Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

Nguyễn Xuân Anh dưới một góc nhìn khác

Đ. An 


Dân Luận - Như súng nổ giữa trời quang, bất ngờ UBKT Trung ương Đảng thông báo những sai phạm của bí thư và chủ tịch TP Đà Nẵng và đồng thời Chính Phủ cho thanh tra toàn diện dự án trên bán đảo Sơn Trà và Bộ Công an vào cuộc điều tra 9 dự án, việc mua bán chuyển nhượng tài sản công tại 31 địa chỉ ở Đà Nẵng. Một lần nữa cái tên bí thư Nguyễn Xuân Anh lại trở thành đề tài mà báo chí cũng như mạng xã hội mổ xẻ ở nhiều góc độ. Nào là gia thế, những phát ngôn, chuyện bằng cấp, chuyện nhận nhà, nhận xe…

Sở dĩ con đường quan lộ của Nguyễn Xuân Anh thẳng và nhanh là bởi có người cha là cán bộ cao cấp - ông Nguyễn Văn Chi nguyên UV Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm UBKT TW. So với một công chức người bình thường, Nguyễn Xuân Anh cũng như nhiều vị thái tử Đảng khác có bệ đỡ trên con đường làm chính trị. Chính vì vậy nên tuy tuổi còn trẻ nhưng đã giữa chức vụ cao. Đó thật không công bằng. Nhưng ở cơ chế này, chúng ta tạm chấp nhận điều đó như một lẽ thường. Bỏ qua những định kiến, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan, đa chiều về những trường hợp như Nguyên Xuân Anh.

Như chúng ta thấy, từ khi UBKT trung ương thông báo sai phạm của Bí thư và chủ tịch Đà Nẵng. Hàng loạt các tờ báo trong nước lớn điều có bài viết tấn công vào Nguyễn Xuân Anh ở mọi góc độ. Trong khi lại vắng bóng bài viết về Huỳnh Đức Thơ. Điều này khiến không ít người ngờ vực, họ nghĩ về những thuyết âm mưu. Nhưng hãy gác lại chuyện đó, ở đây tôi chỉ muốn viết về Nguyễn Xuân Anh dưới một góc nhìn khác, “lỗi hệ thống”.

Nguyễn Xuân Anh là một người thế nào? Theo lời kể của nhà báo Mạnh Quân, trước khi Nguyễn Xuân Anh dời báo Thanh Niên về Đà Nẵng làm chính trị theo nguyện vọng của gia đình, nhà báo Nguyễn Công Khế đã có lời khuyên ông Nguyễn Văn Chi nên cân nhắc, vì tính cách của Xuân Anh nếu cho làm báo và phát triển lên thì hợp hơn bởi cậu ấy sắc sảo tuy cũng chưa thật chín, lại nhanh nhẹn, thông minh và giỏi tiếng Anh, làm chính trị e không hợp.

Còn nhà báo Lưu Trọng Văn trong một Stt trên facebook có tựa đề “Có cơ hội đâu mà... tiếc” dẫn lời một nhà báo ở Đà Nẵng nhận xét về Xuân Anh “cậu ta nhí nhố lắm”.

Có lẽ, sự thăng tiến qua nhanh đã khiến Nguyễn Xuân Anh không có đủ thời gian cho kinh nghiệm chính trị của mình, hoặc không có tố chất làm chính trị. Điều đó dẫn đến những sai lầm để các đối thủ chính trị của ông khai thác. Và một trong những sai lầm của ông là “phát ngôn”. Chính những phát ngôn mạnh bạo của ông trong 2 năm giữ chức Bí thư Đà Nẵng lại trở thành bằng chứng để người ta quy kết ông cái tội “nói không đi đôi với làm”. Chẳng hạn:

Ngày 7/3/2016, ông điện thoại cho một số lãnh đạo, nói: "Nếu tình trạng tai nạn giao thông không giảm thì sẽ chuyển công tác hoặc cách chức Giám đốc Sở GTVT, Bí thư và Chủ tịch UBND quận Cẩm Lệ”.

Ngày 13/5/2016, ông tuyên bố: "Ở Đà Nẵng, công tác phòng chống tham nhũng tuyệt đối không có vùng cấm. Nếu dính chàm, dù bất cứ người đó là ai, tôi cũng không nể nang hay bao che".

Liên quan đến công tác cán bộ, tại hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ của Bộ Chính trị (khóa XI), ông nhấn mạnh: "Chúng ta phải kiên quyết khắc phục và đi đến loại bỏ mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, quần chúng”.

Khi được bầu giữ chức Chủ tịch HĐND TP khóa IX, ông phê phán một số lãnh đạo: "Các vị không thể chỉ ngồi đọc báo cáo. Lãnh đạo không tiếp xúc cử tri định kỳ kiểu 'đến hẹn lại lên' mà phải đến tận nơi lắng nghe ý kiến của nhân dân”.

Ngày 20/9/2016, làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng TP Đà Nẵng, ông nói có một số cán bộ nhận tiền chung chi của người dân để xây nhà trái phép. “Xây mỗi nhà trái phép, họ chung chi từ 30 đến 50 triệu đồng cho cán bộ”, ông Xuân Anh nói.

Tháng 12/2106, phát biểu tại hội nghị triển khai chủ trương “thành phố 4 an”, ông nói: "Làm lãnh đạo có to đến mấy, tiền của có nhiều mà con cái nghiện ngập thì coi như thất bại”.

Tại kỳ họp thứ 3, HĐND TP Đà Nẵng khóa IX, ông than phiền về cơ chế xin cho đang kìm hãm sự phát triển của xã hội. "Cơ chế xin - cho của mình nó lèm nhèm lắm. Ngay như dự án Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, nếu không phải tư nhân làm thì còn lâu mình mới có sân bay". Và ông nghi ngờ ở Đà Nẵng có một số “ông trời con” chuyên vòi vĩnh làm phiền hà người dân và doanh nghiệp. “Có bôi trơn thì hồ sơ của doanh nghiệp mới chạy”.

Rỏ ràng những phát biểu của Nguyễn Xuân Anh thể hiện cá tính của người trẻ - nói thẳng, nói đúng, nói trúng: "Kinh nghiệm anh ấy non, nghĩ sao nói vậy chứ nói chưa đi đôi với làm" - Hồ Việt, Nguyên Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng nhận xét.

Tại sao Nguyễn Xuân Anh nói mà không làm được? Bởi với cơ chế tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, dù là Bí thư, người lãnh đạo cao nhất của thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Xuân Anh cũng không thể có toàn quyền quyết định mọi việc. Trên thì có Trung ương, dưới thì có nhóm lợi ích chi phối, đó là chưa nói đến sự chống đối của những cán bộ lãnh đạo, nguyên lãnh đạo lớn tuổi.

Nếu đổ lỗi tất cả sai phạm, trì trệ Đà Nẵng lên đầu Xuân Anh thì thật không công bằng. Mà đó là sai lầm từ những người tiền nhiệm, mà Xuân Anh là người thừa kế cái di sản không bền vững ấy. Tác giả Kami trong bài viết “Sai lầm chết người của Nguyễn Bá Thanh” đăng trên RFA, năm 2013 đã đưa ra nhận định: “Đà Nẵng hậu Nguyễn Bá Thanh chưa gì đã báo hiệu nhiều vị đắng", đó là thiếu tiền. Có lẽ đã đến lúc người ta đã hiểu được sự thật những thành tựu của một thành phố lớn của miền Trung hoành tráng được ví ngang hàng với đảo quốc Singapore có được là do từ ngành công nghiệp... bán đất. Và bây giờ hệ lụy của vấn đề này đang mang lại gánh nặng cho ê-kíp lãnh đạo mới của Đà nẵng”. Nhưng thời điểm đó ít ai chú ý.

Xuân Anh non kém về chính trị là một chuyện, nhưng để xử lý những vấn đề có tính lịch sử như ở Đà Nẵng thì Nguyễn Xuân Anh không thể làm được, cho dù có thấy đó, nói ra nhưng cũng bất lực. Với lại Xuân Anh không có uy lực hét ra lửa như Bá Thanh để có thể can thiệt vào hệ thống. Còn việc nhận nhà, nhận xe của doanh nghiệp là một sai lầm chết người, nó cho thấy sự non kém về chính trị. Trước đó ông từng tuyên bố: “Nếu có đồng chí nào phát hiện hay tìm hiểu ra tôi có bất cứ một lô đất nào ngoài căn nhà tôi đang ở số 43 Nguyễn Thái Học thì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm, thậm chí có thể từ chức bí thư Thành ủy. Tôi nói đến mức như thế, một lô đất thôi!", nhưng sự thật là ông đã nhận 2 nhà của doanh nghiệp. Đó là gì nếu không phải tham nhũng, nhận hối lộ ? Nhưng nếu so với những lãnh đạo khác, việc nhận nhà, nhận xe của Xuân Anh chỉ là cái móng tay.

Câu chuyện về Nguyễn Xuân Anh sẽ còn được khai thác nhiều trong những ngày tới khi mà tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nổ súng công phá vào thành trì “lợi ích nhóm” gần như bất khả xâm phạm trong hàng chục năm ở Đà Nẵng. Nhưng cho dù có kỷ luật Xuân Anh thì cái lỗi hệ thống cũng không sửa chữa được. Đất nước này có biết bao nhiêu Xuân Anh mà kể.

Suy cho cùng, cũng chỉ là một con tốt qua sông trong bàn cờ chính trị.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

The Vietnam War, nghịch lý lịch sử?



Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc từ 42 năm, nhưng người ta vẫn tiếp tục tranh cãi.


Một trong những lý do tranh cãi không bao giờ kết thúc chính là việc xác định người thắng và kẻ thua. Bên nào cũng cho mình là người thắng, hoặc ít nhất là không thua. Người nghe cả hai phía thì cuối cùng kết luận là không có ai là người thắng và không có ai là người thua, sau đó đúc kết thành một triết lý: Chiến tranh không có người thắng, chỉ có sự tan nát là còn lại, tất cả những ai tham chiến đều thất bại.

Nói như vậy không sai, thậm chí nó lung linh một chủ nghĩa nhân bản. Nhưng trên thực tế, người ta chỉ đón nhận nó như một sự nhân nhượng, rộng lượng của kẻ thắng, và sự vỗ về, xoa dịu cho người chiến bại. Bởi vì, xét về mặt logic, khi một cuộc đấu kết thúc, không thể không có bên thắng hoặc thua, ngay cả khi trọng tài phán quyết là hòa. Bao giờ cũng tồn tại sự nhân nhượng từ một phía và sự an ủi của phía khác. Chỉ đơn giản là nếu chưa phân thắng bại, thì cuộc chiến chưa thể kết thúc.

Nói ra điều này để khẳng định một cách khách quan rằng, trong cuộc chiến Việt - Mỹ kéo dài từ 1955 tới 1973, có một bên thua, bên đó là Hoa Kỳ, và phía Bắc Việt Nam là bên thắng.

Hoa Kỳ đặt ra mục đích cuộc chiến là ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản xuống phía Nam, từ đó đưa quân đội và vũ khí vào cuộc chiến. Nhưng lại phải rút về một cách không tự nguyện, khi mục đích đó chưa hoàn thành, đẩy sứ mệnh đó cho chính quyền Sài Gòn, trong khi cả cố vấn Kissinger lẫn Tổng thống Mỹ Nixon đều biết rằng,«nếu Mỹ rút, chính quyền Cộng Hòa Việt Nam sẽ chẳng tồn tại được bao lâu».Kissinger còn an ủi Nixon: «Cố gắng vá víu cho khỏi bể trong một, hai năm, tới tháng 1/1979 thì chẳng còn ai quan tâm nữa», «Với những trang bị và vũ khí ấy, nếu là cấp cho Bắc Việt, đủ để họ đánh nhau với ta đến hết thế kỷ này». Và chính tổng thống Thiệu tuyên bố: «Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!».  

Tom Polgar, nhân viên cao cấp Đại sứ Mỹ ở miền Nam, một trong số người Mỹ cuối cùng di tản khỏi Việt Nam, đã ghi lại nhận xét: «Đây là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử».

Ngược lại, mục tiêu «giải phóng miền Nam thực hiện thống nhất đất nước» của chính phủ miền Bắc Việt Nam cuối cùng đã hoàn thành. Ngày 27/01/1973, toàn bộ quân đội Mỹ rút khỏi lãnh thổ Việt Nam. Sáng ngày 30/04/1975, tướng Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam tiếp quản quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tổng tuyển cử thống nhất hai miền được thực hiện tháng 2/1976.

Trên những dữ kiện thực tế đó, không thể nói không có bên thắng, bên thua, mặc dù những phân tích sau này theo từng góc nhìn khác nhau, theo những khái niệm và định nghĩa thắng bại khác nhau, có thể có những lý và lẽ khác nhau.

Bộ phim bắt đầu bằng «Bóng ma của quá khứ» chính là các tác giả có ý tìm sự biện giải cho thất bại của Hoa Kỳ từ quá khứ lịch sử, những nguyên nhân của những sai lầm của người Mỹ khi gây ra cuộc chiến, những căn cứ đem lại chiến thắng cho một dân tộc bé nhỏ và nghèo đói. Đó cũng chính là những thông điệp mà bộ phim muốn chuyển tải tới người xem.

Sự thất bại đó đến từ hai phía.

Từ sai lầm của phía Mỹ và sự may mắn của những người cầm đầu chế độ cộng sản Bắc Việt.

Một phía, có nguồn gốc từ nỗi sợ hãi quá khứ vẫn ám ảnh người Mỹ, chưa thoát khỏi trí não của những người cầm quyền trong chính phủ Mỹ. Đó là sự khủng khiếp của cuộc chiến với Trung Cộng trong chiến tranh Triều Tiên mà người Mỹ vừa trực tiếp chứng kiến. Người Mỹ vừa chết hụt, khi Liên Xô đặt tên lửa hạt nhân lên mảnh đất Cuba chỉ cách Mỹ 120km và một sai lầm đã chỉ cách có gang tấc. Nỗi sợ đó đã được diễn giải thành nguy cơ có thật từ phía khối cộng sản, để khi được những người đứng đầu trong chính quyền gắn nó với thuyết những quân cờ domino, thì chiến tranh ngăn chặn đã trở thành chính đáng. Và thực hiện chiến tranh vừa là trách nhiệm đương nhiên, vừa là niềm kiêu hãnh và vinh quang của người Mỹ. 

Nhưng tìm chính danh từ một nỗi sợ hãi, bản thân nó đã bao hàm sự thất bại, vì sự sợ hãi luôn phóng đại các đe dọa. Chính sách có nguồn gốc phóng đại luôn chứa đựng giả dối. Sự giả dối có thể che đậy dưới chế độ độc tài, nhưng sẽ làm chính quyền sụp đổ dưới chế độ dân chủ, nếu cuộc chiến kéo dài. Thực tế, một đội quân khổng lồ thiện chiến với những vũ khí siêu hiện đại đã chỉ đối diện với những con người có hình dáng nhỏ bé, gầy guộc và đói rách, có trên tay những vũ khí thô sơ. Sự chênh lệch quá đáng về sức mạnh đã tố cáo tính chính danh của cuộc chiến chém giết.

Nhưng thất bại của người Mỹ nằm ở chỗ tiến hành một cuộc chiến tranh bằng một chế độ Dân chủ. Bản chất của Dân chủ mâu thuẫn với bản chất của chiến tranh. Một tập hợp bao gồm hai thành phần đối kháng với nhau, tự nó thủ tiêu nhau để tự sụp đổ.

Thất bại của Mỹ là tất yếu. Không thể chứng minh dân chủ bằng sức mạnh hủy diệt của bom đạn và sự tàn bạo của vũ khí tối tân.

Và cũng không thể tiến hành thắng lợi một cuộc chiến tranh bằng cơ chế của một thể chế dân chủ. Chiến tranh cần quyền lực tập trung của thể chế độc tài. Chiến tranh là mệnh lệnh và tòa án binh, không có thảo luận lấy quyết định bằng đa số. Vừa có chiến tranh vừa có biểu tình và bầu cử theo đa số là một nghịch lý. Bởi vậy, người Mỹ phải thất bại.

Về phía khác, «Bóng ma quá khứ», lý giải cơ sở nền tảng của chiến thắng của Bắc Việt Nam. Chính quyền cộng sản Bắc Việt thực tế đã không tìm kiếm sức mạnh và sự hy sinh bền bỉ của dân chúng từ lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản quốc tế mà bằng chủ nghĩa yêu nước, bằng ý chí độc lập tự cường và khao khát tự do. Dân số Việt Nam gần 90% là nông dân, hơn 98% số nông dân ấy là người mù chữ, lý tưởng cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lê dẫu có hấp dẫn người nghèo, cũng không bằng cách nào đến được với nông dân. 

Câu khẩu hiệu có sức mạnh nhất xuyên suốt cuộc chiến là câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh: «Không có gì quý hơn độc lập tự do », không có gì dính líu tới lý tưởng cộng sản toàn cầu, nhưng làm cho sự hiện diện của người Mỹ trỏ nên không thể biện giải. Dẫu là gì, và như thế nào, thì sự có mặt của người Mỹ cũng sẽ lặp lại sự có mặt của người Pháp từng có mặt trước đó hàng trăm năm, và cũng cùng loại với sự có mặt của người Trung Hoa trước đó hàng nghìn năm. Lý tưởng có thể bỏ nếu không chịu nổi bom đạn, nhưng còn đất nước, cho dù không chịu nổi bom đạn thì họ đi đâu để sống? Người Mỹ đã không hiểu điều đó. Người Mỹ có thể làm mọi chuyện, nhưng chỉ sự hiện diện của họ với vũ khí trên đất Việt, đã đủ để họ thành kẻ thù, và cũng đủ để họ thất bại.

Ý chí độc lập và khát vọng tự do điều khiển bởi một bộ máy tập trung siêu quyền lực, là hai yếu tố tạo ra sức mạnh vô địch, làm ra chiến thắng. Hitler và Nhật Hoàng sở dĩ có thể làm ra những kỳ tích, chính là có được hai yếu tố đó. Nó trở nên thất bại, khi một trong hai yếu tố đó chuyển hóa và biến mất. Lý thuyết chiến tranh nhân dân và quân đội toàn dân là chiến thuật biến toàn dân thành lính, phục tùng một cách vô điều kiện và được đưa lên thành tiêu chuẩn đạo đức, chính là học thuyết quân sự của các đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc.

Nói là sự may mắn của những người lãnh đạo trong bộ máy cầm quyền của chế độ cộng sản Bắc Việt, chính là sự trùng lặp vô tình giữ lý tưởng cộng sản với chủ nghĩa yêu nước.
Căn cứ để xác minh nhận định này là sự thất bại của chính chế độ từ sau chiến thắng 30/04.

Đảng cộng sản Việt Nam đã không hiểu nguyên nhân đích thực dẫn đến chiến thắng. Họ vẫn tin rằng đó là thắng lợi của đường lối đúng đắn của đảng, là tính «bách chiến bách thắng» của chủ nghĩa Mác Lênin. Ông Lê Duẩn tổng kết chiến tranh và kết luận, «Giai đoạn thứ nhất của cách mạng vô sản là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước đã hoàn thành. Cách mạng Việt Nam từ nay bước sang giai đoạn thứ hai, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội không kinh qua phát triển tư bản chủ nghĩa». Đại hội Đảng lần thứ tư, ngày 14-20/12/1976, đã quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thay tên đảng từ đảng Lao động Việt Nam thành đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin.

Việc làm này chứng tỏ một điều, rằng lãnh đạo đảng cộng sản không chủ đích dựa vào chủ nghĩa yêu nước. Họ không hề có ý thức về sức mạnh bất khả khuất phục chính nằm trong ý chí độc lập dân tộc và khát vọng tự do của dân chúng chứ không phải là giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Mác.

Bắt đầu từ sau cái Đại hội IV này, sau cái «khẳng định tính bách chiến bách thắng chủ nghĩa Mác», năm 1976, đảng cộng sản bắt đầu thất bại liên tiếp cả chỉ đạo kinh tế lẫn chính trị, ngoại giao. Xây dựng «xã hội chủ nghĩa bỏ qua phát triển tư bản chủ nghĩa» đã đẻ ra chính sách cải tạo tư bản tư doanh, tiêu diệt kinh tế gia đình và sản xuất cá thể. Lạm phát lập tức tăng lên tới 780% năm 1986. Tổng thu nhập quốc dân không đầy 2 tỉ đô. Đất nước chìm vào khủng hoảng, nền kinh tế mấp mé bờ sụp đổ. Mỹ cấm vận và bao vây kinh tế. Trung Quốc gây chiến tranh biên giới. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ chấm dứt viện trợ và bắt đầu nhắc đến đòi nợ. Bước đi thứ hai, xây dựng chủ nghĩa xã hội sau cách mạng dân tộc dân chủ, đứng trước sự phá sản, đường lối «sáng suốt» của đảng đã đưa đất nước quay về gần thời kỳ đồ đá nguyên thuỷ, không do bom đạn hủy diệt của chiến tranh.

Một bài học mà những người cộng sản Việt Nam cần rút ra là «lòng dân» chứ không phải«lý tưởng» cộng sản giúp họ chiến thắng. Dân chúng thực chất không biết và cũng không cần biết tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Thất bại sau chiến tranh đã chứng thực«Những gì hợp lòng dân thì thắng, trái lòng dân là thất bại».

Thắng lợi của chế độ cộng sản Bắc Việt, vì vậy, có thể nói được là một nghịch lý không?

Trên trục thời gian phát triển của văn minh nhân loại, có thể nói, xã hội Mỹ đi trước xã hội Việt Nam hàng trăm năm. Có thể là một nghịch lý khi tương lai thất bại trước quá khứ không?

Nhiều ý kiến cho rằng sự hiện diện của người Mỹ trong vai trò điều khiển đã làm cho cuộc chiến chống cộng thất bại. Điều này hoàn toàn có thể hiểu được. Sự hiện diện và can thiệp vào một công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền khác cách hàng chục ngàn km đã bác bỏ mọi khả năng tuyên truyền của phía ủng hộ, nhưng lại là lý do tạo ra hiệu quả tuyên truyền của phía đối địch. Không có chính danh, không thể được thừa nhận chính danh, không thể tạo ra chiến thắng.

Vì vậy có những ý kiến cho rằng sai lầm của người Mỹ chính nằm ở chủ trương can thiệp trực tiếp. Nếu với cùng những phí tổn cho chiến tranh, người ta dành cho đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế, thì với hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ Mỹ, miền Nam Việt Nam đã trở thành một cường quốc kinh tế, vượt xa Singapore và Nam Hàn, vì khởi điểm của miền Nam hơn hẳn, và năng lực sáng tạo của người Việt không kém bất cứ dân tộc nào. Như vậy, khả năng thống nhất đất nước một cách hòa bình sẽ rất cao và theo chiều ngược lại. Người ta đã bỏ qua và giải pháp này đã không được một ai nghiên cứu một cách nghiêm túc. Ít ra, chỉ cần phát triển miền Nam cũng đã đủ để vô hiệu hóa ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản.

Bộ phim gồm 10 tập và phải mất 10 năm để hoàn thành, với khối lượng tư liệu khổng lồ, nhưng những thông điệp mà các nhà làm phim muốn nói, có lẽ không cần phải xem hết toàn bộ. Nước Mỹ đã chia rẽ, rạn nứt, tổn thương và đã làm một công việc vô ích.

Nhiều ý kiến cho rằng, dù muốn hay không muốn, bộ phim do người Mỹ làm, là cách nhìn của người Mỹ, là vũ trụ quan, nhân sinh quan, phản ánh thang bậc nhận thức và văn hóa của người Mỹ, không phải là của người Việt. Gọi là Chiến tranh Việt Nam, nhưng không do người Việt làm.

Nhưng nếu người Việt làm, thì là người Việt nào, người Việt «Nam» hay người Việt «Bắc», tức là người Việt Cộng Hòa hay người Việt Cộng Sản? Người Việt đã đủ trưởng thành để tự nhận ra và tự thú nhận sai lầm của mình như người Mỹ không ? Bộ phim sẽ chỉ có bên kia chết và tội ác dã man chỉ của phía đối phương? Nếu người Việt đủ trưởng thành để cho ra đời bộ phim đủ trung thực khách quan về cuộc chiến tranh này, thì ngay bây giờ, đã thực sự có một cuộc hoà giải và hoà hợp dân tộc, không phải hòa giải cứ là sự khuất phục của bên này, và là sự thừa nhận tội ác của bên kia.

Bằng cuốn phim này, người Mỹ đã tự giải thoát cho nhau, nhưng người Việt, nhờ người Mỹ mà được thấy những gì thực xảy ra từ cả hai phía, liệu có đủ minh mẫn và tự trọng để thừa nhận nghịch lý của lịch sử không?

BÙI QUANG VƠM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vịn vào lục bát, điểm tựa cuối cùng của Trần Hoài Thư Tác Giả: Đỗ Trường

Không ngờ thi tập Vịn Vào Lục Bát từ Hoa Kỳ được gửi đến tôi sớm như vậy, chỉ hơn chục ngày sau in ấn, ra lò. Vâng, chắc chắn đó là sự ưu ái của nhà xuất bản Thư Ấn Quán và nhà văn Trần Hoài Thư đã dành cho tôi. Một chút đó thôi, ấy vậy để lại trong lòng người một ấn tượng, một cảm xúc thật sâu sắc.
Tuy trước đây, rải rác đâu đó đã đọc một số bài, nhưng khi nó được chọn đóng thành thi tập chuyên lục bát một cách có hệ thống, đọc lại cho tôi cảm xúc khác hẳn. Có thể nói, đây là tập thơ quan trọng, và tâm huyết nhất của Trần Hoài Thư. Nó như một điểm tựa sống cuối cùng của ông. Bởi, bệnh tật và thời gian khắc nghiệt đã làm bạn bè, người thân, từng ngày, từng ngày rời bỏ ông. Do vậy, sự biên tập từng phần, từng giai đoạn gắn với thân phận của thi sĩ và xã hội, một chủ ý rõ ràng của tác giả. Có điều đặc biệt, dường như tập sách nào của Trần Hoài Thư dù viết, in ấn ở trong nước (trước 1975), hay nơi hải ngoại đều mang hơi thở của chiến tranh. Và Vịn Vào Lục Bát cũng vậy, tuy là tập thơ với cái tôi riêng tư nhất, nhưng nó vẫn không thoát ra khỏi cái lẽ thường ấy. Ngoài hai phần viết về bản thân, gia đình, và bạn bè thì chiến tranh khói lửa vẫn đậm đặc trong thi tập này.
Vịn là động từ, nhưng ở đây nó đã chuyển thành tính từ, hình tượng hóa tâm trạng bi đát, ngã lòng ấy của người thi sĩ, xuyên suốt thi tập Vịn Vào Lục Bát. Tính hình tượng này, trước đây, cũng như hiện nay đã có nhiều người sử dụng, tuy nhiên làm người đọc rung động từ đầu đến cuối trang của một tập thơ lục bát, không phải ai cũng làm được như nhà văn Trần Hoài Thư.
Có thể nói, những năm gần đây bạn bè lần lượt ra đi, nhất là từ khi người bạn đời bị đột quỵ, nhà văn Trần Hoài Thư đến với thơ nhiều hơn. Và lục bát như những liều Aspirin giảm đi nỗi đau tâm lý trong tâm hồn ông. Tuy nhiên, thơ Lục bát dễ làm nhưng khó hay. Do vậy, để có một tập thơ Lục bát là thử thách không nhỏ đối với một nhà văn như ông. Và khi nhận được thi tập Vịn Vào Lục Bát, tôi đã đọc ngay, đọc một mạch. Đọc rồi, đâu đó, vẳng lên tiếng thét, sắc nhọn như mũi khoan xoáy thủng hồn người, xuyên thủng 143 trang sách trước mặt. Và “Dường Như“ là một bài thơ, hay là một câu hỏi tu từ cho cả tập thơ, mà buộc tôi phải tìm lời giải đáp trong bài viết này:   
“Dường như tôi sắp quị rồi
Nghe chăng tiếng thét vỡ màng nhĩ tôi
Này em, em đừng bỏ tôi
Này thơ, xin đừng bỏ tôi một mình
Tôi cần thơ, tôi cần mình
Sao mình cứ mở mắt nhìn ở đâu...“ (Dường Như)

Với Trần Hoài Thư bao năm xa quê là bấy nhiêu năm thương nhớ. Thân gửi nơi đất khách, hồn vẫn nơi quê nhà. Thật vậy, có lẽ, chỉ những người xa quê, xa Tổ Quốc trên ba mươi năm, và đường trở về mịt mù, xa vời vợi như chúng tôi đọc “Tiếng Mưa“ mới thấu hiểu hết nỗi lòng của Trần Hoài Thư. Mang theo một nỗi buồn thường trực, một tiếng mưa rơi bất chợt trong đêm cũng làm nhà thơ thổn thức. Để rồi, nghe giọt mưa rơi ấy, cứ ngỡ tiếng mưa nơi quê nhà:
Ở đây đất lạ quê người
Mấy mươi năm cũng một đời xứ xa
Ngày ở Mỹ đêm quê nhà
Có khi thức giấc, bên ngoài, trời mưa!
Buồn ơi lạnh khép chăn thưa
Nghe như lời vọng quê nhà: Tiếng mưa !!!“
Có thể nói, Vịn Mẹ, Vịn Cha chưa phải là hai bài thơ hay nhất, nhưng nó lạ, và cảm động nhất trong thi tập này. Bởi, cái nhìn từ ân và bi ân mang tính Phật Pháp về cha mẹ của tác giả. Và nếu đặt hai bài thơ này ở cạnh nhau, ta mới thấy hết được tài năng nghệ thuật đối cú và đối ý trong thơ của Trần Hoài Thư. Từ những hình ảnh so sánh đó, cho ta thấy sự khác biệt khi biểu hiện tình cảm, dưỡng dục của cha mẹ, cũng như cảm được cái điểm tựa đầu đời vô cùng quan trọng. Và điều đó chắc chắn không chỉ ở riêng Trần Hoài Thư:  
Lan can mẹ, mẹ khom lưng
Để con được vịn, khỏi cần nhón chân
Đứng bên mẹ, bé vô cùng
Thấy như tay mẹ sẵn sàng dẫn con...” (Lan Can Mẹ)
Lan can ba, ba thẳng lưng
Ba dạy con, chân đạp bùn mà đi
Con nhón chân, con đưa tay
Con vịn ba với cái đầu
ngẩng lên !…”  (Lan Can Cha)
Nói, thể thơ chỉ là hình thức, tải đến người đọc là những ngôn từ. Thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại. Thế nhưng viết về những người mẹ, người vợ, có lẽ không thể thơ nào được sử dụng nhiều bằng lục bát. Và Trần Hoài Thư cũng không nằm ngoài cái lẽ đó. Bài Vịn Em, được ông viết khi vợ bị đột quỵ phải đưa vào nhà thương, nhà dưỡng bệnh. Với phép so sánh tu từ, người vợ hiện lên như Chúa, như Phật trong lòng Trần Hoài Thư. Cái đoạn trường khổ đau ấy, dường như vợ ông đã giành hết cho mình. Nó như một sự khai sáng và giải thoát cái linh hồn nhà văn, người lính trận Trần Hoài Thư vậy. Tôi nghĩ, đây là một trong những bài thơ hay, chân thực và cảm động nhất trong tập lục bát này:
“Lòng em là cả trăng rằm
Lòng tôi trăng tối như nhằm ba mươi
May nhờ tôi được dựa hơi
Nên lòng cũng nhẹ, ít nhiều hồi tâm
——
Lời Phật em tụng hằng đêm,
Nghe chừng như thể em cầu cho tôi
Cho tôi, bớt điếc bớt mù
Bớt sân si, bớt dâm tà tham lam…
——–
Em đi để nhận đoạn trường
Xe lăn định mệnh, chiếc giường nghiệp oan
Hay là em chuộc dùm chồng
Như xưa Chúa đã chuộc dùm thế gian ?“
Trần Hoài Thư đã viết nhiều về tình bạn, tình đồng đội trong văn xuôi của mình, nhưng quả thật đến tập thơ này, cái tình bạn ấy, mới cho tôi đến đỉnh cảm xúc, khi đọc. Tình bạn được nhà thơ hình tượng hóa một cách cụ thể. Và chiếc lan can kia đâu phải chỉ là nơi những cánh tay vịn tựa nhau, mà còn là những sẻ chia vui buồn. Tuy viết theo thể lục bát, nhưng từ ngữ trong thơ Trần Hoài Thư mộc mạc, với những khẩu ngữ thường nhật. Đây cũng đặc điểm nổi bật trong lục bát Trần Hoài Thư. Vịn Bạn là một bài thơ như vậy của ông:    
Lan can bạn – vịn thân tình
Để còn thấy được cuộc đời dễ thương
Chai rượu quí chắc phải buồn
Nếu không có bạn, ai người cụng ly ?”
Không rõ cái lịch sử tình bạn của các bác nghệ sĩ miền Trung, xứ Huế như thế nào, nhưng trước đây đọc nhà văn Lữ Quỳnh và lúc này đọc Trần Hoài Thư cùng viết về họa sĩ Đinh Cường, quả thật tôi không kìm được cảm xúc của mình. Có thể nói, không chỉ có Lữ Quỳnh, mà Trần Hoài Thư cũng vậy, ông đã dành hình ảnh, câu thơ đẹp nhất để viết về người bạn quá cố. Dường như, nó khác hẳn cái khẩu ngữ thường nhật khi ông viết về bạn bè khi còn bù khú bên nhau. Vẫn sử dụng phép tu từ, với lối hoán dụ, bài thơ Còi Tàu Hụ Nhớ Đinh Cường cho ta thấy rõ tài năng của Trần Hoài Thư không chỉ ở trong lãnh vực văn xuôi:
Kể từ bạn bỏ đi xa
Con tàu vẫn đến nhà ga mỗi ngày
Còi tàu vẫn vút lên mây
Cớ sao thưa bạn hôm nay quá buồn!
Tàu ngừng, chở tiếp hoàng hôn
Làm sao chở hết nỗi buồn của tôi?”
Những quán hàng dân dã, với những căn nhà liêu xiêu đầy mộng mị, nhưng là một phần ký ức quan trọng đối với Trần Hoài Thư. Ký ức ấy, đã được ông hóa vào thơ, bằng chân dung bạn bè Khu Sáu- Bình Định, thời bom rơi đạn nổ. Tuy buồn, nhưng những nét vô tư vẫn hiện về. Có thể nói, Trần Hoài Thư luôn dành cho bạn những trang thơ đẹp và trân trọng nhất, kể cả những người không đồng chí hướng. Với Thái Ngọc San, không phải là bài thơ hay trong thi tập này, nhưng đã cho người đọc hiểu thêm nhân cách sống Trần Hoài Thư:
“Từ ngày bạn bỏ hàng quân
Có Khu Sáu mở rộng lòng chở che
Ngày ngày thuốc lá cà phê
Chẳng cần thắc mắc mô tê bạn thù
Bạn chửi tôi lính đánh thuê
Tôi giận quá đập chai bia xuống bàn
Bạn hãnh diện thắng miền Nam
Tôi hãnh diện vì cháu con nên người…”
Không chỉ văn xuôi, mà cả những bài thơ viết về thời chiến là những trang viết hay nhất của Trần Hoài Thư. Nếu Điếu Thu, một bài thơ được cho là phá cách hay nhất được viết trong thời gian gần đây, thì Nước Lên là bài thơ hay và đẹp nhất, viết trong một lần hành quân tác chiến của ông. Cùng với thủ pháp nghệ thuật ngắt nhịp, xuống dòng, đọc Nước Lên, tưởng như mình đang đứng trước một bức tranh thủy mặc về hoàng hôn, mang mang nét hoài cổ vậy:
“Nước lên, trời thổ mật vàng
Nửa lan mây núi    
               nửa tràn bãi sông
Nước lên kéo mặt trời gần
Khanh vàng lai láng  
                một dòng vàng khanh
——
Nước lên, bờ tả đã mờ
Chỉ còn bờ hữu nắng vàng níu chân
Nước lên trời cũng tối dần
Quân qua bỏ lại một dòng quạnh hiu”

Có thể nói, Vịn Vào Lục Bát là tập thơ buồn. Bởi, nó là hiện thân của cuộc đời nhà văn người lính, tù nhân Trần Hoài Thư. Nếu bác nào thần kinh yếu, không nên đọc tập thơ này, vì sẽ bị ám ảnh, gây ra mộng mị, dẫn đến mất ngủ. Thật vậy, một loạt bài Mục Tiêu Một, Mục Tiêu Hai….tuy viết đã lâu, và chiến tranh đi qua trên bốn mươi năm, nhưng đọc lên vẫn thấy mới, làm nhức nhối lòng người:
 “Bữa cơm đã dọn ra rồi
Người Ô-đô nói ngậm ngùi bên tai:
“Hôm nay lại thiếu thằng Tài
Em bới một chén mời về ăn chung…”
—–
Khẩu súng cắm giữa gò bồi
Hai hàng quân đứng ngậm ngùi tiễn đưa…”( Mục tiêu 5)

Gấp cuốn Vịn Vào Lục Bát lại, và dường như có tiếng vọng vẫn còn đọng lại trong tôi: “Trên nhành một lũ quạ đen/ Oác lời cho thảm điệu kèn điếu thu” Nhưng tôi hoàn toàn không tin, đây là tiếng vọng lên cuối cùng của Trần Hoài Thư. Bởi, tuy là điểm tựa cuối cùng, nhưng lục bát cũng như tình yêu và nghị lực sống của ông còn nồng nàn, mãnh liệt lắm. 
Leipzig ngày 3-8-2017
Đỗ Trường

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đơn từ của ông phó bí thư huyện ủy




Cách đây không lâu, dư luận giật nảy mình trước là “Đơn Xin Tự Thú” sai chính tả be bét của Trịnh Xuân Thanh. Vài năm trước, lời ghi sổ tang của đương kim thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũng bị sai sót về văn phạm, mắc lỗi viết hoa tùy tiện.v.v.
Những quan chức ăn không lên miếng, nói không lên lời, viết lách loạng quạng như vậy không phải là hiếm. Vậy mà họ lãnh đạo đất nước!
Đây là đơn từ của ông phó chủ tich huyện đang được bàn tán trên mạng xã hội.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế mà cứ...tưởng!

Chỉ chút nữa, nó ngã lăn xuống đất...


Nó lo đến độ chỉ sém chút nữa là vỡ …bọng đái!
Nó có giấy mời của tân Vụ trưởng Vụ phụ trách, quản lý báo chí.
Nó nhìn con dấu, chữ ký kèm theo trong giấy mời. Choáng!
Chẳng là thế này, hồi ông T… làm Tổng trưởng tổng Đ… Nó là trưởng đại diện của báo… đặt ở địa hạt Tổng này. Ông T… mới lên chức Tổng trưởng, nó yêu cầu các phóng viên của bản báo phải viết bài ca ngợi ông T… Đấy là cái mánh “làm ăn” thấm vào trong máu, khi nó mới chập chọe tập sự. Giờ là trưởng đại diện của báo… ở một Tổng giàu có, phải phát huy. Nhờ những bài báo ca ngợi ông T… tờ báo của nó ăn “đậm”, số lượng phát hành lớn. Lễ hội, cắt băng khánh thành, lãnh đạo trung ương về thăm... các phóng viên của nó đều được mời, ra về phong bì dày cùng tặng phẩm. Riêng nó kiếm được hai lô đất mặt tiền, giá “nội bộ”, bán theo giá thị trường, đủ tiền cho hai con gái đi học nước ngoài. 

Đánh đùng một phát, nó được mật báo, sắp tới trung ương sẽ thanh tra đất đai tổng Đ có liên quan đến ông T… Không những thế, thằng bạn thân làm trong cơ quan “ tuyệt mật” ngoài thủ đô cho nó biết, ông Tổng trưởng Tổng Đ… còn vi phạm, ngoài đất đai, có cả chuyện đạo đức. Tin này liên quan đến nó.

Thằng bạn thân cho biết:

- Tổng trưởng tổng Đ… lợi dụng một số báo chí, phóng viên viết những bài ca ngợi, coi ông T… là một lãnh đạo mực thước, tài năng, đức độ hòng đánh lừa dư luận. Một số tờ báo, phóng viên “ăn tiền” của ông T… viết không đúng sự thật, làm cho dư luận hiểu sai vấn đề. Đây là vụ việc nghiêm trọng, các phóng viên của những tờ báo này cần xử lý.

Nghe vậy, mặt nó tím hơn “cà dái dê”, mồ hôi đổ hơn “thác”, cả thân run hơn “ Chó vớt lên từ dưới ao lạnh giữa đông”. Mất chức, thậm chí mất việc là cái chắc! Biết đâu còn đi tù!!!

Không được! Chuyện đâu có thể đơn giản như thế, nó phải chạy trước sự kiện, trước cả thời gian.

Ngay ngày hôm sau, nó yêu cầu tất cả phóng viên cần tìm ra những việc làm khuất tất, sai phạm của ông T…, mà dự luận đang đồn thổi, để viết bài. Sự kiện nào có ông T…các phóng viên đến để theo dõi, viết bài, tuyệt đối không nhận tiền, nhận quà.

Những bài báo viết về khuất tất của một người lãnh đạo, tuy không nêu đích danh ông T… được bạn đọc đón nhận. Niềm vui ấy nhân đôi, khi nó được Tổng biên tập khen…

Nhưng nó cũng hơi ngạc nhiên là ông T… không thấy phản ứng gì.

Lạ thật!

Thì bây giờ nó biết cái “lạ” đó.

Đúng là ông T….có sai phạm khi ở chức to nhất tổng Đ… nhưng không bị “kỷ luật” như thằng bạn thân mật báo mà chỉ bị khiển trách, phải ra ngoài trung ương, chuyển công tác làm lãnh đạo một Vụ. Vụ đó có tên “ Phụ trách, quản lý báo chí”. Nghĩa là ông T… phụ trách trực tiếp tờ báo mà nó là trưởng đại diện ở tổng Đ…

Vừa nhận chức, ông ấy đã viết giấy mời, mời nó đến để gặp trực tiếp…

Cả đêm nó không ngủ, trằn trọc, lăn bên này, bên kia, muỗi đốt cũng mặc, thạch sùng kêu, không để ý, mắt cứ mở chong chong… Chỉ mong trời đừng sáng!

Nó đến chỗ ông T… hẹn với tâm trạng bồn chồn, còn hơn lúc đưa vợ vào phòng đẻ, trong đầu vạch ra rất nhiều phương án. Đáp số cuối cùng: “ Anh tha cho em, ngàn lần xin anh tha, chẳng qua cũng vì miếng cơm manh áo, chứ em đâu muốn thế! Công ơn anh với em, với báo của em, suốt đời em tạc ghi. Từ giờ trở đi, phóng viên báo em mà viết bài phê bình anh, em làm con chó chuyên ăn c…! Em thề đấy.”

Khi thấy nó bước vào phòng, ông T… ngạc nhiên:

- Mặt anh làm sao mà tím tái thế kia! Cả người nữa, sao run thế! Bị đau à?

Nó mất binh tĩnh, răng, lưỡi, môi đều lập bập:

- Thưa … anh… thực… tình…

Ông T… khoác tay:

- Nếu anh đau thì nên về nghỉ, tôi chỉ nói cho anh biết một yêu cầu nhỏ, để anh suy nghĩ. Tôi đã đọc những bài báo mà các anh viết phê bình một lãnh đạo, đọc rất thấm. Lại được biết, những bài báo đó có sự chỉ đạo của anh, tôi hoan nghênh. Tôi muốn anh làm trợ lý cho tôi, được không?

Nghe ông T… nói vậy, chỉ chút nữa, nó ngã lăn xuống đất.

Trần Kỳ Trung
(FB Trần Kỳ Trung)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cọp chết để da


Huy Đức - Đạo lý và pháp lý là hai "vòng tròn không đồng tâm"; có những hành vi phạm pháp chưa hẳn đã đồng thời "phạm đạo". Đó là lý do mà chúng ta có thể thấy rằng việc bỏ tù Dương Tự Trọng là cần thiết nhưng chúng ta cũng không gay gắt phê phán hành vi che giấu tội phạm vì "hiếu đễ" của ông. Đó là lý do, nếu tòa bỏ tù Bầu Kiên hay Hà Văn Thắm, chúng ta vẫn rất cảm kích với thái độ đàng hoàng, nghĩa hiệp trước tòa của họ.
Từng chứng kiến nhiều doanh nghiệp trở thành nạn nhân chính trị; thậm chí vẫn bị ám ảnh sau gần hai mươi năm chứng kiến sự kiện thi hành án tử hình hai doanh nhân, Tôi rất muốn nhắc những người đang làm các "sân sau", khi có xung đột lợi ích chính trị thì quý vị chắc chắn trở thành đích ngắm. Đừng vì kiếm tiền mà trở thành vật hy sinh của những người gần như đã "điều tiết" hết tiền lời của các bạn.

Tôi không bao giờ coi những người như Đinh La Thăng là doanh nhân. Có một số người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước cũng là doanh nhân giỏi; nhưng phần lớn họ là quan chức. Tại sao đã đứng trước vành móng ngựa, Hà Văn Thắm vẫn xin nhận hình phạt cao nhất cho những sai phạm ở OceanBank; trong khi, ngay từ lúc trên đỉnh cao quyền lực những quyết định liên quan đến tiền, Đinh La Thăng lại dùng tiểu xảo để đẩy tội cho em út. Phẩm chất một thủ lĩnh, một doanh nhân không bao giờ như thế. Nếu sợ đối diện với các hình phạt, ngay từ đầu họ đã phải dẫn dắt anh em tránh con đường bất chính; nếu đã lỡ nhúng chàm, họ không bao giờ đẩy hết tội cho những người thừa hành lệnh của mình.

Nhiều người từng tiếp xúc có thể khoái cung cách suồng sã cả rượu chè lẫn tiền bạc của Đinh La Thăng, nhưng (chưa tính đó là tiền dân) khi đánh giá một con người có thực sự nhân nghĩa hay không, phải xem, họ đã đưa những người đồng hành tới chỗ thành công mà an toàn hay nhà tù.

Gần 200 con người của PVN gần hai năm qua mất ăn, mất ngủ, có lẽ thấm thía hơn chúng ta rất nhiều về điều đó. Chẳng mong Đinh La Thăng có chút tinh thần nghĩa hiệp của Bầu Kiên, Hà Văn Thắm, Dương Tự Trọng... Chỉ hy vọng, ông còn chút tình người. Đinh La Thăng biết rõ, 246 tỷ đồng Nguyễn Xuân Sơn gửi qua Ninh Văn Quỳnh vào túi ai; đừng nghĩ để họ lãnh án tử hình thì Thăng có thể ngủ yên phần đời còn lại.

Huy Đức
(FB Trương Huy San)


Phần nhận xét hiển thị trên trang