Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

Siêu thị chữ của Đặng Thân




- 1. Đặng Thân là kiểu nghệ sĩ nổi loạn. Anh viết nhiều nhưng sung sức và vạm vỡ nhất ở các sáng tác mang phong cách hậu hiện đại. Ở thời điểm hiện nay, Đặng Thân là chất liệu phong phú bậc nhất cho những người quan tâm nghiên cứu văn xuôi hậu Đổi mới ở nước ta. Người nghiên cứu có thể tìm thấy trong sáng tác của Đặng Thân nhiều vấn đề có ý nghĩa lịch sử và lí thuyết liên quan tới việc vẽ bản đồ văn học, nguồn gốc của một hiện tượng văn học, cách viết và cách đọc một tác phẩm văn học.
Siêu thị chữ của Đặng Thân - ảnh 1
2. Trước khi "đốt thành La Mã", Đặng Thân cũng là một nhà văn ưa "nức nở". Chỉ có điều, văn nức nở của Đặng Thân chán ngấy, vì đấy không phải sở trường của anh. Đọc Ma net (1), ở nửa đầu, thấy Đặng Thân "nức nở" khá nhiều. Cả triết lí, kể lể, và chen lấn bao nhiêu rêu giậu xưa cũ. Nói chung mệt và sến. Nhưng đó là "Thân của ngày xưa"…
"Tuổi thơ ơi, vĩnh biệt. Thôi chào nhé những tháng ngày hồi hộp, những đêm trường ngơ ngác những mộng mơ. Bao năm trôi những con bé thét hoài không khản giọng, nhẩy tung tăng êm lướt những cầu thang… trong cõi hoang mang…" (Người thầy của em, tr. 77 - 78);
"Thực ra tình yêu của họ cũng đầy trái ngang. Chính ông nội của anh đã bị ông ngoại của chị bắn chết. Chiến tranh mà. Khi ông nội bị bắn dù còn nhỏ anh đã thấy đời thật vô thường. Anh thấy kiếp người thật vô nghĩa. Và anh thấy cái chết là không đáng sợ. Con người khác gì bầy kiến kia, cần cù ngày đêm tha mồi về tổ, bỗng chỉ một lần sơ sẩy có ai đó dội cho một gáo nước sôi thì đi cả đàn. Mà còn người ta thì phải chịu đựng nhiều thứ khủng khiếp hơn cả kiến. Can qua. Loạn lạc. Đói nghèo. Ngu dốt. Nhất là lại tàn bạo với chính giống nòi của mình" (Người anh hùng bất tử, tr. 62)…
Đặng Thân chỉ tìm thấy sở trường của mình từ khi anh thiêu rụi những thành quách cũ. Cũng là lúc anh bước chân vào hậu hiện đại. Tâm thức Đặng Thân là tâm thức giải thiêng. Thế mạnh của anh là giễu nhại, lật tẩy. Giễu nhại của Đặng Thân không hằn học, không gằn, mà gắn với bỡn cợt, chơi giỡn. Ở Đặng Thân, ý thức hướng về hậu hiện đại đã được chuyển hóa vào trong sáng tác một cách tự giác và tự nhiên. Không phải sáng tác nào của Đặng Thân cũng mang tính hậu hiện đại. Song đọc một số truyện ngắn của anh như Ma netMa nhòa [net ii]Hiếp, Yêu… người ta nhận ra sự hài hước, bỡn cợt được quán triệt như một nguyên tắc thi pháp để thiết tạo văn bản và thế giới hình tượng. Không đau đớn, cũng chẳng cần khắc khoải xót xa, Ma net,Ma nhòa [net ii]Hiếp, Yêu… của Đặng Thân thâm nhập vào cuộc đời bằng hình tượng người trần thuật ưa cười cợt, và luôn mang theo thông điệp: hãy vui vẻ lên mà chung sống với cõi nhân gian lộn ẩu và bát nháo đến dị thường này:
"Da thịt em bắt đầu rùng rùng chuyển động như một đoàn quân Tây tiến [không mọc tóc]. Nhưng em thì bắt đầu mọc lông" (Yêu, tr. 155 - 156); "Nhập nhoàng đồi trôi. Đôi vú em càng ngày càng tưng tưng đâm chồi nảy lộc" (Yêu, tr. 157); "Mỗi năm trăm trận. Vết thương đầy mình. Nhưng cái trận đáng nhớ nhất là trận Chiết Kiều (…) Khi hầu hết tiểu đoàn đã xuống lòng hào là lúc quân địch bắt đầu xổ hỏa lực. Đủ loại: pháo cối, pháo chụp, lựu đạn, mìn, M16. Quân ta đổ như chuối" (Ma nhòa [net ii], tr. 234). v.v…
Ma netMa nhòa [net ii]Hiếp, Yêu là những thế giới giải thiêng và chơi dỡn triệt để, có thể xếp vào hàng những sáng tác hay nhất của anh.
Siêu thị chữ của Đặng Thân - ảnh 2
3. 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] (2) là một dấu mốc mới của Đặng Thân. Những ý kiến phong phú, cả trái chiều về tác phẩm cho thấy sự đa dạng, nhiều mặt của nó với tư cách một chất liệu. Theo tôi, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân không quá khó đọc. Vấn đề chỉ là sự bề bộn của nó khiến bạn đọc bối rối mà thôi. Nếu Ma netMa nhòa [net ii]Hiếp, Yêu… là những "quầy nhỏ" thì 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] có thể ví như một "siêu thị". Và, trong "siêu thị" của mình, tác giả bày ra đủ các mặt hàng. Hàng Tây hiện đại, hàng Tàu cổ, hàng Việt, triết học, tôn giáo, hàng thủ công, gia công, vỉa hè, hàng xén... Người quen đi chợ quê, chợ cóc, chợ vỉa hè bước vào đây có thể ngỡ ngàng. Thậm chí choáng ngợp. Nghĩa là có vấn đề thói quen. Lưu ý là ở một số đô thị của chúng ta, hàng siêu thị vẫn rất khó bán!
Đọc 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], thấy đủ các đặc tính của một lễ hội giả trang. Giễu nhại, bỡn cợt, mắng rủa, hạ bệ, chết chóc, tái sinh, ngôn ngữ vỉa hè, khẩu ngữ, nói lắp, lảm nhảm, phát ngôn loạn xị, hỗn loạn, ngôn ngữ "teen", ngôn ngữ "chat", từ ngữ sai chính tả… Với Đặng Thân, tiểu thuyết trở thành một sân chơi các-na-vanỞ đó, dường như mọi thứ đều được bày ra trên một mặt sân giá trị bình đẳng. Và cũng ở đó, ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống hàng ngày được tác giả cố ý làm mờ.
Theo tôi, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] giữ được sự hấp dẫn bởi nó mang lại cho người đọc những khoái thú hiểu biết, và trước hết là bởi một phong cách nhại độc đáo, trong đó có lối nhại văn. Có thể thấy, hầu hết các loại lời chính thống, nghiêm trang, sách vở đều được Đặng Thân biến thành trò diễn:
"Đã quen ăn trắng mặc trơn, giờ mất nhà tài trợ hảo tâm, Hường rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính. Nguyên nhân là do em chỉ có một nền kinh tế bong bóng "bubble economy" mà ảnh hưởng của nó đã lan khắp Đông Nam Á. cần phải có một chiến lược kinh tế có tầm nhìn thế kỉ, kiểu tầm nhìn 2010 hay tầm nhìn 2020 mới được, em tự nhủ (tr. 227) (các chữ in đậm là do tác giả bài viết nhấn mạnh).
Rồi kiểu giọng "lật lọng": "Đó là một mỏm đá có hình người phụ nữ đứng ôm con đứng chờ chồng đi đánh giặc mãi chưa/ không về. Mỏm đá đó có hồn hay chính dân tộc này có rất nhiều Tô Thị bằng xương bằng thịt nên mới thổi cái hồn "ôm con chờ chồng" ấy vào cho đá? Thế mà,đau đớn thay, cái "hồn ấy" đã bị mấy thằng phá đá nung vôi nổ mìn đánh sập" (tr. 76); "Năm 1977 đứa em gái đầu tiên của tôi ra đời, nó có khuôn mặt giống mẹ tôi như tạc, mỗi tội da vàng" (tr. 247).
Tiếp đó phải kể đến lối nhại văn, chế văn với một độ văng phóng túng đến mức có thể chạm tới bất cứ ai: "Ôi người con gái theo chồng chết nơi đất khách. Cỏ xót xa đưa. Những giấc mộng xưa giờ đã thừa. Chỉ còn lời ru mãi ngàn năm. Chờ một ngày kia người quen về chào tiếng lạ. Ôi đóa hoa vô thường… Hương hỏa ba sinh" (tr. 394); "Em đi tắm. Đã mấy hôm rồi em chưa tắm. Trời, cái bồn ở đây thật tuyệt. Những tia nước mơn man. Tiếng lòng em bắt đầu chảy róc rách. Em cho nước chẩy đầy bồn rồi em lâm mình vào trong đó. Sau cái cảm giác bay lên trời bây giờ em lại có cảm giác xuống biển… Ôi than Quảng Ninh. "Mỗi khi tan ca… em cùng anh lại ghi thêm một chiến công"… Hương bưởi thơm hai nhà cuối phố. Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm. Xóm đạo đìu hiu. Đồi thông hai mộ… Em nằm yên, em nằm yên. "Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau" (tr. 544). v.v…
Bản thân 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một hiện tượng nhại thể loại. Tác phẩm được làm thành từ vô số các trích dẫn, mẩu tin nhắn, thông tin báo chí (với các đường dẫn cụ thể). Rồi cách in ấn với nhiều kiểu phông chữ khác nhau, thò ra thụt vào đậm nhạt gây ấn tượng thị giác, các "comment" của bạn đọc trên mạng, việc xen cài, cấy, dán thơ trong văn xuôi… Hình thức siêu hư cấu trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] cũng là một cách tự nhại và giải thiêng độc đáo. Nếu trong Ma net, Đặng Thân triển khai "viết văn giữa bầy" (kiểu "loạn đảng", "lục lâm thảo khấu" với không gian lửa trại hỗn tạp đủ loại người: sinh viên, nhà báo, nghệ sĩ nhị, nghệ sĩ kèn, Lộng Dậu, Lại Mõm Chó, và rất nhiều ca ve…) thì ở đây, nhà văn không chỉ cố ý làm lộ tính trò diễn của sự viết (kể chuyện đặt tên tác phẩm, quá trình viết, thời gian viết…), mà còn tự biến mình thành người trần thuật tinh - ma (kiểu "trí thức - ma cô"), bắt mánh mọi sự, ngang ngược nhảy vào tác phẩm, ngồm chồm hổm (ở Quán Gió), chờ các nhân vật ra để tiếp chuyện từng đứa, "ọe ra hai câu thơ" (tr. 115), nhảy ra quát nhân vật: "Này các nhân vật của tôi" (tr. 14). Cũng chưa thấy ai làm lễ ra quân cho nhân vật rầm rộ như Đặng Thân.
4. Đặng Thân có lối viết thông minh và khả năng bỡn cợt tuyệt vời. Tiếc là khả năng đó đã không được anh khai triển một cách thuần toàn trong tác phẩm. Thế giới của trò diễn, của sự chơi do thế đã không được đùa, được chơi cho "tới bến". Khống chế một siêu thị chữ, Đặng Thân không bị "tẩu hỏa nhập ma". Nhưng 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] cũng có chỗ lặp. Có thể xem đây là một biểu hiện của "lỗi kĩ thuật" được chăng? Tôi lấy ví dụ:
Cách giới thiệu Mộng Hường trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] rất giống cách giới thiệu Bạch Trĩ trong Hiếp, giống nhất là ở công thức và giọng điệu:
- "Mộng Hường xuất thân trong gia đình trồng thuốc lào ở Tiên Lãng… Em lớn lên với đồng lúa xanh mơn mởn và những vườn thuốc lào lúc nào cũng vàng ươm đằm thắm mùi phân bắc… Sau này thoát ly em đã phải lấy hết nghị lực phấn đấu trong một thời gian dài để từ bỏ được thói quen hút thuốc lào và cơn thèm được hít thở không khí của bầu trời quê hương yêu dấu" (3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], tr. 21 - 22).
- "Bạch Trĩ sinh ra là con nhà tử tế, tức là nhà cán bộ (...) Ngoài học hành giỏi giang chị còn là một cán bộ đoàn năng nổ, tích cực. Chị luôn luôn nổi bật. Bố mẹ chị rất động viên và tạo điều kiện cho chị tham gia công tác xã hội. Ông bà thường nói rất nhiều cán bộ cao cấp đã đi lên từ các phong trào đoàn thanh niên. Đó là nơi trui rèn lí tưởng nhất cho mọi phẩm chất vượt trội. Vào đại học chị luôn nhận được học bổng. Năm thứ hai chị đã được đứng trong hàng ngũ của đảng" (Hiếp, tr. 134 - 135).
Chữ "trui rèn" đã dùng trong Hiếp (tr. 135), không nên dùng lại ở đây (tr. 371). Câu "Nghe chừng có vẻ lưỡng tính "2 trong 1" hay "xăng pha nhớt" phải không?" (3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], tr. 11) cũng đã được dùng trong ma net: <Crazy_Vietkieu> b/g?/ <Trang_Xuong> Chắc là g./ <Crazy_Vietkieu> Sao lại chắc? Xăng pha nhớt à?/… (tr. 179). Ở đây, tôi loại trừ khả năng nhà văn dùng thủ pháp "tự trích dẫn mình".
Trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], nhân vật Đặng Thân (người xưng tôi đã trút bỏ mặt nạ) trong khi ngồi QUÁN - GIÓ chờ nhân vật của mình đến, viết: "Tuột hết cả lịch sự, tôi chửi: "Biến đi. Lúc nào cần tao gọi. Có thuốc lào Tiên Lãng thì mang ra đây một gói và cho cái điếu cầy" (tr. 15). Tôi nghĩ, với kiểu nhân vật "ngầu" thế này không thể nói "và cho" được! Cũng thế, trong khi chờ nhân vật Schditt, nhân vật nhà văn viết: "Hừm… Chắc mày không nhớ rằng mặt trái của cái phẩm chất Đức ấy đã là nguyên nhân của sự thất bại khủng khiếp trong thế chiến I và thế chiến II. Chúng mày thất bại vì chúng mày cứng nhắc quá, hiểu chưa. Vật mềm thì sống, vật cứng thì chết. Các cụ chúng tao bảo thế đấy" (tr. 19). Theo tôi, dùng "các cụ chúng tao" lên gân quá, dùng "các cụ nhà chúng anh bảo thế" hay hơn, hợp hơn. Bớt triết luận, bớt căng cứng, tăng bỡn cợt, "lật lọng" một chút thì đúng là Đặng Thân.
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] vẫn còn nặng về cách kể truyền thống. Đặng Thân chủ ý nhại chương hồi nhưng vô tình tác giả vẫn bị cách viết chương hồi khống chế. Lối tự sự kiểu nhật kí thì không mới. Nhân vật Trần Huy Bớp tàn bạo nhưng si tình (tr. 70 - 71), hơi giống nhân vật phim Tàu. Những từ tục không được viết thẳng ra (có lẽ do biên tập hay tác giả tự biên tập để in thành sách?) nên tiểu thuyết thiếu chất các-na-van triệt để. Việc in các bình luận (comment) sau mỗi phần của truyện ("Lời bàn… phím") và trên bìa sách có cái hay. Nhiều ý kiến tinh tế, nhưng cũng nhiều lời bình luận nhảm, chủ yếu tán tụng tác giả, cho tác giả là vĩ đại. Theo tôi anh nên bớt những lời khen, thêm vài (thậm chí một số) câu chửi Đặng Thân vào cho vui, cũng là để tránh cảm giác nhà văn giải thiêng đối tượng, sử thi hóa chính mình. Việc tự giải thiêng, tự bỡn mình khiến nhà văn không tách mình khỏi thế giới của sự chơi. Còn, việc dùng thủ pháp "mình tự khen mình", "công nhiên khen mình" như một sự phản ứng với thói "khiêm tốn đểu" (thường rất nhiều) của người đời thì tôi lại hiểu theo một nhẽ khác.
Thế hệ Đặng Thân có thể trút bớt những suy tư chính trị. Tiếc là trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], tác giả suy tư chính trị hơi nhiều. Điều này khiến tác phẩm có đôi chỗ nặng nề, hơi nặng về ám chỉ. Cho dù tác giả cố ý thì đó cũng không phải là một điều hay. Chẳng hạn như những đoạn tác giả nói về quan hệ Việt - Trung qua nhân vật Hường và Dương Đại Nghiệp, quan hệ Việt - Mĩ qua Hường và Junkim, rồi quan hệ Việt Nam với phương Tây nói chung… Tinh thần thế giới đại đồng của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] nhân văn nhưng sến. Khát khao thay đổi cuộc sinh tồn khiến tác phẩm ít nhiều đánh mất tính hậu hiện đại.
*
Tóm lại, theo tôi, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một chất liệu phong phú và chưa được phân tích thấu đáo. Thành công trước nhất của tác phẩm là nó đã gây ra được trong dư luận một cảm giác hoang mang tích cực về nghệ thuật, một khát vọng thay đổi, phải vậy chăng?
Mà, với một người cầm bút thì khát vọng thay đổi quan trọng biết chừng nào!    
Phùng Gia Thế

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc chơi ngán ngủi!

SỐNG Ở ĐỜI...

Cuộc sống vội vã, kiếp người bé nhỏ, ngoảnh đầu lại đã hết nửa đời người. Thời gian trôi nhanh như bóng câu lướt ngoài cửa sổ. Hôm qua còn vui vầy cùng bè bạn mà hôm nay đã đôi ngả lìa tan. Người cũ lâu không gặp, chuyện cũ lâu không bàn. Chớp mắt một cái, nhìn quanh mình chẳng còn lại mấy ai. Thời gian không đợi một ai, một sớm soi gương thấy tóc Ta điểm bạc, hồng trần có khác nào cõi mộng vậy thôi…


Đôi khi buồn phiền, hãy nghĩ cuộc sống là phép trừ, gặp một lần bớt một lần, còn có gì phải khổ não đây. Không quên ơn người giúp mình, không trách móc người xử tệ với mình, không giữ mãi trong lòng hận thù người khác, tự khắc Ta sẽ thấy cuộc đời sao mà an nhiên, bình lặng đến vậy!

Khi gặp phải chuyện đau buồn, không như ý, hãy nghĩ rằng cuộc sống chính là một lần phải vượt qua. Kiếp người khi đến tay không, ra đi cũng tay không, không mang đến hạt cát mà cũng không mang đi một áng mây nào.

Khi Ta bất mãn, hãy nghĩ đến những người nghèo khổ, kém may mắn hơn Ta, biết đủ mới là hạnh phúc. So với người bệnh, hạnh phúc của Ta là sống khỏe mạnh. So với người đã khuất, hạnh phúc của Ta là còn sống. Người ta muốn sống tốt thì tâm phải giản đơn, phải bớt hồ đồ một chút.

Khi Ta cảm thấy không vui, hãy tự hỏi rằng mình còn lại bao nhiêu ngày để có thể dằn vặt. Nghĩ kỹ rồi, Ta sẽ không buồn nữa. Khi Ta tức giận hãy nghĩ rằng liệu có cần phải khổ tâm vì một người không đáng hay không, ăn ngon, ngủ ngon, chăm sóc tốt, biết cách tiêu tiền là được rồi.

Khi Ta muốn so đo tính toán, hãy nhớ lại rằng con người đến thế gian này là tay không, hà cớ gì phải tính toán thiệt hơn, tại sao không chịu nhường một bước ? Nói nhiều sẽ làm tổn thương người khác, so đo nhiều lại tổn hại tinh thần, vừa hại người lại hại mình, kết quả là hao tâm tổn sức. Một đời người thực ra chỉ cần không làm chuyện phải hổ thẹn với lương tâm, tự tại an nhàn đã là quý lắm rồi !

Hãy sống sao cho thật vui vẻ. Có cơm thì ăn, có bia thì uống, buồn ngủ thì lên giường, có quần áo để mặc, có núi để leo, có biển để ngắm, có internet để chơi Facebook, có xe để đi, có việc để làm, có thêm người bạn đời cùng chung suy nghĩ nữa là … tuyệt vời !
Sống an nhiên vui vẻ mới là tốt nhất, chẳng việc gì phải để ý đến tiền ít tiền nhiều. Sau này già rồi, chết đi ai còn để ý Ta là ăn mày hay là người giàu có? Ai cũng có phiền muộn, hàng ngày đều có buồn phiền, quan trọng nhất là Ta không để ý đến nó, sống vui vẻ thì buồn phiền sẽ tự nhiên tan mất. Phiền não ngày ngày đều có nhưng nếu không tự tay nhặt lên thì người ta đâu phải u sầu nhiều đến vậy?

Tài sản quý giá nhất là sức khỏe


Khi sinh mệnh của con người chấm dứt, đến lúc sự sống không thể cứu vãn được nữa thì tiền tài là gì, danh vọng là chi, thảy đều vô nghĩa. Truy cầu giàu có khiến người tham lam, biến thành ác quỷ. Trong mắt người sắp từ giã cõi đời, những gì gọi là danh phận, địa vị, tiền bạc, trang sức, mỹ nữ đều chỉ là một đống rác mà thôi.
Sức khỏe là số một, không có sức khỏe thì danh tiếng, địa vị, sĩ diện, xa hoa, xe sang, nhà cao cửa rộng… thảy đều là mây bay, gió cuốn, mong manh, hư ảo cả.

Hãy luôn nhớ rằng : chiếc điện thoại thông minh cao cấp, 70% chức năng là không hề dùng tới. Một chiếc xe sang, 70% tốc độ là thừa. Một ngôi biệt thự nguy nga, 70% diện tích là bỏ trống. Hàng loạt chuyện đời, 70% là vô vị, hư không. Một đời nỗ lực kiếm tiền, 70% là để lại cho người khác tiêu. Hãy sống thật đơn giản, tận hưởng cuộc đời, giữ lấy 30% những gì vốn thuộc về mình mới mong thực sự có được hạnh phúc.

Đời người lại như một hiệp đấu. Nửa trước là học hành, quyền lực, chức tước, thành tích, tăng lương tăng chức. Còn nửa sau là huyết áp, mỡ máu, tiểu đường, ung thư, cô đơn, sầu não. Nửa hiệp đầu là phấn đấu hết mình, nửa hiệp sau là chấp nhận, buông xuôi. Cớ sao kiếp người mỏi mệt lắm vậy?

Hãy nhớ không có bệnh cũng phải giữ gìn sức khỏe, không khát cũng phải uống nước, có phiền muộn cũng phải nghĩ cho thông, có lý cũng phải nhường người, có quyền cũng phải thấp giọng, không mệt cũng phải nghỉ ngơi, không giàu cũng phải biết đủ, bận mấy cũng phải luyện tập.

Bởi vì, một bộ quần áo giá $1000, tờ chi phiếu nhỏ có thể chứng minh. Một chiếc xe giá $100 000 hóa đơn có thể chứng minh. Một căn nhà giá $1 000 000 hợp đồng mua bán có thể chứng minh. Nhưng một con người rốt cuộc trị giá bao nhiêu tiền, chỉ sức khỏe mới có thể chứng minh. Hãy nhớ, sức khỏe chính là “giá trị” nhất !

Vì vậy cũng đừng bao giờ mang máy ra tính rằng Ta đã tiêu bao nhiêu tiền cho sức khỏe. Trên đời này Ta nhất định có một món tiền phải tiêu, hoặc là để chăm sóc trước, hoặc là để chữa trị bệnh tình về sau. Lựa chọn món nào là quyền của Ta.
Có sức khỏe gọi là tài sản, không có sức khỏe thì chỉ còn là di sản mà thôi.

Chiếc giường đắt nhất trên thế giới chính là giường bệnh. Trên thế giới này có thể có người lái xe thay Ta, kiếm tiền thay Ta… nhưng không có ai mắc bệnh thay Ta được. Đồ mất rồi đều có thể tìm thấy lại nhưng có một thứ mất đi là vĩnh viễn không còn tìm thấy, đó chính là sinh mệnh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có ai muốn thành “Người đương thời” không?


>> Họ chưa từng xứng đáng là đại biểu Quốc hội của dân
>> Cả thế giới cười vì Việt Nam giờ mới coi kinh tế tư nhân là động lực?
>> Quá trình hình thành 5 “siêu ban” với gần 1.000 cán bộ sống lay lắt


XUÂN DƯƠNG
























(GDVN) - Người dân liệu có thể xem Quyết định 99 như một chỗ dựa tin cậy để khỏi trở thành “người đương thời” như trường hợp nhà giáo Đỗ Việt Khoa?

Gần đây, những lời kêu gọi hãy “tự hối cải”, “soi gương rửa tay cho sạch” hoặc “Ai bằng giả khẩn trương rút lui, từ chức”,… liên tục được lãnh đạo Trung ương và địa phương đề cập đã làm xuất hiện không ít băn khoăn, phải chăng cường độ cơn bão mang tên “Lò nóng - củi tươi” có chiều hướng suy giảm thành áp thấp nhiệt đới?

Ngày 3/10/2017, Ban Bí thư công bố Quyết định số 99-QĐ/TW (Quyết định 99) “Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”.

Có thể thấy điều mong mỏi của nhân dân về minh bạch trong xử lý vi phạm, xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân, công khai tài sản cán bộ,… đã được đưa vào văn bản chính thức của Trung ương Đảng.

Để thực hiện Quyết định 99, điều cần phải làm là sửa đổi, bổ sung một số điều vào các Luật hiện hành (Luật Hình sự, Luật Phòng chống tham nhũng,…).

Chừng nào chưa luật hóa được chủ trương của Đảng thì việc thực thi của các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Kiểm sát, Tòa án), cũng như hoạt động của Thanh tra Chính phủ chắc chắn sẽ còn bị hạn chế.

Cùng với đó việc người dân lo ngại những bất trắc “bỗng nhiên” nào đó xảy ra với gia đình và người thân không phải là không có cơ sở.

Trong những vấn đề được nhân dân quan tâm, công khai tài sản của cán bộ có lẽ là điều được chờ đợi nhất.

Sau khi Quyết định 99-QĐ/TW được ban hành, liệu việc thực hiện công khai tài sản có đạt kỳ vọng của Trung ương và toàn dân?

Cần phải nêu câu hỏi này bởi lâu nay người dân vốn đã quá quen với hiện trạng “con đường dài nhất đất nước là từ lời nói đến việc làm” và “sợi dây dài nhất đất nước là sợi dây kinh nghiệm”.

Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định đóng cửa rừng tự nhiên, thế  nhưng rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá và rất ít người có trách nhiệm bị xử lý hình sự.

Luật Giáo dục quy định giáo dục phổ cập bậc tiểu học và trung học cơ sở, theo đó Nhà nước đầu tư hoàn toàn cho hai cấp học này.

Cho đến nay lạm thu ở các lớp hai cấp học này càng ngày càng trầm trọng và (hình như) chỉ mới có một Hiệu trưởng bị khởi tố?

Nhiều cán bộ lãnh đạo trung cao cấp vi phạm điều lệ Đảng và pháp luật nhà nước, mức độ vi phạm bị đánh giá là nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, tuy nhiên cho đến nay ít người bị khai trừ và càng ít người bị truy tố.

Chắc chắn sẽ có người sẵn sàng đánh đổi chút uy tín con con lấy gia tài được đồn đoán là hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng cho con cháu, dòng tộc.  

Nêu một vài ví dụ để thấy, việc ban hành Quyết định 99 là tín hiệu đáng mừng, bởi người dân sẽ có cơ sở để góp ý, giúp đỡ và giám sát cán bộ.

Tuy nhiên còn quá sớm để khẳng định Quyết định của Ban Bí thư sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh, sẽ tạo cột mốc mới trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực.

Mặt khác, cũng cần nhận thức một thực tế là các “nhóm lợi ích” sẽ không chịu ngồi yên, không chịu đánh mất đặc quyền, đặc lợi của mình như từng xảy ra mỗi khi có chủ trương, chính sách mới.

Một trong các biểu hiện chống đối đã được phân tích trong bài: “Nhóm lợi ích” đang chuẩn bị để đối phó với quyết tâm của Tổng Bí thư?”. [1]

Quyết định 99 ban hành thể hiện Đảng tin dân, dựa vào dân, tập hợp sự đóng góp của dân trong cuộc chiến lấy lại niềm tin của dân với Đảng, với thể chế.

Vấn đề tiếp theo là Đảng phải làm sao cho dân thực sự tin, dân sẵn sàng tham gia góp ý, giám sát và đặc biệt là dân không … sợ.

Tâm sự của “người đương thời” Đỗ Việt Khoa đăng trên báo Laodong.vn: “Tôi từng bị những đối tượng mà tôi tố cáo thuê xã hội đen dọa đánh, bị cướp máy ảnh. Sau đó, họ gây sức ép, đẩy tôi đi trường khác.

Họ cũng làm ảnh hưởng đến gia đình của tôi, ảnh hưởng đến cả hạnh phúc vợ chồng…” cho thấy sự đơn độc của người dân trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đáng sợ biết chừng nào. [2]

Không thể phủ nhận hiện trạng có nơi, có lúc bên cạnh tâm lý chán không muốn góp ý, bàng quan với thời cuộc còn là tâm lý sợ mang vạ vào thân.

Tâm lý ấy len lỏi vào truyền thông khiến những đề tài vô thưởng vô phạt như cô hoa hậu này cưới chồng, nghệ sĩ kia từ trần, cô nàng khác mặc váy “xuyên thấu” xuất hiện đầy rẫy mặt báo trong khi các bài viết chính luận, gai góc, động chạm thì mức độ quan tâm hình như chủ yếu từ phía bạn đọc?

Muốn dân không sợ thì phải có cơ chế bảo vệ dân, phải bảo vệ thực sự chứ không phải là phong cho danh hiệu “người đương thời” rồi bỏ mặc họ tự chống lại kẻ xấu bảo vệ bản thân và gia đình mình.

Bên cạnh sự phấn khởi của người dân, của nhiều cán bộ cao cấp đương chức hoặc đã nghỉ hưu, cũng có những tiếng nói không biết nên hiểu thế nào.

Tán thành kê khai tài sản nhưng ông Trần Quang Đảng - Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa lại cho rằng:

“Với những cán bộ, lãnh đạo tại các tỉnh, huyện miền núi tôi nói thật họ chẳng có gì cả, nếu bắt họ kê khai thì vừa mất thời gian lại không giải quyết được vấn đề gì.

Tôi cho rằng, tốt nhất là nên cử cán bộ tới tận nơi kiểm tra tài sản của từng người, từng cán bộ một vừa đảm bảo công bằng, vừa thực tế hơn với điều kiện miền núi hiện nay”. [3]

Thanh Hóa cùng với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là ba địa phương đông dân nhất nước, tỉnh này về diện tích cũng thuộc tốp đầu.

Vậy chức danh Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy có cần phải vừa hiểu biết vừa có trách nhiệm với lời nói của mình?

Báo Nld.com.vn viết: “Sáu lô đất biệt thự trị giá hàng chục tỉ đồng mỗi lô, ở vị trí cực đắc địa tại trung tâm tỉnh Lào Cai, đều rơi vào tay 6 quan chức tỉnh này sau khi đấu giá”.

Báo Vov.vn viết: “Liên tục có thông tin về những "biệt phủ" hoành tráng, lâu đài nguy nga xuất hiện ở các địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi.

Các công trình hoành tráng, xa xỉ đến mức người ta liên tưởng tới các phủ chúa, cung vua thời phong kiến.

Điều đáng nói là những công trình hoành tráng đó lại là của các quan chức được cho là công bộc của dân”.

Nêu vài dẫn chứng để thấy có phải ông Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa không biết gì về sự giàu có của các đồng chí, đồng liêu, đồng cấp tại các tỉnh miền núi?

Cũng có thể theo ông Trần Quang Đảng, sở hữu những biệt thự, biệt phủ, đất đai nêu trên vẫn chỉ là “chẳng có gì cả”, chưa thể gọi những đồng chí ấy là “nhà giàu”?

Nhà giàu phải đạt đẳng cấp mà thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ mô tả: “Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng …”!

Có thể có những cách hiểu khác nhau, đồng ý hoặc không đồng ý với ý kiến của ông Trần Quang Đảng.

Tuy nhiên dù hiểu thế nào thì cũng không thể phủ nhận chuyện ông Đảng đang muốn thể hiện quan điểm cá nhân khác với quyết định của Ban Bí thư (và mong muốn của nhân dân).

Đó là yêu cầu quan chức kê khai tài sản phải công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng (ngoài công bố tại cơ quan hoặc phương tiện khác).

Ban Bí thư đánh giá thế nào về ý kiến: “bắt họ (cán bộ tỉnh, huyện miền núi) kê khai thì vừa mất thời gian lại không giải quyết được vấn đề gì”?

Ý kiến của ông Trần Quang Đảng hàm chứa điều gì và đại diện cho ai?

Xét về mặt địa lý, Việt Nam là quốc gia đồi núi chiếm ba phần tư, đồng bằng châu thổ chỉ có một phần tư.

Cụ thể khu vực đồng bằng sông Hồng có 10 tỉnh, đồng bằng Nam Bộ có 13 tỉnh và thành phố, miền Trung có dải đồng bằng ven biển song diện tích không đáng kể.

Như vậy có thể cho rằng số tỉnh thuộc địa bàn trung du, miền núi là 40 (cả nước có 63 tỉnh, thành phố).

Dù tỉnh to hay bé thì số ban bệ cũng như nhau, khác nhau có chăng chỉ là cấp phó. Căn cứ vào phân bổ địa lý có thể phỏng đoán số lượng lãnh đạo các tỉnh, huyện miền núi gần gấp đôi số cán bộ công chức các vùng miền còn lại của cả nước.

Vì cán bộ miền núi - theo khẳng định của ông Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa -  chẳng có của cải gì nên chẳng cần kê khai, nói cách khác đa số cán bộ đều “nghèo”, đều “chẳng có gì cả” do đó bắt người ta kê khai là việc làm vô ích.

Nếu đã thế thì yêu cầu “thiểu số” cán bộ vùng đồng bằng và thành phố kê khai có cần thiết?

Theo ông Đảng, muốn kiểm tra tài sản của từng người, từng cán bộ thì đến văn phòng (hoặc nhà riêng), giống như Tổng cục Môi trưởng cử ông Cục phó xuống tận địa phương thanh tra mấy chục nhà máy, mỗi nhà máy chỉ cần vài tiếng, vừa tiện lợi, vừa nhanh gọn?

Giả sử Ban Bí thư tổ chức thăm dò kín trong nội bộ các vị lãnh đạo tỉnh huyện miền núi, liệu sẽ có bao nhiêu người phản bác ý của ông Trần Quang Đảng?

Lại còn có ý kiến của một người lúc tại vị cũng “hơi to to”, rằng ông X làm ở tỉnh Y, hà cớ gì lại phải công khai tài sản cho tỉnh A, tỉnh B biết, chỉ cần công khai trong phạm vi hẹp là đủ?

Tuy mới lác đác nhưng việc xuất hiện các ý kiến “đóng góp” cho Quyết định đã được Ban Bí thư ban hành nói lên điều gì?

Có phải nguyên tắc “Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức” nêu trong Điều lệ Đảng chưa được tuyệt đối tôn trọng?

Nếu cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí được coi là chống giặc “nội xâm”, nếu quyết định của Ban Bí thư được xem như mệnh lệnh ban hành từ Bộ Tổng Tham mưu thì ý kiến này kia của các tư lệnh, chính ủy chiến trường có đảm bảo thắng lợi cuối cùng?

Phát biểu quan điểm cá nhân, có phải người ta đang đề nghị Ban Bí thư nên xem xét lại việc kê khai và công khai tài sản quan chức?

Nếu giàu có một cách đàng hoàng, giàu không phải nhờ vào các “quy trình” thì việc gì phải sợ công khai trước toàn dân, việc gì phải đề nghị công khai “hẹp”?

Thế mới biết, con đường từ quyết định đến thực hiện vẫn còn nhiều trắc trở và người dân liệu có thể xem Quyết định 99 như một chỗ dựa tin cậy để khỏi trở thành “người đương thời” như trường hợp nhà giáo Đỗ Việt Khoa?

Tài liệu tham khảo:

[1] http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Nhom-loi-ich-dang-chuan-bi-de-doi-pho-voi-quyet-tam-cua-Tong-Bi-thu-post169537.gd

[2]https://laodong.vn/giao-duc/nguoi-hung-do-viet-khoa-sau-11-nam-chong-tieu-cuc-no-tien-ti-lam-them-du-nghe-de-song-569818.ldo

[3]http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/cong-khai-tai-san-lanh-dao-tren-bao-chi-tot-nhung-3345276/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự khác biệt giữa “thực tế” và “thực dụng”


https://baomai.blogspot.com/

“Thực tế” ở Mỹ khác với “thực dụng” ở Việt Nam như thế nào ?

Có một lần, một người bạn Mỹ dạy học chung với tôi bảo với tôi rằng: “ Người Việt Nam bọn mày lúc nào cũng bảo người Mỹ bọn tao sống thực dụng. Bọn tao không sống thực dụng mà sống thực tế. Tao ở VN hơn chục năm nay thấy người Việt Nam mới sống thực dụng “.

Hơi nóng mặt, tôi hỏi lại: “ Thế mày định nghĩa thế nào là thực tế, thế nào là thực dụng? ” Bạn tôi bảo: “Sống thực tế là hiểu rõ thực trạng cuộc sống, không mơ mộng hão huyền hay tìm cách trốn tránh thực tại..
Sống thực tế là hiểu rõ năng lực và giá trị thực của bản thân để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.

https://baomai.blogspot.com/

Còn sống thực dụng là bất chấp thực tế, bất chấp năng lực thực sự của mình ra sao mà chỉ chăm chăm giành được cái lợi nhỏ trước mắt, ngoài ra mặc kệ hậu quả sau này nghiêm trọng thế nào. ” Đã từng sống ở Mỹ một thời gian dài, tôi biết bạn tôi nói đúng.

Ở Mỹ, học sinh học vừa sức, không nhồi nhét, không quan tâm đến thành tích và cũng không có khái niệm trường chuyên lớp chọn. Bằng cấp đối với họ chỉ là một tờ giấy chứng nhận rằng họ đã đạt yêu cầu về mặt kiến thức lẫn chuyên môn ở một trình độ nhất định, không có gì ghê gớm cả. Cái họ quan tâm là trên thực tế, năng lực và kiến thức của anh có tương xứng với bằng cấp và vị trí của anh trong xã hội hay không.

https://baomai.blogspot.com/
Ông Cao Minh Quang đã bị tố giác khai man học vị

Ở Việt Nam thì bằng cấp và thành tích là thước đo quyết định địa vị cũng như thu nhập. Cha mẹ ép con cái học cố sống cố chết để vào trường chuyên lớp chọn rồi vào đại học.. Học xong đại học thì phải cố bơi cho được cái thạc sĩ. Tất cả không phải vì kiến thức mà chỉ vì chỗ đứng trong xã hội. Kết quả là học được gì không quan trọng, có sử dụng được không cũng không quan trọng, thậm chí bằng giả cũng chả sao.. Cái quan trọng nhất là kiếm sao cho được nhiều tiền.

Ở Mỹ, mỗi lần một công trình được thi công, người ta phải tính toán sao cho thiên nhiên ở đó bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất, hệ cân bằng sinh thái ít bị tổn hại nhất, môi trường sống của người và động thực vật không bị phá hoại vì họ hiểu được một vấn đề thực tế rằng tài nguyên thiên nhiên là những di sản vô giá bắt buộc phải bảo tồn cho thế hệ sau.

https://baomai.blogspot.com/

Còn ở Việt Nam, miễn là kiếm được ít tiền bỏ túi, người ta sẵn sàng xả độc ra biển, hút cát dưới sông, phá rừng xây thuỷ điện, thậm chí sang bằng cả một khu bảo tồn sinh thái độc đáo để xây resort, gắn cáp treo bất chấp hậu quả về sau.

Ở Mỹ, người dân quan tâm đến bầu cử, đến chính trị vì họ biết họ có quyền công dân cũng như mọi quyết định chính trị của họ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của gia đình họ.

Ở Việt Nam, người dân chỉ lo kiếm tiền vun đắp cho bản thân được ngày nào hay ngày nấy. Họ thờ ơ dửng dưng với những bất công tiêu cực của xã hội miễn sao những điều đó không xảy ra với họ là được. Tham nhũng tràn lan, nợ công tăng vọt, doanh nghiệp quốc doanh thất thoát nghìn tỉ…đối với họ đều không phải là vấn đề đáng bận tâm nếu ngày mai vẫn còn bia để dô dô..

https://baomai.blogspot.com/

Ở Mỹ người dân thể hiện lòng yêu nước bằng cách gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự cường thịnh của quốc gia. Họ không làm những điều có lợi cho bản thân nhưng đi ngược lợi ích cộng đồng.

Ở Việt Nam, người ta thể hiện lòng yêu nước bằng cách ngồi tự hào khoe khoang bề dày lịch sử dân tộc với những chiến công của tổ tiên, hoặc lên cơn mê sảng vì một giải bóng đá khu vực hoặc lên mạng không tiếc lời thoá mạ một thằng Tây nào đó dám cả gan nói xấu VN. Còn lại họ thản nhiên dùng đủ mánh khoé xấu xa để giết đồng bào mình và trục lợi từ việc đó từ việc rải đinh ra đường cho tới việc bơm hoá chất độc hại vào thực phẩm.

Ở Mỹ, người dân cân bằng cuộc sống bằng niềm tin tôn giáo. Họ đến nhà thờ để tìm sự yên bình trong tâm trí và sinh hoạt cộng đồng giúp đỡ những người cùng đức tin.

Ở Việt Nam, người ta đi lễ chùa, đền, miếu cầu tiền bạc, cầu trúng số, cầu thi đậu, cầu chức quyền … như thể thánh thần sẽ vì những thứ hương hoa xôi thịt rẻ tiền mà thoả mãn lòng tham không đáy của đám người trần mắt thịt.

Ở Mỹ, những dịp cưới hỏi hay ma chay, giỗ chạp là những sự kiện riêng tư. Họ tổ chức đơn giản, trang trọng và chỉ mời những người thực sự có ý nghĩa với họ.

Ở Việt Nam, ma chay hiếu hỉ cưới xin là những dịp tốt để làm rùm beng tốn kém vừa để chứng tỏ với thiên hạ vừa để kiếm tiền mừng.

https://baomai.blogspot.com/

Ở Mỹ, người ta dạy trẻ con cách tự lập, cách ứng xử giao tiếp, cách bảo vệ bản thân không bị xâm phạm, cách thoát hiểm … những kĩ năng thực tế con người cằn để tồn tại và phát triển trong xã hội.

Ở Việt Nam, người ta nhồi vào đầu bọn trẻ một mớ kiến thức cao siêu nhưng vô dụng với đích đến là những bằng cấp.

Ở Mỹ, người ta đánh giá trí thông minh và năng lực của con người qua sự sáng tạo, phát minh và đóng góp cho xã hội. Anh là ai không quan trọng, miễn sao anh có đóng góp cho xã hội thì anh sẽ được sự công nhận và tưởng thưởng xứng đáng..

Ở Việt Nam, năng lực của con người được đánh giá qua, gốc gác, sự khôn lỏi ma lanh và khả năng dùng thủ đoạn để thăng tiến. Đóng góp cống hiến là chuyện hết sức xa vời.

Lối sống thực tế và lối sống thực dụng không hề giống nhau mặc dù chúng dễ gây ra nhầm lẫn. Lối sống thực tế mang đến những sự phồn vinh vững mạnh và lâu dài vì nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của những giá trị thực.

Ngược lại lối sống thực dụng triệt tiêu và đảo lộn những giá trị thực tiễn để tạo ra cái lợi nhỏ trước mắt để lại những tác hại khôn lường. Chọn lối sống thực dụng, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt cho lựa chọn thiếu sáng suốt này.




Nguyễn Đắc Phúc

https://baomai.blogspot.com/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CỐ HƯƠNG TÔI



Nhân "Gặp mặt lần thứ nhất: Nhà văn với sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc" (20/10/2017), báo Văn nghệ số 42 in thơ của các nhà thơ Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Xuân Thiệp, Trần Vàng Sao, Phạm Thiên Thư, Tần Hoài Dạ Vũ... Trong mục Đối thoại văn chương in bài viết của nhà thơ Du Tử Lê "TRẦN QUANG QUÝ VÀ TRƯỜNG PHÁI THƠ "NAMKAU". Mượn FB, cảm ơn nhà thơ Du Tử Lê với tấm chân tình "liên tài" của anh, cảm ơn báo Văn nghệ vì đã cho in toàn bài. Vui nhất là gặp được bạn văn. Xin post bài "Cố hương tôi" như một lời chào bạn hữu:
CỐ HƯƠNG TÔI
Khi tôi gọi từ mom sông Đà
tiếng cố hương trầm vang sông núi đất đai này
cố hương nâng đôi cánh vi diệu
bay qua thúng mủng nong nia, lỗ đáo tuổi thơ, cánh đồng vàng lúa
sáng tối tắt đèn, lửa ủ cố hương từ ngàn xưa than củi
Cố hương
không ai bứng tôi được khỏi cố hương
cố hương cấy vào tôi những đon mạ mùa đông lạnh cóng
tiếng cá quẫy mùa vật đẻ
tiếng ễnh ương kêu nẫu ao làng
xương cốt tổ tiên, máu và nước mắt lớp lớp người trộn cùng đất đai
mọc cỏ cây, gốc đa, sân đình, bến sông trăng tỏa…
mọc văn minh làng
mọc về cổ xưa, mọc vào hy vọng
bóng mẹ cha gồng gánh hoàng hôn
những bước khuya tảo tần, lời nguyện cầu bình an mưa gió
Không gì bứng tôi được khỏi cố hương
cố hương chảy rần rần trong máu đỏ
chảy đau thương buồn tủi, chảy niềm vui sớm tối ngõ làng
từ thuở áo nâu quần giải rút thắt lưng buộc bụng
thăm thẳm những nẻo đường dựng nghiệp ông cha
Cố hương trên lưỡi cày nhân sinh cày khát vọng
trên lưỡi cuốc khai quật địa linh sự sống
trong lời ru mẹ vắt qua cánh cò
bánh chưng gói đất trời, ướp hồn quê như ướp nhân số phận
Cố hương vừa rung trong ngực tôi
rung vệt sáng lưỡi liềm, khát vọng tự do và yêu thương trên đất đai lầm lụi
có gì đánh đổi được cố hương?
tôi ký thác tiếng quê trên lưỡi cày tổ tiên, trong mùi thơm ngũ cốc
phong tục ngàn đời vun gốc cây văn hóa
sẽ là gì khi trụi rễ cố hương?!
*13/10/2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chân dung ông chủ khách sạn có bể bơi dát vàng ở Đà Nẵng


Sa Mộc
(NQL) Chủ khách sạn dát vàng tại Đà Nẵng, đại gia Nguyễn Hữu Đường, với biệt danh nổi tiếng Đường “bia”, cũng là ông chủ tập đoàn Hòa Bình. Đại gia này thường thể hiện lòng yêu nước nhiệt thành bằng cách hỗ trợ hết mình cho các doanh nghiệp Việt tại các TTTM V+. Tuy nhiên, mới đây khi khánh thành khách sạn Vịnh Vàng Đà Nẵng, Nguyên đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, ông Hồ Càn Văn cho hay, Tập đoàn Hòa Bình có quan hệ thân thiết, hợp tác chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp Trung Quốc – khiến nhiều người khá bất ngờ.

Ở mảng nước giải khát và bất động sản, không ai là không biết đến đại gia Nguyễn Hữu Đường (biệt danh Đường “bia”). Ông Đường phất lên nhờ sản xuất nguyên liệu bán thành phẩm cho bia (malt), thành danh nhờ mảng bất động sản. Một điểm đặc biệt ở đại gia này là ông chủ tập đoàn Hòa Bình thích dát vàng mọi thứ, từ nhà vệ sinh cho đến bể bơi. Cách đây mấy hôm, ông đã khánh thành khách sạn Vịnh Vàng Đà Nẵng, với toàn bộ thiết bị, đồ dùng, kể cả chi tiết trong khách sạn như bồn bồn tắm, bồn vệ sinh… đều dát vàng 24K.

Năm 1979 ông Đường xuất ngũ sau 5 năm làm lính. Mất 2 năm xây dựng gia đình, năm 1981, ông được nhận vào làm việc tại một HTX vận chuyển bia của Nhà máy bia Hà Nội. Cơ duyên đến với ngành bia của ông Đường hình thành trên những cuốc xe xích lô chở bia đến các cơ quan khắp phố phường thủ đô.

Năm 1987, sau khi nhà nước nới lỏng nhiều chính sách kinh tế, cho phép tự phát triển kinh tế tư nhân, ông đã thành lập Tổ hợp thương binh nặng Hòa Bình chuyên sản xuất malt bia. Những cái tên hiệu như “Đường bia” hay “Đường malt” đều xuất phát từ đây. Năm 2004, ông nhảy vào thị trường bất động sản, với dự án đầy tham vọng: đổ 26,1 triệu USD để xây dựng tòa tháp đôi Hòa Bình, trên khu đất rộng hơn 5.000m2, nằm ở một trong vị trí đắc địa nhất Hà Nội.

Mới đầu, mọi người nghĩ ông sẽ xẻ đất, phân lô bán nền như nhiều nhà đầu tư khác. Nhưng không, ông chủ Hòa Bình đã xây nên 2 tòa nhà to đẹp, hiện đại, đạt chuẩn quốc tế tại 106 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Sự thành công của dự án này, đã tạo uy tín cho ông Đường trong giới bất động sản, khiến ông dễ dàng nhận được nhiều khu đất đẹp cũng như được nhiều nhà đầu tư muốn hợp tác hơn.

Tuy nhiên, cái tạo nên danh tiếng cho ông Đường không phải là tháp đôi Hòa Bình Somerset mà là Hòa Bình Green City, tại Ba Đình.

Năm 2014, giới BĐS Hà Nội xôn xao khi vị doanh nhân này cho dát vàng thành lan can căn hộ, chạy chỉ ở sảnh và cửa thang máy ở dự án Hoà Bình Green Hà Nội. Lúc đó, không ít người nghĩ đây chỉ là chiêu đánh bóng tên tuổi, nhưng ông Đường làm thật. Chi phí phát sinh 20 triệu đồng đó là ông chịu.

Ít lâu sau đó, ông còn khiến mọi người sốc hơn khi quyết định dát vàng cho cả… nhà vệ sinh của tất cả các căn hộ của toà nhà thứ 2, thuộc tổ hợp này. Theo đó, những chỗ nào làm bằng kim loại trong nhà vệ sinh như vòi nước, nút ấn, thanh treo đều được mạ vàng.

Năm 2015, ông Đường lần nữa lại khiến dư luận xông xao khi quyết định đầu tư xây dựng chuỗi trung tâm thương mại (TTTM) thương hiệu V+ trên khắp cả nước để miễn phí tiền thuê mặt bằng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng Việt Nam. Mô hình này được ông áp dụng ban đầu với 25.000m2 sàn TTTM thương hiệu V+ ở dự án Hòa Bình Green City. Thậm chí, ông còn có ý định cho các doanh nghiệp start-up thuê miễn phí.

Lý do mà ông Đường đưa ra cho kế hoạch này, là bởi ông muốn hỗ trợ ngành sản xuất trong nước phát triển, cạnh tranh với các công ty nước ngoài mà ông cho rằng hiện đang chiếm lĩnh thị trường.

Trước đây, BigC đã thỏa thuận thuê hết mặt bằng tại Hòa Bình Green City trong 50 năm với giá 330 tỷ đồng, nhưng cuối cùng ông Đường từ chối và quyết định tự vận hành – miễn phí tiền thuê để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam, nhằm góp phần quảng bá, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa nhằm hưởng ứng phong trào “Người Việt dùng hàng Việt”.

Tuy nhiên, sự thật là, rất ít doanh nghiệp Việt có thể thụ hưởng được sự ưu đãi đó. Các doanh nghiệp sản xuất hàng Việt Nam thuần túy lại không nhiều, trong khi đó mà phần lớn các thương hiệu tiêu dùng lớn đều là hàng ngoại hoặc do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất.

Cũng như thế, để chứng tỏ các doanh nghiệp Việt không dễ bị bắt nạt, năm 2014, ông Đường quyết định lấn sân qua mảng nước giải khát, để cạnh tranh trực tiếp với Coca Cola và Pepsico, 2 doanh nghiệp nước ngoài đang làm mưa làm gió trên thị trường này tại Việt Nam.

Nhà máy nước giải khát của Hòa Bình Group được xây dựng với tổng vốn đầu tư hơn 850 tỷ đồng, công suất 150 triệu lít nước ngọt, 20 triệu lít bia và 100 triệu lít nước tinh khiết mỗi năm. Nhà máy sử dụng công nghệ và dây chuyền hiện đại nhất, mới nhất thế giới của hãng Krones (Đức) mà chưa có hãng nào trên thế giới sử dụng.

Hiện tại, sản phẩm nước giải khát của Hòa Bình đã có mặt trên thị trường Việt Nam với tên thương mại chung là V+, song vẫn chưa thật sự phổ biến. Muốn tranh giành thị phần cùng Coca Cola hay Pepsi như ý định ban đầu, đại gia bất động sản này cần phải cố gắng hơn nữa.


Dự bán bất động sản gần nhất mà ông chủ Hòa Bình vừa hoàn thành là Hòa Bình Green Đà Nẵng. Tổ hợp này nằm trên khu đất 12.327,7m2, đường Lê Văn Duyệt (ngay bên cảng cầu Thuận Phước, thuộc phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà). Tòa nhà có diện tích xây dựng 3.800m2, cao 29 tầng với tổng cộng 1.824 phòng khách sạn, căn hộ tiêu chuẩn 5 sao. Từ đây có thể dễ dàng kết nối với sân bay quốc tế Đà Nẵng, trung tâm thành phố, bãi biển Mỹ Khê, phố cổ Hội An…

Cách đây vài hôm, ông Đường vừa cho khánh thành khách sạn Vịnh Vàng Đà Nẵng, nằm trong tổ hợp Hòa Bình Green Đà Nẵng. Đặc biệt, trên nóc của khách sạn (tầng thứ 29) có một bể bơi lát gạch phủ vàng 24K. Tại lễ khánh thành, Tập đoàn Hòa Bình đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) chính thức trao chứng nhận tổ hợp căn hộ – khách sạn có “Bể bơi vô cực dát vàng 24K cao và lớn nhất Việt Nam”.

Buổi khánh thành có sự xuất hiện nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam, ông Hồ Càn Văn. Ông Văn nhấn mạnh, mấy năm vừa qua Tập đoàn Hòa Bình có sự liên kết, hợp tác với một số doanh nghiệp Trung Quốc, phạm vi rất rộng, kết quả rất tốt đẹp. Chủ tịch Tập đoàn Nguyễn Hữu Đường có sang thăm Bắc Kinh, Thẩm Dương, Hàng Châu, Thượng Hải, Quảng Châu… và có quan hệ rất gắn bó với các doanh nghiệp Trung Quốc.

Hiện tại, Hòa Bình Group của ông Đường có kinh doanh và sản xuất các mặt hàng chính sau: xây dựng, thép, inox, bao bì, đường malt, trung tâm thương mại, rượu, nước giải khát…


Phần nhận xét hiển thị trên trang