Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

Do vậy, một lời xin lỗi là chưa đủ!

Thân phận thường dân và nỗi sợ “bị bắt”


>> Nhồi nhét cao ốc vào trung tâm, hạ tầng nào chịu nổi?
>> Cơn lốc “thời trang nhanh” tiếp tục đổ bộ vào Việt Nam


Hoàng Linh
(Dân Việt) Cho dù chính quyền phường Tam Bình, Thủ Đức, TP.HCM đã đưa ra lời xin lỗi hai cô gái bị bắt vào Trung tâm Bảo trợ xã hội nhưng dường như vấn đề vẫn chưa được giải quyết xong.

Đó là câu hỏi về sự an toàn của người dân, quyền nhân thân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại…có thể bị xâm hại cách nghiêm trọng theo kiểu “bỗng dưng bị bắt” chỉ vì vài cán bộ “nóng vội” như cách giải thích như không hề có chuyện gì của cán bộ phường Tam Bình.

Vắn tắt sự việc: khoảng 15h ngày 18.9, Nguyễn Thị Tuyết Nhung (21 tuổi) và Ngô Thị Kiều (16 tuổi, quê Đồng Nai) từ quận 2, TP.HCM xuống quán của người quen tại khu phố 5, phường Tam Bình (quận Thủ Đức) uống cà phê.

Đến 16h, lực lượng công an phường Tam Bình đi tuần tra kiểm tra hành chính các hộ kinh doanh trên địa bàn.

Khi kiểm tra quán cà phê nơi Nhung và Kiều ngồi, hai cô gái không xuất trình được chứng minh thư hay bất cứ giấy tờ nào chứng minh nhân thân nên bị mời về trụ sở Công an phường Tam Bình làm việc.

Chủ quán nơi Nhung và Kiều uống cà phê đã tới Công an phường Tam Bình xin bảo lãnh cho cả hai. 

Tuy nhiên, Công an phường Tam Bình không đồng ý, đồng thời đã lập hồ sơ đưa Nhung và Kiều vào Trung tâm Hỗ trợ xã hội ở 463 đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh.

Mãi tới ngày 27.9, Nhung và Kiều mới được về với gia đình.

Điều đáng lưu ý là không có quy định nào nếu không có CMND trong thời điểm kiểm tra thì đưa người vào trạm trung chuyển.

Trạm trung chuyển tên chính thức là trung tâm hỗ trợ xã hội nơi tạm giữ những người lang thang vô gia cư, không xác định được nơi cư trú, người ăn xin lang thang…

Đó không phải là nơi dành cho người bình thường, hồ sơ rất chặt chẽ, là nơi thật sự khủng khiếp với bất cứ ai và không dành riêng cho 2 cô gái trẻ.

Người thi hành công vụ không thể nghi ngờ bất kỳ ai để ra một quyết định tác động đến quyền công dân, quyền nhân thân của họ.

Nhưng cho dù xử lý thế nào thì việc cũng đã xảy ra rồi và với nạn nhân của họ là 2 cô gái bị bắt thì hậu quả chưa dừng lại. 

Nguyễn Thị Tuyết Nhung (21 tuổi, quê Tiền Giang) cho biết từ ngày 27.9 được ra khỏi Trung tâm Hỗ trợ xã hội thì em rất lo lắng, mệt mỏi.

"Nhiều bạn bè có gọi điện hỏi thăm, động viên em, trong đó rất nhiều người cũng bất ngờ về vụ việc em không có CMND bị đưa vào Trung tâm Hỗ trợ xã hội.

Tuy nhiên, em buồn bã nhất là mấy ngày nay có nhiều trang Facebook, nhiều người không hiểu vụ việc lên mạng xã hội đăng tải hình ảnh của hai chúng em rồi nói hai con này chắc làm gái, không ra gì... nên Công an họ mới bắt rồi đưa lên Trung tâm Hỗ trợ xã hội chứ bình thường ai dám làm vậy.

Em xin khẳng định là em và Kiều làm ở quán cà phê khu vực quận Phú Nhuận. Chủ quán cà phê đó mấy hôm nay cũng có hỏi thăm em ổn định chưa rồi đi làm trở lại. Tuy nhiên do lo sợ, mệt mỏi, nhiều người trong quán nghĩ này kia nên em chưa dám đi làm.

Tụi em đi làm kiếm tiền để sống bình thường chứ không có làm gì bậy bạ gái gú như người ta đồn đại hết. Chiều nay chính quyền đã nhận sai, xin lỗi gia đình và hai đứa em. Xin mọi người hãy thôi suy nghĩ xấu về em và Kiều, đừng làm tổn thương chúng em nữa!"

Chúng ta không hình dung được những gì mà hai cô gái vô tội phải chịu đứng trong tuần lễ nghiệt ngã đó và hai cô cũng không muốn nhắc lại.

Sợ lắm, đó là tâm lý của hai cô gái này và những ai đọc các bản tin có liên quan mấy hôm nay. Cứ thử đặt vấn đề con em chúng ta ra phố và không trở về vì “bỗng dưng bị bắt” và chúng ta phải làm khá nhiều thủ tục mới lãnh con em mình ra được từ một nơi không dành cho người bình thường. Rồi phải giải quyết, trị liệu dư chấn tâm lý kéo theo nữa.

Sự bảo hộ của Nhà nước pháp quyền đối với công dân bị phá vỡ bởi những cán bộ kém hiểu biết hoặc có động cơ khác ở cấp cơ sở mới là điều đáng sợ và đáng báo động ở đây. 

Nó cảnh báo rằng tất cả chúng ta đều không an toàn, chúng ta có thể “bỗng dưng bị bắt” chỉ vì quên đem theo CMND hoặc cũng có thể là vì một lý do trời ơi nào đó.

Do vậy, một lời xin lỗi là chưa đủ!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Bước ra từ bóng tối

 


Trong suốt quá trình phát triển, loài người đã đi những bước dài trên con đường tiến hoá của mình. Đó là quá trình thay đổi nhận thức để cải tạo môi trường tự nhiên và thế giới. Giữa đêm trường của sự dã man và hoang dã, loài người đã thay đổi tư duy nhận thức của mình, một bước tiến vĩ đại để xây dựng xã hội văn minh thay vì sự tối tăm và mông muội. Bằng cách đó mà từ bóng tối mịt mùng vô định, loài người đã bước ra ánh sáng của sự văn minh và tiến bộ.
Khi đã có được ý thức về đời sống cộng đồng, con người sống tập trung thành những bầy người nguyên thuỷ. Và chế độ cộng sản nguyên thủy cũng là hình thái kinh tế – xã hội đầu tiên của lịch sử nhân loại. Xã hội đó không có giai cấp, nhà nước và pháp luật. Xã hội nguyên thuỷ có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động thô sơ, con người thì chưa có nhận thức đúng đắn về môi trường thiên nhiên cũng như bản thân mình. Con người trong xã hội nguyên thuỷ chưa có khả năng trong việc cải tạo thiên nhiên mà bất lực và phải sống dựa vào môi trường tự nhiên. Họ sống dựa vào nhau để cùng lao động và chống lại những hiểm nguy của môi trường tự nhiên quanh mình. Họ cùng hưởng thụ những thành quả lao động của mình trên nguyên tắc mình quân. Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không có ai có tài sản riêng vì thế mà không có sự phân biệt giàu nghèo và không có giai cấp. Tế bào xã hội đầu tiên của loài người là thị tộc, đó là kết quả của một quá trình tiến hoá lâu dài, nó chỉ xuất hiện khi xã hội nguyên thuỷ đã phát triển đến một trình độ nhất định. Sự xuất hiện của tổ chức thị tộc là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại, nó đã đặt nền móng cho việc hình thành hình thái kinh tế – xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người: Cộng sản nguyên thuỷ.
Tổ chức thị tộc có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Mọi người đều tự do, bình đẳng, không có đặc quyền đặc lợi dành cho riêng một cá nhân nào. Thị tộc tồn tại dựa trên sự phân công lao động đơn giản giữa đàn ông và đàn bà, giữa người già và người trẻ để thực hiện những công việc khác nhau, những hoạt động này chưa mang tính xã hội rộng lớn. Thị tộc tổ chức theo huyết thống. Ban đầu do những điều kiện về kinh tế, xã hội và hôn nhân mà thị tộc được tổ chức theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ đóng vai trò chủ đạo. Dần dà, sự phát triển về kinh tế xã hội đã tác động và làm thay đổi quan niệm cũng như quan hệ hôn nhân, vị trí của người phụ nữ đã đóng vai trò thứ yếu và nhường lại vai trò chủ đạo cho đàn ông, vì thế chế độ mẫu hệ đã chuyển thành chế độ phụ hệ.
Xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã tồn tại quyền lực và hệ thống quản lý đơn giản các công việc của thị tộc nhưng cũng mới chỉ mang tính xã hội chứ chưa mang tính giai cấp. Quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà hoà nhập và gắn liền với xã hội, nó phục vụ lợi ích cho cả cộng đồng. Hội đồng thị tộc xuất hiện để tổ chức và quản lý thị tộc. Đó là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc mà thành viên của nó bao gồm những người lớn tuổi. Hội đồng quyết định tất cả những vấn đề quan trọng như tổ chức lao động, tiến hành chiến tranh, tổ chức các nghi lễ tôn giáo, giải quyết những tranh chấp nội bộ…; quyết định của hội đồng là ý chí chung của thành viên và trở thành bắt buộc đối với mọi người trong thị tộc. Đứng đầu hội đồng thị tộc là những tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự…để thực hiện quyền lực và quản lý những công việc chung. Thị tộc là tổ chức cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thuỷ, là một cộng đồng xã hội độc lập. Dần dà, các thị tộc mở rộng quan hệ với nhau đã dẫn đến sự xuất hiện của Bào tộc và Bộ lạc. Các Thị tộc hợp lại với nhau để trở thành Bào tộc, với việc tổ chức quyền lực dựa trên cơ sở tổ chức quyền lực của Thị tộc nhưng với quy mô lớn và mức độ tập trung quyền lực cao hơn. Các Bào tộc liên kết lại với nhau thành Bộ lạc, tuy nhiên quyền lực trong các bộ lạc vẫn chỉ mang tính xã hội, chưa mang tính giai cấp.
Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất đã tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ, đòi hỏi sự phân công lao động tự nhiên phải được thay thế bằng sự phân công lao động xã hội. Sự phân công lao động đó giúp cho năng suất lao động và số lượng sản phẩm tăng lên, vì thế mà xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã có sản phẩm dư thừa và tích luỹ. Đó là mầm mống sinh ra chế độ tư hữu, đã có khái niệm và sự tồn tại của các thành viên giàu và nghèo trong xã hội. Việc tồn tại các tầng lớp người khác nhau trong xã hội là tiền đề cho sự xuất hiện của một xã hội có giai cấp. Và khi tồn tại xã hội có giai cấp thì nhà nước xuất hiện. Đó là một bước tiến dài trong quá trình phát triển và tiến hoá của lịch sử nhân loại. Từ những bầy người nguyên thuỷ sống hoang dả con người đã phát triển thành một xã hội có tổ chức, từ bóng tối của sự mông muội loài người đã bước ra ánh sáng của sự phát triển và tiến bộ.
Sự hình thành nhà nước và pháp luật
Khi chế độ thị tộc tan rã và hình thành nên những giai cấp khác nhau trong xã hội thì nhà nước xuất hiện. Đó là quá trình khách quan, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một trình độ và giai đoạn nhất định. Nhà nước là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, với nhiệm vụ điều hoà các mối quan hệ và xung đột xã hội, giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng của trật tự.
Những hình thức nhà nước điển hình đầu tiên của lịch sử nhân loại đã xuất hiện và được biết đến như:
-       Nhà nước A-ten: là hình thức thuần tuý và cổ điển nhất. Nhà nước A-ten được nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp và phát triển ngay trong nội bộ xã hội Thị tộc.
-       Nhà nước Rô-ma: Đó là kết quả của một cuộc cách mạng với thắng lợi của giới bình dân chống lại giới quý tộc thị tộc Rô-ma.
-       Nhà nước của người Giéc-manh: Được hình thành từ việc tộc người Giéc-manh chinh phục đất đai rộng lớn của các tộc người khác…
So với tổ thức thị tộc thì nhà nước có hai đặc trưng riêng biệt cơ bản là sự phân chia dân cư theo lảnh thổ và thiết lập quyền lực cộng đồng. Tổ chức thị tộc được hình thành và duy trì trên cơ sở của quan hệ huyết thống. Sự hình thành chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp trong xã hội đã làm cho những quan hệ huyết thống trở nên suy yếu và dần biến mất đi. Sự chuyển dịch dân cư không ngừng làm cho các thị tộc không thể giữ vững được hình thức khép kín nữa. Quá trình này làm cho sự giao thoa giữa các thị tộc, bộ lạc diễn ra mạnh mẽ, và tổ chức thị tộc chuyển hóa từng bước thành tổ chức hành chính – lảnh thổ. Các công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo nơi cư trú mà không kể họ thuộc thị tộc hay bộ lạc nào. Đó là đặc điểm tổ chức công dân theo lảnh thổ của nhà nước. Đặc điểm thứ hai của nhà nước là sự thiết lập một quyền lực công cộng không còn hoà nhập với cư dân nữa. Quyền lực đó chỉ thuộc về giai cấp thống trị và phục vụ cho giai cấp thống trị. Để thực hiện quyền lực đó thì cần tổ chức một bộ máy nhà nước thông qua một lớp người đặc biệt và bộ máy cưỡng chế gồm quân đội, cảnh sát, toà án…và những công cụ vật chất khác.
Giai cấp thống trị đã dùng quyền lực nhà nước để đặt ra các loại thuế, bắt buộc công dân phải đóng góp để nuôi dưỡng một bộ máy mà về thực chất chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước vì thế, mà ngày càng trở nên xa lạ đối với xã hội. Nguyên tắc nhà nước tồn tại dựa trên sự tự nguyện của công dân không còn đứng vững nữa, vì vậy mà giai cấp thống trị phải sử dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước và do đó pháp luật cũng ra đời. Có thể nói, cùng với sự ra đời của nhà nước thì pháp luật cũng xuất hiện. Nguồn gốc của pháp luật là các tập quán pháp và văn bản do nhà nước ban hành. Pháp luật là một hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành nhằm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị. Pháp luật đồng thời cũng là tổng thể các quy phạm để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong xã hội con người. Nhà nước và pháp luật là sự sáng tạo vĩ đại của con người trên bước đường tiến hoá và phát triển của mình. Từ nay xã hội được phát triển một cách có quy củ và trật tự, con người được bảo vệ thông qua một tổ chức chung mà mình đã lập nên, đó là nhà nước.
Các hình thái kinh tế – xã hội
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua những hình thái kinh tế, xã hội sau:
-       Công xã nguyên thuỷ;
-       Chiếm hữu nô lệ;
-       Phong kiến;
-       Tự do – dân chủ.
Hình thái công xã nguyên thuỷ chúng ta đã đề cập ở trên, dưới đây là sơ lược về nội dung các hình thái kinh tế – xã hội khác:
Chế độ chiếm hữu nô lệ
Là kết quả của cuộc cách mạng xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người, thực hiện bước chuyển từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ lên chế độ nô lệ. Đặc trưng của nó là đã thay thế chế độ công hữu về tư liệu sản xuất bằng chế độ tư hữu chủ nô, thay thế xã hội không có giai cấp bằng xã hội có giai cấp đối kháng; thay thế chế độ tự quản thị tộc – bộ lạc bằng trật tự có nhà nước của giai cấp chủ nô. Chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành hai giai cấp đối kháng chính yếu là chủ nô và nô lệ. Giai cấp chủ nô nắm trong tay toàn bộ tư liệu sản xuất, bóc lột sức lao động của nô lệ hết sức dã man và coi họ như những công cụ biết nói. Chính những người nô lệ đã lao động và làm ra mọi của cải vật chất cho xã hội, tạo nên sự thịnh vượng và giàu có cho tầng lớp chủ nô cũng như những kẻ cai trị. Những thành quách, đền đài rực rỡ được xây dựng bằng việc cưỡng bức và bóc lột sức lao động của những người nô lệ. Nhà nước chủ nô sử dụng bộ máy của mình trấn áp giai cấp nô lệ và duy trì quyền lực của mình, đây cũng là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử loài người: Nhà nước chủ nô.
Chế độ Phong kiến
Đây là cuộc cách mạng thứ hai và là hình thái kinh tế – xã hội thứ ba của nhân loại. Chế độ nô lệ được thay thế bằng chế độ phong kiến với giai cấp thống trị mới là quý tộc - địa chủ, và giai cấp bị trị là nông nô. Phương pháp bóc lột sức lao động trực tiếp của nô lệ trước đây được thay thế bằng hình thức bóc lột địa tô; người nông dân được giao đất đai và canh tác trên những mảnh ruộng của mình, đến kỳ họ nộp tô thuế cho địa chủ. So với chế độ chiếm nô thì hình thức lao động trong thời kỳ phong kiến đã phát triển và tiến bộ hơn rất nhiều, tuy bị bóc lột nhưng người nông dân có thể giữ lại sản phẩm dư thừa do sức lao động mình làm ra. Có thể nói chế độ phong kiến là kết quả của một cuộc cách mạng trong quan hệ tổ chức, quản lý nhà nước ở trình độ thấp. Đồng thời nó cũng tiến thêm một bước hướng tới sự bình đẳng của con người trong xã hội. So với chế độ chiếm hữu nô lệ trước đó thì chế độ phong kiến là một bước tiến đáng kể về tổ chức xã hội (nhiều giai cấp và tầng lớp mới đã xuất hiện), sự công bằng và những giá trị tốt đẹp khác cho con người.
Chế độ tự do - dân chủ
Là thành quả vĩ đại nhất mà loài người có được trong suốt quá trình phát triển lịch sử cách mạng xã hội của mình. Đó thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng thân thể, giải phóng tư tưởng của con người. Một xã hội của tự do nhân bản và mở ra những hy vọng to lớn cho tương lai loài người. Mở đầu là cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại giai cấp quý tộc - địa chủ do những mâu thuẫn về phương thức lao động cũng như việc sử dụng tư liệu sản xuất. Công cụ và phương thức lao động được cải tiến đã thúc đẩy cuộc cách mạng tư sản nhằm phù hợp hơn với trình độ sản xuất mới. Giai cấp tư sản đã nổi dậy đấu tranh chống giai cấp phong kiến thống trị cả về phương diện chính trị, kinh tế và tư tưởng và đỉnh cao của nó là cuộc cách mạng xã hội. Trong chế độ tự do – dân chủ những nhận thức về tư tưởng con người được nở rộ. Các quyền cá nhân được xác lập và thừa nhận như là một sự hiển nhiên gắn liền với con người. Sở hữu cá nhân được coi như là một quyền “thiêng liêng, bất khả xâm phạm”.
Nhà nước tư sản là một thể chế dân chủ, đã xác lập nên: Nghị viện, quyền tự do dân chủ, phổ thông đầu phiếu …; những thể chế này đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân chủ cũng như nền văn minh nhân loại.
Tự do, tiến bộ và văn minh
Một cuộc hành trình dài với nhiều biến thiên của lịch sử nhân loại để có thể tiến tới xã hội văn minh ngày nay. Một bước tiến của mấy ngàn năm, từ bóng tối của đêm trường Trung cổ loài người đã bước ra ánh sáng của sự văn minh tiến bộ. Có thể nói đó là một bước tiến vĩ đại, một bước tiến khổng lồ!
 Giờ đây, chúng ta đang sống trong những năm đầu của thập kỷ thứ 2, thế kỷ 21. Con người đang được sống trong các chế độ xã hội tự do – dân chủ. Lực lượng sản xuất của nhân loại đã được phát triển ở một trình độ cao vượt bực. Trình độ nhận thức và tri thức của con người đã trở nên phổ cập bởi cách mạng thông tin và khoa học kỹ thuật. Điều đó giúp cho nhận thức của con người về một xã hội tự do, dân chủ là rõ ràng hơn bao giờ hết. Mối liên kết của con người vì vậy mà trở nên đơn giản hơn ở phạm vi toàn cầu. Tuy vậy, tại một số quốc gia độc tài trên thế giới, các chính phủ độc tài vẫn cố gắng lừa dối và kìm kẹp người dân để họ không thể tiếp cận được với các tư tưởng và thông tin tiến bộ. Họ bưng bít thông tin, cấm đoán người dân thực hiện các quyền tự do căn bản của mình bằng hình thức độc tài toàn trị. Những chế độ độc tài này đã vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do căn bản của con người. Họ ngăn cản bước tiến của lịch sử nhằm phục vụ cho sự cai trị độc tài và những lợi ích xấu xa. Lịch sử sẽ xoá bỏ và phán xét các chế độ độc tài, vì một chân lý rõ ràng rằng: - Không ai có thể cản được bước tiến của lịch sử, ngăn cản được bước tiến của loài người tới sự văn minh và tiến bộ! Tự do, dân chủ là đích đến của mọi quốc gia, dân tộc. Chỉ trong một xã hội tự do - dân chủ thì mọi quyền lợi của cá nhân mới được tôn trọng và thừa nhận trên thực tế. Vì thế những giá trị cao quý và tốt đẹp của con người mới được thiết lập.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hãy cho Tập Cận Bình một lằn ranh đỏ





Chỗ công khai, chỗ bí mật
Dụ dỗ dọa nạt
Coi thường
Tâng bốc
bài học, học bài

Hiện tại, 
Lịch sử
Tương lai đủ loại

Vẫn đang thiếu một lằn ranh đỏ
cho Tập Cận Bình 
những lằn ranh đỏ

Những Bà Trưng, Bà Triệu
Bạch Đằng
Như Nguyệt
Chi Lăng
Đống Đa
Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội
Vị Xuyên - Gạc Ma
Hoàng Sa - Trường Sa 


Hãy cho Tập Cận Bình biết một lằn ranh đỏ
Mới tươi màu máu
Cả trăm triệu con người
Ngàn năm đánh trận
Lương tri tràn ngập thông tin toàn cầu

Hãy cho Tập Cận Bình
biết một lằn ranh đỏ
Màu máu Việt Nam tôi!

Lãn Ông
9 - 2015
-----------------

*Hôm nay là ngày giỗ Đức Ngô Quyền. Trời Xứ Đoài mưa như trút. Ngô Vương cho ý chỉ hãy biến Biển Đông thành Bạch Đằng Giang năm nào, dìm sâu lũ bành trướng cướp nước và lũ bán nước chăng?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiến tranh Việt Nam...


chúng ta hãy quay trở lại tháng 11 năm 1971 với câu chuyện đối thoại giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng. Mao Trạch Đông nói: “Cán chổi ngắn quá, không thể quét tới nơi quá xa được. Đối với Đài Loan, chổi của chúng tôi phải với hơi xa mất một chút. Đồng chí ạ, Nguyễn Văn Thiệu Miền Nam Việt Nam cũng nằm ngoài phạm vi năng lực của các đồng chí, chúng ta phải chấp nhận tình hình này.” Phạm Văn Đồng trả lời: “Chổi của Miền Bắc Việt Nam cũng đủ dài đấy.”
Từ trái qua, theo chiều kim đồng hồ: Fidel Castro, Mao Trạch Đông, Leonid Brezhnev, TBT ĐCS Liên Xô; Gustáv Husák, Bí thư Thứ nhất của ĐCS Czechoslovakia; Władysław Gomułka, Bí thư Thứ nhất ĐCS Ba Lan. Ảnh: Time

Huỳnh Tấn Bửu - Đối với Đông Nam Á, thập kỷ 70 là những năm tháng xảy ra lắm chuyện. Năm 1964 bùng nổ chiến tranh Việt Nam, không những xảy ra thương vong cực lớn, mà ở đây đã trở thành chiến trường giao tranh giữa hai tập đoàn lớn – Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa tư bản.

Sự thất bại của Mỹ làm thành trò cười cho người đời, đây là một sự thực mà ai cũng thấy. Còn đằng sau sự thành công của Trung Quốc lại ẩn chứa vô số nguy cơ, rất cần phanh phui nó ra, rất cần nghiên cứu.

Trung Quốc luôn luôn lo sợ Việt Nam thống nhất và mạnh lên, họ càng sợ Nam, Bắc Việt Nam bắt tay hợp tác với nhau. Ý kiến khác nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam về chiến lược chiến tranh Việt Nam nảy sinh chính từ bối cảnh này.

Trung Quốc muốn làm theo chiến thuật kéo dài và chậm lại, còn Việt Nam lại muốn đánh nhanh, giải quyết nhanh. Tiếp sau đó, năm 1969 xảy ra xung đột biên giới Trung – Xô làm cho Trung Quốc cảm thấy mối đe dọa lớn nhất không phải là Mỹ, mà là Liên Xô. Cách nhìn của Bắc Kinh về cục diện thế giới đã có sự thay đổi, họ bắt đầu nhích lại gần Mỹ, xa rời Liên Xô.

Tuy Việt Nam bao giờ cũng tính chuyện giữ vị trí trung lập giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhưng sau khi Liên Xô chiếm một trong những nguyên nhân chính là do Liên Xô đã cung cấp cho Hà Nội nhiều vũ khí hiện đại, còn Trung Quốc thì chưa có khả năng về phương diện này. Một nguyên nhân nữa làm cho Trung – Việt bị chia rẽ là do nổ ra xung đột Việt Nam Cămpuchia, Chính phủ Cămpuchia thân với Trung Quốc thì tự nhiên làm cho Việt Nam phải sát với Liên Xô. Liên Xô và Trung Quốc luôn tự coi mình là kẻ bảo hộ truyền thống của châu Á, rất nhiều lợi ích của hai nước này đều gửi gắm vào các nước láng giềng nhỏ bé; ngược lại, các nước Cộng sản ở Đông Nam Á cũng có lợi ích trông mong vào Liên Xô và Trung Quốc. Chiến tranh Việt Nam đã làm cho Hà Nội có thể duy trì “trung lập” giả vờ, nhưng đến khi kết thúc chiến tranh thì Việt Nam tất phải chỉ được chọn lấy một trong hai, hoặc Liên Xô, hoặc Trung Quốc. Sự lựa chọn này tất nhiên phải suy xét đặt lợi ích lên hàng đầu.

Việt Nam đã lựa chọn Liên Xô, trước hết là do họ không có oán thù nhau trong lịch sử, thứ hai là Liên Xô không gây cho Việt Nam cảm giác an ninh biên giới bị đe dọa. Điều quan trọng nhất là do Liên Xô giàu có hơn Trung Quốc, có thể cung cấp cho Việt Nam những vũ khí, kỹ thuật hiện đại, giúp cho Việt Nam mở rộng được thế lực ở Đông Dương.

Trong chương này chúng ta thảo luận sơ lược tình hình diễn biến về sự khác nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam trên mặt chính sách và ngoại giao, ngoài ra còn nêu thêm vấn đề biên giới và Hoa kiều. Trung Quốc luôn coi hai vấn đề này là nguyên nhân để họ phát động cuộc phản kích, nhưng sự thật chúng chỉ là công cụ của mục đích chính trị thực chất của họ. Sau khi Trung Quốc ra sức tuyên truyền, họ đã đạt hiệu quả lớn nhất là kích động được sự phẫn nộ của dân chúng và cũng chỉ làm được như vậy thì Trung Quốc mới có thể thuận lợi tiến hành một cuộc “Chiến tranh chính nghĩa dân tộc”.

Trung Quốc, đồng minh lớn của Bắc Việt đã phản bội họ trong chuyến thăm của Nixon đến Trung Quốc. Và cũng tại thời điểm này, thuật ngữ ngoại giao “ngoại giao bóng bàn” được ra đời với hàm ý có qua có lại, hai bên cùng có lợi. Ảnh: internet/ QHQT

Chiến lược quân sự của hai bên Trung – Việt trong chiến tranh Việt Nam

Do cách nhìn khác nhau về chiến lược nên đã làm lung lay quan hệ giữa hai nước Trung Quốc, Việt Nam. Hà Nội cho rằng Bắc Kinh kiếm lợi trong việc kéo dài chiến tranh Việt Nam, còn Mátxcơva thì nhân đó thấy có lợi cho mình nên đã rất nhẫn nại tăng thêm mối nghi ngờ của Hà Nội đối với Bắc Kinh.

Trong trình bày ở tiết này, chúng ta có thể thấy rõ chiến lược của Trung Quốc đối với Việt Nam có chỗ rất giống với chính sách của Sta-lin đối với Trung Quốc vào hồi những năm 1940. Chiến lược của Trung Quốc lâu nay vẫn có ba nguyên tắc chính: xây dựng lực lượng phòng ngự tích cực; lợi dụng cách đánh khôn khéo trong chiến tranh để chống lại sức mạnh quân sự ưu thế hơn của đối phương; chiến tranh nhân dân. Rất rõ, đó là sản phẩm của tư tưởng Mao Trạch Đông trong thời kỳ nội chiến ở Trung Quốc. Về mặt này do Việt Nam đã luôn phải tiến hành các cuộc chiến tranh trong nước, cho nên họ có điều kiện phát triển chiến lược của mình, ứng dụng tổng hợp chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân và tiêu diệt chiến tranh quy mô lớn. Chiến dịch Điện Biên Phủ nổi tiếng là một thí dụ như vậy.

Có một điều khiến người ta cảm thấy như là một sự châm biếm, đó là nhiều nhà quan sát của Trung Quốc và nước ngoài tỏ rõ ý kiến rằng, thắng lợi của cuộc chiến tranh này lại chính là do Việt Nam đã không thành thạo vận dụng chiến lược đại quy mô của Trung Quốc cùng với cố vấn và viện trợ quân sự. Sau năm 1966, Trung Quốc và Việt Nam bất đồng ý kiến với nhau là do những việc có liên quan đến sự lựa chọn nên dùng chiến lược nào để tiến hành đấu tranh ở Miền Nam Việt Nam. Trung Quốc muốn tránh sự báo thù của Mỹ và không muốn có một Việt Nam thống nhất, hiếu chiến, nên chủ trương phải tiến hành “chiến tranh nhân dân” trường kỳ. Việt Nam cũng đồng ý chiến lược “chiến tranh nhân dân”, nhưng lại chủ trương phải đánh được những trận quy mô lớn vào lúc thích hợp. Trung Quốc chủ trương “chiến tranh nhân dân” trường kỳ là dựa trên nhiều lý do. Đầu tiên là Trung Quốc muốn trói chặt cả hai tay của Mỹ và tiêu hao sức chiến đấu của nó. Lawson nói: “Loại chiến tranh này rất thích hợp với Mao Trạch Đông dùng để đối phó với sức mạnh của Mỹ, muốn làm cho Mỹ bị sa lầy trong các chiến trường trên thế giới, với chỗ này, mất chỗ khác, luôn phải đối phó”. Thế nhưng Bắc Kinh không lường trước được Mỹ nhanh chóng rút khỏi Miền Nam Việt Nam.

Thoạt đầu Bắc Kinh có dự liệu rằng Mỹ chịu sức ép trong nước, nên sẽ khó mở rộng chiến tranh. Hơn nữa, đây cũng là một cuộc chiến tranh ôn hòa, khó tạo nên động cơ Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân, hoặc cũng khó dẫn đến một cuộc quyết liệt như chiến tranh Triều Tiên. Bởi vì tất cả những điều đó đều rất làm tổn hại đến Trung Quốc khi còn chưa phục hồi kinh tế do đại nhảy vọt bị thất bại, và gây cản trở các hành động của cuộc Cách mạng văn hóa.

Ngoài việc muốn tránh xung đột với Mỹ, Bắc Kinh còn cho rằng, đánh du kích lâu dài sẽ có tác dụng làm giảm bớt các loại vũ khí hiện đại chính xác. Cuối cùng Bắc Kinh cho rằng, nếu Việt Nam vận dụng thành công sách lược của Trung Quốc, sẽ có thể chứng minh cho thế giới thứ ba thấy rõ tư tưởng Mao Trạch Đông và kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc hơn đứt Liên Xô một nước. “Sách trắng” của Việt Nam công bố năm 1979 nêu rõ, trong thời gian chiến tranh Việt Nam, Hà Nội có những quan điểm không giống với Bắc Kinh.


Tiến hành chiến tranh trong lòng địch, một cụm từ của Hà Nội nhưng nếu quy chiếu theo về các định nghĩa của khủng bố, thì những cuộc tấn công của lực lượng biệt động Sài Gòn là hành vi khủng bố.

Hà Nội cho rằng, sở dĩ Bắc Kinh chủ trương đánh du kích lâu dài ở Miền Nam Việt Nam là vì “Họ không muốn chiến tranh Việt Nam kết thúc sớm. Không những họ muốn làm tiêu hao, làm yếu lực lượng quân cách mạng Việt Nam, mà đồng thời còn để đạt được các mục tiêu lợi ích riêng của họ. Chiến tranh kéo càng dài, họ càng có thể vỗ ngực trổ tài “viện trợ cho Việt Nam”, giương cao lá cờ “triệt để cách mạng” tập trung sức mạnh vào châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh để tăng cường cho phong trào chống Liên Xô”. Trong thời kỳ đang còn chiến tranh, Hà Nội luôn nhấn mạnh hai vấn đề: một là Bắc Kinh “không hiểu tình hình chính trị ở Miền Nam Việt Nam, nên rất ít đề cập đến nó”; hai là, “phong trào chống chiến tranh” ở Mỹ”. Sự khác nhau về chiến lược giữa Trung, Việt đã dẫn đến các quan điểm khác nhau của hai bên đối với việc đàm phán.

Khi Mátxcơva ép Hà Nội đàm phán với Mỹ, thì Bắc Kinh cho rằng, Hà Nội đi theo con đường của “Chủ nghĩa xét lại”. Đồng thời khi Trung Quốc tiến hành đàm phán với Mỹ khiến Việt Nam cho rằng, Bắc Kinh sẽ yêu cầu một Việt Nam chia cắt. Khi Mỹ đang rút dần khỏi Miền Nam Việt Nam, Trung Quốc bắt đầu lo lắng đến ảnh hưởng của Liên Xô đối với Hà Nội sẽ ngày càng lớn, vì vậy cũng làm cho Trung Quốc phải bắt đầu sao nhãng phong trào cộng sản ở Đông Nam Á.


Trong chương sau chúng ta sẽ thảo luận tiếp về sự khác nhau về chiến lược giữa Trung Quốc và Việt Nam ảnh hưởng đến quan hệ hai nước như thế nào. Hiện ở cuối tiết này, chúng ta hãy quay trở lại tháng 11 năm 1971 với câu chuyện đối thoại giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng. Mao Trạch Đông nói: “Cán chổi ngắn quá, không thể quét tới nơi quá xa được. Đối với Đài Loan, chổi của chúng tôi phải với hơi xa mất một chút. Đồng chí ạ, Nguyễn Văn Thiệu Miền Nam Việt Nam cũng nằm ngoài phạm vi năng lực của các đồng chí, chúng ta phải chấp nhận tình hình này.” Phạm Văn Đồng trả lời: “Chổi của Miền Bắc Việt Nam cũng đủ dài đấy.”

Huỳnh Tấn Bửu
Quan hệ Quốc tế

Phần nhận xét hiển thị trên trang

PBS: Phim "Cuộc Chiến Việt Nam" _ Phụ đề tiếng Việt


https://baomai.blogspot.com/

https://baomai.blogspot.com/










Phần nhận xét hiển thị trên trang

Catalonia và lá cờ vàng bốn sọc đỏ


https://baomai.blogspot.com/
Cờ nền vàng vạch đỏ đã có từ thế kỷ 11 - 12 trên gia huy của các vị vương xứ Aragon

Trong các cuộc đấu tranh của phe ly khai Catalonia tuần này người ta thấy hai lá cờ.

Một cờ vàng bốn sọc đỏ, tức La Senyara, là cờ chính thức của Vùng tự trị Catalonia.

https://baomai.blogspot.com/

Một lá cờ khác, cũng nền vàng có sọc đỏ nhưng còn có ngôi sao trắng trên nền xanh ở góc trái lá cờ, là L'Estellada, không được coi là chính thức.

Lịch sử hai lá cờ này cũng gắn chặt với lịch sử vùng đất nằm về phía Đông Bắc Tây Ban Nha, giáp nước Pháp và có tinh thần độc lập đang dâng lên.

Bốn ngón tay chảy máu

https://baomai.blogspot.com/

Người Catalonia (hiện có khoảng 7,5 triệu) luôn tự hào về lá cờ vàng bốn sọc đỏ.

Chính thức mà màu cờ vàng sọc đỏ là của cả Vùng Tự trị Tây Ban Nha gồm Catalonia, Aragon, các đảo Balearic, và cả Valencia.

Ngoài ra, các thành phố nói tiếng Catalan ở bên ngoài Tây Ban Nha mà nay thuộc Pháp (Provence) và Ý (Sardinia) cũng dùng màu cờ này.

https://baomai.blogspot.com/
Trưng cầu dân ý của người Catalonia gây khó khăn cho Madrid

Nó cũng có trên quốc huy của Andorra.

Người ta tin rằng cờ nền vàng vạch đỏ đã có từ thế kỷ 11 ở khu vực châu Âu này và xuất hiện trên gia huy của các dòng vua chúa xứ Aragon.

Các công tước Barcelona (nay là thủ phủ Catalonia) đã kiểm soát cả Aragon.

Ngày nay, ở Aragon thuộc Pháp vẫn có các cộng đồng nói tiếng Catalan.

https://baomai.blogspot.com/

Bị kẹt giữa hai vương triều lớn hơn của các vua Pháp và Tây Ban Nha, người Catalonia và Aragon đã liên tục đấu tranh vì quyền tự trị.

Cùng lúc, các công quốc trong vùng đều có quyền lợi gắn liền với Vatican, và đã có lúc Barcelona chỉ thần phục Giáo hoàng La Mã, và màu cờ vàng đỏ cũng là màu cờ của Tòa Thánh.

https://baomai.blogspot.com/

Lá cờ bốn vạch đỏ còn được gọi là 'Els Quatre Dits de Sang' hay 'Bốn ngón tay máu'.

Cảm hứng từ Cuba

Còn lá cờ L'Estelada có thêm "ngôi sao cô đơn' màu trắng trên nền xanh dương lại là cờ chỉ của phái ly khai Catalonia.

https://baomai.blogspot.com/
Cờ có ngôi sao 'cô đơn' trên nền xanh

Lấy cảm hứng từ màu cờ có ngôi sao của Puerto Rico và Cuba giành độc lập khỏi thực dân Tây Ban Nha, phe ly khai Catalonia đã đặt ngôi sao tương tự vào cờ của họ mới hồi đầu Thế kỷ 20.

Trong thập niên 1930, Mặt trận Dân tộc Catalonia (FNC) đã dùng lá cờ này.

Cuộc đấu tranh của người Catalonia bị đặt ra ngoài vòng pháp luật thời Tướng Francisco Franco và lá cờ 'L'Estelada bị cấm.

Phe thiên tả Catalonia đã thay ngôi sao trắng bằng ngôi sao đỏ, và gọi đó là cờ đỏ (Estelada Vermella, hay Red Estelada) từ năm 1968.

https://baomai.blogspot.com/

Sau khi Tướng Franco qua đời và Tây Ban Nha có nền dân chủ, cờ L'Estelada trở thành biểu tượng tự do của Catalonia và không được chính quyền trung ương ở Madrid khuyến khích.

Trước và sau cuộc trưng cầu dân ý bị cấm đòi độc lập ngày 1/10/2017, dân Catalonia đã công khai treo cờ này.

Nhưng trong trường hợp Catalonia được độc lập - điều cả Madrid và Liên hiệp châu Âu không ủng hộ - thì cờ vàng bốn sọc đỏ Senyera sẽ trở thành quốc kỳ của Catalonia.

https://baomai.blogspot.com/
Phần nhận xét hiển thị trên trang