Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

Đồng bằng sông Cửu Long không thể giàu nếu cứ trồng lúa?


https://baomai.blogspot.com/
Rivenbarks in Vietnam Mekong delta

Chiến lược phát triển Đồng bằng sông Cửu Long của chính phủ Việt Nam đã có những thay đổi căn bản theo hướng giải quyết vùng đất này biến thành an ninh lương thực để tạo cơ hội phát triển các ngành nông nghiệp khác có thể giúp nông dân làm giàu, một nhà khoa học vừa tham gia hội nghị phát triển Đồng bằng sông Cửu Long cho biết. Ông còn nói không nên quá lo lắng về tác động của biển đổi khí hậu và nước biển dâng đối với vùng đồng bằng trọng yếu này, mà hãy để các thế hệ sau giải quyết.

https://baomai.blogspot.com/

Hội nghị về phát triển đồng bằng sông Cửu Long tổ chức vào cuối tháng 9 tại Cần Thơ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là hội nghị lớn nhất từ trước đến nay về ĐBSCL. Hội nghị tập hợp các lãnh đạo, các nhà quản lý từ trung ương đến các tỉnh thành với các chuyên gia và các nhà khoa học để tìm giải pháp phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long cũng như ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng với tầm nhìn đến năm 2100.

"Chúng ta không hoảng hốt mà cần tìm ra lối đi, cách làm tốt nhất, khoa học nhất, phù hợp nhất, trong đó đổi mới tư duy...nhằm mang lại tốt hơn cho cuộc sống gần 20 triệu người dân. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là một khu vực giàu có của Việt Nam gần 100 triệu dân," ông Phúc được VnExpress dẫn lời nói tại phiên khai mạc hội nghị.

Báo chí trong nước đưa tin Thủ tướng Phúc dịp này loan báo chính phủ sẽ dành 1 tỷ đô la Mỹ từ nay đến năm 2020, để xây dựng các công trình ứng phó với các nguy cơ của biến đổi khí hậu.

https://baomai.blogspot.com/

Đồng bằng sông Cửu Long vừa là vựa lúa, vựa cây ăn trái và vựa nuôi trồng thủy sản có vai trò hết sức quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực cho gần 100 triệu người dân Việt Nam và đảm bảo Việt Nam là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Vùng đất này chiếm hơn phân nửa sản lượng lúa gạo và 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy với kinh tế đất nước nhưng vùng đồng bằng này vẫn là một trong những khu vực kém phát triển nhất Việt Nam, và đa phần nông dân ở đây vẫn nghèo. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu dẫn đến hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, tình trạng thiếu nước ngọt canh tác, sạt lở trên diện rộng, nguồn lợi thủy sản cạn kiệt, quy luật mùa lũ thay đổi cùng với các đập thủy điện chặn dòng chảy ở thượng nguồn, đang đặt ra những thách thức to lớn đối với vùng đất này.

Hội nghị vừa rồi đã có bước chuyển hướng chiến lược “rất đáng mừng”, theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, một nhà nông học có nhiều năm gắn bó với Đồng bằng sông Cửu Long.

https://baomai.blogspot.com/
ĐBSCL là vựa lúa của Việt Nam

Gs Võ Tòng Xuân:

“Trước đây chúng ta quá thiên về an ninh lương thực, nhưng Nhà nước hiện nay đã thay đổi tư duy theo hướng có lợi nhiều hơn cho người nông dân,” ông nói.

“Chủ trương hiện nay chúng ta không cần đứng số 1, số 2 thế giới về xuất khẩu gạo nữa, vì như thế là có tiếng mà không có miếng,” ông nói thêm, “Người nông dân vẫn nghèo, các công ty xuất khẩu gạo vẫn lỗ.”

Giáo sư Xuân nêu ra một nghịch lý, là sau 42 năm hòa bình, người nông dân sản xuất ra của cải để Việt Nam đứng nhất, đứng nhì thế giới đó, vẫn là “những người nghèo nhất”. Ông cho rằng hàng chục triệu nông dân Việt Nam “đã có sự hy sinh” để đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực nhưng bản thân họ lại “không hưởng được gì”.

“Chúng ta không nên lấy sản lượng lúa (ở mỗi địa phương) làm tiêu chuẩn đề bạt cán bộ mà phải lấy người nông dân làm trung tâm, phải đặt mục tiêu làm cho người nông dân giàu lên,” ông đề xuất thay đổi tư duy về quản lý.

Giáo sư Xuân cho biết tại hội nghị, giới hữu trách từ các Bộ Tài nguyên-Môi trường, Bộ Kế hoạch-Đầu tư và Văn phòng Chính phủ đã nhất trí về sự cần thiết phải thay đổi chiến lược phát triển là phải giúp cho người nông dân giàu hơn. Chỉ riêng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì “chưa hoàn toàn đồng ý”.

Ông cho rằng sắp tới vùng đồng bằng này nên chuyển một số diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn trái, cây công nghiệp hay nuôi tôm – những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với cây lúa.

https://baomai.blogspot.com/

“Chẳng hạn như ở những vùng xâm nhập mặn nông dân thu hoạch một vụ lúa rồi nuôi một vụ tôm thì sẽ có thu hoạch cao gấp năm lần những nông dân trồng hai vụ lúa,” ông nói. “Nhưng một số nông dân muốn nuôi tôm lại không dám nuôi (vì chủ trương địa phương không cho chuyển đổi đất trồng lúa).”

“Qua hội nghị vừa qua thì sắp tới sẽ không bắt buộc người nông dân phải trồng lúa nữa.”

Về mục tiêu an ninh lương thực trong điều kiện dân số Việt Nam đang ngày một đông, Giáo sư Xuân cho rằng “không có gì phải lo lắng” vì Việt Nam hiện nay “mỗi năm dư 10 triệu tấn lúa” và sau khoảng 2,5 cho đến 3 tháng là lại thu hoạch vụ lúa mới.

Ông cho rằng để đảm bảo an ninh lương thực, Việt Nam nên tiếp tục canh tác loại lúa cao sản ngắn ngày chứ không cần thiết phải cạnh tranh với Thái Lan sản xuất loại gạo chất lượng cao vì giống lúa đó cho sản lượng thấp mà chu kỳ sản xuất lại lâu hơn.

https://baomai.blogspot.com/
ĐBSCL ngày càng ít tôm cá thiên nhiên

Tuy nhiên theo Giáo sư Xuân, đi kèm với thay đổi chiến lược đó là phải có thay đổi trong cách làm: phải tổ chức cho người nông dân sản xuất chứ không để họ “tự bơi như trước”.

Ông cho rằng sự chuyển đổi sang mô hình mới cần sự tham gia của doanh nghiệp trong vai trò ‘bà đỡ’ cho nông dân. Doanh nghiệp tìm đầu ra sau đó mới về địa phương thuyết phục nông dân tham gia, tổ chức cho họ sản xuất và bao tiêu sản phẩm cho họ.

Nếu không tổ chức cho nông dân sản xuất thì người nông dân sẽ tự bón phân, tự dùng thuốc trừ sâu dẫn đến sản phẩm không đạt yêu cầu để xuất khẩu sang các thị trường khó tính.

“Doanh nghiệp đầu tư sản xuất có sự tham gia của khoa học thì sản phẩm sẽ có thương hiệu, có nguồn gốc và do đó có giá trị cao hơn và dễ xuất khẩu hơn. Chứ để thương lái tự thu gom như hiện nay thì sản phẩm sẽ không đồng đều, không rõ nguồn gốc và không kiểm soát được dư lượng hóa chất,” ông giải thích.

Hiện nay mặc dù chủ trương chuyển đổi mô hình đã được cấp thủ tướng và bộ trưởng đồng lòng ủng hộ nhưng ông Xuân cho rằng thách thức lớn nhất là phải thuyết phục được người nông dân thay đổi tư duy, và quá trình này “sẽ mất một thời gian”.

https://baomai.blogspot.com/

Ông dẫn ra một ví dụ là mặc dù chủ trương “dồn điền đổi thửa” để thay đổi cách làm nông manh mún có năng suất cao hơn, nhưng lâu nay vẫn không triển khai được rộng rãi ở Đồng bằng sông Cửu Long do người dân ở đây vẫn “không cho ai đụng đến một tấc đất của mình cả”.

“Phải chỉ cho bà con thấy là làm ăn theo kiểu cũ thì không thể nào khá lên được,” ông nói. “Chỗ nào trồng lúa chắc ăn thì trồng còn chỗ nào trồng lúa bấp bênh, tốn chi phí và sử dụng nước, phân bón nhiều thì thuyết phục họ chuyển sang làm cái khác.”

https://baomai.blogspot.com/
Miền Tây gánh chịu hạn mặn nhiều hơn

Riêng về ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Giáo sư Xuân cho rằng vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ xa xưa từng bị nước biển ngập hoàn toàn với đường bờ biển đến tận biên giới Campuchia.

“Phải trải qua mấy lần nước biển dâng và nước biển xuống – mỗi lần như thế hàng mấy trăm năm – chúng ta mới có vùng Đồng bằng sông Cửu Long như hiện nay,” ông giải thích và cho rằng nếu lúc này tập trung tiền của để ứng phó cái mà 100 năm nữa mới xảy ra thì có thể lãng phì vì “lúc đó con cháu chúng ta chắc chắn sẽ nghĩ ra cách làm tốt hơn”.

Thay vào đó, ông đề xuất Đồng bằng sông Cửu Long nên tìm cách thích nghi với những thay đổi về khí hậu, chẳng hạn như tình trạng thiếu nước ngọt và xâm ngập mặn.

“Nên bố trí những cây trồng không đòi hỏi lượng nước quá cao, nhưng lại cần lượng CO2 cao để quang hợp đồng thời chịu nước mặn như cây mía, cây bo bo (sorghum),” ông đề xuất.

https://baomai.blogspot.com/

Ngoài ra, Giáo sư Xuân còn đề xuất một số phương pháp để trữ nước ngọt trong mùa mưa để dành sử dụng trong mùa khô như tận dụng các hố bom B52 làm đìa chứa nước, đào đất tại chỗ làm nền nhà thay vì lấy cát từ lòng sông và chỗ đào có thể tận dụng trữ nước ngọt hay đào mương lên liếp trồng cây ăn trái để khi nước dâng vào mương trong mùa mưa thì đóng đê lại để giữ nước cho mùa khô.




Ngọc Lễ

***


Cái chết từ từ của Đồng bằng Sông Cửu Long

Đồng bằng Nam Bộ đang lâm nguy?


***

Dec 16, 2013
Phát biểu bên bờ sông ở ấp Kiến Vàng, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, Ngoại trưởng Kerry nói tài nguyên của sông Mekong phải 'làm lợi cho người dân không chỉ ở một nước, không chỉ ở quốc gia nơi dòng sông đó xuất ...

Oct 08, 2012
Trung cộng có cơ hội nắm lây sự điều khiển nguồn nước của con sông Mekong, xem nó như một thứ vũ khí lợi hại để đe doạ và khống chế đảng CSVN, vì VN chịu sự tác hại nhiều nhất khi dòng sông cạn kiệt hay lũ lụt.

Aug 02, 2011
Ông Osborne nói: “Sự bành trướng liên tục của Trung Quốc về mặt kinh tế rõ ràng là một mối quan ngại cho Hoa Kỳ và đây là một trong số những quan ngại ngại đó, chương trình sông Mekong là một trong nhiều cách mà ...

Apr 22, 2011
Khối lượng cực đại của cá tra dầu sông Mekong đạt 300 kg, còn chiều dài tối đa của cá đuối nước ngọt lên tới 5 m. Sông Mekong, với hàng trăm loài cá và nguồn phù sa dồi dào, là mạch sống của hàng chục triệu người.

Apr 13, 2012
Ngoại trưởng Mỹ đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vùng Hạ Lưu Sông Mekong/ Lower Mekong Basin và mỗi quốc gia đối với Hoa Kỳ, cùng với cam kết hỗ trợ nhằm thăng tiến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực ...


https://baomai.blogspot.com/



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đau lắm chứ!


Hà Văn Tiện
(Tác giả gửi Blog Hahien)
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân (Ảnh: Internet)
Dạo mấy vị cựu quan chức phạm kỉ luật bị cách mấy cái chức thời chưa về hưu, mụ xã nhà mình tự dưng lẩm cẩm hỏi rằng cách mấy cái “nguyên” thì có ý nghĩa gì, mình bí qua không biết nói thế nào. Hôm trước mở trang Dân Trí, thấy đưa tin ngày 27/9 Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp xúc với cử tri Huyện Phong Điền – Cần Thơ, đọc xong thấy mình được mở mang đầu óc, liền bảo mụ :
– Bà không được mời đi tiếp xúc với lãnh đạo, nhưng đã có người thắc mắc hộ bà. Một ông cử tri Cần Thơ hỏi y như bà hỏi tôi dạo nọ, Chủ tịch Kim Ngân đã trả lời rồi. Báo đăng đây này, bà ra mà đọc.
Mụ đang chọc ngoáy lọ mắm tép, bảo rằng đang bận, ông đọc hộ cho tôi nghe.
– Đây này, bà Ngân bảo nó có ý nghĩa ở chỗ đó là cái danh dự, cái uy tín của bản thân cán bộ đó. Bởi vì cái chức mà về hưu đó còn gắn với một số chính sách nữa.Cán bộ tùy cấp, Nhà nước có quy định cấp cán bộ nào sau khi già mất thì lễ tang cấp Nhà nước hay Quốc tang hay lễ tang cấp cao…
– Ờ ờ, chết rồi mà được làm ma to, nhiều người đến khóc thì cũng sướng một đời ông nhỉ.
– Không phải chỉ lúc chết thôi đâu, lúc còn sống phiền hà lắm đấy. Bà Ngân giải thích rằng khi anh mà bị cách cái chức vụ đó thì trở về người bình thường, kể cả tiêu chuẩn khám chữa bệnh hay đi dự mấy hội nghị không còn được giới thiệu là người nguyên giữ chức đó nữa thậm chí cũng chẳng được mời nữa.
Mụ ngẩn ra, lấy cái đũa gõ gõ vào đầu. Rồi chợt nhớ ra, mụ bảo:
– Cái này có lần tôi đã nghe, hồi có ông bộ trưởng bị kỉ luật hình như có ông tướng nào về hưu nói rằng từ nay tay này chẳng được ai mời dự lễ này hội nọ nữa cho biết thân. Phen này mấy vị bị cách cái “nguyên” mà lăn ra ốm, đi nằm viện phải lo phong bì vặt để được y tá tiêm đỡ đau, rồi hai người phải nằm chung một giường, lúc ấy mới thấm thía cái phận dân thường.
Mụ này tưởng chỉ tầm phào thế mà nhớ dai phết. Mình bảo rằng vẫn chưa hết ý nghĩa. Bà Ngân còn diễn giải rằng có một ý nghĩa nữa đau lắm, chứ không phải đơn giản, mặc dù đã không còn chức đó nữa nhưng về hưu mà bị truy cách chức đó, đau khổ lắm. Chúng ta hiểu những đồng chí đó không đơn giản chút nào, bao nhiêu quan hệ từ gia đình, con cái, thân bằng quyến thuộc, đồng chí, đồng nghiệp, anh em, chưa nói tới làng xóm, thậm chí đi chợ người ta còn nói cái ông này sai phạm bị cách chức nó đau khổ lắm.
Lần này thì mụ nhớ ngay, mụ bảo bà Ngân nói giống như đồng chí Tổng Bí thư, rằng bị cách cái “nguyên” như thế “đã đủ đau chưa”. Tôi mà bị như thế thì đau lắm đấy.
Mụ này là phó thường dân lẹt đẹt, lại cứ đi ví mình với quan chức. Xong nhiệm vụ giải thích cho mụ, mình nói lảng sang chuyện khác :
– Bà Ngân nói giống Tổng Bí thư cũng phải thôi. Hồi trẻ bà ấy theo học Đại học Văn Khoa Sài Gòn, tuy không hết khóa nhưng cũng là ngành học ngày trước của đồng chí Tổng Bí thư đấy.
Mụ xã nhà mình ngừng ngoáy lọ mắm. Ngẩng cao đầu, mụ bảo người ta học văn chương cũng có khác. Bà Ngân tuy là người miền Nam nhưng cũng có lý luận, đâu có kém gì người miền Bắc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Học là để làm quan



3 Tháng 10 2017
 
Ngày 23/12 tới đây là Hội thảo Cao Xuân Hạo. Bỗng dưng nhớ một chuyện được nghe thầy kể đã lâu.

Một hôm có người bạn làm quan to, từ Hà Nội vào Sài Gòn, ở T78 (nhà khách của Trung ương Đảng, đường Lý Chính Thắng), mời thầy Hạo đến chơi. Vui chuyện, thầy Hạo có tỏ ra tức giận vì trí thức bị khinh bỉ, thậm chí bị “trốc tận rễ”. Khách cả cười: “Chuyện đó có nhưng đã là quá khứ. Nay Đảng ta, Nhà nước ta thay đổi rồi, rất muốn trong dụng trí thức. Nhưng vấn đề là: Giáo sư tiến sĩ vô thiên lủng, mà bằng cấp đàng hoàng, chứ không phải giả, biết thằng nào trí thức mà trọng dụng?”. Thầy Hạo ngớ người, không nói được câu nào.

Nói cho đúng, số lượng giáo sư, tiến sĩ ở ta tuy nhiều nhưng còn xa so với nhu cầu. Ở đại học - cao đẳng, tỷ lệ sinh viên / giảng viên theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo là 20 nhưng theo một khảo sát năm 2010 thì chưa tới 1% số trường đáp ứng được quy định này. Trong khi đó, có trường tỷ lệ lên đến con số khủng khiếp: 70 sinh viên / giảng viên! Trong khi đó, mới có 25% dân số ở độ tuổi 18-22 vào đại học, cao đẳng, so với Hàn Quốc 97%, Úc 86%, Trung Quốc 30%, Malaysia 37%), theo WB, 2013. 

Tháng trước, một bài báo cho biết trong số gần 11.000 giáo sư, phó giáo sư, chỉ có khoảng 4.440 giáo sư, phó giáo sư đang làm công tác giảng dạy (chiếm hơn 40%). Số lượng tiến sĩ làm công tác giảng dạy cũng chiếm chưa đến 50% (gần 24.000 tiến sĩ thì có 16.514 đang làm công tác giảng dạy). Và có tới 50% GS, TS tập trung ở khu vực quản lý nhà nước, không tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Cho nên, vấn đề không phải là chúng ta có quá nhiều giáo sư, tiến sĩ, mà là nền giáo dục Việt Nam đào tạo nhân lực bậc cao để làm gì. Những con sốchua chát trên cho thấy việc đào tạo tiến sĩ và phong học hàm ở xứ thiên đường ta lệch hẳn vào hướng để làm quan. Một xã hội mà “trí thức” nhăm nhăm con đường quan chức, thì đi về đâu? Dễ hiểu là bất chấp chúng ta có những nhà khoa học xuất sắc, nền giáo dục Việt Nam vẫn thua xa thế giới và mỗi năm dân Việt bỏ đến 3 tỷ đô là để du học, tức là để chạy trốn giáo dục trong nước.

Nói đâu xa, cụ Tổng ta, một người gần như suốt đời theo đuổi con đường chính trị, mà cũng Giáo sư Tiến sĩ như ai! 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

Trung Quốc nên chuẩn bị hậu sự cho Triều Tiên? 04/10/2017 BẠN NGHĨ GÌ VỀ BÀI VIẾT NÀY?



Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
Theo Nghiên cứu quốc tế
Trang “Diễn đàn Đông Á” bản điện tử số ra ngày 11/9/2017 đăng bài “Đã đến lúc chuẩn bị cho kết cục xấu nhất của Triều Tiên” của tác giả Giả Khánh Quốc (Jia Qingguo), Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế của Đại học Bắc Kinh. Bài này đang gây ra một cuộc tranh cãi lớn trong dư luận Trung Quốc.
Giáo sư Giả Khánh Quốc cho rằng vũ khí hạt nhân và tên lửa mà Triều Tiên phát triển sớm muộn sẽ trở thành sự đe dọa thực sự đối với nước Mỹ, nước này có thể sẽ phát động cuộc tấn công quân sự “phủ đầu” nằm hủy diệt vũ khí hạt nhân của Triều Tiên. Cho dù Mỹ tự kiềm chế không đánh đòn phủ đầu thì trong tình hình ngày càng bị quốc tế trừng phạt nghiêm khắc hơn và Mỹ cùng Hàn Quốc tập trận chung với quy mô ngày càng lớn, Triều Tiên cũng có thể phát động chiến tranh.
Mối nguy hiểm bùng nổ chiến tranh trên bán đảo này đang ngày càng tới gần, Trung Quốc tất phải chuẩn bị cho kết quả “xấu nhất”. Cái kết quả “xấu nhất” mà Giả Khánh Quốc nói ở đây là chính quyền Kim Jong Un hoàn toàn sụp đổ trước đòn đánh quân sự của Mỹ và Hàn Quốc. Giả Khánh Quốc cho rằng giờ đây Trung Quốc nên đối thoại với Mỹ và Hàn Quốc, nói rõ trước một số vấn đề quan trọng.
Giả Khánh Quốc cho rằng vấn đề thứ nhất là Trung Quốc không muốn thấy quân đội Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38, bởi lẽ đây là một phòng tuyến tâm lý, quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38 có nghĩa là lần thứ hai họ lên miền Bắc, điều đó phía Trung Quốc khó chấp nhận, vì thế cần phải nói rõ với phía Mỹ để giành được sự thừa nhận ngầm của họ. Giả Khánh Quốc cho rằng Mỹ sẽ tiếp thu yêu cầu hợp lý này của Trung Quốc.
Thứ hai là vấn đề xử lý vũ khí hạt nhân của Triều Tiên. Giả Khánh Quốc cho rằng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên không có bất cứ giá trị kỹ thuật nào, đặt vào trong tay ai đều gây phiền phức, hơn nữa chi phí rất cao. Trung Quốc có thể cho phép Mỹ xử lý vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, nhưng khi Trung Quốc đã không cho phép Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38 thì cuối cùng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên có lẽ sẽ do phía Trung Quốc xử lý. Khi hai nước Trung Quốc và Mỹ đều phản đối “phổ biến vũ khí hạt nhân” thì tin rằng Mỹ cũng sẽ không phản đối [cách giải quyết như vậy].
Thứ ba là biện pháp ngăn ngừa một lượng lớn người tị nạn Triều Tiên có thể ùa vào Trung Quốc. Để giải quyết vấn đề này, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc có thể cần vượt biên giới tiến vào Triều Tiên, lập vùng tập trung người tị nạn ở bên trong biên giới Triều Tiên nhằm thu xếp [chỗ ở] cho nạn dân.
Thứ tư là làm gì để tái thiết chính phủ Triều Tiên và trật tự trong nước. Giả Khánh Quốc cho rằng Trung Quốc nên cùng Mỹ, Hàn Quốc thu xếp trước vấn đề này, có lẽ việc xây dựng chính phủ mới của Triều Tiên cần được tiến hành dưới sự giám sát và chủ trì của cộng đồng quốc tế.
Thứ năm là vấn đề rút hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD). Mỹ và Hàn Quốc từng nói đi nói lại rằng hệ thống này nhằm để đối phó với Triều Tiên, thế thì sau khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên đã giải quyết xong, Mỹ nên rút THAAD ra khỏi bán đảo Triều Tiên. Giả Khánh Quốc cho rằng việc đó cũng nên đạt thỏa thuận với Mỹ, Hàn Quốc.
Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh “Quyết không cho phép xảy ra tình trạng hỗn loạn chiến tranh, thế nhưng chẳng ai có thể bảo đảm, chẳng ai có thể chi phối tình hình Triều Tiên sẽ phát triển theo hướng nào; Giả Khánh Quốc  cho rằng xem ra việc Trung Quốc lo lắng chuẩn bị cho tình hình xấu nhất ở Triều Tiên cũng là có lý. Nhưng tiền đề của 5 vấn đề Giả Khánh Quốc nghĩ tới là chính quyền Kim Jong Un nhanh chóng tan rã, hoàn toàn sụp đổ trước sự tấn công quân sự của Mỹ. Phải chăng ý kiến đó hầu như là quá chủ quan?
Trước đây Giả Khánh Quốc từng phát biểu ba quan điểm về vấn đề Triều Tiên: thứ nhất, chớ nên coi Triều Tiên là vùng đệm của Trung Quốc, bởi lẽ trong chiến tranh hiện đại sẽ không lặp lại chuyện Nhật đi theo con đường cũ qua bán đảo Triều Tiên để xâm lược Trung Quốc; thứ hai, chớ nên cho rằng Trung Quốc và Triều Tiên là hai nước XHCN có chế độ chính trị như nhau, bởi lẽ Triều Tiên thực hành “Chế độ chủ thể” coi “Triều Tiên trên hết”, còn Trung Quốc thực hành “CNXH đặc sắc Trung Quốc” hoàn toàn khác với chế độ của Triều Tiên ;  thứ ba, chớ nên cho rằng hai nước Trung Quốc, Triều Tiên máu thịt liền nhau, có tình hữu nghị chiến đấu, bởi lẽ tuy rằng Trung Quốc nhìn nhận như vậy về mối quan hệ giữa hai nước nhưng Triều Tiên lại không nhìn nhận như thế.
Ba quan điểm nói trên của Giả Khánh Quốc về vấn đề Triều Tiên từng làm cho một số “thanh niên nổi giận”[1] ở Trung Quốc rất bất mãn, họ chửi Giả Khánh Quốc là “tay sai của Mỹ”, thậm chí có người nói ông là “đặc tình” [tuyến nhân] của CIA, được Mỹ bảo vệ.
Giả Khánh Quốc là Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế của Đại học Bắc Kinh, ông hay viết bài trên các diễn đàn ở nước ngoài. Quan điểm của Giả Khánh Quốc dĩ nhiên có trọng lượng nhất định. “Diễn đàn Đông Á” là chuyên trang về các vấn đề chính trị và kinh tế vùng châu Á-Thái Bình Dương, tòa soạn đặt tại Australia.
————-
[1] Phẫn thanh, Angry Young Man, nhóm người TQ trẻ bất mãn với tình hình bất công xã hội đương thời.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÌN NHẬN LẠI VIỆC ĐÁNH GIÁ TRIỆU ĐÀ VÀ NƯỚC NAM VIỆT TRONG LỊCH SỬ



Tượng thờ Triệu Đà tại Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Việt.

NHÌN NHẬN LẠI VIỆC ĐÁNH GIÁ TRIỆU ĐÀ 
VÀ NƯỚC NAM VIỆT TRONG LỊCH SỬ

Hà Văn Thùy

Từ thời có Sử, các nhà nước quân chủ Việt Nam đều ghi công Triệu Đà và thừa nhận Nam Việt là triều đại chính thống của Việt Nam. Dù ở cuối thế kỷ XVIII Ngô Thì Sỹ có lên tiếng bài bác, cho Triệu Đà có tội đưa nước ta vào vòng nô lệ phương Bắc thì sử nhà Nguyễn vẫn ghi nhà Triệu là tiền triều. Quan niệm này được tiếp tục trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim rồi Bài ca Việt Minh của Hồ Chí Minh xuất bản tại Cao Bằng năm 1942 với hai câu thơ: Triệu Đà là vị hiền quân. Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời. Năm 1945, Chương trình Phổ thông Trung học của Chính phủ Trần Trọng Kim cũng coi nhà Triệu mở đầu cho lịch sử Việt Nam.


Tuy nhiên, từ sau năm 1960, các nhà làm sử miền Bắc có cách nhìn khác hẳn, coi Triệu Đà là giặc ngoại xâm và xóa bỏ nhà Triệu khỏi sử Việt. Người đề xuất quan điểm này là sử gia Đào Duy Anh trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam xuất bản năm 1957.

Học giả Đào Duy Anh có công lớn gầy dựng trí tuệ và lịch sử Việt Nam. Do vậy mà việc đề xuất của ông được Viện sỹ Nguyễn Khánh Toàn, Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội chấp nhận. Từ đó, phủ nhận Triệu Đà và nước Nam Việt trở thành quan điểm chính thống của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được phản ánh trong các bộ thông sử quốc gia, được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học.

Sách Lịch sử Việt Nam, tập 1 (1971), công trình tập thể của những nhà viết sử hàng đầu Việt Nam, được biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam viết về Triệu Đà như sau:

“Triệu Đà biết rằng không thể thắng được Âu Lạc về quân sự nên rút về núi Vũ Ninh, xin hòa với An Dương Vương. Hắn sai con trai là Trọng Thủy sang hàng phục An Dương Vương, xưng thần mà thờ. An Dương Vương gả con gái là Mị Châu cho Trọng Thủy. Trọng Thủy ở gửi rể bên nước Âu Lạc. Đấy chính là mưu mẹo mà Triệu Đà dùng để chiếm nước Âu Lạc. Trong những năm ở gửi rể, Trọng Thủy đã dò xét tình hình Âu Lạc, học phép chế nỏ và phá nỏ của người Âu Lạc rồi trốn về nước báo cho Triệu Đà. Kết hợp lực lượng quân sự và mưu mẹo gián điệp, lần này Triệu Đà thôn tính được nước Âu Lạc. An Dương Vương thua trận, phải nhảy xuống biển tự vẫn.”

Trong lời giới thiệu cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (in năm 2000), Giáo sư  Phan Huy Lê cho rằng: “Việc Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên coi nhà Triệu là một vương triều chính thống của Việt Nam là một sai lầm nghiêm trọng.” Ông khẳng định “Nam Việt là một nước cát cứ của một tập đoàn phong kiến, không phải là nước của người Việt Nam.” “Việc Triệu Đà đặt tên nước là Nam Việt (tỏ ý muốn phục hưng nước cũ của người Việt) cũng như việc Triệu Đà tự xưng là " Man Di đại trưởng lão phu", lấy vợ Việt, theo tục Việt... chỉ là các thủ đoạn mị dân Việt. Việc Triệu Đà chống Tần chống Hán cũng chỉ nhằm thỏa mãn mộng bá vương của riêng mình... Nhưng nhiều sử gia phong kiến đã không nhận ra bộ mặt cát cứ, xâm lược của nhà Triệu và ngộ nhận coi nhà Triệu là một triều đại của Việt Nam.”
Tố Hữu làm thơ gọi họ Triệu là "giặc", phê phán Mỵ Châu làm mất nước:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu,
Trái tim lầm chỗ để trên đầu.
Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu.

Quan điểm trên một lần nữa được khẳng định trong cuốn Lịch sử Việt Nam tập I từ khởi thủy đến thế kỷ X của Việt Sử học thuộc Viện Hàn  lâm khoa học xã hội Việt Nam, tái bản năm 2017.

60 năm sau phán quyết trên, nay ta thử xét xem vì sao học giả họ Đào lại có ý tưởng như vậy. Và quan niệm của ông có phù hợp với sự thật lịch sử?

Những dòng lên án Triệu Đà đã xuất hiện từ năm 1947, trong tài liệu in ronéo của Đào Duy Anh khi ông hoạt động trong Chi hội văn nghệ Liên khu IV ở Thanh Hóa. Công bố năm 1957 chỉ là sự tiếp tục quá trình tư duy nhất quán. Dựa vào quan điểm Macxit đương thời, tác giả đưa ra những lời kết án nặng nề chưa từng có với vẻ đầy tự tin:

 “… Các sử thần nhà Lê, kế tục phương pháp và quan diểm của Lê Văn Hưu ở thời Trần (quan điểm lịch sử phản dân tộc) không thấy rằng Triệu Đà làm vua nước Nam Việt ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, đối với nước Âu Lạc mà nghỉ xâm lược, chỉ là một tên giặc cướp nước chứ không phải là một đế vương chính thống. Mãi đến cuối đời Lê mới thấy có một nhà sử học là Ngô Thì Sĩ, tác giả sách Việt sử tiêu án, phản đối việc cho họ Triệu tiếp nối quốc thống của An Dương Vương. Có lẽ do ảnh hưởng của ý kiến ấy cho nên sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn không chép riêng nhà Triệu làm một kỷ chính thống nữa, nhưng vẫn cứ chép cả lịch sử nhà Triệu vào phạm vi quốc sử nước ta. Các nhà sử học tư sản của ta cũng chịu ảnh hưởng của quan điểm phản dân tộc ấy, cho nên Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cũng chép kỹ càng về lịch sử nhà Triệu, và Những trang sử vẻ vang của Nguyễn Lân thì biểu dương Lữ Gia là trung thần của nhà Triệu, là vị anh hùng dân tộc đầu tiên của chúng ta. Đối với dân tộc ta thì Triệu Đà là giặc cướp nước, mà lịch sử của nhà Triệu ở nước Nam Việt không thể nằm trong phạm vi của lịch sử Việt Nam.” [1]

Tuy nhiên, khi ghép tội Triệu Đà, ông Đào Duy Anh không đưa ra chứng lý gì mới hơn so với Ngô Thì Sỹ mà chỉ là những quy chụp: “giặc cướp nước”, “các nhà sử học tư sản” rồi “quan điểm lịch sử phản dân tộc”!

Sự thật là, dù Triệu Đà có xâm lược Âu Lạc đi nữa thì Nam Việt vẫn là nhà nước của người Âu Lạc. Bởi lẽ, dưới hai viên điển sứ thay mặt nhà vua thì người cai trị trực tiếp Âu Lạc vẫn là những lạc hầu, lạc tướng người Việt, cai trị theo luật Việt. Đó là sự thực vì khi chiếm nước ta, Mã Viện phát hiện: “luật  Giao Chỉ có 10 điều khác với luật nhà Hán.” Ta cũng thấy, đó là thời thái bình thịnh trị từng được các thư tịch Trung Hoa ca ngợi. Thực tế là, suốt trong thời gian cai trị Nam Việt, ngoài việc may mắn thắng cuộc chiến tranh của Lâm Lư hầu thì bằng mọi cách, khi cương khi nhu trong đối ngoại, Triệu Đà giữ được mối quan hệ yên bình với nhà Hán, tránh được chiến tranh, không mất một tấc đất. Cháu ông là Triệu Muội vẫn giữ vững độc lập, vẫn xưng đế, với cái ấn Văn đế hành tỷ hình vuông bằng vàng, lớn hơn ấn của mọi hoàng đế Trung Hoa. Triều đại do Triệu Đà xây dựng, sau 97 năm tồn tại, bị hủy diệt bằng cuộc xâm lăng tàn bạo của nhà Hán. Chống trả cuộc xâm lăng là toàn dân Nam Việt trong đó có nhân dân Âu Lạc mà ngọn cờ đầu là Thừa tướng Lữ Gia! Sự bi thảm của cuộc chiến ấy ngày nay ta còn thấy trong đống xương ở hang Cắc Cớ Chùa Thầy!

Một điều không thể không bàn tới là di sản do Nam Việt để lại. Ta từng biết, từ Nam Dương Tử trở xuống là đất của nhà nước Xích Quỷ-Văn Lang. Nhưng hai quốc gia này chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Khi Nam Việt xuất hiện, mới có một thực thể nhà nước của người Việt. Nhờ sự tồn tại Nam Việt 100 năm với chính sự tốt đẹp, người dân hạnh phúc mà tinh thần quốc gia-dân tộc của người Việt được định hình. Bằng chứng là vào năm 39, khi hai Bà Trưng khởi nghĩa ở vùng Phú Thọ thì toàn bộ dân Nam Việt xưa nổi lên theo. Cho đến nay còn có hơn 200 nơi thờ Vua Bà ở Nam Trung Quốc!

Những chứng cứ trên cho thấy, Nam Việt là quốc gia độc lập của người Lạc Việt. Do vậy, theo nguyên lý duy vật lịch sử, dù Triệu Đà có là ai chăng nữa thì qua sự chuyển hóa biện chứng, ông cũng không còn là cá nhân mình mà thuộc về khối quần chúng nhân dân Nam Việt. Đấy là sự chuyển hóa tư nhiên của biện chứng lịch sử, biến một kẻ ngoại tộc mang ý đồ cát cứ thành lãnh tụ của quốc gia độc lập! Việc chỉ căn cứ vào xuất thân của Triệu Đà - như một sự nhất thành bất biến - rồi lên án nặng nề đồng thời xóa bỏ cả một thời đại trong lịch sử dân tộc, thể hiện quan điểm duy tâm chủ quan. Đó còn là sự xa rời thực tế lịch sử, không nhìn thấy lòng sùng kính của người dân Việt đối với nhà Triệu – chính là tấm gương trung thực phản ánh lịch sử. Tại sao một nhân dân đã từng đặt gọi vua là “vua quỷ”, “vua lợn” lại tôn xưng Triệu Đà như Nghiêu Thuấn? Đó còn là sự xúc phạm nhẫn tâm với hồn thiêng của hàng vạn người hy sinh để bảo vệ Nam Việt!

Sau 60 năm nhìn lại, ta thấy Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên, Trần Trọng Kim, Hồ Chí Minh, Hoàng Xuân Hãn… đã đúng. Bởi lẽ họ hiểu rằng Sử không chỉ là những dòng chữ trên sách vở mà trước hết, là hồn của dân tộc. Là những người nhân chi sơ tính bản thiện nên các vị đó thấm đượm trong lương tri hồn thiêng của dân tộc Việt.

Cho Triệu Đà là giặc cướp nước, chứng tỏ ông Đào Duy Anh kết tội Triệu Đà chỉ vì nghĩ Triệu là người Hán! Nhận định của ông Phan Huy Lê: “Việc Triệu Đà đặt tên nước là Nam Việt (tỏ ý muốn phục hưng nước cũ của người Việt) cũng như việc Triệu Đà tự xưng là "Man Di đại trưởng lão phu", lấy vợ Việt, theo tục Việt... chỉ là các thủ đoạn mị dân Việt. Việc Triệu Đà chống Tần chống Hán cũng chỉ nhằm thỏa mãn mộng bá vương của riêng mình…” hoàn toàn là suy diễn chủ quan, vô sở cứ.

Thực tế cho thấy, 60 năm qua, một quyết định sai lầm đã làm suy bại dòng họ hiển hách. Sau Triệu Vũ Đế, Triệu Văn Đế, có anh hùng Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Đạt rồi Triệu Quang Phục… Nhưng nay họ Triệu còn gì? Khi đề xướng Hội thảo khoa học Vai trò nhà Triệu trong lịch sử Việt Nam, chúng tôi tìm hiểu hiện tình của họ Triệu thì quả là đáng lo ngại. Không có Ban Liên lạc dòng họ Triệu trên mạng thông tin. Không doanh nhân tên tuổi. Nhân sỹ nổi bật của dòng họ chỉ là ba nhà văn, trong đó duy nhất nhà văn Triệu Xuân ở cấp quốc gia! Còn tinh thần thì sao? Một ông bạn già đồng hương của tôi rất bức xúc về việc này, nói chuyện với người con rể họ Triệu, được trả lời: “Thôi bố ơi, chuyện lâu rồi, cho qua đi!” Nghe đâu đó có người than thở: “Nếu không mang họ Triệu thì đời tôi đã khác!” Một nhà văn, sau khi đọc kế hoạch Hội thảo và tài liệu chúng tôi gửi, thì đáp lại: “Tôi hoàn toàn tán thành khảo cứu của anh. Nhưng không thể giúp gì cho kế hoạch của anh được!” Đến khi chúng tôi đề nghị: “Không cần anh đóng góp vật chất. Chỉ xin anh viết về ba đời điền chủ nhà anh trên đất Miền Tây, những tư liệu rất quý về họ Triệu ở Nam Bộ…” Anh không trả lời! Một ông bạn già của tôi, tới đền Thánh Mẫu hỏi âm sự của dòng họ. Theo đề nghị của tôi, ông hỏi về họ Triệu, thì được trả lời: “Cụ Triệu Đà người Việt đấy, không phải Hán đâu, bị oan đấy. Oan mà không gỡ được!” May sao, Đất Nước vẫn chưa hết người nhiệt tâm. Cuốn Kỷ yếu Hội thảo Nhà Triệu 450 trang đã có giấy phép, in với tiền túi của những người trực tiếp viết bài và làm sách!

Sau 60 năm nhìn lại, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng:

1. Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của toàn bộ đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ. Nam Việt nhà Triệu chính là cái cuống nhau nối lịch sử xa xăm của đại tộc Việt với Việt Nam hôm nay.  
                     
2. Tước bỏ vai trò chủ nhân của tộc Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 50.000 năm trước. 

3. Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9.000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.         

4. Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa của người Việt Nam với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam. Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt - tộc đa số trong dân cư, họ bị thiểu số hóa. Đến nay, những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch. Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư - 水书)  viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.

5. Mất quyền thừa kế với truyền thống văn hóa Nam Việt.

Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế. Bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ (文帝行璽) tìm thấy trong lăng mộ Triệu Văn Đế. Sau khi phát hiện lăng mộ, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2.500 hiện vật đặc sắc, trong đó phần lớn thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt Nam chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ văn hóa quan trọng này.  

Nhưng câu chuyện chưa hết bởi lẽ Triệu Đà chưa bao giờ là người Hán! Gán cho ông thuộc tộc Hán là lầm lẫn lớn của lịch sử! Hôm nay tôi sẽ làm sáng tỏ nỗi oan 2000 năm này!
Theo truyền thuyết, thủy tổ các đời quân chủ nước Triệu là Bá Ích, từng làm quan ở nước Ngu, được phong ấp Doanh, từ đó hậu duệ Bá Ích lấy họ Doanh. Đến cuối đời Thương, hậu duệ Bá Ích là Phi Liêm cùng với con trai trưởng là Ác Lai phò tá Thương Trụ chống lại Chu Vũ vương nên đều bị giết. Con cháu Phi Liêm ly tán, phân thành hai dòng chính. Một nhánh lưu lạc đến Khuyển Khâu, đến đời Phi Tử thì được nhà Chu phong cho ấp Tần làm phụ dung, hình thành thủy tổ nước Tần. Người con thứ của Phi Liêm là Quý Thắng di chuyển đến Hoàng Hà định cư. Con Quý Thắng là Mạnh Tăng sống vào thời Chu Thành Vương. Mạnh Tăng sinh Hành Phụ, Hành Phụ sinh Tạo Phụ. Tạo Phụ do lập không ít công trạng nên được Chu Mục Vương phong làm đại phu, lấy Triệu Thành làm thực ấp, từ đó mang họ Triệu, hình thành thủy tổ nước Triệu. Hậu duệ 6 đời Tạo Phụ là Yêm Phụ có danh hiệu là Công Trọng sống vào thời Chu Tuyên Vương, Yêm Phụ sinh Thúc Đới.

Thời kỳ Tấn Văn hầu, Thúc Đới di cư tới nước Tấn. Cháu 5 đời của Thúc Đới là Triệu Túc lập công lớn được Tấn Hiến Công thưởng cho đất Cảnh, Triệu Túc sinh Cộng Mạnh, Cộng Mạnh sinh Triệu Thôi. Năm 656 TCN, Triệu Thôi từng theo công tử Trùng Nhĩ lưu vong ra khỏi Tấn. Sau này Trùng Nhĩ trở thành Tấn Văn công của Tấn thì Triệu Thôi trở thành trọng thần. Con cháu Triệu Thuẫn các đời đều nắm trọng quyền, dần phát triển thế lực của gia tộc họ Triệu thành một trong Lục khanh.

Tới thời Tấn Xuất công thì quyền lực thực tế nằm trong tay các trọng thần như Trí Bá, Triệu Tương tử, Hàn Khang tử và Ngụy Hoàn tử. Sử gọi là Tứ khanh. Năm 456 TCN, Tứ khanh đuổi Tấn Xuất công đi để lập Cơ Kiêu, tức Tấn Ai công. Năm 454 TCN, Trí Bá hợp cùng hai nhà Hàn, Ngụy tấn công Tấn Dương (nay ở phía nam quận Tấn Nguyên, Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Triệu Tương tử giữ vững thành trì. Sau đó liên hợp với chính hai nhà Hàn, Ngụy diệt Trí Bá. Năm 453 TCN, ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy chia nhau vùng đất của họ Trí.

Năm 437 TCN, Tấn Ai công chết. Con là Cơ Liễu (Tấn U công) kế nghiệp. Nước Tấn khi đó thực chất đã bị phân chia giữa 3 thế gia là Hàn, Triệu và Ngụy. U công không có quyền lực gì đối với 3 nhà này.

Năm 403 TCN, vua Chu Uy Liệt vương phải chính thức công nhận sự tồn tại của nước Triệu cùng với Hàn, Ngụy bên cạnh nước Tấn như là các nước chư hầu của nhà Chu, đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Chiến Quốc.[2]

Bản tộc phả trên cho thấy họ Triệu là một dòng của bộ tộc Tần. Vậy người Tần là ai?

Rất mừng là sang kỷ nguyên mới, nhờ di truyền học đọc được cuốn thiên thư ADN ghi trong máu huyết dân cư Việt Nam cũng như Trung Quốc, vấn đề được sáng tỏ:

- Khoảng 40.000 năm trước, người Lạc Việt chủng Indonesian [mã di truyền M122 thuộc Haplogroup O1 (Y-DNA)] [3,4,5] từ vùng núi Bắc Bộ đi lên khai phá Hoa lục theo con đường Ba Thục, tới tận Nam Hoàng Hà, trở thành chủ nhân đồng bằng Trong Nguồn (nay là Trung Nguyên). Cộng đồng Lạc Việt này về sau được gọi là Tày-Thái. Cùng thời gian Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ thì nơi đây ra đời nước Ba Thục cổ. Người Ba Thục xây dựng nền văn minh đá mới rực rỡ: 25.000 năm trước có mặt ở Động Người Tiên (Giang Tây). 20.000 năm trước, làm ra đồ gốm đầu tiên của nhân loại. Và 12.400 năm trước thuần hóa thành công lúa nước. 6.000 năm trước sáng tạo chữ tượng hình Cảm Tang khắc trên xương, trên đá…

Năm 2.698 TCN người Mông Cổ vượt Hoàng Hà đánh vào Trác Lộc, chiếm một phần đồng bằng Trong Nguồn. Một bộ phận người Việt phải sống trong vương quốc Hoàng Đế. Có người con gái Thái làm nguyên phi của Đế Khốc, sinh ra tổ nhà Thương và nhà Chu. Ở vùng đất còn lại, người Việt kiên cường kháng chiến. Trong đó có dân Ba Thục mà sử sách Trung Hoa gọi là Tây nhung. Khoảng 1.600 năm TCN, nước Ba Thục của Tàm Tùng xuất hiện, với nền văn minh rực rỡ là tòa thành vững chãi, bức tượng đồng lớn nhất thế giới cùng những đồ thờ đồng thau tinh xảo. Nay là di chỉ văn hóa Gò Ba Sao nổi tiếng. Tại đây cũng phát hiện hàng chục xác voi châu Á, được đưa từ Việt Nam tới.

Tổ tiên Thục Phán là người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên đất Ba Thục. Dòng Thái của Thục Phán cư trú trên đất Tần trở thành người Tần. Vậy, cũng như Thục Phán, Tần Thủy Hoàng là người Việt. Nửa thế kỷ trước, trong cuốn Việt lý tố nguyên, Giáo sư Lương Kim Định viết rằng “bộ lạc Tần vốn là dân nông nghiệp Việt tộc nhưng khi di lên cao nguyên phía Tây, do thổ nhưỡng và khí hậu nên chuyển sang du mục, trở thành bộ lạc dũng mãnh.” Do ông không dẫn nguồn để tra cứu nên tôi không dám tin. Nay thì tìm ra sự thật. Một nhánh của họ Doanh đi lên Nam Hoàng Hà, vào nước Tấn, được phong Triệu thành, cải sang họ Triệu rồi dựng nên nước Triệu. Cố nhiên, Triệu cũng là một tiểu quốc của người Việt. Do vậy, Triệu Đà là người Việt.

Cũng như Thục Phán người Lạc Việt do hoạn nạn chạy về Văn Lang, trở thành lãnh tụ nước Nam Cương chống lại nhà Tần rồi sáp nhập với Văn Lang lập nhà nước Âu Lạc; Triệu Đà người Việt, năm 20 tuổi, nước Triệu bị Tần chiếm, ông  xung lính nhà Tần xuống đánh Lĩnh Nam. Khi nhà Tần suy bại, ông lập nước Nam Việt rồi sáp nhập Âu Lạc thành quốc gia lớn mạnh, tồn tại gần trăm năm. Như vậy, Triệu Đà không hề là giặc xâm lược mà có công lớn lập nên nhà nước Nam Việt của người Lạc Việt ở phía Nam Dương Tử.

Đáng tiếc là do ngộ nhận, người ta đã kết tội oan Triệu Đà rồi xóa bỏ Nam Việt khỏi sử Việt. Để mất những mối liên hệ với Nam Việt không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, nước cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt Nam trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ! Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sự luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. Việc nhận định sai về cội nguồn tổ tiên dẫn chúng ta lâm vào tấn kịch bi hài của kẻ bỏ mồ cha khóc đống mối. Một dân tộc còn ngộ nhận về gốc gác chưa thể là dân tộc trưởng thành!

Đã tới lúc khôi phục vị trí nhà Triệu cùng nước Nam Việt trong lịch sử dân tộc! Giải oan cho dòng họ Triệu không chỉ ở dương thế mà cả trong cõi tâm linh!

Sài Gòn, tháng Sáu, 2017
H.V.T 
---------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đào Duy Anh. Lịch sử cổ đại Việt Nam. NXB Văn hóa thông tin. H, 2005, tr. 93-94)


3. Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội     Nhà văn. H, 2016.

4.The free encyclopedia - Liangzhu culture: “Một phân tích năm 2007 của DNA phục hồi từ người vẫn còn ở địa điểm khảo cổ của người tiền sử trên sông Dương Tử cho thấy tần số cao của Haplogroup O1 (Y-DNA) trong văn hóa Lương Chử, liên kết chúng với dân cư văn hóa Austronesian và Tai-Kadai.” Dân cư Việt cổ thuộc Haplogroup O1 (Y-DNA). Người Tày-Thái thuộc tộc Lạc Việt (chủng Indonesian), mang mã di truyền M122.

5. Hao Sun et al. Autosomal STRs Provide Genetic Evidence for the Hypothesis That Tai People Originate from Southern China.

In the southern origin hypothesis, many Chinese ethnologists [5], [6], [13] believe that today’s Tai people migrated from southern China and that they share a recent common ancestor, which named “Yue” people, with other Tai-Kadai speakers who lived in southern China, such as the Zhuang and the Mulao.

(Trong giả thuyết “nguồn gốc miền Nam”, nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học Trung Quốc [5], [6], [13] tin rằng người Thái hiện nay di cư từ miền nam Trung Quốc và họ chia sẻ một tổ tiên gần đây, có tên "Yue" (Việt), cùng với những người nói tiếng Tày-Thái sống ở miền nam Trung Quốc, chẳng hạn như Zhuang và Mulao.)




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cà phê Thứ 7: CHIẾN TRANH VIỆT NAM - CÓ THỂ BẠN CHƯA HIỂU RÕ



Cà phê Thứ Bảy

Chủ đề: CHIẾN TRANH VIỆT NAM - CÓ THỂ BẠN CHƯA HIỂU RÕ
Diễn giả: Hồ Đăng Hòa
Dẫn chuyện: Nguyễn Quang Dy

Địa điểm: Salon Văn hóa, Cà phê Thứ Bảy, 3A Ngô Quyền, Hà Nội
Thời gian: 14h30 Chiều Thứ Bảy, 07/10/2017

Vào cửa tự do


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG CÚ ĐÁ VÀO TƯƠNG LAI


Luân Lê - Tôi thực sự phẫn nộ trước hình ảnh thằng trưởng công an xã ở Đắk Lăk hung hãn đá tung những thúng rau, thau cá của những người dân nghèo khổ đang bày bán ở chợ. Nó đi vòng quanh và chỉ chỏ, lớn giọng với những người phụ nữ, người già ở đó để dẹp cho sạch cái lề đường đất gồ ghề vốn là nơi buôn bán thường ngày cho bà con ở nơi này.
Những cú đá đầy sức mạnh, những cái chỉ tay đầy quyền uy, những cái hằn giọng đầy côn đồ. Nó đang nhân danh thực thi công vụ để phá hoại tài sản và thực phẩm của người dân một cách đầy thoả mãn và với niềm háo hức của kẻ đang hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

Một loại vô giáo dục nhưng có thể làm trưởng công an xã, một loại côn đồ vô pháp nhưng lại nắm quyền để hà hiếp người dân.

Nếu những thúng rau, mẹt cá đó là của mẹ, vợ hay con cái nó đem ra chợ bán hàng ngày thì nó cũng sẽ đá văng như thế, hay khi những người thân của nó chịu cảnh tượng đó mà nó trông thấy trước mắt, nó sẽ làm gì?

Thằng khốn nạn.

Mở mắt ra là nhìn thấy vô số những cảnh tượng chỉ có ở những loài thú vật mới có những hành xử man di ấy.

Mở mắt ra là thấy những bất công chồng chất mỗi ngày. Mở mắt ra là thấy chúng nó chạy chọt chỗ này chỗ kia. Mở mắt ra là thấy nó đua nhau mua bằng cấp, lo lót để có chức có quyền. Mở mắt ra là thấy đủ thứ phí tăng lên mỗi ngày, mà đủ thứ lo lắng, nào là thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm, tắc đường, ngập lụt, tai nạn giao thông, trộm cướp, giáo dục đủ thứ tệ nạn, con người hành xử bạo lực với nhau, thói đạo đức giả, luật pháp bị xem thường, thuốc giả, hàng giả và thành tích giả hủy hoại con người. Tham nhũng huỷ hoại quốc gia. Và sự thờ ơ của con người giết chết những điều tốt đẹp đang từng ngày thoi thóp chờ đợi những lương tri kịp tỉnh thức lại.

Mở mắt ra mà nhìn nó vu cho phụ huynh lên tiếng phản ánh việc lạm thu là âm mưu chính trị. Mở mắt ra để thấy chúng nó tham nhũng rồi bỏ chạy đi sống đời sung túc và để lại cho đất nước những món nợ công khổng lồ còn chúng nhởn nhơ như một kẻ qua đường. Mở mắt ra để thấy nó làm sai thì rút kinh nghiệm, kiểm điểm sâu sắc với đủ loại sai phạm và đủ loại mức độ kinh hoàng. Mở mắt ra để thấy dân vừa hé miệng lên tiếng trước các bất công là sẽ có cuộc gặp công lực ngay tức thì.

Mở mắt ra là thấy đủ cảnh chướng tai gai mắt, đủ chuyện phẫn nộ, đủ nỗi xót xa diễn ra chẳng chút giật mình nhìn lại nào của những lũ người vô tri và vô cảm trong xã hội này.

Mở mắt ra mà nhìn cho rõ cái thực trạng đang chình ình không còn thiếu thứ gì để trở thành một tấn bi kịch nữa.

Và nhắm mắt lại, để mà thấu những cảnh nghịch đời cứ mỗi ngày một phơi bày và hiển hiện trên quê hương trong hiện tại.

Và cũng hãy nhắm mắt lại để rọi về tương lai phía trước xem thế nào nếu còn chút trăn trở hay lo lắng nào đó cho vận mệnh những đứa con lớn lên mỗi ngày ngay bên cạnh mình.


Phần nhận xét hiển thị trên trang