép Việt Trung) tiếp tục khiến mức độ thua lỗ gia tăng, 25% (Nhiên liệu sinh học Bình Phước, Nhiên liệu sinh học Dung Quất, Xơ sợi Đình Vũ) đã ngưng hoạt động để… kiềm chế mức độ thua lỗ, 25% còn lại (Nhiên liệu sinh học Phú Thọ, Bột giấy Phương Nam, Gang thép Thái Nguyên – giai đoạn 2) bỏ dở không đầu tư thêm vì… thiếu vốn! Dẫu hậu quả của 12 “đại dự án” đối với nền kinh tế Việt Nam được xác định là “rất nghiêm trọng” nhưng việc Bộ Công Thương “xem xét, xử lý” những cá nhân có trách nhiệm liên đới rõ ràng là “rất có tình”!

***
Tháng 11 năm ngoái, Bộ trưởng Công Thương từng làm công chúng Việt Nam choáng váng khi chính thức thừa nhận, bộ này có năm “đại dự án” biến 30.000 tỉ đồng thành… rác.

“Đại dự án” thứ nhất là Đạm Ninh Bình (Ninh Bình) do Vinachem làm chủ đầu tư, sau khi ngốn hết 12.000 tỉ đồng, từ 2013 đến nay, mỗi năm Đạm Ninh Bình lỗ thêm khoảng 2.000 tỉ đồng.

“Đại dự án” thứ hai là Xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) do PVN làm chủ đầu tư. Sau khi ngốn hết 7.000 tỷ đồng. Nhà máy Xơ sợi Đình Vũ đã ngưng hoạt động vì nếu ráng vận hành sẽ gây thiệt hại trầm trọng hơn.

“Đại dự án” thứ ba là Nhiên liệu sinh học Dung Quất (Quảng Ngãi) cũng do PVN làm chủ đầu tư. Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất cũng đã ngưng hoạt động sau khi ngốn hết 2.200 tỉ đồng để kiềm chế thua lỗ.

“Đại dự án” thứ tư là công trình mở rộng Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 (Thái Nguyên) do Công ty Gang thép Thái Nguyên (TISCO) làm chủ đầu tư. Công trình này ngốn hết 8.000 tỉ đồng rồi bỏ dở suốt mười năm qua. Tập đoàn Xây lắp luyện kim Trung Quốc (MCC) – nhà thầu chính vẫn đang đòi TISCO thanh toán 1.200 tỉ đồng do vi phạm hợp đồng.

“Đại dự án” thứ năm là Bột giấy Phương Nam (Long An) do Công ty Phát triển công nghiệp và vận tải làm chủ đầu tư. Sau khi ngốn hết 3.000 tỉ đồng, công trình này bị bỏ hoang suốt mười năm qua vì không thể vận hành.

Vào thời điểm đó, ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Công Thương, lưu ý thêm rằng, “còn một số ‘đại dự án’ khác tiềm ẩn nguy cơ không hiệu quả, mất vốn đầu tư từ nguồn lực của nhà nước cũng như của xã hội” nhưng công chúng không bận tâm vì năm “đại dự án” vừa kể đã đủ làm họ choáng.

Đến tháng 5 năm nay, Bộ Công Thương công bố thêm bảy “đại dự án” nữa cũng thuộc lọai không hiệu quả, vừa làm mất vốn, vừa khiến nợ nần gia tăng. Lần này, Bộ Công Thương không đi vào chi tiết mà chỉ gộp bảy “đại dự án” ấy vào năm “đại dự án” thuộc loại “trời ơi” đã đề cập trước đó.

Có một điểm đáng chú ý là dù đã ngốn của quốc gia khoảng 63.610 tỉ, không những không sinh lợi mà còn tạo ra khoản nợ khoảng 47.000 tỉ nhưng 12 chưa phải con số cuối cùng về các “đại dự án”. Hôm 24 tháng 10, khi thảo luận với Tổ Đại biểu Quốc hội của tỉnh Nghệ An về tình hình kinh tế, xã hội và ngân sách năm nay, ông Hồ Đức Phớc, Tổng Kiểm toán Nhà nước, bật mí, con số “đại dự án” mất vốn, thua lỗ hiện “đã hơn 40”. Tuy nhiên ông Phớc không cho biết thêm, tổng số tiền đã bị biến thành rác và tổng số nợ mà “hơn 40 đại dự án” này để lại là bao nhiêu!

***
Nếu không có “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” thì sẽ không xảy ra tình trạng bơm toàn bộ nguồn lực quốc gia cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tất nhiên sẽ không có các “đại dự án”, hệ thống doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam không bị đối xử như con hoang, không suy kiệt, không phá sản hàng loạt, kinh tế Việt Nam không bi đát như hiện nay.

Có thể vì vậy việc xử lý các cá nhân trong Hội đồng Thành viên của PVN giai đoạn từ 2016 đến 2015, Hội đồng Quản trị của Vinatex giai đoạn từ 2008 đến 2014 và sắp tới là Hội đồng Thành viên của Vinachem đã cũng như sẽ rất… khẽ! Làm sao có thể xử lý những cá nhân này “tới nơi, tới chốn” khi các “đại dự án” là con đẻ từ chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN nhiều khóa, được chính các Tổng Bí thư xiển dương?

Đáng ngạc nhiên là thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam chưa đủ để giới lãnh đạo Đảng CSVN hồi tỉnh.

Ngày 28 tháng 10, Tạp chí Cộng sản đăng bài “Thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của ông Nguyễn Linh Khiếu, một Phó Giáo sư có học vị Tiến sĩ về Triết học Mác Lênin. Tuy vẫn khăng khăng khẳng định Đảng CSVN cần duy trì độc quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, không phân chia quyền lực cho bất cứ lực lượng chính trị nào khác nhưng trong “Thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, ông Khiếu nhìn nhận: Hệ thống lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết trước đây đã lỗi thời, không phù hợp với những thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại. Cho dù nhiều quốc gia còn bất ổn, đời sống còn rất khó khăn nhưng đa số dân chúng ở các quốc gia từng hăm hở đi theo chủ nghĩa xã hội không muốn quay trở lại với mô hình đó nữa. Ông Khiếu nói thêm, “chủ nghĩa xã hội như đã tồn tại trở thành nỗi ám ảnh trong đời sống nhân loại”.

Dẫu Đảng CSVN tuyên bố sẽ xây dựng “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nhưng ông Khiếu cho rằng cái gọi là “định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn chưa định hình vì còn “đang trong thời kỳ phát triển”. Do Việt Nam vẫn còn trong “thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa” nên ông Khiếu khuyến cáo, các chủ trương phải phát xuất từ tình hình cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nếu không, “các chỉ thị, nghị quyết không phù hợp với thực tiễn sẽ không đạt được hiệu quả” và “xa lạ đối với tâm tư nguyện vọng của nhân dân” nên “người dân sẽ không tích cực tham gia vào các chương trình, kế hoạch phát triển đất nước”.

Cho dù còn nhiều điểm cần thảo luận thêm nhưng so với những bài viết khác trên Tạp chí Cộng sản, “Thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của ông Khiếu vẫn đáng chú ý vừa vì lai lịch của người viết, vừa vì nơi công bố nó. Nhiều người tán thành nhận định của ông Trần Hữu Dũng (nhân vật thực hiện trang viet-studies), đó là một “bài viết… có suy nghĩ”, “không nhai đi, nhai lại giáo điều”.

Phải chăng “cơ quan lý luận và chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN” bắt đầu nghĩ khác, bắt đầu “nhận thức lại? Câu trả lời là… còn khuya! Chỉ hai ngày sau, hôm 30 tháng 10, Tạp chí Cộng sản tự ý đục bỏ “Thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”.

Di họa của “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” sẽ không chỉ là hậu quả nghiêm trọng của các “đại dự án”!

Trân Văn



Phần nhận xét hiển thị trên trang