Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

HOÀNG HƯNG, NGƯỜI VỀ


Nguyễn Đức Tùng



Kết quả hình ảnh cho Nhà thơ Hoàng Hưng


Hoàng Hưng là người của mơ mộng và tỉnh thức.
Trong cùng một bài thơ, anh có thể đi xuyên qua cả hai thứ ấy.
Tất cả nước mắt loài người bao vây nhà ta
Nằm bên anh em kể câu chuyện buồn
Chôn sâu trong lòng giờ mới nói ra
Gợi ý của trận mưa chưa từng thấy

Đã một nghìn đêm mưa trắng đêm
Điên cuồng nhớ mùi anh như con bò cái nhớ mùi phân rác
Anh đánh mất mùi anh trên những sàn đá lạ

Lịch sử phải trả giá bao nhiêu cho một bài thơ nhân chứng?
Quá nhiều. Những tổn thương. Lầm đường. Cái chết. Sự làm chứng dối. Tính lao nhao bầy đàn từ nhiều phía. Hư vô. Sự giả dối của văn học. Sự đầu hàng.
Khả năng làm chứng vốn thuộc về thơ tự sự và trường ca cổ điển. Ngày nay thơ trữ tình phát triển, dần thay thế các thể loại vừa nói. Nhưng đối tượng của thơ trữ tình là đời sống nội tâm, vì vậy vai trò nhân chứng trở thành nỗi phân vân của tác giả. Thơ trữ tình ghi lại lịch sử một cá nhân, các chấn thương mà bạo lực, chiến tranh, tù đầy mang đến cho họ như những nạn nhân. Nhiều người không biết rằng nếu văn học có thể xuất hiện như chứng cớ thì nó cũng có khả năng bôi xóa lịch sử, thay đổi diện mạo quá khứ, nói dối về một xã hội trong chiến tranh hay hòa bình.
Đứa giết người mắt trắng dã
Ca một khúc vọng cổ não nề
Lão làm thuốc tây giả
Run run nhặt từng hạt cơm thiu
Thằng nhóc “cắt bom” ga Hàng Cỏ
Sằng sặc bóp cổ tên hiếp trẻ con
Ba thằng buôn cơm đen
Ngồi nhìn ông cựu bí thư nhảy múa 
Dù mô tả trực tiếp những con người có thể có thật ngoài đời, bài thơ bao giờ cũng là phép ẩn dụ, được sắp xếp sao cho không có một sắp xếp thứ hai nào có thể mang lại cùng ý nghĩa. Đọc bài thơ, không phải chúng ta chỉ được sống kinh nghiệm của nhân vật kể chuyện. Chúng ta trở thành nhân vật ấy. Mục đích của tưởng tượng sáng tạo là giúp người đọc nhận ra những khả năng khác nhau của tồn tại, chuỗi nhân quả, khả năng sống sót, chiều sâu của ý nghĩa. Trong một thời kỳ hỗn mang như hôm nay, lòng tin là chỗ dựa cuối cùng của người viết. Lòng tin ấy có thể bị thách thức.

Đồng cói đầy trăng em ơi
đồng cói
Nhưng em đã bay đi như cánh vạc
Để rợn vàng đồng cói trăng rơi

Thơ ca yêu mến những điều không thể hiểu được. Ngôn ngữ thơ lắng nghe tiếng nói của chính nó và lắng nghe thế giới xung quanh. Mặc dù hầu như lúc nào cũng xoay quanh một ý tưởng, bài thơ của Hoàng Hưng không phải là sự chống lại cảm quan. Người đọc có thể tìm thấy ở đó hoàn cảnh thực, sự thất vọng, sự nghèo nàn của một xã hội thiếu tự do, hay sự giàu có của cuộc đời giữa ánh sáng của tình yêu, sự va chạm, mùi vị, tiếng động. Và bạn tin tưởng vào anh, hay vào nhân vật của anh. Tham gia nhiều hoạt động xã hội, Hoàng Hưng vẫn giữ cho thơ mình một khoảng cách. Như một nhà thơ đương đại, anh được gọi tới bởi chính cuộc đời, kẻ bị ruồng bỏ, bên lề, những lịch sử bị vùi lấp, sự im lặng của bất công, kẻ bị thương tổn. Vì thế, tất cả ký ức của anh, không chỉ dừng lại trong ngày tù tội, mà trước và sau đó, đặc biệt sau đó, liên đới với kinh nghiệm của người khác, làm cho kinh nghiệm cá nhân trở thành kinh nghiệm văn hóa.
Bãi dài ngập nắng em ơi
bãi nắng
Nhưng thịt da em ráng chiều vụt tắt
Cát không màu khép dưới bàn chân.

Triều dâng sóng trắng em ơi
sóng nở
Nhưng đến trước ngực ta sóng vỡ
Bọt tan sôi réo lòng chiều

Lưới thu đóng bạc mình thu em ơi
Mắt em nhìn ta qua lưới thưa
Xa lạ như là con mắt cá
Sắp quẫy vào lòng biển sâu

Âm điệu tạo nên bài hát. Sự im lặng tạo nên bài thơ trữ tình.
Hoàng Hưng cố gắng chống lại thói sáo cũ, quy ước. Cố gắng ấy chỉ trở thành thực tế bằng chính thử nghiệm bạo liệt về ngôn ngữ, điều mà anh hướng tới một cách ý thức, nhưng tất nhiên không phải khi nào anh cũng nắm giữ. Tôi tin rằng những nhà thơ sống trong hoàn cảnh nhiễu nhương, tù đầy, đều phân vân giữa hai ngả đường: ghi lại các sự kiện, bày tỏ tình yêu và phẫn nộ như thông điệp, và một bên là theo đuổi giấc mơ sáng tạo riêng, đặc trưng cho các tài năng, không mấy ai hiểu. Câu chuyện thay đổi, thời đại thay đổi, người làm chứng sẽ chết. Hoặc bị bắn từ phía sau trên đường về nhà. Hoặc chết già trong nhà dưỡng lão. Bạn chỉ còn lại lời kể, ngày xưa, nơi xa lạ. Và bạn bắt đầu nhớ lại tên người, địa danh, cơn đói, sự hoảng sợ, nhục nhã, căm hận. Khi cố gắng của bạn không thành công, chuyện kể đứt đoạn, bài thơ dang dở, người ngồi nghe tản mát, nghi ngờ. Những kẻ nghi ngờ sẵn sàng tin theo tất cả cám giỗ khác, mê tín khác, tuân lệnh những dối trá khác: sự ngu ngốc xuất hiện từ cả hai ba phía, khi văn học đánh mất khả năng bảo vệ con người. Nhưng nghệ sĩ là người sáng tạo trong những hoàn cảnh như vậy, khó khăn nghiệt ngã.
Đêm xuống rồi
Ta lẻn
Đi tìm mặt mình
Đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình

Em mặt trẻ thơ mình thiếu phụ
Em cử động giữa tiếng va cốc thìa
Cà phê và sữa.
Công viên chiều đẹp quá và lịch sự đến thành xa lạ
Tường vi nở mưa trên gạch đỏ
Mặt họ no đủ quá
Họ vui dễ thế kia 
(Người đi tìm mặt)

Xét về cấu trúc, thơ Hoàng Hưng là thơ mô tả. Trong một bài thơ của anh ít có tâm tình, bày tỏ, biểu hiện. Nhân vật tôi dù xuất hiện một cách rõ ràng, ít khi là người phát ngôn trực tiếp. Nhà thơ mô tả hoàn cảnh, diễn tiến câu chuyện, thỉnh thoảng mới xen vào những ý kiến riêng, thậm chí cũng không phải là những ý kiến mà chỉ là những kinh nghiệm riêng.
Giật mình một cái vỗ vai
Bài thơ của anh thường xoay vòng lại ở những câu kết, và mở ra, như trong cấu trúc vòng xoắn, tầm hiểu biết cao hơn hoặc nhận thức thẩm mỹ sâu hơn. Cấu trúc kiểu mô tả trong thơ Hoàng Hưng còn được phối hợp với cấu trúc kiểu suy tư. Dựa vào những kinh nghiệm cụ thể của đời sống cá nhân, những ký ức đôi khi sắc bén đôi khi rời rạc, khả năng tưởng tượng dồi dào, niềm vui thú đối với ngôn ngữ, anh có khả năng triển khai nhiều đề tài, trong một bài thơ có kích thước vừa phải. Trong khi đó ở những bài thơ ngắn hơn, sự kết hợp hai thức điệu mô tả và suy tư có phần thiếu nhịp nhàng. Thơ anh không ngừng nhắc chúng ta về tha hóa của ngôn ngữ, sự nô lệ của trí thức và mặt khác, sự vô trách nhiệm hóa của nghệ thuật. Vì ngôn ngữ là chìa khóa của một nền văn hóa, đọc thơ đương đại là tìm đến cánh cửa mở vàoxã hội đương thời, hạnh phúc và bi kịch của nó, sự tường minh và sự bơ vơ của nó, sự cháy sáng và sụp đổ.
Mặt tôi trong gió cuốn
Mặt tôi trong nắng đốt
Mặt tôi trong lá ngón
Mặt tôi còi vọng cô liêu
Mặt tôi bàn tay ôm ấp
Mặt tôi đá núi im lìm
Sự lập lại, thủ pháp trùng điệp, tất nhiên thường được dùng trong thơ, thực ra là biểu hiện của chuyển hóa nội tâm của nhân vật. Bài thơ anh viết những năm bảy mươi thế kỷ trước. Trong trường hợp này, thơ gần như tiên tri, mặc dù không phải đức tin tôn giáo. Nhưng niềm cảm hứng cho thơ Hoàng Hưng thường là sự kiện có tính xúc động, những hoàn cảnh đặc biệt, bi phẫn, xã hội hoặc cá nhân. Phản ứng đối với các sự kiện: ưu điểm và khuyết điểm của thơ Hoàng Hưng sẽ tập trung ở đó. Lúc ở Mỹ, trong ồn ào, anh nghe được tiếng nói an bình, khi ở trong nước, trong im lặng, anh nghe tiếng gào thét phẫn nộ, sự trỗi dậy của tương lai. Sự gắn bó của Hoàng Hưng đối với thế giới này là mạnh mẽ, và không thay đổi. Những bài thơ thành công nhất của anh, khi đã xuất hiện tựa như những bức ảnh ghi lại thất bại và chiến thắng của cái đẹp. Nhiều bài thơ như được viết trong tâm trí, không phải trên giấy, xuất hiện như những sản phẩm của giấc mơ.
Kiếp tha hương nửa đời vật lộn
Sống chỉ còn như một thói quen
Trời phương Nam đêm nay sao rét Bắc
Cho ta thèm một ly đen
Rủ rê ta những giọt mưa đêm
Nhưng xe máy lang thang thì thua xe đạp
Ta năm mười rồi đâu thể cùng em...

Dạo ấy ba mươi ta là thi sĩ
Bây giờ thèm khát một câu thơ
Khi đời sống làm mình hoá đá
Bỗng rùng mình vì một hạt mưa

(Mưa đêm)
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền tải kinh nghiệm, nó chính là kinh nghiệm. Có hai khuynh hướng trong thơ đương đại: bài thơ đầy những sự vật và bài thơ đầy những ngôn ngữ. Khuynh hướng thứ nhất, thơ chứa nhiều hình ảnh, cảm giác, rung động đơn lẻ, khuynh hướng thứ hai giàu chất suy tưởng, ít những gợi ý rõ ràng về không gian, tính chất hiện thực suy giảm. Thời kỳ đầu, Hoàng Hưng thuộc khuynh hướng thứ nhất, càng về sau anh càng có khuynh hướng thứ hai, mặc dù, sự chuyển động này không đều đặn, chứng tỏ có thể người viết không tự ý thức về điều ấy. Không phải là một nhà thơ siêu thực, Hoàng Hưng có những hình ảnh vượt ra ngoài ranh giới của cảm quan thông thường, chúng như là kết quả của hội tụ giữa tưởng tượng và chuyển hóa - thăng hoa. Thơ anh là sự thăm dò các bi kịch, hành hạ, bạo động, tình yêu, tha thứ. Và sự làm mới lại đời sống hôm nay.
Em bỗng chín đỏ như trái cây chạm mặt trời
mùa hạ
Trái cây hoang dã
Vùng biển nâu

En chín đỏ
Mà sao không hái được

Rồi em sẽ rụng nằm trong cát
Bỏng rẫy mặt trời hoang

Bài thơ là sự tập trung trong bối cảnh của rời rạc, hỗn loạn, mông muội. Thể là cấu trúc. Hoàng Hưng nhiều năm sống gần biển, nên hay nhắc đến biển, sóng, cát, mặt trời. Đó là vật liệu của anh. Nhưng biển là tự do, sóng là hoang dại, cát là vỗ về nguôi ngoai. Ca tụng cái hàng ngày, cái không hoàn hảo, sự kết thúc một bài thơ không có kết luận không phải là truyền thống của nhiều nhà thơ Việt nam. Hình như càng về sau trong Hoàng Hưng càng xuất hiện khuynh hướng thẩm mỹ ở đó cái đẹp không phải là sự hoàn thiện mà là sự khiêm tốn, giản dị, mất cân bằng, sự tạm thời. Ở đó, sự vô thường. Những mảnh vỡ, kẽ nứt, sự khiếm khuyết của con người và tạo vật. Sự nhầm lẫn. Nhầm lẫn của tạo hóa và của tình yêu. Anh có những hình ảnh thoạt nhìn khá quen thuộc, gần sáo cũ, nhưng chúng đột nhiên sáng lên, gần như mới lạ. Cái mới lạ ấy trước hết là từ cảm xúc chân thực. Cảm xúc được nhào nặn nhiều lần, thể nghiệm nhiều lần bởi một cá nhân, mở đường cho các ý tưởng mới, nhiều người gọi là tứ thơ.
Thạch sùng tặc lưỡi trên cao
Phòng giam lạnh lẽo chìm vào cõi đêm
Nhà ta giờ đã lên đèn
Bữa cơm giờ chắc đã quen thiếu người

Tôi nghĩ đến một số bài thơ trong dòng thơ vụt hiện, chính là giây phút được nén lại. Kết quả là, một thứ thơ vừa được chuẩn bị kỹ, vừa ngẫu hứng, vừa phóng đại, vừa thanh bạch. Tính chất hàng ngày được soi rõ trong thơ anh, ở đó sự đơn giản và phức tạp gặp gỡ nhau, nhịp điệu không phải của ngôn ngữ mà của tâm trí. Tôi không biết anh làm thơ dễ hay khó, nhưng hầu hết các câu thơ viết gọn ghẽ, ý tứ, cân nhắc, khá hiếm những câu viết vụng. Nhưng điều ấy cũng có hạn chế: một vài bài thơ ngắn có thể viết dài hơn, phóng túng hơn. Dàn trải mà không thừa:
Hắn đạp vào mặt tất cả chúng ta
nếu chúng ta chỉ biết khoanh tay
đứng nhìn CÁI ÁC
đang lên ngôi trên đất nước này!

Ôi nỗi nhục ngậm mồm chịu đạp
Ôi nỗi đau cốt nhục tương tàn
chịu đến bao giờ? bao giờ? bao giờ?
Bàn phím ta rỏ máu
ghi mấy lời bất lực gửi anh em!
Các câu thơ xếp liên tiếp nhau máy móc, là sự đơn tuyến hóa các hình ảnh, làm cho toàn bộ một đoạn thơ thật ra chỉ là một câu. Trong những bài thơ chưa thành công, anh nặng về bộc lộ tư tưởng và tình cảm, sự mô tả trở lên sơ lược, khái quát. Tôi nghĩ các nhà thơ cần chú ý rằng khi chúng ta hồi tưởng, suy tư, thơ trở nên chậm lại, khi chúng ta đối diện với ngày hôm nay, thơ trở nên nhanh hơn. Có lần đã lâu trên chuyến bay rời quê cũ, sau khi mở khóa dây an toàn, kéo mặt bàn nhận khay thức ăn với tách cà phê, tôi bỗng nhớ đến mấy câu loáng thoáng của Hoàng Hưng.
Mẹ không còn để gói cho anh nắm cơm nếp đỗ
Vụng về em giã tạm cối vừng
Anh đi rồi mùi thơm mãi bâng khuâng
Thời gian trôi chậm lại. Có một liên kết bí ẩn, riêng tư mà tôi không biết rõ. Sự mất mát, tuy vậy, không hề là một truyền thống lớn của thơ Việt Nam, như nhiều người vẫn tưởng.
Thôi thế từ nay đọa kiếp rồi
Tin dữ bây giờ chắc tới nơi
Nhà ta đau đớn chừng nào nhỉ
Tối sầm trước mặt bát cơm rơi

Tâm trạng song sinh của mất mát là thương tiếc. Nhưng chúng là hai tình trạng khác nhau. Nhân vật không những chỉ muốn biểu hiện cảm xúc về sự mất tự do, bị tước đoạt, bị làm nhục, mà còn muốn mọi người chia sẻ điều ấy. Sự mất mát, thương tiếc dẫn đến một trong hai khuynh hướng: im lặng, chấp nhận, tê liệt, như một nạn nhân. Hoặc tố cáo, thách thức, tin tưởng, vượt lên, trưởng thành.
Cầu vồng chắn cơn mưa
Cầu vồng chắn cơn mơ
Cầu vồng mở
Vùng trời mù mờ

Ở người chiến thắng và may mắn, lòng hoài niệm là không đáng kể. Ở người thua trận và bất hạnh, nó sâu sắc.
Về tâm lý học, hoài niệm là phản ứng đối với mất mát và cách ứng xử đối với quá khứ. Đôi khi, có thể tìm thấy giữa những câu thơ Hoàng Hưng nụ cười nhẹ nhõm, châm biếm, nhưng hiền lành. Sự lặp đi lặp lại một số chữ trong vài bài thơ của anh làm chúng trở nên nhàm chán, nhưng nhiều trường hợp khác, đó là các giai điệu dễ nhớ, thú vị. Bạn có thể nhận ra thơ Hoàng Hưng: tương đối ngắn, câu thơ gọn, ý tưởng sáng sủa, điểm dừng vừa phải, không bất ngờ, chói tai, nhưng vẫn tạo ra biến chuyển về nhận thức hay cảm xúc.
Chiếc lá bàng
Những đôi mắt âm thầm
Rõi qua khe cửa
Bao giờ rụng chiếc lá bàng cuối cùng?

Sẽ rụng đêm nay
Khi gió bấc nổi
Không. Nó sẽ còn đeo đẳng mãi trên cây
Dai như kiếp sống đọa đầy

Trong giấc ngủ màu máu
Chiếc lá bàng mênh mông
Thức dậy không còn lá
Bầu trời tím thâm

Bỗng rùng mình kiệt quệ
Như vừa ra đi giọt máu cuối cùng

Kể chuyện trong thơ trữ tình là nghệ thuật khó. Các hình ảnh thường chen vai thích cánh vượt lên, giành chỗ nhau, chúng muốn chiếm lĩnh trung tâm bài thơ. Cấu trúc của một bài thơ đang viết như một căn nhà chưa xây xong, với một thứ trật tự không hoàn toàn xác định, sự mất cân bằng ở phút chót. Người làm thơ tự do không thể nào không giải quyết bài toán của cấu trúc, giữa một bên là cân bằng, một bên là động lực mà nó mang chứa. Không phải khi nào Hoàng Hưng cũng bắt đầu bài thơ dễ dàng, không phải bao giờ những câu mở đầu của anh cũng đầy năng lượng. Có lúc anh hơi lúng túng, và vào giây phút ấy bị chinh phục bởi quán tính.
Đường phố hôm nay mùa đông
Sao áo em mùa hạ? 
Rõ ràng là hai câu khá tầm thường. Nhưng có lẽ sự hứng khởi của tình yêu, sức hút của suy nghĩ, đã kéo anh đi, nâng lên.

Những sọc áo xanh cuộn sóng
Em mang trên ngực biển đầy 
Do đó anh tiếp tục để sóng tung cao.

Biển những ngày hè đẹp lắm
Ngày nào tìm biển ta say

Nhưng mùa hạ đã ra đi
Chân trời xa không ngấn nắng

Chuyển tiếp này hợp lý, đẹp, mở ra.
Sao em còn mang áo mỏng
Có còn mùa hạ nữa đâu

Sao em làm lòng ta đau
Nhớ ngọn lửa hè đã tắt

Sự hồi tưởng, tuy cảm thương, vẫn không bi lụy, mặc dù câu thứ ba cũ, vẫn được chấp nhận. Sau đó, anh lập tức lấy được động năng.
Chắc biển ngoài kia cũng xám
Lạnh co những sóng rộng dài

Và đẩy xa suy tưởng thẩm mỹ, chạm sải tay được vào bờ, như tình yêu của anh chạm tới ngực người đàn bà.
Ngực em cao làm tức ngực
Hãy chôn dưới lớp áo dầy

Đường phố hôm nay mùa đông
Hãy để mùa hè yên nghỉ

(Hãy để mùa hè yên nghỉ)
Cấu trúc càng chặt chẽ, người đọc càng tham dự nhiều: đọc như một quá trình sáng tạo. Bài thơ đầy khúc quanh, hình ảnh và ảo ảnh, gọi tên và ẩn ý, sự khéo léo và vụng về, sự đọc bằng mắt và sự đọc lớn lên, cái chuẩn bị và cái không chuẩn bị.
Trời không đứng không đi
Chén vàng Lệ Mật

Người về đốm râu
Chùm si nõn

Bạn không hiểu gì cả. Bạn đứng lại và nhìn nó. Nhìn bài thơ. Như một cái cây, như căn nhà, một sự vật. Có lúc cánh cửa mở ra.
Lợn thở bình yên quán rượu
Ta hát như điên bài hát rẻ tiền

Rồi cánh cửa khác. Bạn đi tới góc tối khuất trong nhà, bật đèn, nhưng đèn không sáng, bạn vấp phải tấm mạng nhện, và bước qua nó, đến trước:
Cong tàn nhang miếu đổ
Cha đi Hà Nội ngàn năm

Chỉ là một trong những cách đi vào một bài thơ.
Có cách khác, tất nhiên, như trong tình yêu. Tình yêu nam nữ giống và khác với những thứ tình khác ở nhiều điểm: tổ quốc, mẫu tử, tình bạn, gia đình. Điểm quan trọng nhất của tình nam nữ có lẽ là chất riêng tư, sự thèm khát được đồng nhất và ý chíchiếm hữu. Sự phảng phất tình dục trong một số bài thơ của Hoàng Hưng có nét xao xuyến nửa nguyên thủy nửa nhu cầu được vỗ về trước tổn thương. Nhưng đôi khi anh cũng sử dụng những chữ quá trừu tượng và tổng quát.
Biển những ngày hè đẹp lắm
Ngày nào tìm biển ta say 
Trong nhiều trường hợp khác, anh vượt qua chúng với kỹ thuật mô tả sống động, chi tiết, như kỹ thuật truyện ngắn. Lịch sử được viết bởi kẻ mạnh. Thơ trữ tình được viết bởi nạn nhân. Có một lòng tin vào lương tri phổ biến, sự chuẩn tắc luân lý và văn hóa, chảy ngầm bên dưới những nổi loạn nghệ sĩ. Kierkegaard cho rằng lòng tin là bước nhảy vọt, vượt qua tầm thường. Thơ anh là phản kháng trí thức, chính là khuôn mặt của sự thật. Anh phản kháng điều gì? Sự nói dối, thói dung tục, sự xúc phạm nhân phẩm. Tuy vậy thơ Hoàng Hưng không phải là tiếng thét, lời kêu gọi. Thơ anh là một thay thế nhiều hơn là một chống đối, sự không khuất phục nhiều hơn là sự nổi loạn, cái cao quý nhiều hơn cái căm phẫn, chất hiện thực đầy thuyết phục nhiều hơn tính tranh cãi hùng biện. Vì tính nhân chứng, thơ anh gần với ngoại biên, vì thiếu tính gây tranh cãi, thơ anh không thuộc về khuynh hướng hậu hiện đại.

Người về từ cõi ấy
Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

Người về từ cõi ấy
Bước vào cửa người quen tái mặt

Người về từ cõi ấy
Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui
Hai năm còn mộng toát mồ hôi
Ba năm còn nhớ một con thạch thùng
Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

Một hôm có kẻ nhìn trân trối
Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

Giật mình
một cái vỗ vai.

(Người về)
Thơ Hoàng Hưng thật ra khó đọc hơn thế, kén độc giả, đòi hỏi nhiều công sức để thưởng thức. Nói cách khác, anh bỏ ra nhiều năng lượng hơn chúng ta tưởng. Cần có lòng tự tin, đôi khi gần như bất cần, để một nhà thơ hôm nay viết một loại thơ ít được hiểu. Anh chọn kể lại sự thật bằng phương cách riêng biệt, kể lại bi kịch cá nhân giữa những khung cảnh mơ hồ, mờ ảo, phần nào gây ra bởi giọng điệu.
Mặt ga đêm
Miệng mở ngủ
Giật thức
Mắt kinh hoàng
Người bốn phương chạy đổi chỗ.
Em đi về đâu em có đi cùng anh
Em có một cái mặt không ?
Ta soi nhau mà tìm.
Đêm bốn bề người chen đêm chật

(Người đi tìm mặt) (*)
Thơ Hoàng Hưng bắt rễ sâu vào đời sống nhưng trừu tượng và siêu hình. Mối quan hệ của anh với cuộc đời là mật thiết nhưng phức tạp, dù ngôn ngữ trong trẻo. Tôi chú ý đến bài thơ Cửa Sông sau đây vì giọng thơ quen thuộc, chất phác, mà gây bất ngờ. Đó là thứ thơ trầm tĩnh, bất hạnh, được nén lại, ấp ủ qua mùa, ý thức lấp lánh. Bài thơ như cái nhìn không chớp mắt vào lịch sử dân tộc.
Con đò nhỏ đưa ta ra cửa sông
Anh với em ngồi giữa những bạn chài
Mắt cười hiền
Họ không hỏi chúng mình đi đâu

Ra cửa sông họ sẽ lên những con thuyền thúng
Buông câu chờ bữa ăn hôm nay
Còn chúng mình đi đâu, đâu những con cá lạ ?
Những ngày sắp tới có gì mới hơn ?

Ta bước lên một chợ cá sắp tàn
Cồn cát trắng lửng lơ giữa biển.
Đến hết cồn này mình sẽ thành con trẻ
Cởi ba lô vứt lại giữa những mảnh ván thuyền,
Đến hết cồn này mình sẽ sang kiếp khác…

Em ngập ngừng một giọt lệ trên mi
Đời sống này buồn mà đẹp quá.
Em ngập ngừng giữa phiên chợ nắng
Đò nhổ neo, nổ máy gọi về

Ta cứ đứng phân vân trên cồn cát
Các bạn chài đã đi hết rồi
Những chiếc thúng rập rờn ngoài cửa biển
Còn hai chúng mình
Đi thôi
Về thôi.

(Cửa Sông)
Không khí huyền ảo. Có linh cảm, gần như tiên đoán. Không khí này dẫn đến cảm giác phân vân ở cuối bài. Khái niệm phân vân được sử dụng như sự đa nghĩa. Đây là sự đa nghĩa chủ quan, người đọc có thể dự đoán nhưng không thể nào biết nhân vật của bài thơ nghĩ gì và hành động ra sao. Đối với bài thơ có tính chủ quan như trong thơ trữ tình, việc tiếp nhận của người đọc đối với tác phẩm là đề tài lý thú. Trong lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser, người đọc càng có quan điểm thẩm mỹ và xã hội rõ ràng, càng khó tiếp nhận những khả năng khác nhau của việc diễn dịch. Chỉ những người cởi mở, mới có thể thưởng thức vẻ đẹp của đa nghĩa. Ta bước lên, là ba chữ mở đầu phần hai, gây ấn tượng bước từ thấp lên cao, như khi ta bước lên một con dốc, nhưng cũng là khái niệm trừu tượng, cái bước tinh thần, đời sống tâm linh. Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng (Thế Lữ). Là làm chủ số phận.
Đến hết cồn này mình sẽ thành con trẻ
Là câu thơ bí mật. Sự vang dội của nó tương phản với bầu trời gay gắt hoang tàn mà câu trước vẽ lên. Sự cô độc mong manh không phải dễ nhận ra. Thế giới đầy nghi ngờ. Thế giới là bình minh nhưng cũng là hoàng hôn. Đất nước tàn úa. Cảnh chợ cá ban chiều có lẽ là hình ảnh chính xác nhất để mô tả thời chúng ta. Hoàng Hưng là tiếng thơ lạ, không phải chỉ vì hoàn cảnh tù đày mà anh trải qua, nhiều người biết, mà vì anh chọn lựa cho mình tiếng nói riêng giữa hai khuynh hướng, xã hội và ngôn ngữ. Vì khuynh hướng thứ hai này, thơ anh gần như bắt buộc phải là thơ cá nhân và trữ tình. Vượt ra ngoài truyền thống trữ tình Việt Nam, anh đi những bước xa hơn, khá sớm. Không phải chỉ là tâm trạng của một thời buổi, thơ anh còn tìm sự kết hợp giữa mất mát và tình yêu, giữa sở hữu và lưu vong, những hình thức kết hợp trong một dạng thức trầm tư lặng lẽ, đôi khi buồn rầu nhưng không tuyệt vọng, của nghệ thuật yêu mến cái không toàn hảo. Trong khi ngữ cảnh là cụ thể, thì ngôn ngữ của anh có phần trừu tượng trí thức. Tất nhiên đó vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu của một bút pháp. Để đi đến chọn lựa cuối cùng, khó khăn, Hoàng Hưng mô tả chi tiết cảnh trên bờ biển, cồn cát, bản chài, cảnh trời chiều, cảnh chợ cá. Sự mô tả ngắn gọn, khách quan, có chút lạnh lẽo, với kỹ thuật gần phim ảnh, mở ra khung cảnh rộng lớn hơn của đất nước. Rồi nhà thơ thu lại ở hai người, bơ vơ, sự đơn độc trong chọn lựa của họ.
Đời sống này buồn mà đẹp quá
Tiếng thở dài, không phải của bi quan chán nản, mà ngược lại, như lời nhắn gởi sự trở lại, hồi phục. Bạn nhắm mắt, hình dung một người, bước vào bóng tối, bước ra ánh sáng, đi giữa những người tù, nằm trên sàn đá lạnh, trần truồng trước người khác. Bạn hình dung sóng biển, mùa hè. Bạn nhắm mắt lại và thấy một cơn mưa. Bài thơ là vở kịch, người đọc, người viết, nhân vật, đi lại trên sân khấu. Để làm gì? Để cảm thấy quyền năng của ngôn ngữ, của câu thơ, của tín hiệu. Để hiểu rằng chúng ta không cô độc, trong cuộc chiến đấu chống lại ngu tối, tội ác.
Cả em nữa em ơi
Như thuộc về cõi khác
Hụt hẫng phút hàn huyên
Anh ôm em ngơ ngác.
Và xin em chớ giận
Khi nhìn thấy gói quà
Anh muốn ngay lập tức
Quay lại chỗ vừa ra
Để run run mở gói
Hau háu mắt bạn tù

Nếu văn học có thể trở thành phương tiện của chân lý thì nó cũng có thừa khả năng biện hộ cho sự chống lại con người. Lý thuyết rối loạn hậu chấn thương (post traumatic stress disorder) chỉ ra rằng ở người trải qua hoàn cảnh khắc nghiệt như tra tấn, thiên tai, bệnh tật, có thể có ba loại biểu hiện: biểu hiện sớm, trong vòng sáu tháng đầu tiên; trở nên mãn tính; hoặc có thể không có biểu hiện nào cho đến nhiều năm sau.
Thôi em về đi nhé
May em không khóc oà
Quay lưng con bỗng thét
Giờ mới nhận ra cha.
Anh cúi đầu bước vội
Thầm nói em đừng chờ

Tôi lại quay trở lại
Thế giới của tôi đây
Em chỉ là giấc mộng
Bên trên khối mộ dầy.

Triệu chứng chính là sự sống lại các kinh nghiệm chấn thương hoặc bằng những hồi tưởng hoặc ác mộng, có khả năng làm tê liệt một số đáp ứng tinh thần hay khả năng giao tiếp ngoại giới, những rối loạn về thần kinh thực vật hoặc về tâm trạng như trầm cảm. Nạn nhân của các chấn thương có thể hoàn toàn bị đánh ngã bởi hội chứng sau chấn thương, nhưng cũng có thể hồi phục nếu biết cách vượt lên bằng những phương cách khác nhau.
Thơ là một phương cách. Có lẽ vì thế mà anh có nhu cầu về những kinh nghiệm tâm linh, đôi khi cũng có ý vị thiền, hướng tới an tĩnh, hướng tới bậc tuệ giác.
Bây giờ - ở đây
Tự do ngay phút này - hoặc không bao giờ nữa

(Bậc thầy)
Khi người công dân lương thiện chết đi, lịch sử không tàn héo, mà sống lại mạnh mẽ hơn, từ trong trấn áp, cơ cực. Cảm giác đau buồn có thể làm mờ tâm trí bạn trong một lúc. Có thể bạn nghĩ thế giới đã kết thúc. Như khi cuộc chiến tranh mà bạn tin tưởng vào tính chính nghĩa của nó bị đánh bại. Có thể bạn nghĩ tất cả luật lệ sụp đổ. Như khi bạn lọt vào thuyền của bọn cướp biển. Có thể bạn nghĩ bạn hoàn toàn tự do, không ước thúc bởi bất kỳ một chuẩn tắc đạo đức nào. Chúng ta hãy đứng tách ra, ra khỏi bạn, như những khán giả, và nhìn xem bạn hành xử thế nào.
Anh đánh mất mùi anh trên những sàn đá lạ
Chỉ còn mưa mùi nước mắt đêm

Em còn yêu anh không yêu đến đâu giận ghét đến đâu
Mười lăm năm lòng mình chưa hiểu hết

Mưa mưa ngập tầng trệt
Đưa nhau lên gác xép nằm nghe mưa sập mái tôn

Ước nằm nghe mưa rồi chết.

(Mùi mưa hay bài thơ của M.)
Giọng điệu trong một bài thơ là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc, và là ngôn ngữ thân xác.Thơ Hoàng Hưng có những mẩu như đối thoại, như tâm tình giữa hai người, hay như tranh luậnNhư thế gọi là phong cách (gesture), một nghệ thuật biểu hiện. Bối cảnh là căn phòng, căn nhà riêng tư của hai người, một đêm mưa như trút. Bối cảnh là chia tay và đoàn tụ. Động lực của nó là sợ hãi, lo âu, vui mừng đoàn tụ, tình yêu, và cả tình dục, niềm vui tinh thần và niềm vui thể xác. Đụng chạm. Người nam, người nữ.
Đã một nghìn đêm mưa trắng đêm 
Đến đây thì rõ là mưa không chỉ ngoài trời. Mưa rơi ngoài phố.Mưa rơi trong lòng ta. Như trong một bài thơ tiếng Pháp. Nhưng tác giả lại đưa ta đến với khung cảnh này:

Mưa mưa ngập tầng trệt
Đưa nhau lên gác xép nằm nghe mưa sập mái tôn

Thì là mưa thật. Có hai cơn mưa, của thời tiết và của tâm hồn, của bây giờ và của nghìn đêm. Một nghìn đêm, ba năm. Câu cuối là đặc trưng của Hoàng Hưng, lối kết thúc đặc biệt, ít người kịp chú ý.
Ước nằm nghe mưa rồi chết
Con đường dài, sự mỏi mệt. Sự vừa đủ. Hạnh phúc. Nỗi bi quan. Sự đề kháng bay bổngThơ không làm con người trở nên tốt đẹp hơn; thơ chỉ dạy họ mơ ước trở nên tốt đẹp hơn. Hoàng Hưng là người của công việc; và sự cần mẫn của anh đến từ tình yêu.
Giấc ngủ đêm đông
chặt làm bốn khúc,
mỗi khúc cập giờ cập phút
tin tức quê nhà.

Quê hương giờ giữa ban ngày
mà sao như giữa đêm dày hỡi quê!

Đêm ở đây tuyết trắng bốn bề
trắng như dao cắt
ngày về
còn
xa.
(Đêm cuối năm xa nhà, bốn lần thức giấc mở mạng đọc tin Ba Sàm)
Thực ra, Hoàng Hưng ở gần đất nước hơn nhiều người khác. Là nhà thơ của ý thức xã hội, anh giao tiếp, vận động, tạo ra trường tương tác quanh mình. Một cách lặng lẽ. Thơ anh nói về người khác, đập nhịp cùng người khác, nhưng không phải anh viết cho người khác: thơ trữ tình viết cho chính mình, bao giờ cũng vậy. Quan điểm vừa cứng rắn vừa khoan hòa giúp anh nhìn ra nhiều vấn đề hôm nay, vừa không ngăn cản anh đi xuyên qua, dễ dàng hoặc khó khăn, các biên giới giữa chính trị và nghệ thuật, giữa trong và ngoài, giữa Nam và Bắc, giữa tả và hữu, chẳng hạn. Sự đồng thời vừa là người sáng tác vừa là người của báo chí không tạo ra các xung đột ở anh. Hoặc chúng không lớn. Có thể trong những năm sau này, anh đã có nhiều cơ hội hơn để điều chỉnh tầm nhìn lịch sử, đặc biệt về cuộc chiến tranh hai mươi năm nội chiến, nhưng tôi tin rằng nguyên nhân sâu xa nằm ở cội rễ của mọi thứ: một tâm hồn biết rung động trước cái đẹp, những phẩm chất có tính nhân loại, sự đề kháng đối với cái ác, giả dối.
Cách bảy lần tường
Tiếng cười vụt qua
Một trưa rất ròn

Sau bảy lần tường
Có người đêm đêm
Mắt mở trừng
Nghe sấm chạy

Một hôm
Có cánh hoa xoan
Vào thăm người ấy
Bàng hoàng người ấy
Nhặt cánh hoa xoan

Chuyện chỉ có vậy
Sau bảy lần tường.

Nhu cầu đối với sự thật có tính phổ biến ở con người, tuy vậy lại không đồng nhất ở những người khác nhau. Có người xem sự thật cần thiết như ăn và thở. Có người sợ hãi, xa lánh nó. Những người nhiều định kiến và ít bao dung, nặng bè phái và kém trí phán xét, hay tin theo một học thuyết tiền chế, biết rõ điều này.Thơ trữ tình nhân chứng thường xuyên hướng tới sự thật nhưng không mang lại các giải pháp. Một bài thơ hay, điều ấy rất hiếm, là một bài thơ đến đúng lúc, gọi đúng tên bạn từ ngoài cửa, lúc bạn vừa tỉnh giấc, và bạn liền đi theo nó, không hỏi một lời, đến tận bìa rừng kia, cái giếng gạch đầu làng, chiếc xe hơi cũ với băng ghế sau bọc da đã mòn. Ở đó, bạn nhìn thấy cội rễ của ao ước thầm kín, nghe được tiếng nói bị khuất lấp sau đám cỏ cao, và bạn tin. Bạn trở nên can đảm.
Buổi trưa
Sau một cơn động đất xa

Chói chang ngực rộng mây bay về khát khát
Cây đá đổ vách trần xiêu lao đao bốn mặt
Ai gọi rất xa

Chờ ta!
Chờ ta bùng nổ!

Sự kết thúc một bài thơ ở Hoàng Hưng cũng có chỗ đặc biệt. Anh không vướng vào lối kết thúc cổ điển, hay gặp ở các nhà thơ cùng thời, trường lớp, kiểu như nâng cao, mở rộng. Anh kết thúc thản nhiên, điềm tĩnh, không kèm nhận xét, để mặc câu chuyện trôi đi, đôi khi bi quan, đôi khi tàn nhẫn. Vì tự nhiên, sự thực của tự nhiên, bao giờ cũng tàn nhẫn. Sự chọn lựa giữa hai thứ ấy, sự thật của nghệ thuật và sự thật của tự nhiên, thể hiện khuynh hướng của nhà thơ, đôi khi thể hiện lựa chọn có tính văn hóa. Thơ Hoàng Hưng là thơ thành thị, ít yếu tố thôn dã, vì thế anh nghiêng về phía hiện đại, đứng xa các truyền thống ủy mị đầy rẫy trong thơ Việt mấy chục năm nay, Bắc lẫn Nam, trong nước lẫn hải ngoại. Giai đoạn đau khổ nhất, Hoàng Hưng vẫn không dành nhiều thì giờ cho than vãn, mà hào hứng hơn với tốc độ của đời sống, cái sắp xảy ra, lập tức. Cái bây giờ, lập tức, mới là yếu tính của tồn tại. Một tâm hồn đi tìm cứu chuộc, vượt thắng, không phải là tâm hồn buồn rầu. Có một niềm tin, gần như thiêng liêng, không thể chứng minh được, vào sự tốt đẹp, vào chiến thắng sau cùng của cái tốt và cái đẹp, một thứ khả năng hình dung, viễn kiến, nhìn thấy được đằng sau giới hạn của kiếp người, sau sự đau khổ của nó, một thế giới khác, sự nguyên vẹn khác, cõi rung động khác. Điều ấy an ủi chúng ta biết bao. Thật ra Hoàng Hưng cũng có thể biểu hiện nhiều hơn nữa khuynh hướng châm biếm và hài hước, phê phán và tranh luận, khuynh hướng mô tả tỉ mỉ các chi tiết, không phải chỉ để mô tả, tất nhiên, hoặc anh có thể kể lại câu chuyện một cách bình tĩnh, nhẹ nhàng như không, rồi đột ngột chuyển hướng, tạo ra cú va chạm thẩm mỹ. Nhưng những thứ ấy anh ít làm, hay làm mà chưa trọn vẹn. Ngôn ngữ của anh là của ao ước, chờ đợi, không phải im lặng tuyệt đối. Thơ anh có nhiều bài viết về sự kiện, nhân dịp, như vào tù, ra tù, trên đường, nhưng đó chỉ là cơ hội để vô thức cất tiếng nói. Thơ làm sống lại, giữ thật lâu những hiện hữu thoáng qua, những số phận ngắn ngủi. Sự chuyển hướng, thay đổi từ nhân vật này đến nhân vật khác, từ hoàn cảnh này đến hoàn cảnh khác, làm thay đổi không những tâm trạng chung mà còn tạo ra động lực để bài thơ đi tiếp, đôi khi với tiến độ nhanh hơn. Nếu nghi ngờ là một phẩm chất của khoa học, nó cũng là phẩm chất của văn chương. Tác phẩm văn chương trong khi có thể mang lại hiểu biết, lòng tin, thì có thể phơi bày những lưỡng lự, tính đáng ngờ của sự vật. Hiểu biết trong thơ chính là hiểu biết về giới hạn của nhãn quan, chật hẹp của chân lý. Trong khi Hoàng Hưng có những bài thơ đã xác định xong vị trí vững vàng của chúng trong văn học, thì ngôn ngữ của anh cần phá vỡ và nổi loạn hơn nữa. Những tìm tòi nghệ thuật vẫn chờ anh. Bởi vì:
Không. Cái chết ấy tôi không chịu nổi
Cuộc sống đi từ cái không biết đến cái biết. Thơ đi từ cái biết đến cái không biết. Bài thơ trữ tình của anh, đi tới cái lớn lao, toàn thể, nguyên vẹn, nhưng không tìm cách giải quyết những mối phân vân.
Đi thôi
Về thôi
Công việc của thơ là tạo ra liên kết giữa người và người trong không gian tối, nhọc nhằn và hy vọng, của tình yêu và rời bỏ, của xúc động và an tĩnh. Sự giao tiếp với cái không biết, trong khi gợi lên cảm giác lạc đường thì cũng mang lại cảm hứng dồi dào, vô hạn. Những cuộc ra đi và trở về, trở về và ra đi, do đó không còn là một ghi chép về chuyến đi có lẽ là có thật của Hoàng Hưng, mà còn là, và thực ra là, một ẩn dụ trung tâm của sự tìm kiếm, đuổi theo cái đẹp, toàn hảo hay không toàn hảo, cuộc lên đường với tất cả nguy nan.Không phải trạng thái sáng rõ, sự cân bằng, sự ổn định, niềm hài lòng, mà chính cái mờ ảo, những cơn mộng, nửa tỉnh thức, trạng thái mất cân bằng tạm thời, sự chấn thương, sự lảo đảo, sự ngờ vực, những thách thức nghiệt ngã, lòng can đảm, khát vọng và vô vọng, mới là những trung tâm động lực của thơ hôm nay.
Nguyễn Đức Tùng
(trong loạt bài Đọc Thơ)

Chú thích:
(*) Hoàng Hưng kể: "Đêm đợi tàu ở ga Thanh Hoá để về đoàn tụ với đại gia đình ở Hà Nội, giữa đám trẻ bụi đời mà tôi tự nhiên sáp vào theo một lựa chọn bản năng cho sự an toàn của mình, sự lựa chọn không thể giải thích bằng lý trí, có lẽ là đêm đầu tiên tôi không ác mộng. Có thể nói hơn một nghìn đêm sống trong các chỗ giam cầm khác nhau, từ trại tạm giam Hoả Lò, đến Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia ở ngoại thành Hà Nội, sau cùng là trại cải tạo Thanh Cẩm ở miền núi Thanh Hoá, hầu như không đêm nào tôi không gặp ít hay nhiều ác mộng, những ác mộng ngắn hoặc dài, là những mảnh vụn hay cả một câu chuyện. Phần lớn những ác mộng ấy, nếu không là lạc vào những cảnh giới hãi hùng thì cũng bao gồm cảnh mình bị rượt đuổi, bị bắt, hay bị giam cầm, hoặc vượt ngục mà không thoát... Có điều tôi có thể khẳng định là tôi chưa bao giờ mơ thấy mình bị đánh đập hay bị tra tấn!

Đêm tự do đầu tiên hình như tôi ngủ rất sâu, và tỉnh dậy không nhớ là mình có mơ thấy gì trong lúc ngủ hay không. Nhưng rồi về sau, cứ lâu lâu, tôi lại có những ác mộng, mà phần lớn cũng lại vẫn là những cảnh như thế. Tình trạng cứ kéo dài cho đến tận bây giờ. Tôi hằng mong chúng đừng trở lại, đừng làm tôi thảng thốt tỉnh dậy giữa đêm, đừng ám ảnh những ngày tôi đang mong muốn tĩnh tâm để hoà nhập lại với xã hội và tự tu chỉnh con người mình. Nhưng vô ích. Chúng cứ trở lại, lúc thưa lúc mau, không bao giờ báo trước."

(http://www.thivien.net/Ho%C3%A0ng-H%C6%B0ng/%C3%81c-m%E1%BB%99ng-2006/group-UjqRKcZ2hWjothgXI8CA4Q )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

chúng ta là những người đã sống quen với lũ




về đây tụ
đàn chuột chù
sống quen với lũ
tóc đã bạc, trán đã láng o, và những vết thương mưng mủ
vẫn tung hô vạn tuế như kẻ mộng du
ba mươi lăm năm, u mê hoài giấc ngủ
dù có kẻ đi Đông, người đi Tây, bốn mùa xuân hạ đông thu
 
một đống thù lù
tự trói chữ nghĩa tri thức của mình trong vòng kẽm ngục tù
nguyện làm con rối cho loài thú
chúng híp mắt cười thích thú
thảy xuống miếng xương thừa cho gặm mút bù khú
 
anh có cu
em có vú
mặc ai bảo chúng ta ngu, chúng ta lú
chúng ta là những người đã sống quen với lũ
ngoan ngoãn bảo thủ
với ma đầu giáo chủ
 
bạo mồm đạo một câu thơ xưa cũ
ngước mắt, trông lên, buông tiếng đù!
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sững sờ trước vẻ đẹp của nhà gỗ lim giá bạc tỷ ở Hải Phòng



Xã Thủy Triều có khoảng 150 ngôi nhà gỗ lim, có giá từ vài trăm triệu đến cả chục tỷ đồng. Phần lớn những ngôi nhà gỗ lim này đều do người nông dân “chân lấm tay bùn” gây dựng nên. Kiến trúc của ngôi nhà gỗ có đồ sộ, khang trang hay không đều phụ thuộc vào túi tiền của gia chủ. Gia đình có nhiều tiền thì làm cột nhà to, trang trí hoa văn cầu kỳ. Gia đình nào ít tiền hơn thì làm cột nhỏ, hoa văn đơn giản.
Bên trong những ngôi nhà gỗ lim tiền tỷ của nông dân Hải Phòng có nhiều hoa văn khắc họa cây Tùng, Cúc, Trúc, Mai tinh xảo, độc đáo. Đặc biệt, có người mạnh tay chi vài trăm triệu đồng chỉ để mua bộ sập gụ, tủ chè kê trước nhà.
Đến xã Thủy Triều , huyện Thủy Nguyên , TP Hải Phòng, nhiều người sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi bước chân vào những ngôi nhà gỗ đồ sộ giá bạc tỷ. Ở nơi đây, nhà tầng không được ưa chuộng mà thay vào đó là “mốt” dựng nhà gỗ, mang đậm nét cổ kính.
Khoảng chục năm trở lại đây, ở xã Thủy Triều , TP. Hải Phòng "rộ mốt" dựng nhà gỗ lim. Cổng nhà cũng được dựng bằng gỗ lim, bên trên có mái che, lợp ngói vảy.
Khi chúng tôi hỏi thăm về ngôi nhà gỗ lim đồ sộ nhất xã Thủy Triều, người dân chỉ tay về phía ngôi nhà của ông Trần Văn Ca, 62 tuổi, ở thôn 5.
Ngôi nhà gỗ lim của ông Ca gây ấn tượng bởi thiết kế theo kiến trúc cung đình Huế, trị giá trên 3 tỷ đồng. Ngôi nhà 2 tầng với nhiều lầu nhỏ nhấp nhô. Tầng dưới làm xưởng gỗ, tầng trên có 3 gian với 4 cột trụ, 3 cửa chính, trên nóc khắc cảnh vật 4 mùa trong năm. Gian giữa bày bộ hương án, bên dưới là bộ sập gụ màu nâu, hai gian bên cạnh là phòng nghỉ. Trước cửa gian giữa kê bộ bàn ghế dùng để uống trà, đọc sách…
Còn ông Lê Văn Sửu, 66 tuổi, ở xã Thủy Triều đang sở hữu ngôi nhà gỗ lim trị giá hơn 2 tỷ đồng. Ông Sửu cho biết, người dân trong vùng phần lớn làm nông nghiệp, kinh tế không mấy khá giả. Do vậy, nhiều người phải gom góp tiền mua mỗi năm từ 5 đến 10 cây gỗ, đến khi đủ gỗ sẽ dựng nhà. Người dân thích nhà gỗ lim bởi nhà gỗ lim có tuổi thọ bền, không bị mối mọt, ít phải sửa chữa. Ở nhà gỗ lim, mùa hè mát, mùa đông ấm. Đặc biệt, nhà tầng chỉ được 50 – 60 năm bị xuống cấp, mất giá trị, trong khi đó, nhà dựng bằng gỗ lim hàng trăm năm không hỏng, giá trị vẫn còn nguyên vẹn.
Dưới đây là hình ảnh cận cảnh những ngôi nhà gỗ lim giá bạc tỷ tại xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên , TP Hải Phòng:
Nhà gỗ lim thường có 3 gian. Hiện tại, ở xã Thủy Triều có khoảng 150 ngôi nhà dựng bằng gỗ lim.
Khi dựng nhà, người dân sử dụng ngói vảy màu đỏ để lợp mái.
Phía chân cột trụ của ngôi nhà gỗ được kê bằng đá xanh.
Ngôi nhà của ông Lê Văn Sửu, 66 tuổi, ở xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên mới dựng năm 2014. Nhà rộng gần 100m2, có trị giá gần 2 tỷ đồng.
Nóc nhà thường được khắc hoa văn hình cây Tùng, Cúc, Trúc, Mai.
Bộ sập gụ, tủ chè được kê ở gian chính giữa của ngôi nhà.
Nét hoa văn tinh sảo khắc hình cây Tùng, Trúc ở mái hiên của ngôi nh�
Bức tranh Tùng – Hạc – Duyên – Liên (ý nói tình cảm vợ chồng gắn bó) đặt ở khu vực bàn tiếp khách
Khu vực bàn thờ đặt hai câu đối ở hai bên, tạo thêm phần cổ kính, uy nghi của ngôi nh�
Bộ khung chính của ngôi nhà gỗ lim.
Gỗ lim khắc hình con rồng được đặt ngay ở phía bàn thờ
Bàn tiếp khách được sơn màu cùng với gỗ để tạo nên nét cổ kính cho ngôi nh�
Những cây gỗ lim được người dân chọn dựng nhà. Gỗ thường được mua ở Quảng Bình, Quảng Ninh với giá khoảng 40 triệu đồng/khối.
Theo Khampha

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin Mới Nhất về Đồng Tâm Mỹ Đức: Bất chấp 70 người bị Triệu Tập Cụ Kình ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phớt lờ quy luật cung - cầu ?


Một dự báo đưa ra con số 70.000 giáo viên có thể bị dư thừa đến năm 2020. Cầu giảm làm giáo viên dư thừa. Thế nhưng ngành sư phạm có biết điều chỉnh để giảm cung không? Không hề.

Chúng ta hãy thử dùng cách thu hẹp thế giới lại để dễ hình dung. Một thị trấn nhỏ chừng 10.000 dân, có chừng ba chục bác sĩ và mỗi năm cần đào tạo thêm một bác sĩ để thay thế người về hưu. Bỗng dưng dân số thị trấn giảm mạnh vì nhiều người dọn đi nơi khác sinh sống, trong ba chục bác sĩ có cả chục người không có bệnh nhân. Rồi trường đại học thay vì đào tạo một bác sĩ lại ồ ạt tuyển sinh đào tạo chừng chục bác sĩ mỗi năm. Rất dễ hình dung trước đây trường thoải mái chọn em học sinh tốt nghiệp 30 điểm vào để đào tạo nay hạ điểm chuẩn xuống còn 10 cũng không tìm đủ người chịu vào học. Ai bỏ công học suốt chừng ấy năm nếu biết chắc ra trường họ sẽ không thể hành nghề bác sĩ vì thị trấn không có nhu cầu?

Có thể dùng quy luật cung cầu này để nhìn lại bức tranh tuyển sinh ngành sư phạm đang gây lo lắng vì điểm chuẩn đầu vào quá thấp.

Theo số liệu chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo (đáng tiếc Bộ chỉ cập nhật số liệu đến năm 2013!) thì số lượng học sinh trong cả nước giảm mạnh trong những năm qua. Nếu như năm học 1999-2000 cả nước có 17,8 triệu học sinh phổ thông thì đến năm học 2012-2013 giảm còn 14,7 triệu em (tức giảm đến hơn 3 triệu em). Giảm mạnh nhất là học sinh tiểu học, trong từng ấy năm đã giảm từ 10 triệu học sinh còn 7,2 triệu học sinh. Điều đó có nghĩa, trong mấy năm gần đây dù không có số liệu thống kê của Bộ chúng ta vẫn có thể suy luận ra mức giảm học sinh vẫn kéo dài, ít nhất là ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Cũng theo số liệu thống kê này, số lượng giáo viên lại tăng. Năm học 1999-2000 có hơn 614.000 giáo viên các cấp phổ thông thì đến năm học 2012-2013 con số này tăng lên hơn 847.000 giáo viên. Tăng mạnh nhất lại là giáo viên phổ thông trung học, từ 65.000 người năm học 1999-2000 lên trên 150.000 người năm học 2012-2013 trong khi giáo viên tiểu học tăng không nhiều đến thế. Điều đó cộng với hiện tượng giảm mạnh học sinh tiểu học những năm trước dẫn chúng ta đến kết luận chắc chắn số lượng giáo viên sẽ dư thừa nhiều và nhiều nhất là ở bậc trung học phổ thông.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có biết điều này không?

Có. Bởi chính Bộ đưa ra con số giáo viên dư thừa trong năm 2014 là 27.000 giáo viên. Có nơi như huyện Krông Pắk (tỉnh Đắk Lắk) thừa 603 giáo viên. Một dự báo đưa ra con số 70.000 giáo viên có thể bị dư thừa đến năm 2020.

Cầu giảm làm giáo viên dư thừa. Thế nhưng ngành sư phạm có biết điều chỉnh để giảm cung không? Không hề.

Theo thống kê của ngành giáo dục, hiện có 58 trường đại học, 57 trường cao đẳng, 40 trường trung cấp có ngành đào tạo giáo viên (trong đó có 14 trường đại học sư phạm, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm. Mặc dù không có số liệu so sánh với thời điểm trước đó, nhiều người nhận xét số lượng trường sư phạm và đào tạo giáo viên đã tăng vọt. Trong khi so với cầu giảm, các trường này lẽ ra chỉ cần đạo tạo một số lượng giáo viên vừa phải để thay thế số giáo viên nghỉ hưu hàng năm (chừng 130.000 người trong năm năm 2016-2020) họ lại ồ ạt đào tạo giáo viên bất kể sinh viên ra trường có làm giáo viên được hay chăng. Chỉ tiêu Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho các trường tuy có giảm nhưng vẫn còn rất cao so với nhu cầu (năm học 2016 - 2017 là 65.300 chỉ tiêu sư phạm, năm 2017 - 2018 này là 52.000 chỉ tiêu).

Nhưng dù sao đó vẫn là con số chính quy. Các trường còn đào tạo giáo viên theo các con đường phi chính quy khác nữa và con số cuối cùng mới là khổng lồ so với nhu cầu thực tế. Lấy ví dụ trường đại học Sư phạm Hà Nội, chỉ tiêu đào tạo (tính cả sinh viên ngành sư phạm và sinh viên ngành ngoài sư phạm) công bố những năm gần đây vẫn tăng đều (năm 2010 là 2.400; năm 2017 là 2.900). Thế nhưng quy mô sinh viên của trường này lại lên đến trên 33.000 sinh viên. Đó là bởi đào tạo chính quy theo chỉ tiêu nói trên chỉ chiếm chừng một phần ba; hai phần ba còn lại là đào tạo tại chức, học bằng hai, hoàn chỉnh kiến thức… Tương tự với các trường đại học sư phạm khác, chẳng hạn Đại học Sư phạm Huế: chỉ tiêu mỗi năm hơn 1.000 mà quy mô đào tạo đang gần 10.000!

Cần xem lại cách đào tạo bất kể nhu cầu như thế vì nơi đào tạo chỉ lo công ăn việc làm cho bộ máy của chính họ bất kể sản phẩm họ đào tạo ra có kiếm được việc làm hay không.

Đến đây nhìn lại bức tranh tuyển sinh ngành sư phạm, ắt chúng ta đã có câu trả lời. Hãy để quy luật cung cầu phát huy tác dụng, cầu đã giảm thì cung ắt phải giảm theo. Hiện nay các trường không chịu giảm vì nồi cơm của chính họ. Nhưng sinh viên ắt không dễ bị lừa nên họ đành hạ đầu vào tuyển sinh – hạ đến mức như năm nay thì chính họ sẽ bị xã hội lên án và chính cách tuyển sinh bất kể hậu quả như thế sẽ bị đào thải.

NVP

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giấc mơ Tân Uy quyền của Vương Hỗ Ninh




Người dịch: Nguyễn Quang A 
Vương Hỗ Ninh

Vương Hỗ Ninh, nhà lý luận hàng đầu của các Tổng Bí Thư ĐCSTQ từ Giang đến Tập đã vào thường trực Bộ Chính Trị. Ông Là ai, tư tưởng của ông là gì? Jude Blanchette cho ta một cái nhìn thoáng qua qua bài viết gần đây.














Cuối tháng Bảy 1994, Vương Hỗ Ninh đã đến gần sự kết thúc một sự nghiệp sang chói – và tương đối ngắn – như một nhà khoa học chính trị tại Đại học Phúc Đán Thượng Hải. Mùa hè đó, ông đã ở khu nghỉ ven biển, Bắc Đới Hà, 300 km phía Đông Bắc Kinh, để cùng giới tinh hoa lãnh đạo Trung Quốc cho cuộc họp kín bên biển hàng năm của họ.

Theo các mục tạp chí của Vương từ cuộc đi đó, chủ đề quan chức tham nhũng đã làm học giả 39 tuổi này bận tâm, đặc biệt là cái ông gọi là “siêu-tham nhũng,” một hiện tượng đưa ra một thách thức rõ rệt đối với ĐCSTQ (Đảng Cộng sản Trung Quốc). “Tham nhũng cấp cao là hiếm," ông đã viết, “nhưng nếu nó xảy ra, ảnh hưởng của nó vượt xa tham nhũng vặt, và như thế nó phải là tiêu điểm của công việc chống tham nhũng.”  



Với đám cháy kép lớn của sự đàn áp thẳng tay tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991rõ rệt không có sự nghi ngờ nào trong đầu óc ông, điều suy nghĩ này về bản chất độc hại của tham nhũng có lẽ đã không làm ngạc nhiên. Vương, tuy vậy, đã tập trung vào chủ đề ở một mức sâu hơn đa số rất nhiều. “Sự tin cậy vào chính quyền là gì?” ông đã viết trong nhật ký của mình chỉ vài tháng trước chuyến đi của ông tới Bắc Đới Hà. “Sự tin cậy vào chính quyền có nghĩa rằng một chính quyền có thể thực hiện lời hứa của nó để cai quản nhân dân,” ông đã viết. Kết luận của ông đã rõ ràng– không có một nền tảng của sự tin cậy, hệ thống chính trị của Trung Quốc vẫn dễ bị tổn thương đối với cùng các lực của sự thay đổi mà đã xé tan đế chế Soviet.  

Bây giờ, hơn hai mươi năm sau, Vương Hỗ Ninhở nhóm cốt lõi của bộ máy ra quyết định mà, trong con mắt nhiều người, cuối cùng đang xoá bỏ sự tham nhũng cấp cao, và bằng cách đó giữ gìn sự tin cậy trong Nhà nước-đảng.  Kể từ khi được Tổng bí thư khi đó, Giang Trạch Dân, triệu về Bắc Kinh trong năm 1995, trên thực tế chấm dứt sự nghiệp học thuật của mình, Vươngđã trở thành “cây bút” của ĐCSTQ, lực thúc đẩy đằng sau các khẩu hiệu ý thức hệ chính của các lãnh đạo chóp bu của Trung Quốc, từ “Ba Đại diện” của Giang Trạch Dân, đến lý luận“Phát triển Khoa học” của Hồ Cẩm Đào, và“Giấc Mộng Trung Hoa”gần đây của Tập Cận Bình.Với tư cách người đứng đầu think tank cấp cao nhất của ĐCSTQ, Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương, ông cũng đã trở thành một trong những bạn tâm giao thân cận nhất của Tổng Bí Thư Tập Cận Bình.  

Trước khi chuyển về thủ đô, thành tích học thuật của Vương Hỗ Ninh đầy phong phú.  Ông đã là tác giả của chí ít một tá sách, và đã công bố hơn 50 bài báo học thuật.Kể từ 1995, và việc ông chuyển đến Bắc Kinh, con số này đã sụt xuống gần zero, một nạn nhân của “hộp đen” làm cho hoạt động chính trị Trung Quốc là một sự quay cuồng của sự bí ẩn và tin đồn đối với những người ngoài chúng ta. Trong khi chúng ta không biết nhiều về cuộc tranh luận xảy ra bên trong các bức tường Trung Nam Hải, may mắn thay, chúng ta có dấu vết trên giấy do Vương Hỗ Ninh để lại trước khi ông về thủ đô.  

Không chú ý tới các triển vọng sự nghiệp tương lai của Vương Hỗ Ninh, một thứ là rõ: nếu chúng ta muốn hiểu phong trào chính trị siêu-bảo thủ của Trung Quốc hiện nay, chúng ta cần hiểu lý luận của Vương Hỗ Ninh về “chủ nghĩa tân uy quyền [cũng được gọi là chủ nghĩa độc đoán mới] - neo-authoritarianism,” mà ông đã giúp để phát triển trong các năm trước khi ông biến mất vào trong Đảng.

Sinh ra ở Thượng Hải năm 1955, sức khoẻ yếu phần lớn đã giữ ông cô lập khỏi cao trào Chủ nghĩa Maocủa Cách mạng Văn hoá(1966-1976), mà, trong một phỏng vấn, Vươnglên án như “một tai hoạ chính trị chưa từng có.” Là một trong những sinh viên đầu tiên để tận dụng được các đại học mở cửa lại sau cái chết của Mao Trạch Đông trong 1976, Vươngđã vào khoa chính trị quốc tế của Đại Học Phúc Đán trong 1978, tốt nghiệp sau ba năm với một bằng Thạc sĩ. Ông đã ở Phúc Đán 14 năm tiếp theo, làm tác giả các sách và các bài báo về chính trị học so sánh và về cai quản (governance).   

Vào giữa các năm 1980, Vương bắt đầu tập trung vào mối quan hệ giữa chính phủ trung ương ở Bắc Kinhvà các chính quyền địa phương mà trên danh nghĩa chúng tuân theo nó. Một cách cụ thể, ông đã quan tâm đến các chính sách“cải cách và mở cửa” đã đóng góp thế nào cho sự khoét rỗng sự kiểm soát của Bắc Kinh đối với các vùng lãnh thổ trải rộng bao la của nó. 

Kể từ cái chết của Mao Trạch Đông trong 1976 và sự nổi lên của Đặng Tiểu Bình trong 1978, sự tự trị tương đối của các nhà chức trách địa phương đã tăng lên cùng với sự dỡ bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá. Tính linh hoạt và tính dễ dãi mới được tìm thấy đã giúp thúc đẩy một sự tăng lên nhanh chóng về mức sống khi nông dân rời khỏi nền kinh tế tập thể vào canh tác trang trại do cá nhân quản lý và nền kinh tế thị trường non nớt.  Tuy nhiên từ viễn cảnh của Bắc Kinh, sự phi tập trung hoá kinh tế và chính trị đã có những khuyết điểm.Khi sự kiểm soát được nới lỏng, thiên hướng của các chính quyền địa phương để bảo vệ các lợi ích của chúng làm tổn hại đến chính sách được Bắc Kinh-ra lệnh đã tăng lên, một hiện tượng bị các quan lại Đảng chế giễu như “chính sách bên trên vấp phải các biện pháp đối phó bên dưới.”  

Vương Hỗ Ninh( thứ ba từ trái qua)



Động học này đã được thâu tóm trong một phân tích năm 1984 của CIA: “Mặc dù Đặng [Tiểu Bình] và các đồng minh của ông đã đặt những người ủng hộ vào các vị trí then chốt ở trung ương và địa phương, các cải cách chính trị và kinh tế của họ vẫn gây tranh cãi và được thực hiện một cách thất thường. Trong phân tích của Bắc Kinh, nơi chống cự chính là các mức hành chính cấp trung và thấp. Thông qua các mối quan hệ chính trị và nhiệm kỳ dài, không bị xáo trộn trong chức vụ, nhiều quan chức địa phương được miễn dịch với kỷ luật trung ương; vì thế, họ thường coi thường Bắc Kinh mà không sợ sự trừng phạt. Trừ phi các quan chức địa phương hoàn toàn chắc chắn rằng ban lãnh đạo quốc gia là vô cùng thống nhất, họ thường phản ứng với các sáng kiến trung ương theo những cách phù hợp với các lợi ích cá nhân riêng của họ.” 

Quân đội Nhân dân (PLA), được dùng như một cái gai kiên định trong phe của các nhà cải cách suốt các năm 1980, đã cũng không nhiệt tình về các tác động phụ của các cải cách kinh tế. Khi các cơ hội ở miền quêtăng lên, nhiều bộ đội tại ngũ đã muốn về quê để giúp gia đình họ làm ruộng.Tương tự, tuyển lính mới đã trở nên khó khăn hơn khi các cơ hội kinh tế mở rộng.Các hộ gia đình có con phục vụ trong quân đội cũng đã bị thiệt thòi so với các hộ không có ai tại ngũ, và như thế áp lực lên những người lính để bỏ PLA trả lương thấp đã lớn.Như một chính trị viên PLA  đã lưu ý trong năm 1980, “chính sách nông thôn mới đã gây ra sự kinh hoàng trong quân ngũ."    

Khi ông theo dõisự teo uy quyền của Bắc Kinhtăng lên cùng với các cải cách, Vương Hỗ Ninhđã lo rằng nếu sự tản quyền tiếp tục nhanh chóng, nó sẽ dẫn đến một sự quay lại một “nền kinh tế phong kiến,” với chủ nghĩa địa phương và sự vô chính phủ thuộc loại mà đã là điển hình của “thời quân phiệt” của các năm 1920 và 30. Trong một bài báo tháng Tám 1988,ông đã cảnh báo về Trung Quốc đang bị chia tách thành “30 tướccông, với khoảng 2.000 lãnh địa của một ông hoàngkình địchnhau" vì sự tản quyền tiếp sau cải cách. Trong khi cải cách nền kinh tế không nghi ngờ gìđã là cần thiết, ông lập luận, nó đã tạo ra một thế lưỡng nan cho các nhà cai trị Trung Quốc. Theo Vương, “Nếu quyền lực không được chuyển cho mức thấp hơn, thì sẽ là không thể để chấn hưng nền kinh tế và đưa nó theo hướng hiện đại hoá; nhưng việc chuyển quyền cho mức thấp hơn mang theo nó những khó khăn to lớn cho việc điều tiết và kiểm soát của hệ thống chính trị.”   

Đấy đã không phải là một hiện tượng mới, tất nhiên. Như một châm ngôn thời nhà Nguyên (thế kỷ thứ 13-14) lưu ý “Hoàng Đế thì xa như trời cao.” Nhưng sau sự mất trật tự và sự hỗn loạn của Cách mạng Văn hoá, nhiều người ở Trung Quốc, kể cả Vương Hỗ Ninh, đã quyết tâm để cuối cùng kéo Hoàng Đế đến gần hơn nhiều.  

Điều này đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm cho ĐCSTQkhi nó lèo lái thời kỳ sau-Mao của nó: làm sao để cân bằng sự cởi mở (của các ý tưởng, các hàng hoá, và nhân dân) với sự kiểm soát chính trị tất yếu cần để đảm bảo sự ổn định và, quan trọng nhất, sự độc quyền quyền lực của ĐCSTQ. Vương đã quyết tâm để tìm ra một sự cân bằng, và trong một loạt bài báo trong các tạp chí học thuật ít người đọc và các báo bình dân, ông đã bắt đầu gỡ mối một khung khổ cai quản mới, mà đã cho phép tính linh hoạt cần thiết cho sáng kiến từ dưới lên với sự bắt buộc đối với sự giám sát và can thiệp cần thiết của một chính quyền trung ương để đảm bảo sự ổn định kinh tế và chính trị gắn với quyền uy và sự thống nhất chính trị.

Để bắt đầu, Vươnglập luận, ta cần nhìn qua tâm tính thời cải cách về xem cuộc đấu tranh nguyên tắc như một cuộc giữa một bên là chính phủ và bên kia là thị trường (hay doanh nghiệp, xí nghiệp-). Như ông đã nói trong một phỏng vấn năm 1995 với tạp chí Thăm dò và các Quan điểm Tự do (Thám Sách Dữ Tranh Minh探索与争), bởi vì Trung ương đã bỏ rất nhiều sự can thiệp trược tiếp của nó vào công việc chính quyền địa phương và sự quản lý nền kinh tế, “mặc dù đã không có kế hoạch thực tế nào để mở rộng vai trò của các chính quyền địa phương, các hoạt động của chính quyền địa phương đã dẫn đến sự mở rộng de facto của các vai trò của chúng, và thậm chí ‘sự lạm phát vai trò’địa phương.”Các chính quyền địa phương đã được trao quyền theo liền ngay sau sự rút lui của Bắc Kinh khỏi đời sống địa phương, một kết quả mà đã gây khó khăn hơn cho các nhà kế hoạch của chính phủ trung ương để đẩy chính sách mức quốc gia xuống hệ thống. Đấy đã không chỉ là vấn đề về thực hiện chính sách. “Sự thống nhất của ban lãnh đạo là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của bất cứ nước nào,” Vươngđã lập luận trong cùng bài phỏng vấn, “Nơi không có uy quyền trung ương hay nơi uy quyền trung ương sa sút, quốc gia sẽ ở trong trạng thái bị chia cắt và hỗn loạn.”  

Các bài viết trong các năm 1980 của Vương đã thiết lập nền tảng cho cái biết đến như “chủ nghĩa uy quyền mới: neo-authoritarianism” (Tân Uy Quyền Chủ nghĩa-威主). Học thuyết cho rằng sự ổn định chính trị đã cung cấp cấu trúc cho sự phát triển kinh tế, và rằng các cân nhắc như dân chủ và tự do cá nhân sẽ đến muộn hơn, khi có các điều kiện thích hợp. Như Vươngđã viết trong một bài báo năm 1993 có tựa đề, “Những Yêu cầu Chính trị cho Nền kinh tế Thị trường Xã hội chủ nghĩa,” (XãHội Chủ nghĩa Thị Trường Kinh Tế Đích Chính Trị Yêu Cầu-社会主场经济的政治要求) “Sự hình thành các định chế dân chủ đòi hỏi sự tồn tại của các điều kiện lịch sử, xã hội, và văn hoá cụ thể. Cho đến khi các điều kiện này chin muồi, quyền lực chính trị phải được hướng tới sự phát triển của các điều kiện này.”  

Những người khác đã gia nhập cùng Vươngtrong việc làm cho lý thuyết nhà nước-mạnh về cai quản này có da có thịt. Một trong những người chủ trương mạnh mẽ nhất đã là Wu Jiaxiang (Ngô Giá Tường), một kinh tế gia tại Văn Phòng Tổng hợp Uỷ ban Trung ương ĐCSTQ. “Trước khi dân chủ và tự do ‘kết hôn’với nhau,” ông nhận xét, “có một ‘giai đoạn tán tỉnh’ giữa chế độ chuyên quyền và tự do. Nếu người ta nói dân chủ là đối tác trọn đời của tự do, thì chế độ chuyên quyền có thể được xem như ‘người yêu’ của tự do trước cuộc hôn nhân.” Viết trong Nhật báo Thanh niên Bắc Kinh, một cơ quan quan trọng của chủ nghĩa uy quyền mới, Liu Liqun, một nhà nghiên cứu tại một think tank Hội đồng Nhà nước, đã lập luận, “Không có trật tự xã hội, không thể có tự do và dân chủ. Nếu ta theo đuổi tự do và dân chủ mà không thiết lập trật tự đầu tiên, thì xã hội sẽ thụt lùi.” Thậm chí những trí thức cấp tiến hơn, như nhà nhân văn Marxist Su Shaozhi, đã biện hộ cho sự lãnh đạo mạnh mẽ, dù là sự lãnh đạo tạo không gian cho sự thử nghiệm trí tuệ. Như ông đã bảo Robert Sullivan trong 1986, “Cái Trung Quốc cần ngày nay là một nhà lãnh đạo mạnh khai phóng.” 

Một nguồn hứng khởi cho các nhà uy quyền chủ nghĩa mới đã là các quốc gia Đông Á đang phát triển khác (Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, và Hong Kong), mà có vẻ đã chứng tỏ rằng sự hiện đại hoá kinh tế đã cần phải có (hay chí ít đã có thể cùng tồn tại với) một hệ thống chính trị có ý chí sắt đá. Chuyển sang một hệ thống như vậy đã không, các nhà tân uy quyền chủ nghĩa đã lập luận, là một sự quay lại quá khứ uy quyền [độc đoán] của Trung Quốc, mà đúng hơn đại diện cho một pha chuyển đổi, ở nơi một elite cai quản được khai sáng sẽ giám sát quá trình phát triển trong niềm tin rằng “quần chúng,” nếu được để tự họ, sẽ phá vỡ toàn bộ dự án. Nói cách khác sự hiện đại hoá cần sự ổn định và trật tự, nhưng tất cả đều nhân danh sự cai quản tốt (good governance) và, cuối cùng, hình thức nào đó của dân chủ. 

Vào đầu hè 1989, chủ nghĩa tân uy quyền đã là một trong các xu hướng trí tuệ nóng bỏng nhất khi nhiều người đi đến nghi ngờ chiều hướng và tốc độ của các cải cách kinh tế. (Một thăm dò dư luận từ 1988 đã báo cáo rằng 60% người trả lời đã cảm thấy các cải cách đi “quá nhanh,” tăng từ 20% trong 1987.) Người dân đã thèm khát các câu trả lời trong tháng Tư 1989 đến mức gần 2.000 sinh viên, trí thức và cán bộ giảng dạy đã nhồi nhét vào một giảng đường tại Đại học Nhân dân ở Bắc Kinh cho một cuộc tranh luận bốn giờ về chủ đề này. Một tường thuật từ Hong Kong đã tường thuật rằng Triệu Tử Dương đã bảo Đặng Tiểu Bình tháng Ba 1989 rằng, “có một lý thuyết về chủ nghĩa uy quyền mới tại các nước ngoài, và bây giờ các giới lý luận trong nước đang thảo luận lý thuyết này.” Đặng đã đáp lại, “Đấy cũng là ý tưởng của tôi.”  

Tuy vậy, sau sự đàn áp thẳng tay ngày 4 tháng Sáu và sự thanh trừng Triệu Tử Dương, chủ nghĩa uy quyền mới đã cần một sự đổi nhãn. Lời kêu gọi của nó cho một “chuyển đổi” sang một hình thức dân chủ hơn của hệ thống chính trị (dù được phác hoạ một cách mơ hồ) đã bị vứt bỏ, để lại chỉ lời kêu gọi cho leviathan (quái vật ~ nhà nước)mạnh và không bị phản đối dưới dạng của ĐCSTQ.  Chủ nghĩa uy quyền mới như thế đã sống tiếp, đã tái sinh như “chủ nghĩa bảo thủ mới,” mà đã vẫn là lực lượng ý thức hệ chi phối trong các năm 1990. Một người thúc đẩy có ảnh hưởng của ý thức hệ mới này đã là thái tử Chen Yuan-TrầnNguyên (con trai của Trần Vân-Chen Yun), người đã kêu gọi ĐCSTQđể từ bỏ chủ nghĩa Marx (mà ít người đã có vẻ còn tin dẫu sao đi nữa) và thay vào đó neo tính chính đáng của nó vào các lực căn bản hơn – chủ nghĩa dân tộc và trật tự chính trị. “Chúng ta là Đảng Cộng sản,” Chen đã nói một lần, “và chúng ta sẽ quyết định chủ nghĩa cộng sản có nghĩa là gì.” 

Di sản của chủ nghĩa uy quyền mới của Vương và em họ của nó, chủ nghĩa bảo thủ mới, tiếp tục sống ngày nay dưới triều Tập Cận bình. Nhìn vào 5 năm đầu của chính quyền Tập Cận Bình qua các lăng kính của chủ nghĩa uy quyền mới, và chúng ta thấy một chủ đề nhất quán: quắp lại quyền lực cho Bắc Kinh. Các doanh nghiệp sở hữu nhà nước, mà trong nhiều trường hợp tự chúng đã trở thành các đế chế kinh tế, đã được kéo lại vào vòng tay của Đảng. Các công ty tư nhân nhiều tham vọng, như Anbang và Fosun, bây giờ chú ý đến các lệnh của Bắc Kinh. Bây giờ cán bộ khắp đất nước bày tỏ sự tôn kính đối với “hạt nhân” của Uỷ ban Trung ương Đảng, Tập Cận Bình.  

Vương Hỗ Ninh đã không viết bất cứ gì về chủ nghĩa uy quyền mới trong hơn hai muôi năm, thế nhưng, vì sao ông ta lại cần viết? Trật tự và sự ổn định đã chiến thắng, và trong khi trời có thể vẫn cao, còn bây giờ Hoàng đế là gần hơn bao giờ hết.


20-10-2017.

Phần nhận xét hiển thị trên trang