Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

Tác giả trẻ gốc Việt thắng giải thơ Anh quốc


https://baomai.blogspot.com/ 
Ocean Vương - tác giả 28 tuổi, người Mỹ gốc Việt - giành giải Felix Dennis, một giải thưởng thơ quan trọng nhất Anh quốc.

Mới đây, Ocean Vương nhận giải Felix Dennis - một giải thưởng thường niên được mệnh danh là “Oscars trong lĩnh vực thi ca”. Phần thưởng trị giá 5.000 bảng Anh (khoảng 131 triệu đồng). Giải thưởng này được trao để tôn vinh tập thơ đầu tay của Ocean Vương - tập Night Sky with exit wounds.

https://baomai.blogspot.com/

Andrew Marr - trưởng ban giám khảo - ca ngợi Ocean Vương thực sự là một “giọng nói đáng kinh ngạc”. Ông nói: “Táo bạo và phong phú về hình ảnh, Night sky with exit wounds là một tập thơ đầu tay vô cùng hoàn hảo bởi một tài năng phi thường’.

Trước khi đoạt giải Felix Dennis, tập thơ Night Sky with exit wounds tạo một dấu ấn nhỏ ở Mỹ, khi bán chạy bất ngờ so với cách một tập thơ được đưa ra thị trường. Báo chí Mỹ cũng dành nhiều lời ngợi ca tập thơ này.Theguardian viết về Night Sky with exit wounds: “Mãnh liệt, tinh tế, hình ảnh vượt thời gian… tập thơ cho thấy bóng dáng một bậc thầy về sự liên tưởng”

https://baomai.blogspot.com/

Ocean Vương sinh năm 1988 tại ngoại ô Sài Gòn. Năm hai tuổi anh cùng gia đình tới Connecticut, Mỹ sống. Anh trải qua một thời gian dài vật lộn với tiếng Anh trước khi có thể sử dụng thuần thục ngôn ngữ này.

https://baomai.blogspot.com/ 

Tuổi thơ của anh sống trong cảnh khó khăn, trong một gia đình chỉ toàn phụ nữ gồm bà, mẹ và các dì. Bởi vậy,  gia đình, truyền thống và văn hóa Việt có ảnh hưởng nhất định tới Ocean Vương.

https://baomai.blogspot.com/

Anh từng nói: "Giọng nói của gia đình tôi vang lên trong đầu mỗi khi tôi nói, tôi viết..." 

https://baomai.blogspot.com/

Vương theo học Đại học Brooklyn với bằng Cử nhân Văn học Anh thế kỷ 19.  Lúc còn ngồi ghế giảng đường, anh thường viết thơ trên các tấm bưu thiếp và tặng cho bạn bè. Cho tới khi gặp nhà văn Ben Lerner, anh được biết viết lách có thể là một nghề chuyên nghiệp.

https://baomai.blogspot.com/

Ocean Vương được đánh giá như một cây bút triển vọng, nhận nhiều giải thưởng và khen tặng của các quỹ nghệ thuật, Hiệp hội nhà văn Mỹ. Năm 2016, Vương nhận giải Whiting Award trị giá 50.000 USD cho thể loại thơ.

Trước đó, anh nhận giải thi sĩ trẻ Stanley Kunitz Memorial cho nhà thơ trẻ năm 2012, giải thưởng Pushcart Prize năm 2013…

https://baomai.blogspot.com/

Thơ của Ocean Vương xuất hiện trên nhiều báo, tạp chí Mỹ như The New York Times, Kenyon Review, The Nation, New Republic, The New Yoker…

https://baomai.blogspot.com/

Tới nay có ba cuốn sách của Ocean Vương đã xuất bản: Burning (2010), No (2013),  Night sky with exit wounds (2016).




Tần Tần

image



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự nghèo nàn của văn hóa sách ở Việt Nam



       VIẾT VỀ TÌNH TRẠNG CỦA NHỮNG CON ĐƯỜNG BẢO ĐẢM GIAO THÔNG ĐI LẠI Ở NƯỚC VIỆT NAM TRUNG THẾ KỶ, MỘT NHÀ NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI ĐÃ DÙNG ĐẾN HAI CHỮ ẤU TRÙNG.

       Tôi nghĩ rằng cũng có thể  dùng hai chữ ấy để mô tả tình trạng của sách vở ở ta từ xưa tới nay 
       Gần như dân ta chưa biết làm sách, lại càng không tạo ra được một không gian có ý nghĩa tinh thần cho sách tồn tại và phát triển.   
        Sự nghèo nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.
1. Văn hóa Việt Nam thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ ăn thức uống.
     Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938) của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu biết về Việt Nam (1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy nói tới nghề làm sách và vai trò của sách trong xã hội.

   Bắt đầu từ quan niệm  Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng, xướng họa,... đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương triều mình.

    Phải công nhận trong khi ghi chép và phân loại thành tựu văn hóa trong quá khứ, Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú đi xa hơn cả. Tác giả đã dành cả một chương mang tên văn tịch chí ghi lại sách vở các đời.

    Thế nhưng đó vẫn không phải là lịch sử sách, càng không phải là sự trình bày quan niệm về sách, vai trò của sách vở trong đời sống của người Việt. Mà lý do chính là vì trong xã hội bấy giờ, những ý niệm này chưa xuất hiện, tác giả có muốn cũng không làm được.

    Trong khi đó chỉ cần đọc lướt qua những cuốn lịch sử những nước có nền văn hóa phát triển người ta thấy ở xứ người, sách đã được quan niệm đầy đủ ra sao và  được dành cho một vị trí như thế nào. Sự ra đời của những cuốn sách lớn được ghi nhận như những cái mốc lớn lao đánh dấu thành tựu của cộng đồng trong việc chinh phục thiên nhiên và tự nhận thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình.

    2. Đi vào cụ thể một số mặt trong văn hóa sách.
   Về kiểu loại sách: Nếu trên phương diện kinh tế, hàng hóa chúng ta sản xuất ra đã  quá nghèo nàn về mẫu mã và chủng loại thì ở sách cũng có tình trạng tương tự. Sách được hiểu chủ yếu là các tập thơ tập văn. 
    Trong khi đó, cả ở phương Tây lẫn phương Đông, xuất bản phẩm có nghĩa rộng hơn nhiều, sách thường tổ chức theo một hệ thống thể loại chặt chẽ, bao gồm đủ loại từ các biên khảo, các sách biên niên sử, rồi từ điển và bách khoa thư. Việc làm một cuốn sách một bộ sách có khi được người ta dành cho cả một đời người.

   Về nội dung sách: Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt Nam đã chỉ rõ trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, có quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm mà lại bị làm cho tầm thường đi. 
     Tức theo Phan Ngọc, đây chỉ là một nền xuất bản phục vụ cho việc học để làm quan! 
       Trong số 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Trong sách về thủ công nghiệp chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề...

 Bảo quản giữ gìn sách: Sau khi được sao chép ra với số lượng ít ỏi, sách chỉ có cuộc sống ngắn ngủi.
    Ta hay đổ cho nước ngoài - rõ nhất là thời kỳ quan quân nhà Minh sang đô hộ - tịch thu và tiêu hủy nhiều sách của ta. Song theo Phan Huy Chú, trước đó sách từng là nạn nhân của những cuộc khởi nghĩa, khi Thăng Long bị cướp phá, sách vở đã bị đốt rất nhiều.
   Về sau này, trong các thế kỷ XVII- XVIII, cho tới XIX , tình hình cũng chẳng khá hơn đến mức hai nhà nghiên cứu người Pháp là L. Cadiere và P.Pelliot đã khái quát “ không ở đâu mà cái gia tài kiến thức của một dân tộc  lại tan biến nhanh như vậy”( dẫn theo Tạ Chí Đại Trường, lời mở đầu của sách  Lịch sử nội chiến ở VN từ 1771 đến 1802 – SG  1973)

  Giao lưu với nước ngoài  Một phương diện nữa đánh dấu sự phát triển của văn hóa sách một quốc gia là khả năng quốc gia đó trao đổi sách vở cùng các tài liệu in ấn  nói chung với quốc gia khác, tức là vấn đề xuất nhập khẩu sách (từ đây mở đường cho những cuốn sách lớn trở thành tài sản chung của nhân loại).

    Trong một tài liệu viết về thư tịch chữ Hán ở Nhật Bản (in trên tạp chíNghiên cứu văn học ra ở Hà Nội số 4-2008), tôi thấy người ta cho biết triều đình Nhật có cả một Thư viện gọi là Văn khố hoàng gia, sau gọi làSảnh thư, chuyên cất giữ sách Trung Quốc. Một văn khố khác mang tênVăn khố Hồng diệp sơn hoặc Văn khố nội các, hoặc Quốc lập công văn thư quán, đến nay còn lưu giữ 185.000 quyển. Đại khái có thể ước tính 50% điển tịch đời Tùy, 51,25 % điển tịch đời Đường đã được nhập vào xứ sở Phù Tang.

    Tài liệu trên còn đưa ra một con số: tới đầu thế kỷ XIX từ 70 đến 80% sách in ở Trung Quốc đã được chuyển sang Nhật. Mà ở Trung Quốc sách in ra lúc đó đã tới 100.000 loại (loại chứ không phải cuốn ).

    Còn ở Việt Nam thì sao? Trên tôi đã nói là sử ta không mấy khi nhắc tới việc buôn bán trao đổi sách.
     Chỉ đọc cuốn Lịch sử Đông Nam Á của D.G.E.Hall, một  giả người Anh ( lần đầu in ở SG trước 1975, 1994 được in lại ở HN)  tôi mới thấy ghi thời thế kỷ XVII, chúa Trịnh từng có lệnh cấm truyền tay sách Trung Quốc (sách này do những người Tàu nhập cư mang vào).
     Sang đến đời Nguyễn vua quan có chú ý hơn tới việc học hỏi Trung Hoa qua sách vở, nhưng chưa thể nói là đã có một chủ trương, đừng nói là có một cách tổ chức hợp lý, cho việc du nhập sách ở nước ngoài . Đây cũng là tình trạng giao lưu văn hóa bị hạn chế ở ta suốt thời trung đại.

    Có lần tôi được nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết ngày xưa các vị quan đi sứ, khi về hàng hóa bị kiểm tra rất ngặt nghèo, chỉ có hai thứ được khuyến khích là thuốc quý và sách.
     Nhập hàng theo lối tiểu ngạch như vậy, mà lại nhỏ giọt, nên khi mang về sách trở thành quá ư là quý hóa, thường người mang về chỉ giữ cho riêng mình.
     Tệ nhất là trường hợp nhiều vị trong số các sứ giả ấy  –  vốn không hề có ý thức rằng mình là sứ giả văn hóa – có được sách  mang về liền giấu giấu diếm diếm  rồi thuổng luôn của người ta, lấy của người làm của mình hoặc coi đó làm mẫu, mô phỏng theo. Một đôi khi người có sách lại  kín kín hở hở mang ra khoe nhưng chỉ là để trộ thiên hạ và làm giá cho bản thân.
     Sách ngoại như vậy là chết luôn sau khi vào xã hội Việt, hỏi còn đâu vai trò kích thích việc làm sách trong nước.

VTN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TƯỚNG GIÁP TỪNG CỨU TÔI


FB Hoàng Hải Vân 


TƯỚNG GIÁP

“Khi chân lý do đám đông ban phát, một Hitler có thể được đẻ ra. Khi chân lý do một cá nhân có quyền lực ban phát, một “Sông Đông êm đềm” có thể được tôn vinh và một “Bác sĩ Zhivago” có thể bị vứt vào sọt rác.
  Cuốn sách nổi tiếng “Đường về nô lệ” của F. A. Hayek từng bị phương Tây cấm sau Đại chiến 2, do Liên Xô yêu cầu. Cuốn tiểu thuyết bất hủ “Suối Nguồn” của Ayn Rand từng bị 12 nhà xuất bản Mỹ từ chối”. 
Tôi gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp 2 lần, không viết được bài nào. Nhưng trước khi gặp, ông đã từng cứu tôi.
Vào năm 1985, tôi làm ở Tỉnh Đoàn QN-ĐN. Bí thư là ông Phan Như Lâm, nổi hứng lên lập ra một cái ban, gọi là Ban Nghiên cứu. Tôi được giao làm Trưởng ban, đăng ký một đề tài khoa học với Ủy ban Khoa học-Kỹ thuật của tỉnh. Đó là đề tài điều tra xã hội học về thực trạng thanh niên. Là đề tài được cấp kinh phí từ ngân sách, nên ông thần rừng Hoàng Đình Bá lúc đó phụ trách khoa học xã hội của Ủy ban này hướng dẫn. Một cán bộ của Ủy ban được cử theo dõi là cô Phương Hiền con nuôi của ông Võ Chí Công. Tôi làm chủ nhiệm để tài, anh Hoàng Tuấn Anh (sau này là Bộ trưởng VH-TT&DL) làm phó, nhưng sau đó bận việc không tham gia.
Sẵn có “nước sông công lính” là đội ngũ cán bộ thanh niên hăng hái khắp các địa phương, nên chúng tôi đã tiến hành điều tra chọn mẫu với số lượng lớn tới 15 ngàn người. Tất nhiên người tham gia điều tra được tập huấn kỹ về phương pháp. Phiếu điều tra được xử lý trên máy tính điện tử của Xí nghiệp tính toán, Xí nghiệp này chỉ có một cái máy to bằng một căn phòng. Ngoài ra, một lượng tài liệu lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… được thu thập đem về chất đầy một cái tủ.
Sau một năm rưỡi thực hiện và xử lý thông tin, tôi viết một báo cáo khoa học kèm theo một biểu đồ to bằng nửa bức tường phòng làm việc, được anh Hoàng Đình Bá hướng dẫn vẽ. Khi đưa ra Hội đồng khoa học, tôi trình bày trên cái biểu đồ này.
Tôi trình bày xong, cuộc họp như ong vỡ tổ. Một số hoan nghênh, một số phản đối kịch liệt, bảo tôi bôi đen chế độ. Đó là do tôi phân tích tác hại của chủ nghĩa quan liêu lên thế hệ trẻ, khi dẫn trên biểu đồ về niềm tin của thanh niên đối với Đảng Cộng sản : Niềm tin tỷ lệ nghịch với trình độ học vấn, học vấn càng cao thì niềm tin càng thấp. Mới có 10 năm xây dựng chế độ mới mà chủ nghĩa quan liêu trở thành thâm căn cố đế ăn sâu bủa vây khắp mọi ngõ ngách của cuộc sống bóp nghẹt mọi mầm mống sáng tạo của giới trẻ. Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất đầu tiên là: Tuyên chiến với chủ nghĩa quan liêu.
Việc tôi “bôi đen chế độ” được báo cáo lên lãnh đạo tỉnh. Công an đi điều tra lại lý lịch của tôi. Lãnh đạo tỉnh yêu cầu mời Viện Xã hội học ngoài Hà Nội vào thẩm định. Viện này cử 3 chuyên gia vào thẩm định trong 1 tuần. Kết luận : đề tài được thực hiện hoàn toàn bảo đảm phương pháp nghiên cứu xã hội học, có khen là điều tra mẫu lớn như vậy chưa ai làm nổi, nhưng không có ý kiến về kết quả nghiên cứu. Nghĩa là họ né tránh việc tôi “bôi đen chế độ”.
Rất may là trong Hội đồng khoa học có ông Vũ Quang Thành ủng hộ kết quả nghiên cứu. Ông Vũ Quang Thành là bạn thân ông Đặng Xuân Kỳ con trai cụ Trường Chinh, lúc đó là Viện trưởng Viện Mác – Lenin. Ông Thành đưa bản báo cáo tóm tắt cho ông Đặng Xuân Kỳ xem. Ông Đặng Xuân Kỳ ủng hộ kết quả nghiên cứu nên khi tướng Giáp vào làm việc với tỉnh QN-ĐN ông đưa bản báo cáo cho tướng Giáp. Tướng Giáp lúc đó là Phó Thủ tướng phụ trách khoa học kỹ thuật. Vào Đà Nẵng, tướng Giáp đã dành một đêm đọc bản báo cáo đó, hôm sau trong cuộc làm việc với Tỉnh ủy, ông phát biểu: “Đây là một công trình có giá trị khoa học rất cao, đề nghị Tỉnh ủy nghiên cứu ứng dụng”. Bài phát biểu có đoạn đánh giá này được đăng trên báo QN-ĐN ngày hôm sau.
Tôi thoát nạn, từ một thằng “bôi đen chế độ” tự nhiên biến thành một thằng có thành tích. Kết quả nghiên cứu được in ra phát hành, được trích giới thiệu trên tạp chí Xã hội học và một số báo. Tôi được mời đi Liên Xô dự hội thảo khoa học về thanh niên các nước XHCN.
Tôi buồn thê thảm. Chỉ có anh Bá và anh Phan Duy Nhân là vui. Đối với hai ông đó, dù tướng Giáp có “nói giúp” hay không thì đề tài vẫn là thắng lợi, miễn là tôi không vào tù.
Từ đó tôi cạch đến già, sợ những chuyện liên quan đến khoa học xã hội như sợ lửa. Không phải là tôi ngây thơ. Tôi đã đọc ở đâu đó về số phận của cuốn tiểu thuyết Sông Đông êm đềm của Sholokhov. Theo lý thì đó là cuốn sách chẳng thể tồn tại được dưới chế độ Xô Viết vì nhân vật chính của cuốn sách là Gregori cuối cùng cũng vứt bỏ vũ khí để ôm đứa con nhỏ của mình chứ không đi theo Hồng quân. Nhưng Stalin đã đọc nó và bảo nó hay, nên không ai dám động đến nó, bởi vậy nó mới trở thành tác phẩm kinh điển của văn chương Xô viết nhưng lại được tặng giải Nobel văn chương. Nếu Stalin còn sống để đọc Bác sĩ Zhivago thì liệu Pasternak có bị làm khó dễ hay không ? Cũng rất khó nói.
Làm báo chẳng phải làm khoa học, nhưng khi đi làm báo tôi vẫn gặp lại chuyện tương tự. Đó là khi tôi viết một loạt bài giới thiệu những phát hiện của thiền sư Lê Mạnh Thát về lịch sử, đã bị các ông Dương Trung Quốc, Phan Huy Lê và một số người khác “dùng” báo Đảng để công kích như là đấu tố, dù các ông này chưa hề đọc những tác phẩm của thầy Thát. Các ông kỳ thị sự uyên thâm uyên bác của thầy Thát hơn là kỳ thị tôi. May nhờ có ông Nguyễn Khoa Điềm đã đọc những tác phẩm của thầy và am hiểu lịch sử, đã phát biểu ủng hộ một cách công bằng, nên chiến dịch đấu tố đó mới dừng lại. Còn chuyện về vụ án Năm Cam và vụ PMU18 tôi sẽ nói khi có dịp.
Chuyện của tôi chỉ là chuyện rất nhỏ, nhưng dù những chuyện lớn hơn cũng chớ nên quy kết vào bản chất chế độ. Những chuyện như vậy có ở mọi chế độ. Khi chân lý do đám đông ban phát, một Hitler có thể được đẻ ra. Khi chân lý do một cá nhân có quyền lực ban phát, một “Sông Đông êm đềm” có thể được tôn vinh và một “Bác sĩ Zhivago” có thể bị vứt vào sọt rác.
Cuốn sách nổi tiếng “Đường về nô lệ” của F. A. Hayek từng bị phương Tây cấm sau Đại chiến 2, do Liên Xô yêu cầu. Cuốn tiểu thuyết bất hủ “Suối Nguồn” của Ayn Rand từng bị 12 nhà xuất bản Mỹ từ chối. Thuốc diệt côn trùng DDT vốn là thuốc gây hại cho người và môi trường nhưng Tổ chức Y tế thế giới nói nó không độc nó liền được phun khắp thế giới, khi Tổ chức này hứng lên nói nó gây ung thư thì lập tức nó bị cấm tiệt.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NOBEL VẬT LÝ 2017: CÔNG TRÌNH VỀ SÓNG HẤP DẪN



TBT Hôm nay, 3/10, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển tại Stockholm đã công bố giải thưởng Nobel Vật lý thuộc về 3 nhà khoa học là Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne với công trình nghiên cứu về sóng hấp dẫn (gravitational waves). 

nobel-1507025764569.jpg

http://dantri.com.vn/su-kien/nobel-vat-ly-2017-vinh-danh-3-nha-khoa-hoc-20171003171748942.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cựu chủ tịch Đà Nẵng Hồ Việt đem lỗi của ông Nguyễn Bá Thanh đổ hết lên đầu ông Nguyễn Xuân Anh


Hoàng Hải Vân - Giữa lúc Đà Nẵng nóng lên chuyện sai phạm của lãnh đạo, chuyện thất thoát công sản và chuyện bán đảo Sơn Trà thì trên báo An ninh thế giới cuối tháng xuất hiện một bài báo “lạ”. Đó là bài phỏng vấn cựu Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, ông Hồ Việt.
 cựu Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, ông Hồ Việt
Ông Hồ Việt ca ngợi ông Nguyễn Bá Thanh lên tận mây xanh, coi ông Nguyễn Bá Thanh là “thần tượng của người Đà Nẵng”, đó là quyền tự do ngôn luận của ông Hồ Việt. Thậm chí ông Hồ Việt còn cho rằng việc tố cáo ông Nguyễn Bá Thanh tham nhũng trong xây dựng cầu Sông Hàn trước đây chỉ là một âm mưu, rằng “chúng tôi có những căn cứ để kết luận rằng đó là cuộc đấu tranh quyền lực, họ muốn hạ bệ Bá Thanh chứ không phải có sự tham nhũng của Bá Thanh”, rằng “những người có âm mưu lật đổ ông Thanh thất bại”. Do ông không nói rõ “những người có âm mưu lật đổ” này là ai, nên tôi thấy cũng không phải là chuyện đáng quan tâm.

Nhưng để bảo vệ uy tín cho ông Nguyễn Bá Thanh, ông Hồ Việt lại gán những sai phạm tầy đình thời ông Nguyễn Bá Thanh làm Bí thư và Chủ tịch cho ông Nguyễn Xuân Anh là vấn đề hoàn toàn khác, ít nhất thuộc về tư cách của một tiền bối trong giới lãnh đạo Đà Nẵng như ông Hồ Việt.

Ông Hồ Việt khẳng định “sau khi ông Bá Thanh ra Trung ương rồi qua đời vì bệnh tật, Đà Nẵng chỉ đi xuống chứ không đi lên” là nhận xét không đáng bàn, nhưng tiếp đó ông lại nói : “Thời Bí thư Nguyễn Xuân Anh lãnh đạo, nhiều đảng viên buồn lòng về tình hình thành phố mà không biết tỏ cùng ai.Tiếng nói của người dân thì không được quan tâm. Đất đai thì bị doanh nghiệp thâu tóm, mà vụ Sơn Trà là một ví dụ.Vì bức xúc với tình hình đó mà tôi và nhiều cán bộ lão thành đã viết đơn khiếu nại để bảo vệ Sơn Trà”.

Ai cũng biết điều mà ông Hồ Việt gọi là “đất đai thì bị doanh nghiệp thâu tóm, mà vụ Sơn Trà là một ví dụ” là tình trạng diễn ra dưới thời ông Nguyễn Bá Thanh. Sao lại đổ vấy cho ông Nguyễn Xuân Anh ?

Phóng viên hỏi : “Ý ông là giai đoạn Bí thư Nguyễn Xuân Anh lãnh đạo, Đà Nẵng đi xuống?”. Ông Hồ Việt trả lời : “Tôi chỉ nói đơn cử thế này, trước đây 2 năm, GDP của Đà Nẵng gấp đôi của Quảng Nam. Giờ GDP của Quảng Nam gấp đôi. Đà Nẵng phát triển trước hết là nhờ đất. Bây giờ, đất cho thành phố thì ít mà đất đi vào tay đại gia hết rồi. Đó là nỗi nhục của người dân Đà Nẵng. Tham nhũng xuất hiện nhiều, chính điều này làm giảm đi sự phát triển của thành phố. Những người như chúng tôi, sống ở đây trọn đời, gắn bó với thành phố trọn đời. Đi đâu cũng thấy chẳng nơi nào bằng Đà Nẵng. Nên nhìn thành phố đi xuống, tôi buồn lắm”.

Tôi không biết đất của Đà Nẵng có “đi vào tay đại gia hết rồi" như ông Hồ Việt nói hay chưa, chỉ biết rằng 9 dự án có vấn đề và 31 nhà, đất công sản bán không qua đấu giá mà cơ quan an ninh đang tiến hành đều tra đều được quyết định thời ông Nguyễn Bá Thanh.

Ông Nguyễn Xuân Anh có những sai phạm mà Ủy ban kiểm tra Trung ương đã kết luận, có thể ông còn phải chịu trách nhiệm những sai phạm cụ thể, trong đó có thể có những sai phạm liên quan đến đến một số dự án và đất đai trong thời gian ông àm Bí thư Thành ủy, nhưng nhất định ông Nguyễn Xuân Anh không liên quan đến việc cấp phép trái luật cho các dự án phá nát Sơn Trà cũng như tình trạng đất đai “đi vào tay đại gia hết rồi” diễn ra trước khi ông Nguyễn Xuân Anh làm Bí thư.

“Giậu đổ bìm leo” thì cũng một vừa hai phải. Sao “giậu đổ bìm leo” đến mức đem hết lỗi của ông Nguyễn Bá Thanh đổ xối xả lên đầu một hậu bối mà theo ông Hồ Việt thì kinh nghiệm lãnh đạo “có lẽ con non” như ông Nguyễn Xuân Anh ?
________

Đường link bài phỏng vấn ông Hồ Việt :

http://antgct.cand.com.vn/…/8CUTHANG-Nguyen-Chu-tich-TP-Da…/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Lỗ hổng thời gian" và những vụ mất tích bí ẩn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin nóng: Máy bay MH370 trở về nguyên vẹn sau 4 năm mất tích hạ cánh tạ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang