Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

Láo lếu đến thế là cùng!

Thư giãn cuối tuần: BẢY CHỮ, TÁM NGHỀ XƯA & NAY

.

“BẢY CHỮ, TÁM NGHỀ” THỜI NAY

Lời dẫn của Tễu: Trong cuộc nhậu, có ông bạn bảo ông có biết "7 chữ 8 nghề" thời xưa và thời nay nó là thế nào không? Lắc đầu không biết.  Ông bạn đọc cho: 

"7 chữ" nghề báo thời kinh tế thị trường định hướng XHCN: 
Tình - Tiền - Tù - Tội - Sex - Sốc - Sến. 
Muốn an toàn, muốn bán chạy, cứ lượn trong vòng 7 chữ là ngon lành cành đào. 

"8 nghề" làm văn hóa thời kinh tế thị trường định hướng XHCN:  
Cờ - Đèn - Kèn - Trống - Bưng - Bê - Kê - Đặt 
Cứ thế, tuần nào tiết ấy cờ quạt, bát âm ca tụng, kê cho ấm đít quan trên và đẹp lòng ông lớn là được ấm thân.

Còn thời xưa à? Ông cứ "sớt" trong blog Quà tặng xứ Mưa là ra hết.
Sớt rồi, thấy bài viết dưới đây, là lời của một con đĩ già lên mặt dạy lớp đàn em. 

Mới hay xưa nay "nghề chơi cũng lắm công phu".
____________

"Bảy chữ, tám nghề" thời xưa

Thưa quý chị em hành nghề, hẳn là quý chị em đã từng nghe đến câu: 

“Này con thuộc lấy làm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”. 

 

Đây là câu thứ 1209 – 1210, đoạn Tú Bà dạy Thúy Kiều nghề làm đĩ. Như vậy, bí quyết nghề nghiệp của chúng ta đã có từ lâu, thưa quý chị em. Kinh nghiệm giường chiếu ở Việt Nam ít khi được hỗ trợ để chia sẻ hay giải nghĩa một cách phổ biến. Nếu bốn chữ “Công, Dung, Ngôn, Hạnh” được phân tích và áp dụng cho phụ nữ ngày nay nhan nhản trên mặt báo, thì chẳng mấy khi “bảy chữ, tám nghề” lại được đem ra mổ xẻ cho quý chị em tỏ tường.

 

Với kinh nghiệm hành nghề lâu năm, nay Gái Bia Ôm xin chia sẻ những đúc kết của mình với “bảy chữ, tám nghề”, trước là với quý chị em trong nghề để phục vụ khách, sau là với các bà vợ để biết cách chìu chồng. 

 

Trước hết, chúng ta nên biết “Bảy chữ” là gì? Vì sao gọi là vành ngoài? 

 

Gọi là vành ngoài vì đây là những cách ứng xử của chị em đối với khách hàng để giữ được cảm tình của họ, giữ khách cho quán/ lầu xanh của mình. Bảy chữ gồm có: Khấp, Tiện, Thích, Thiêu, Giá, Tẩu, Tử. Ý nghĩa từng chữ như sau: 

 

1. Khấp: tức là khóc giả bộ thương yêu, quyến luyến khách không muốn rời. 

 

Chiêu này chị em vẫn có thể áp dụng được. Cánh đàn ông thường thích khẳng định mình mạnh mẽ, là chỗ nương tựa của chị em. Có nhiều ông ở nhà sợ vợ như sợ cọp, càng sợ bao nhiêu thì ra đường càng muốn khẳng định mình oai phong lẫm liệt bấy nhiêu. Một khi chị em tỏ ra quyến luyến, khẳng định rằng nghề của mình là tiếp nhiều khách khác nhưng tình cảm thì đã ngả hẳn về phía vị khách này thì khách cũng khó lòng dứt. Với quý chị em có chồng, có thể thấy chồng mình thường không dứt được những cô gái ốm yếu, dẹo dặt với chồng mình mà các ông vẫn không rời nổi. 

 

2. Tiện: cắt của mình một ít tóc và của khách một ít, trộn chung lại rồi chia hai; mỗi người buộc vào cánh tay để tỏ ý muốn kết tóc se tơ. 

 

Cách này thì xưa, nhưng ngày nay chị em có thể cải tiến theo hướng rủ nhau mua áo đôi, hoặc mua những đồ dùng giống nhau, có ý nghĩa lâu bền như vòng tay, nhẫn đeo tay… Mỗi khi chán vợ, cần một chỗ để an ủi, chắc chắn khách sẽ nhớ mà tìm đến mình. 

 

3. Thích: dùng mực xạ xâm tên người khách vào bắp tay hoặc bắp đùi mình để khách trông thấy cho là mình chung tình .

 

Cách này thì chị em không nên áp dụng vì chúng ta thường thề nguyện với chừng năm mười vị khách. Trước kia, gái lầu xanh thường tiếp một vài vị công tử, thề nguyện dễ dàng hơn thời nay. Bây giờ, nếu chị em nào hốt được thiếu gia hoặc đại gia ngon lành thì cũng nên làm, còn nếu khách xoàng thì không nên nuôi mãi một anh, dễ rớt từ chỗ ăn cơm xuống nơi húp cháo lắm. 

 

Tuy nhiên, chị em có thể gợi ý cho khách mua tặng mình dây chuyền, hoặc nhẫn có chữ cái đầu tiên của tên vị khách. Chị em vừa có của mà khách cũng vui lòng. Hãy nhớ, sau khi khách bỏ đi vì lý do gì đó thì hãy giấu bặt đi. Thời nay, nhiều loại đàn ông bủn xỉn có thể đòi lại của đó, chị em ạ. 

 

4. Thiêu: đốt hương giả bộ thề nguyền rồi chích vào tay mình và tay khách để tỏ dạ chung tình . Có sáu vị trí để thiêu :


a) Bụng kề bụng gọi là "chính nguyện đồng tâm"

b) Đầu chụm đầu gọi la "chính nguyện kết tóc"

c) Tay tả mình khít với tay tả khách gọi là "hứa nguyện liên tình bên tả"

d) Tay hữu mình liền với tay hữu khách gọi là "hứa nguyện liên tình bên hữu"

e) Đùi tả mình khít với đùi hữu khách gọi là "hứa nguyện giao đùi bên tả"

f) Đùi hữu mình khít với đùi tả khách gọi là "hứa nguyện giao đùi bên hữu"  

 

Kiểu này thì quá xưa rồi chị em ạ. Chúng ta có thể đổi thành cách mời khách đi đến những điểm mà người ta tin rằng khi thề nguyền bên nhau thì sẽ ở cùng nhau trọn đời, hoặc cùng nhau ngắm hoàng hôn rồi thề nguyện. 

 

5. Giá: hứa lấy khách làm chồng, giả đò thề hẹn, bàn cách lấy nhau . 

 

Cách này vẫn hữu hiệu đó chị em. Than vãn mình nghèo khó, còn nợ ở động cũng khiến nhiều anh em mủi lòng mà chuộc mình ra. Còn với những khách đã có gia đình thì hứa làm vợ lẽ cũng được. Tuy nhiên, chị em không nên rơi vào cái bẫy mình đã giăng. Đừng dại dột có con với khách, chẳng mấy người có trách nhiệm với Gái chúng mình đâu. Hãy lén uống thuốc tránh thai và làm cho khách thấy mình đã cố gắng lắm nhưng không thể có con. 

 

6. Tẩu: rủ khách cùng đi trốn . Khi khách chơi đã hết tiền nhưng còn quyến luyến mình không nỡ rời, phải giả cách rủ khách cùng đi trốn; đó là một cách "tống cổ" khách êm thắm. 

 

Kiểu này không phù hợp với tình hình thực tế, không áp dụng. 

 

7. Tử: đòi chết để tỏ ra chung tình với khách . 

 

Cách này chỉ áp dụng với những khách giàu có mà lại sợ vợ. Khi bà cả dọa khách, ép khách phải nghỉ bia ôm, chị em có thể áp dụng chiêu này khiến khách phải ló cái khôn, tìm cách trốn vợ mà đi bia ôm với mình. 

.

 

Tám nghề là những nghề nào? Sao gọi là vành trong? 

 

Gọi là vành trong vì đây là những chuyện giường chiếu, riêng tư của hai người. Nếu chị em có được bí kíp này thì tiếp khách không bị mệt, lại khiến khách mê mình không dứt, về với vợ mà vẫn nhớ đến mình mà thôi. Gái giỏi có thể khiến đàn ông dù đi năm châu bốn bể vẫn nhớ về mình. Có nhà văn Việt kiều còn thốt lên thế này: “Đi đây đi đó, đụ đây đụ đó, anh vẫn nhớ cái lồn của em”. Quý đàn chị đó quả thật đáng nể phải không chị em? Giờ thì Gái sẽ bàn về tám nghề để chị em không phải sốt ruột. 

 

Đối với người có cặc nhỏ, ngắn thì dùng phép "đánh trống giục hoa" 

 

Điển tích này xuất phát từ thời Võ Tắc Thiên, khi mùa xuân hoa trong vườn thượng uyển không nở, bà cho quân lính đánh trống dồn dập ép hoa phải nở. Nay, chị em có thể áp dụng tinh thần này vào chuyện trên giường như sau. Chị em ngồi trên mình khách, ép chặt vào để của khách không tuột ra ngoài khiến khách không xấu hổ mà thêm phần tự tin. Cứ vậy mà đánh dồn dập, khách sẽ nhanh ra và thỏa mãn, tiền bo tha hồ mà đếm. Bởi chưng, đã làm Gái thì phải làm cho khách mê, chớ có làm cho khách quê (xấu hổ), chị em ạ.   

 

Đối với người có cặc to, dài thì dùng phép "sen vàng khóa xiết" 

 

Phục vụ những khách như vậy thường rất mất sức. Chi bằng, mình áp dụng chiêu kẹp chặt hai chân khiến khách vừa thấy của chị em chật chội. Cơ đùi thường khỏe hơn cơ vòng nên siết như vậy làm cho khách mau ra nhưng vẫn sướng. 

 

Đối với người tính nhanh thì dùng phép "mở cờ đánh trống" 

 

Nếu có những khách muốn lâu thì cũng có những khách thích ra nhanh. Những khách như vầy thì chị em cứ thoải mái mà tiếp, dồn sức mà vui vầy. May mắn lắm mới gặp được khách kiểu này. 

 

Đối với người tính khoan thì dùng phép "đánh chậm gõ sẽ" 

 

Có những vị khách hùng hục như trâu thì cũng có những vị khách thích nhẹ nhàng, từ tốn. Cách này còn gọi là chậm đánh khẽ rung. Mỗi khi khách vào, mình nên dừng chậm một chút rồi bóp chặt và mở ra, cứ như vậy, khách sẽ nhanh dần và tới đỉnh. Làm cách này cả khách và Gái đều sướng. Còn gì hơn nếu mình vừa có tiền boa mà vừa sướng, phải không chị em? 

 

Đối với người mới "vỡ lòng" thì dùng phép "ba bậc đổi thế" 

 

Theo như Gái thống kê thì hầu hết các trai ở Việt Nam phá trinh lần đầu là với chị em mình cả. Vì vậy, đối tượng khách này cũng không ít, và chúng ta cần phục vụ tới nơi tới chốn. Các em trai nhỏ thường hay nóng vội, không kiểm soát được mình. Mỗi khi ấn vào là dễ tới luôn. Khách không sướng mà lại thêm phần bực mình. Vì vậy nên chỉ sau vài ba nhịp là chị em cho khách đổi tư thế để khách có thể nghỉ giữa hiệp. Thế này còn gọi là thế khóa chặt ba chân. Chị em nên giữ khách cho chặt, để khách nằm im mà thưởng thức cảm giác ở bên trong của mình, thỉnh thoảng lại co bóp vài nhịp. Như vậy, khách có đủ thời gian cảm nhận lạc thú của chuyện giường chiếu, sau này sẽ thành khách hàng thân thiết của động mình.  

 

Đối với người không dai sức thì dùng phép "đỡ dần buộc chặt" 

 

Với kiểu khách này, chị em không nên vì tiền mà đánh nhanh thắng nhanh khiến khách không thỏa mãn. Họ cũng đã bất mãn chuyện giường chiếu ở nhà nên mới tìm đến chị em. Vì vậy, chị em phải từ tốn, kéo dài cuộc truy hoan. Cứ chầm chậm mà tiến, khách gần đến thì phải dừng. Nếu vui vẻ với vợ chừng 5 phút mà đi với gái được 10 phút sẽ làm cho khách tự tin hẳn lên, tinh thần cũng phấn chấn, và tiền bo cũng tăng theo.  

 

Đối với người dai sức thì dùng phép "gắn bó truy hồn" 

 

Có những khách rất khỏe, mỗi lần giao hoan kéo dài cả tiếng đồng hồ, như thế thì thật mệt cho chị em. Những khách này thường có đầu óc bản lĩnh nên chị em chỉ có thể dùng trí mà đối xử với họ. Thường khi gần đến đỉnh là họ lại dừng để nghỉ, rồi lại làm tiếp. Chính vì vậy, chị em phải nắm được cảm xúc của khách. Khi cảm xúc của khách tăng lên, chị em phải tranh thủ vận dụng cả thân lẫn tính, thân thì tăng cường co bóp với nhịp càng lúc càng nhanh, tính thì mặt phải đờ đẫn đầy vẻ dâm đãng, hơi thở phải hổn hển và tiếng rên phải lên tông khiến khách không trì hoãn được nữa mà xuất tinh. Đây là loại khách khó tiếp nhất đó chị em. 

 

Đối với người mê sắc thì dùng phép "dềnh dàng cướp vía" 

 

Có những khách mê sắc, thích vú to, mặt đẹp, chị em phải thu phục ngay. Với khách này, đoạn khởi đầu chị em làm vừa phải, đến khi hành sự thì nhanh chóng tấn công tới tấp, thân lắc, miệng rên, gào càng to càng thích. Khách sẽ thích thú mà nhanh tới.

 

Thật ra, dù là quan lớn hay là dân quèn, đã lên giường thì màng chi tới đạo đức, phải không chị em? Càng dâm trên giường thì càng sung sướng. Làm tình mà để khách chơi, còn mình thụ động thì chỉ là cách của mấy bà vợ chán phèo. Các ông đã bỏ vợ theo mình thì phải làm cho họ mê đắm, chị em ạ. Khách nào cũng nói là đi chơi gái, thiệt ra thì tất cả bọn họ đều muốn được gái chơi. Vì vậy, nếu vành ngoài thì tỏ ra mình phụ thuộc khách chơi bao nhiêu thì vành trong càng phải tỏ ra mình chủ động cuộc chơi bấy nhiêu, đó chính là tinh thần sâu xa của “bảy chữ, tám nghề”. 

 

Với những chia sẻ này, Gái hy vọng quý chị em đúc kết thêm cho mình chút kinh nghiệm vắt vai đặng phục vụ cho vui lòng khách đến vừa lòng khách 


Nguồn: Quà tặng Xứ Mưa. 
Ảnh lấy trên mạng, chỉ có tính chất trang trí, 
không liên quan đến bài viết

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đường sắt trên không ở Việt Nam


HÀ PHƯƠNG
(PL)- 88 năm đã trôi qua nhưng vết tích tuyến “đường sắt trên không” cùng căn hầm đặc biệt của nó vẫn sừng sững nơi đất lửa Quảng Bình.

Từ trung tâm thị trấn Đồng Lê, chạy xe dọc theo quốc lộ 15 chừng 40 phút sẽ tới thôn Thanh Lạng, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình). Nơi đây in dấu vết tích tuyến đường sắt trên không (không trung thiết lộ) và hầm Thanh Lạng độc đáo, hiếm thấy một thời.

Nhân chứng sống hiếm hoi

Sau chiến tranh Thế giới lần thứ I (1918), thực dân Pháp mở cuộc đại tu, xây dựng các tuyến đường sắt chiến lược mới ở Việt Nam nhằm hoàn thành hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương để phục vụ chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1918-1939). Pháp đặc biệt chú ý đến nguồn tài nguyên phong phú của vùng Trung Lào, sát Việt Nam. Vì thế một tuyến đường sắt trên không từ ga Tân Ấp (Tuyên Hóa) sang Banaphào (Lào) dài 59 km được gấp rút xây dựng.

“Việc triển khai loại hình giao thông đường sắt vào Việt Nam thời Pháp thuộc ban đầu chỉ phục vụ cho quyền lợi thực dân, tức là phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa nhưng sau này đã tạo ra thuận lợi rất lớn và quan trọng về mặt kinh tế, văn hóa-xã hội, thông thương giữa các vùng miền của ta” - cụ Nguyễn Viên (97 tuổi, ở thôn Thanh Lạng, một trong những nhân chứng hiếm hoi chứng kiến việc thi công tuyến đường sắt trên) cho biết.

Cụ Viên kể thêm, ban đầu Pháp chủ trương xây một tuyến đường bộ dài hơn 65 km, xuất phát từ ga Tân Ấp nối đường 12 xuyên qua rừng rậm nhằm tiếp cận Trung Lào. Nhưng khi đưa vào khai thác thấy ít hiệu quả nên để thuận tiện hơn và tăng số lượng vận chuyển hàng hóa từ Lào về Việt Nam, Pháp quyết định mở thêm tuyến đường sắt trên không bằng cáp treo từ Tân Ấp - Banaphào.



Ngày nay, đi trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua địa phận xã Thanh Hóa, cách cầu Ca Tang chừng 100 m bạn sẽ thấy những cột trụ bê tông phủ đầy rêu xanh hiên ngang sừng sững giữa trời. Đi tiếp vào thôn Thanh Lạng, bạn sẽ bắt gặp hầm đường sắt xuyên núi dài 500 m nằm lặng yên dưới cánh rừng, bên con suối nhỏ ngày đêm rì rào lời ru của đại ngàn.

Những vết tích hiếm hoi ấy tồn tại giữa cánh rừng nguyên sơ, với sứ mệnh chứng minh cho một thời vàng son của tuyến đường sắt trên không ở đất Quảng Bình. Mảnh đất khúc ruột miền Trung này chính là chặng cuối con đường vận chuyển từ miền Bắc của quân ta trước khi vào chiến trường miền Nam, cũng là chặng đầu của tuyến đường quốc tế qua Lào và Campuchia.

Máu và nước mắt những người mở đường

Sinh năm 1917, đã vào cái tuổi xưa nay hiếm nhưng cụ Nguyễn Viên vẫn còn rất minh mẫn, khỏe mạnh. Ký ức những ngày tháng chứng kiến việc Pháp mở “không trung thiết lộ” và hầm Thanh Lạng vẫn còn in đậm trong tâm trí cụ.

Theo cụ Viên, thời điểm Pháp bắt đầu làm đường sắt trên không sang Lào là vào năm 1929. Để hoàn thành tuyến đường sắt dài 59 km này, Pháp đã điều động, đốc thúc một lực lượng lớn nhân công Việt Nam. Công trình kéo dài năm năm (1929-1933) mới hoàn tất và đưa vào sử dụng.

Quãng thời gian ấy, không ít người đã bỏ mạng vì đói, kiệt sức và vì những tai nạn lao động không may xảy ra. Máu và mồ hôi, nước mắt chan chung trong lòng đất. Phần lớn các công đoạn xây dựng đều dùng sức người là chính, đến những đoạn cần thiết và trọng yếu thì các kỹ sư người Pháp mới cho nổ mìn phá núi, mở đường.

Trên công trường ngổn ngang giữa rừng thiêng nước độc, hàng trăm người thay phiên nhau đào, xúc đất bằng cuốc, xẻng, quang gánh thô sơ. Cậu bé Viên bấy giờ 15 tuổi, ngày nào tan học sớm cũng tranh thủ theo mẹ đi bán bánh trái, thuốc, trà cho thợ xây hầm. Đất Thanh Lạng của huyện Tuyên Hóa khi ấy còn hoang vắng, chỉ lưa thưa vài nóc nhà. Việc Pháp mở đường sắt, hầm khiến nơi này nhộn nhịp hẳn lên. “Đa số nhân công là phu Hà Tĩnh vào làm, một số ít là người địa phương từ các huyện lân cận như Minh Hóa, Quảng Trạch (Quảng Bình). Phu ăn bữa đói bữa no, lắm lúc phải đào củ mài nhai sống cầm hơi mới có sức gánh đất. Lại thêm khí hậu khắc nghiệt, điều kiện vệ sinh, y tế thiếu thốn, tai nạn đá lở khi nổ mìn... nên không ít người đã vĩnh viễn nằm lại nơi này” - cụ Viên trầm ngâm.

Để không ai lãng quên

Thời kỳ chiến tranh, Quảng Bình là nơi khởi điểm của tuyến đường Trường Sơn lịch sử. Với khẩu hiệu: “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến! Tất cả vì sự sống của con đường...”, quân dân Quảng Bình đã góp hàng triệu ngày công đào hầm, làm trận địa chiến đấu, chi viện cho chiến trường. Hầm Thanh Lạng được sử dụng làm kho hàng cất giữ lương thực, hàng hóa của bộ đội ta trên tuyến hành lang vận tải chiến lược Đông - Tây Trường Sơn. Hầm cũng là nơi trú ẩn của người dân mỗi khi máy bay Mỹ ném bom. Chính trong hầm Thanh Lạng, bộ đội ta đã tổ chức hướng dẫn dân quân và lực lượng tự vệ các kỹ năng chữa đường, cứu xe, gỡ bom nổ chậm, các điểm theo dõi và báo động phòng không...

Sau chiến tranh, hầu hết sắt thép trên tuyến đường sắt trên không bị gỡ bỏ, chỉ còn lại mấy trụ cầu và hầm xuyên núi còn khá nguyên vẹn. Đến nay, nhân dân quanh vùng vẫn đi lại, vận chuyển hàng hóa qua con đường hầm này vì nhu cầu cuộc sống.

Ông Nguyễn Mậu Nam, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Bình, cho biết: “Tiêu chí để các đối tượng được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa phải là những di tích - di chỉ có liên quan đến sự phát triển lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự phát triển văn hóa xã hội Việt Nam hoặc những công trình kiến trúc điêu khắc, tác phẩm nghệ thuật, tài liệu lưu trữ... có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa của dân tộc. Nếu tìm hiểu về lịch sử phát triển ngành giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình, có thể lấy tuyến đường sắt trên làm tư liệu nghiên cứu sẽ hợp lý hơn”.

Vẫn biết thế nhưng thiết nghĩ một tấm bia hay biển chỉ dẫn gắn trên mố cầu, trước cửa miệng hầm là sự ghi nhớ nên có. Bởi chúng là nhân chứng của thời kỳ ông cha ta phải chịu ách nô lệ, thuộc địa. Và cũng để khẳng định Tổ quốc không bao giờ quên những người con của mình đã vĩnh viễn nằm lại trên tuyến đường sắt có một không hai này.
***

“Vang bóng một thời”

Vượt bao khó khăn và hiểm nguy, các kỹ sư người Pháp cùng lực lượng công nhân, phu phen Việt Nam đã làm nên điều thần kỳ dưới chân núi Giăng Màn hùng vĩ. Năm 1933, tuyến đường sắt trên không hoàn thành, gồm hệ thống trụ đỡ bằng bê tông rắn chắc cao 12 m, dài 59 km và cáp treo, trục quay dây tời. Lộ trình: Ô tô cải tiến gắn bánh sắt chạy trên đường ray sẽ xuất phát tại ga trên bộ trước. Từ điểm đầu tiên là ga Tân Ấp - ga Thanh Lạng - ga Cha Mác (Xóm Cục) - đến ga Lâm Hóa. Từ ga Lâm Hóa, cáp treo sẽ chuyển các thùng goòng hàng từ đường sắt trên bộ lên cáp treo hai chiều đi tiếp đến ga La Trọng - ga Bãi Dinh và tiếp tục sang Lào.

Hầm Thanh Lạng được xây dựng với chiều dài 500 m, chiều cao 5 m, rộng 6 m, thành hầm được đổ bê tông dày tới 50 cm. Sử sách không thấy ước lượng con số người tham gia thi công, chỉ biết rằng nhiều lắm. Trong tùy bút Đường huyện Tuyên, tác giả Lê Khai đã viết: “Có những người bước chân vào thùng, mắt đăm đăm nhìn về quê mẹ xa xa, mặt thờ thẫn như người sắp chết, rồi bỗng nấc lên, nước mắt chảy ròng ròng. Không biết bao nhiêu mạng người bị điện tắc phải treo lủng lẳng giữa tầng không, nuốt toàn không khí lạnh cho đến khi các thùng sắt đổ xuống các ga Nhám, Cha Mác, Banaphào thì đã trở thành người chết cứng. Đó là chưa kể cái nạn dây cáp bị vướng, móc thùng bật ra nhào xuống vực sâu...”.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, tuyến đường sắt trên bị phá hủy để ngăn chặn sự di chuyển, tiếp viện của binh lính Pháp từ Việt Nam qua Lào, việc vận hành của tuyến đường sắt cũng chấm dứt từ đó.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đến khi rừng không phải rừng hoang


>> Đoàn Thị Hương bị đưa đến hiện trường vụ ám sát Kim Jong Nam
>> Công an Đà Nẵng trả lời việc cấm xuất cảnh 3 tháng với nhà báo


Uông Ngọc Dậu
VNN - Số lượng cư dân di dân tự do vào Tây nguyên, tăng dần, tỷ lệ thuận với diện tích rừng tự nhiên Tây nguyên bị chặt phá làm nương rẫy.

"Đi ta đi khai phá rừng hoang"...

Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu, thành tiếng hát cất lên tự lồng ngực tuổi trẻ, dài lâu, một thuở.

Một thời, lớp lớp thanh niên, cư dân miền xuôi háo hức khí thế xung thiên, đẩy lùi rừng già, khai khẩn đất đai. "Bài ca người thợ rừng" vang lên, cùng "Tiếng hát con tàu", rừng hoang lùi dần, hẹp lại.

Rừng hoang, là cách nhìn của người miền xuôi, của những cư dân không phải người miền rừng.

Người miền rừng, vốn dĩ không có khái niệm rừng hoang.

Giữa thiên nhiên vĩ đại, nguyên sơ, bí hiểm, con người trở nên quá nhỏ bé.

Con người nép mình vào thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên để sinh tồn. Tư duy vạn vật hữu linh đậm đặc trong cách nhìn, cách ứng xử của con người với núi rừng sông biển. Đất có thổ công, sông có hà bá. Rừng, có thần rừng; núi có thần núi. Lại có Bà Mẹ lớn cai quản miền rừng, Bà Chúa thượng ngàn.

Các tộc người thiểu số ở Tây nguyên mà tôi biết, họ không hề có tâm thế đối nghịch với thiên nhiên, chống lại thiên nhiên, và không có thói quen chặt phá cây rừng, như một số định kiến.

Cộng đồng tộc người Mơ nông, người Mạ cư trú ở nam Tây nguyên. Sống giữa rừng nguyên sinh nhưng họ vẫn sống trong ngôi nhà nhỏ, dựng bằng tre nứa, mái sát đất, kết bằng lá mây rừng.

Tộc người Giẻ triêng ở Bắc Tây nguyên có tập tục lâu đời, con gái muốn bắt chồng, phải có nhiều bó củi đem đến nhà trai. Thứ cây rừng to bằng cổ chân, thân suôn, thẳng, tựa cây gỗ dổi, được chọn làm củi hứa hôn. Người ta "xin rừng" vừa đủ số củi, không lấy nhiều, sợ "đau rừng".

Người Ê đê ở Đắc Lắc, khi có như cầu dựng nhà, làm cầu thang hay ghế k'pan, họ phải làm nghi lễ xin phép chủ rừng, xin phép thần rừng. Họ cũng chỉ lấy cây rừng vừa đủ cho nhu cầu của mình. Họ không muốn "rừng nổi giận".

Không ít người khi chứng kiến người Ê đê đốt rừng làm rẫy, đã vội lên án.

Mỗi gia đình người Ê đê, theo tập quán từ lâu đời, có nhiều cái rẫy. Rẫy là nơi chân rừng, bìa rừng, không bao giờ lấn vào rừng già, rừng nguyên sinh.

Thói quen phát, đốt, chọc, tỉa, dựa vào thiên nhiên, tạo nên kinh nghiệm vòng đời nương rẫy của người Ê đê. Mỗi rẫy, người ta chỉ canh tác 3, 4 mùa.

Khi đất đai hết màu mỡ, liền chuyển sang rẫy khác. Cứ thế, qua hết 3 hoặc 4 khu rẫy, người ta quay về rẫy cũ. Khi ấy, rẫy cũ đã thành rừng non. Rừng xưa-rẫy cũ, người Ê đê vẫn quen nói thế. Họ phát rừng non, rồi đốt, khi mùa mưa chớm đến. Đất rẫy được "ngủ" nhiều năm, cùng với than tro cây cỏ, trẻ lại, tơi xốp, phì nhiêu.

Người Ê đê đốt cây non trên rẫy cũ, chứ không phá rừng, đốt rừng.

Gần 20 năm trước, tôi về buôn Um, nằm sâu tận cùng của huyện Ea Kar, tỉnh Đắc Lắc, cách thị xã Buôn Ma Thuột gần trăm cây số. Đây là ngôi làng đẹp nhất trong những ngôi làng người Ê đê mà tôi biết. Bước vào buôn, thấy không khí mát rượi, dù đang mùa khô. Hai dãy nhà dài nằm hai bên con đường đất cát pha, sạch sẽ, thoáng rộng. Con suối dưới chân rừng già ăm ắp nước, trong xanh, hiền hoà. Dọc theo con suối là những khoảnh ruộng lúa nước xanh non.

Dạo ấy, đại diện bà con  trong buôn lặn lội lên tỉnh kêu cứu. Là vì cánh rừng bao quanh buôn, bao đời nay, là rừng thiêng, rừng thần, tầng tầng, lớp lớp, có chủ rừng trông coi, bỗng nhiên người ta đưa công nhân, xe máy đến khai thác. Chủ làng, chủ rừng ra can ngăn, lấy "cái lý đồng bào" để giữ rừng. Nhưng "cái lý đồng bào", cái luật tục giữ rừng bao đời không thắng nổi "cái luật Nhà nước", cái "lý cán bộ". Cánh rừng nguyên sinh, trong tiềm thức dân làng buôn Um, là rừng thiêng, rừng của làng, giờ thành rừng Nhà nước, phút chốc ngồn ngang, tơi tả.

Thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông nhiều lần đến Tây Nguyên. Một lần, từ Buôn Ma Thuột về huyện Krông Bông, ông cho dừng xe dọc đường, lội bộ vào kiểm tra rừng. Hai bên đường, rừng còn nguyên, nhưng cách đường vài trăm mét, cây rừng ngả nghiêng, rừng nham nhở, cả dải rừng già hàng chục héc ta, biến mất.

Bà con dân tộc thiểu số từ phía Bắc vào, cứ rừng sâu, rừng già dựng lán trại, ngày ngày chặt cây, lấn đất rừng làm nương.

Lần ấy, Thủ tướng Võ Văn Kiệt yêu cầu kiểm soát chặt di dân tự do. Nhưng, thực khó. Số lượng cư dân di dân tự do vào Tây nguyên, tăng dần, tỷ lệ thuận với diện tích rừng tự nhiên Tây nguyên bị chặt phá làm nương rẫy.

Lẽ nào vay mà không trả.

Thiên nhiên đến hồi nổi giận, đòi nợ.

Còn nhớ, năm 2000, một trận lũ kinh hoàng, xảy ra ở huyện Krông Nô, khi ấy còn thuộc tỉnh Đắc Lắc. Chủ tịch nước Trần Đức Lương đang có chuyến công tác tại Lâm Đồng đã đáp máy bay trực thăng về trung tâm vùng lũ. Người dân sống lâu đời nơi đây nói rằng, chưa bao giờ chứng kiến cơn lũ tàn khốc, kinh hoàng đến vậy. Dòng sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy Chư giang sin, xuyên qua rừng già, uốn lượn giữa hai bên lèn đá, vốn dĩ hiền hoà. Sau những ngày mưa rừng kéo dài, bỗng như ngựa bất kham, không chảy theo dòng, mà cuộn chồm, xô tung cả thành đá sừng sững, cuốn phăng, nhấn chìm cả một vùng rộng lớn.

Đó là cơn lũ có một không hai, chưa từng có.

Nhưng, năm 2016, cũng trên vùng đất Krông Nô, lại một trận lũ, như người dân nơi đây nhận xét, mức độ kinh hoàng, không kém trận lũ năm 2000.

Không dừng lại, chắc chắn còn nhiều trận lũ lịch sử hơn cả lịch sử, rình rập phía trước.

Khi rừng có chủ mà lại như không có chủ, thì lại là "rừng hoang".

Khi là "rừng hoang", sẽ không còn rừng.

Lại nhớ những người Ê đê buôn Um và khu rừng thiêng, rừng của làng, gần 20 năm trước.


Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Phát ngôn gây choáng của ông Phạm Sỹ Quý sau khi nhận hình thức kỷ luật ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG HÌNH ẢNH PHẢN CẢM.




Bắt đầu từ 9h ngày 26/10/2017, trạm thu phí BOT tuyến tránh Biên Hòa trên Quốc lộ 1 (Đồng Nai) thu phí trở lại sau 20 ngày tạm ngừng hoạt động do tài xế phản đối mức giá và vị trí đặt trạm.
Trong ngày đầu thu phí trở lại, các lực lượng tinh nhuệ của Công an Đồng Nai (Cảnh sát cơ động, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự, hình sự, an ninh …) với trang bị từ đầu đến tận chân như áo giáp chống đạn, súng ống, dùi cui,.. đã được điều động, vây kín cạnh trạm thu phí để bảo đảm an ninh trật tự và an toàn giao thông hỗ trợ cho trạm BOT Biên Hòa thu phí.
Những hình ảnh này hết sức phản cảm. Thử hỏi có ai dám sử dụng vũ khí bắn các anh đâu mà phải trang bị áo giáp chống đạn, vũ khí như sắp chống bạo loạn lật đổ chính quyền không bằng. Có ai biểu tình đâu mà sử dụng xe “vòi rồng” để trấn áp. Việc làm thái quá như vậy nhằm để bảo đảm an ninh trật tự và an toàn giao thông hay là “dằn mặt” người dân?
Phải khẳng định trạm thu phí BOT Biên Hòa cố tình đặt trạm sai vị trí để lạm thu tiền của dân trái pháp luật và là một cách làm giàu bất chính cho chủ đầu tư. Nếu làm như thế có phải là tiếp tay cho BOT làm sai không ? Công an sống bằng tiền thuế của dân thì bảo vệ lợi ích của dân hay lợi ích của doanh nghiệp? Việc làm này khiến người dân ngày càng ác cảm hơn với lực lượng công an.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

.Tài sản của dân vẫn nằm trong tay ông Quý…..


SAO KHÔNG TỊCH THU ĐẤT ?
Dư luận xã hội hoàn toàn không đồng ý với quyết định của tỉnh Yên Bái về việc cách chức ông Phạm Sĩ Quý khỏi chức giám đốc sở bởi cách cũng như không. Lẽ ra phải đuổi ông Quý ra khỏi các cơ quan nhà nước để ông này đi buôn chổi đót thì ông này lại được phong chức Phó văn phòng HĐND tỉnh Yên Bái. Dù làm long tong chân phó văn phòng HĐND tỉnh thôi nhưng em trai bí thư Phạm Thị Thanh Trà thì quyền uy còn to hơn chủ tịch tỉnh. Nếu bà chị này kiêm luôn chức chủ tịch HĐND tỉnh thì chị em bà ấy vẫn thống trị cả vùng Yên Bái mênh mông…
Hơn thế, nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao cách chức ông Quý mà không lấy lại 67 ngàn m2 đất đã chuyển đổi sai mục đích (chiếm 93% đất được chuyển đổi của phường) thì cách chức để làm gì. Như vậy, tay này vẫn ung dung sống trong biệt phủ khủng mà không ai dám động đến lông chân….Tài sản của dân vẫn nằm trong tay ông Quý…..
Tóm lại, chị em bà Trà, Thanh tra chính phủ và Tỉnh uỷ Yên Bái phối hợp với nhau rất nhịp nhàng và vẫn băng băng tiến trên con đường theo định hướng XHCN …
Chả ảnh hưởng đến bố con thằng nào ….

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngô Minh cáu!


THẾ LÀ ÔNG PHẠM SỸ QUÝ ĐÃ THẮNG LỚN !
Sáng nay ( 28/10) đọc báo Tuổi Trẻ đưa tin ông Phạm Sỹ Quý bị kỷ luật mà buồn. Ở TP HCM, vì đói, 2 người ăn cắp bánh mỳ trị giá 45.000 đ cũng bị truy tố ra tòa, bị phạt tù mỗi người 10 tháng tù giam. Thế mà ông Quý chỉ bị mất chức trong đảng, thôi chức GĐ sở , nghe nói được điều sang làm phó văn phòng HĐND tỉnh, còn thế lực hơn GĐ sở nữa, thì là CON TRỜI YÊN BÁI rồi còn gì. Thế là Thanh tra Chính phủ thua nốc-ao rồi! Thế là cái lò của bác Tổng đến vụ ni là tắt lửa! Với cái biệt thự "khủng" ấy, ông Quý đéo cần đảng, đéo cần làm nhà nước, đéo cần chức cũng sướng một đời! Buồn chán nên xin hỏi:" Bao giỜ Chính phủ mới được là LIÊM CHÍNH ?!" Kỷ luật ấy như cái vỗ vai:" Chú em cố lên. Kiếm chác xây cái biệt phủ nữa"! Ý kiến bạn FB thế nào??

Phần nhận xét hiển thị trên trang