Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Vai trò của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông



Biên dịch: Nguyễn Thị Nhung

Bài liên quan: ASEAN, Trung Quốc và Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông

Chính sách ngoại giao thời gian gần đây của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về vấn đề tranh chấp Biển Đông đã trở thành chủ đề tâm điểm quan trọng của quốc tế. Tuy nhiên, để có thể hiểu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thống nhất trong ASEAN cũng như tiềm năng cho một biện pháp xử lý hiệu quả, chúng ta cần phải phân tích chính sách ngoại giao dài hạn của khối về vấn đề này.

Vì vậy, bài viết này sẽ được chia thành hai phần. Phần đầu tiên sẽ nghiên cứu cơ sở lịch sử dẫn đến một lập trường thống nhất tương đối của ASEAN trong vấn đề Biển Đông vào giai đoạn những năm 1990. Ngay sau đó là nội dung xem xét các tác nhân khiến cho nền tảng thống nhất của ASEAN bị suy yếu trước khi ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002.

Phần thứ hai sẽ đi sâu tìm hiểu về chính sách ngày càng quyết liệt và cách hành xử đôi khi mang tính cưỡng ép mà Bắc Kinh bắt đầu triển khai từ năm 2007. Nghiên cứu hai giai đoạn này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu rộng hơn về khả năng đi đến một lập trường thống nhất cho ASEAN trong tương lai, cũng như phạm vi ảnh hưởng thực chất mà tinh thần đoàn kết này có thể tạo ra trong quá trình giải quyết hoặc làm giảm căng thẳng trong tranh chấp Biển Đông.

Vai trò của ASEAN những ngày đầu – chuyển từ đoàn kết sang phân rã

Vào năm 1992, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền rộng lớn trên hầu hết diện tích của Biển Đông bằng việc thông qua Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp của CHND Trung Hoa. Khu vực Bắc Kinh khẳng định chủ quyền này chồng lấn và mâu thuẫn với các tuyên bố của bốn trên tổng số sáu thành viên ASEAN vào thời điểm đó là Brunei, Philippines, Malaysia và Indonesia. Chưa dừng lại ở đó, Trung Quốc lại cấp phép cho công ty Mỹ Crestone Energy Corporation tiến hành thăm dò hydrocarbon ngay trong thềm lục địa của Việt Nam.

Dựa vào lịch sử quan hệ hời hợt giữa Bắc Kinh và đa số thành viên ASEAN khi đó, hiệp hội đã nhanh chóng đáp lại bằng Tuyên bố Biển Đông năm 1992 của mình. Tuyên bố đã viện dẫn đến các nguyên tắc cốt lõi của khối, được nêu cụ thể hơn trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC), và thúc giục “tất cả các bên liên quan” cùng giải quyết “các vấn đề chủ quyền và tài phán” trong tranh chấp này thông qua “các biện pháp hòa bình” và “không sử dụng vũ lực”. Điều khoản ý nghĩa nhất trong Tuyên bố đã kêu gọi các bên cùng thiết lập một “Bộ quy tắc ứng xử quốc tế trên Biển Đông” có tính ràng buộc cao.[1]

Trong khi Trung Quốc ban đầu tỏ ra không mấy nhiệt tình, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã gần như ngay lập tức có bài phát biểu bày tỏ sự ủng hộ tuyệt đối với tuyên bố này, khẳng định nội dung tuyên bố “đồng nhất với các nguyên tắc và chính sách mà Việt Nam đang theo đuổi”. [2] Với việc bản thân Hà Nội cũng có tuyên bố chủ quyền trên một số khu vực ở Biển Đông, thì việc chính quyền nước này thay đổi thái độ từ quan điểm thù địch đối với ASEAN trước đó cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên. Lập trường của Hà Nội cũng phần nào chịu tác động của lịch sử của nước này với Trung Quốc, trong đó phải kể đến cuộc chiến tranh biên giới 1979 và một cuộc giao tranh ngắn nổ ra năm 1988, trong đó Hải quân Trung Quốc đã đụng độ với lực lượng phía Việt Nam trên Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), dẫn đến phía Việt Nam bị thiệt hại ba tàu và 77 thủy thủ đoàn mất tích.

Chính sách ngoại giao chung của ASEAN trong vấn đề Biển Đông trở nên rõ ràng hơn do sự kiện Trung Quốc chiếm Đá Vành Khăn (Mischief Reef) vào năm 1994 (và bị phát hiện vào năm 1995). Dựa theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS), Philippines là nước có chủ quyền pháp lý rõ ràng đối với các nguồn tài nguyên tự nhiên trong khu vực bãi đá, ví dụ như thủy hải sản, do nó nằm hoàn toàn trong vùng 200 hải lý của vùng Đặc quyền Kinh tế của nước này (cụ thể hơn Đá Vành Khăn cách địa phận đảo Palawan 127 hải lý).

Theo quan điểm của Marvin Ott, sự kiện chiếm đóng “Đá Vành Khăn có ý nghĩa rất quan trọng, không phải trong vai trò một tài sản quân sự, mà trong vai trò một bằng chứng rõ ràng cho thấy Trung Quốc quyết tâm triển khai sức mạnh và sự hiện diện của mình trên Biển Đông.”[3] Sự việc diễn ra vào thời điểm Mỹ mới rút lực lượng vũ trang khỏi Philippines vài năm. Theo một nghĩa nào đó, việc Chiến Tranh Lạnh chấm dứt và kéo theo đó là cuộc rút quân từ từ của Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Đông Bắc Á từ những năm 1970, điển hình là Học thuyết Nixon, rõ ràng đã góp phần tạo nên nhận thức về cơ hội mở rộng sức mạnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) lẫn Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) nước này.

Đầu năm 1995, chính phủ Philippines đã đáp trả bằng cách cung cấp cho báo giới quốc tế những hình ảnh cho thấy “các dàn cấu trúc bê tông hình bát giác dựng trên các cột thép” do Bắc Kinh xây dựng tại khu vực đảo Vành Khăn. Bất chấp những tấm ảnh bằng chứng được đưa ra, Bắc Kinh ban đầu vẫn phủ nhận thông tin cho rằng họ có xây dựng bất cứ công trình chiến lược nào, và khẳng định đó chỉ là những nơi trú ẩn cho ngư dân Trung Quốc. Dù chính phủ Philippines đã dùng đến hành động quân sự ngay từ đầu khi cử một số tàu hải quân cùng “toàn bộ lực lượng năm chiến đấu cơ F-5” của nước này như phát biểu của Đại tá Felipe Gaerlan,[4] nhưng những hạn chế của lực lượng vũ trang đã nhanh chóng buộc chính phủ phải chuyển hướng sang sử dụng các biện pháp ngoại giao, bao gồm tận dụng vai trò thành viên ASEAN. ASEAN đã mau chóng hồi đáp bằng các biện pháp kết hợp đồng thời cây gậy và củ cà rốt.

Vào tháng 3/1995, các ngoại trưởng của ASEAN cùng lên án Trung Quốc qua một tuyên bố chung bày tỏ quan ngại sâu sắc về những diễn biến trên Biển Đông; hiệp hội đã viện dẫn đến tinh thần của “Tuyên bố ASEAN về Biển Đông” năm 1992 để củng cố lời kêu gọi các bên kềm chế tiến hành những hành động gây mất ổn định. Mặt khác, ASEAN cũng khuyến khích Trung Quốc tham gia vào “một mạng lưới các tổ chức khu vực” và các hội thảo, hay một “cấu trúc mới phôi thai gồm các thành viên tốt” như cách gọi của Michael Leifer.[5]

Nhưng gạt bỏ mọi nỗ lực nêu trên, Bắc Kinh vẫn duy trì lập trường lâu nay rằng họ sẵn sàng tham dự các cuộc thảo luận song phương với các bên tranh chấp khác, nhưng sẽ không ngồi vào bàn đàm phán đa phương với ASEAN. Tuy nhiên, Trung Quốc bắt đầu nhìn nhận các nước ASEAN cùng những phương thức thể chế của tổ chức này bằng một con mắt khác và đẩy mạnh đầu tư thêm nguồn lực vào việc triển khai sức mạnh mềm ở mức độ cao hơn, hay như Kurlantzick mô tả là “Cuộc tấn công quyến rũ” (Charm Offensive).[6]

Giai đoạn từ năm 1992 đến 1995 đã chứng kiến đỉnh cao của tinh thần đoàn kết ASEAN trong vấn đề tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, trong khi lập trường thống nhất của ASEAN giúp giảm nhiệt các căng thẳng công khai và chính thức về cuộc tranh chấp, Trung Quốc mặt khác vẫn tiếp tục tiến hành chiến lược “quyết liệt từng bước” (creeping assertiveness) và đến năm 1999 nước này đã mở rộng mạng lưới các công trình cấu trúc của mình trên những vùng lãnh hải tranh chấp, trong đó có cả đảo Vành Khăn. Kể từ đó, khả năng triển khai một “tiếng nói ngoại giao” chung của ASEAN về vấn đề Biển Đông cũng dần suy yếu đáng kể.

Tình trạng bất lực này trở nên phức tạp hơn khi trong nội bộ của khối vẫn còn tồn tại những chia rẽ xuất phát từ tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn của các thành viên. Không chỉ vậy, vấn đề còn trở nên trầm trọng hơn khi tổ chức mở rộng số lượng thành viên, đồng thời cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á cũng gây ảnh hưởng lên các quan hệ trong khu vực và cả sự tự tin của ASEAN. Hệ quả là Philippines đã không thể đạt được mức độ đoàn kết cần thiết để tiến hành bước tiến mới (năm 1999) cho việc hoàn tất một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có tính ràng buộc cao. Mức độ thỏa hiệp cao nhất chỉ dừng ở bản “Tuyên bố DOC” lỏng lẻo được ký vào năm 2002. Trong vòng 1 năm, Bắc Kinh đã chứng tỏ được tính chất thiếu hiệu quả của DOC khi đàm phán và đi đến một thỏa thuận khai thác chung với Philippines – và sau đó là Việt Nam – và từ đó gây chia tách họ với các nước tranh chấp còn lại của ASEAN.

Các phản ứng đơn phương và đa phương trong bối cảnh căng thẳng leo thang

Kể từ năm 2007, Trung Quốc đã có bước chuyển hướng rõ rệt trong cách tiếp cận với tranh chấp Biển Đông. Ví dụ như vào tháng 7/2007, các tàu bán quân sự của Trung Quốc truy đuổi các tàu cá Việt Nam khỏi quần đảo Trường Sa và làm chìm ba tàu trong số đó. Một công ty liên doanh Anh – Hoa Kỳ – Việt Nam cũng bị Bắc Kinh gây sức ép phải từ bỏ dự án phát triển mỏ khí đốt ở ngoài khơi phía nam Việt Nam. Sau đó vào năm 2009, Malaysia và Việt Nam đã cùng đệ trình một báo cáo chung về khu vực phía nam của Biển Đông lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc. Sáng kiến này đã khiến Bắc Kinh nổi giận và đáp trả bằng cách đệ trình hồ sơ của riêng mình, có đính kèm một bản đồ chủ quyền đường chín đoạn mới với phạm vi bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông.

Phản ứng của Bắc Kinh đã báo hiệu cho một bước ngoặt trong chính sách của các bên, chuyển từ mục tiêu cùng tìm một lập trường chung cho ASEAN sang sử dụng các thể chế đa phương như những công cụ cho mình. Một số nhà phân tích tin rằng Hà Nội đã tận dụng quyền lực của chức Chủ tịch ASEAN để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Nếu điều này là sự thực, Hà Nội đã bất chấp mọi tín hiệu cảnh cáo liên tục từ các quan chức Trung Quốc đối với những hành động như vậy, chủ động tìm kiếm một tuyên bố ủng hộ từ phía Mỹ tại hội nghị Diễn đàn An ninh Khu vực (ARF) vào tháng 7/2010.

Để đáp lại, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng đã phát biểu “Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, quyền tiếp cận mở đối với các không gian hàng hải chung trên biển của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông”, đồng thời cũng lưu ý rằng vấn đề này là một “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, và bày tỏ sẵn sàng đứng ra giúp hòa giải tranh chấp. Trung Quốc đã nổi giận đến mức có thông tin đại diện nước họ đã tuyên bố trong buổi họp kín rằng Trung Quốc đã nâng vấn đề Biển Đông lên thành “lợi ích cốt lõi” của nước này.[7] Bắc Kinh cũng lo ngại đối với mọi hành động có mục đích kiềm chế sự trỗi dậy quân sự của Trung Quốc, và những quan ngại này đã được củng cố khi không lâu sau hội nghị ARF diễn ra, Mỹ cho công bố chiến lược “xoay trục” về châu Á thu hút rất nhiều chú ý.

Với tư cách chủ tịch, Việt Nam cũng khôi phục các phiên họp của Nhóm Công tác chung ASEAN-Trung Quốc (JWG) về vấn đề triển khai DOC năm 2002. Kết quả của những nỗ lực này là các bên thống nhất thông qua một bộ Hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông đầy mơ hồ vào tháng 7/2011. Tuy nhiên, bộ hướng dẫn này chỉ khả thi một khi ASEAN đáp ứng yêu cầu của Bắc Kinh (với sự ủng hộ của Campuchia) là xóa bỏ một đoạn trong đó đề cập đến đòi hỏi quyền tham vấn giữa nội bộ các nước ASEAN trước khi đi đến bất cứ thỏa thuận nào với Bắc Kinh. Một hướng dẫn bổ sung cũng yêu cầu bất cứ hành động hay dự án nào dựa trên DOC đều phải được báo cáo trong Hội nghị Bộ trưởng ASEAN – Trung Quốc.[8] Nhờ đó, ngay cả trong khuôn khổ đa phương chính thức của ASEAN, Trung Quốc vẫn thể chế hóa thành công tiến trình đàm phán song phương, đảm bảo khả năng chia để trị của nước này, đồng thời duy trì vị thế áp đảo bất tương xứng của mình.

“Bộ Hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông” hầu như không có hiệu lực thực tế do quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam và Philippines ngày càng xấu đi, và vào năm 2011, Việt Nam đã cáo buộc các tàu của Trung Quốc hai lần cắt cáp thăm dò dầu khí của nước này. Vào tháng 7/2012, hơn chục tàu cá của Trung Quốc cùng hai tàu ngư chính nước này đã đối đầu với duy nhất một tàu hải quân của Philippines tại bãi cạn Scarborough.

Không dừng lại ở đó, Trung Quốc còn cho mời các công ty nước ngoài đấu thầu khai thác các lô dầu khí trong những vùng biển tranh chấp (tháng 7/2012). Tình hình bãi cạn Scarborough còn trở nên phức tạp hơn khi một tàu khu trục Trung Quốc mắc cạn tại một bãi cạn khác gần đó. Trái ngược với những báo cáo trước đó, sự việc này chứng tỏ các lực lượng bán quân sự Trung Quốc đang hoạt động phối hợp với Hải quân PLA và những hoạt động triển khai của nước này trên Biển Đông đều được lập kế hoạch từ trung ương ở mức độ cao hơn rất nhiều so với những đánh giá trong một số báo cáo trước đó.

Lo ngại trước những diễn biến này, một số thành viên ASEAN đã tìm cách củng cố các ràng buộc thể chế để kìm hãm thái độ cứng rắn của Bắc Kinh thông qua việc trở lại theo đuổi một bản COC có tính ràng buộc cao, đồng thời đẩy mạnh tiến trình triển khai các hướng dẫn của DOC. Đối với biện pháp thứ hai, các bên đã đạt được một thỏa thuận vào tháng 01/2012, thống nhất việc thành lập bốn nhóm chuyên gia về các vấn đề nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, tìm kiếm cứu nạn và đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia.

Tuy vậy, ASEAN và Trung Quốc vẫn không thể đi đến đồng thuận về một hội đồng chuyên gia chung cho vấn đề “an toàn hàng hải và thông tin liên lạc trên biển do bị đánh giá là chứa quá nhiều điểm gây tranh cãi”.[9] Về phương án xây dựng COC, Bắc Kinh vẫn khăng khăng cho rằng bản hướng dẫn DOC nên được triển khai trước, và chỉ đến khi đó, vào “thời điểm chín muồi” và “điều kiện cho phép” Trung Quốc mới cân nhắc tham gia đàm phán về COC.[10]

Gạt bỏ những phản đối chính thức từ Bắc Kinh, chính phủ Philippines vẫn tự soạn thảo một bản COC sơ bộ và chuyển cho các nước ASEAN. Mặc dù vậy, các vòng đàm phán nội bộ ASEAN đã gặp trở ngại từ phía các thành viên không có tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời mỗi nước vẫn còn nhận thức khác nhau về mối đe dọa tiềm tàng từ sức mạnh đang trỗi dậy của Bắc Kinh. Đơn cử như các thành viên ASEAN nảy sinh bất đồng từ Điều số 1 đến số 6, nội dung bao quát các vấn đề như “khai thác chung”, việc áp dụng UNCLOS, và việc thiết lập một Cơ chế Giải quyết Tranh chấp (Dispute Settlement Mechanism) của khu vực.

Cùng lúc, trong Hội nghị ASEAN lần thứ 20 tại Phnom Penh từ ngày 3 – 4/4/2012, Trung Quốc lại đưa ra một lập trường mới và yêu cầu phải có một ghế tham dự các cuộc đàm phám nội bộ của các nước ASEAN về COC. Với vai trò là Chủ tịch ASEAN vào năm đó, Campuchia đã ủng hộ yêu cầu này, nhưng vấp phải phản đối mạnh mẽ từ Philippines và Việt Nam. Các bên cuối cùng cũng đạt được thỏa hiệp, theo đó các thành viên ASEAN soạn thảo COC riêng, mặt khác Campuchia sẽ liên tục cập nhật tình hình đàm phán cho Bắc Kinh.[11]

Tiến triển trong việc soạn thảo COC được duy trì thông qua các cuộc thảo luận nội bộ ASEAN tại một Nhóm Công tác diễn ra vào tháng 4/2012, sau đó là một Cuộc họp các quan chức cấp cao (tháng 6/2012). Kết quả từ những cuộc họp mặt này là các bên tái soạn thảo những nguyên tắc cơ bản của COC. Bản thảo mới được công bố tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 45 (AMM) vào ngày 9/7/2012.

Tuy vậy, ngoại trừ các điểm đề cập đến hai cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định Thân thiện và Hợp tác và UNCLOS (cả hai đều mang tính tự nguyện), còn lại những phần dễ gây tranh cãi hơn trong phiên bản ban đầu do Philippines soạn thảo đều bị loại bỏ hoặc có phạm vi và mức độ cưỡng chế thi hành bị thu hẹp đáng kể.[12] Các ngoại trưởng của ASEAN sau đó đã bị cuốn vào cuộc tranh cãi khi phía Việt Nam và Philippines yêu cầu phải đưa vào (Tuyên bố chung của hội nghị) một đoạn đề cập đến hành động gây hấn của Trung Quốc – ví dụ như vụ bãi cạn Scarborough – và việc Bắc Kinh mời thầu khai thác các lô dầu khí trong khu vực Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam.

Khi Việt Nam và Philippines không chấp nhận rút đoạn đề cập này ra khỏi văn bản, Campuchia đã quyết định không ra tuyên bố chung của hội nghị. Các trang tin ngay sau đó tiết lộ Campuchia đã tham vấn ý kiến của Bắc Kinh ngay trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán.[13] Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa đã coi đây là một bước lùi nghiêm trọng cho ASEAN và phát biểu: “Tôi cho rằng chúng ta thực sự quá vô trách nhiệm nếu không thể đi đến một tuyên bố chung về vấn đề Biển Đông”.[14] Campuchia đã sẵn sàng hy sinh lợi ích chung của ASEAN về Biển Đông, trong khi đó Trung Quốc hiện là nhà đầu tư và viện trợ nước ngoài chính yếu cho Campuchia.

Ông Marty Natalegawa sau đó đã cố gắng hòa giải bất đồng này khi thực hiện một chuyến ngoại giao con thoi đến Campuchia, Việt Nam và Philippines. Từ các cuộc thảo luận này, và để giảm bớt mức độ căng thẳng song phương nội khối giữa các thành viên ASEAN tham gia tranh chấp Biển Đông, ông đã tự soạn thảo một “kế hoạch sáu điểm” và cho công bố vào cuối tháng 7/2012. Theo một nhà phân tích, tất cả các nước ASEAN đã “chấp thuận sáu nguyên tắc của ‘Lập trường chung ASEAN’ về vấn đề Biển Đông”, đặc biệt trong đó có yêu cầu các bên cam kết tuân thủ DOC, và “sớm thông qua Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông”.[15]

Tuy nhiên, kế hoạch sáu điểm đã không giới thiệu thêm bất cứ điểm mới nào, và chỉ có thể đóng vai trò tạm thời ngăn cản cuộc tranh chấp nổ ra. Ví dụ, biện pháp ngoại giao này đã bộc lộ những hạn chế rõ ràng khi các thành viên ASEAN từ chối yêu cầu từ Philippines về tái đàm phán một lập trường thống nhất của khối về Biển Đông tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tháng 11/2012. Kết quả là Philippines phải quay về với đường lối giao giao đơn phương và tự cầu viện trọng tài quốc tế thông qua Tòa án Luật biển Quốc tế ITLOS (nguyên văn).

Biện pháp chung nhất được các nhà phân tích ủng hộ là các bên gác lại tuyên bố chủ quyền của mình và chấp nhận các cơ chế thăm dò và khai thác chung. Mặc dù vậy, Trung Quốc tuyên bố sẽ chỉ sẵn sàng cân nhắc phương án này trên cơ sở song phương. Vấn đề ở chỗ, tình trạng thiếu vắng một thỏa thuận đa phương có thể gây khó khăn trong việc dàn xếp các tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn trong nội khối ASEAN. Trở ngại chính ở đây là các bên có tuyên bố chủ quyền của ASEAN không thể cùng thống nhất một lập trường chung, trong khi đó phía Trung Quốc vẫn nhất định yêu cầu cách tiếp cận song phương đối với tranh chấp.

Một yếu tố khác gây phức tạp hơn nữa liên quan đến quan điểm cho rằng đối với một số các nước tham gia tranh chấp, vấn đề Biển Đông có thể được coi là một “tranh chấp nguyên trạng” (status quo dispute). Một mặt, nhiều yêu sách chủ quyền không có cơ sở pháp lý vững chắc nếu dựa theo luật quốc tế, và điều này lý giải tại sao Trung Quốc không muốn sử dụng đến biện pháp trọng tài quốc tế. Mặt khác, một số quốc gia lại tin rằng mọi thay đổi về nguyên trạng hiện tại cũng sẽ không có lợi cho phía họ, đặc biệt là nếu xét theo những yếu tố như sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Điển hình như một quan chức quân đội cấp cao của Việt Nam từng phát biểu: “Nếu có bất cứ biến đổi nào trong cuộc tranh chấp, nó sẽ không có lợi cho Việt Nam, giải pháp tốt nhất chúng tôi có thể hy vọng là duy trì tình trạng hiện nay.”[16]

Kết luận

Khả năng ASEAN có thể đi đến một sự đồng thuận chung thực sự ý nghĩa về vấn đề Biển Đông vẫn tiếp tục mịt mùng. Thành viên của khối cho đến nay vẫn chưa thể hiện tinh thần sẵng sàng hy sinh “lợi ích quốc gia” để đổi lấy “lợi ích chung” cho ASEAN, kể cả khi lợi ích chung này sẽ đem đến lợi ích tối ưu, thậm chí là tuyệt đối cho tất cả các bên. Trong khi đó, một số nước ASEAN còn có lợi ích kinh tế và chiến lược phụ thuộc mạnh mẽ vào Trung Quốc. Một phương án có thể giúp giảm tình trạng tiến thoái lưỡng nan này là thành lập một tiểu ban công tác ASEAN, ví dụ như một nhóm ASEAN–X chỉ tập hợp các thành viên có yêu sách chủ quyền.

Dù cách này có thể giúp giảm nguy cơ mất đoàn kết trong những diễn đàn rộng hơn của ASEAN và đảm bảo uy tín vai trò trung tâm khu vực cho khối, nhưng ngược lại cũng làm suy yếu tiếng nói ngoại giao chung của ASEAN. Tuy nhiên, trong trường hợp một biện pháp như vậy được thông qua, nó cũng cần kết hợp với phương án các bên chấp nhận thăm dò chung dựa trên tinh thần tự nguyện tại những vùng biển tranh chấp còn quá mơ hồ trong việc áp dụng UNCLOS. Mặc dù vậy, vẫn có khả năng Trung Quốc sẽ phản đối bất cứ sáng kiến nào mà họ coi là đa phương hóa hay quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông.

Chú thích
‘ASEAN Declaration on the South China Sea (Manila),’ ASEAN Secretariat,http://www.aseansec.org/1196.htm.
‘Southeast Asia: International Code of Conduct Urged for Spratleys’, Inter Press Service, 22 July 1992.
Marvin Ott, ‘Asean and the South China Sea: A Security Framwork under Seige’, Center for Strategic and International Studies, http://csis.org/publication/asean-and-south-china-sea-security-framework-under-seige
Michael Richardson, ‘Chinese Gambit: Seizing Spratly Reef without a Fight,’ International Herald Tribune, 17 February 1995.
Trích từ bài viết của Barry Wain, ‘China Nibbles, Asean Dithers,’ The Wall Street Journal, 10 March 1995.
Joshua Kurlantzick, ‘China’s Charm Offensive in Southeast Asia,’ Carnegie Endowment for International Peace,http://carnegieendowment.org/2006/09/01/china-s-charm-offensive-insoutheast-asia/979.
‘Asia-Pacific,’ Strategic Survey 111, no. 1 (2011): 355.
Bài phỏng vấn của Christopher Roberts với học giả, Học viện Ngoại Giao Việt Nam (Hà Nội) tháng 1/2011.
Carlyle A. Thayer, ‘ASEAN’s Code of Conduct in the South China Sea: A Litmus Test for Community Building?’ The Asia-Pacific Journal: Japan Focus 10, no. 34 (2012): 3.
Bài đã dẫn.
‘A New Wave of Chinese Assertivness: Roping Off Scarborough Shoal, Oil Leases in Vietnam’s EEZ, Military Garrison on Land and Fishing Armada at Sea,’ trong Hội nghị quốc tế về Biển Đông lần thứ 2: Những phát triển địa chiến lược và triển vọng quản lý tranh chấp, do Viện Nghiên cứu Biển Malaysia (MIMA) tổ chức (2nd MIMA South China Sea Conference: Geo-Strategic Developments and Prospects for Disputes Management), Kuala Lumpur, 2012.
‘ASEAN’s Code of Conduct in the South China Sea: A Litmus Test for Community Building?’
‘Cambodia’s Foreign Relations; Losing the Limelight,’ The Economist, 17 July 2012.
‘Asean Struggles for Unity over South China Sea,’ Agence France Presse, 12 July 2012.
‘The Tyranny of Geography: Vietnamese Strategies to Constrain China in the South China Sea,’ Contemporary Southeast Asia 33, no. 3 (2011).
Bài phỏng vấn của Christopher Roberts với Quan chức Quốc phòng cấp cao tại Hà Nội, tháng 1/2012.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhớ Đồng Tâm


Kết quả hình ảnh cho Ảnh Đồng Tâm Mỹ Đức?


Thôi rồi nô nức của tôi
cái thời lắm mộng, cái thời hớn mưng
không qua cương tỏa sắc không
đắm say đến mấy
vẫn trông một ngày..
bạn giờ lá héo trên cây
chưa rung đã sợ
héo lay lắt cành!
Yêu là cho
sống là tình
cớ sao run mãi chỉ mành treo chuông?
Trúc Sơn mây đục mà thương
Xứ Đoài mơ,
xứ vấn vương
gió lành..
đường xưa đi mãi..
thôi đành!
Vì đâu nên nỗi mây thành
chưa tan?
Ta như chim lạc trên ngàn
Nhớ Đồng Tâm
thủa trăng vàng còn reo!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Ông trùm' và chuyện chưa kể về hoa hậu Bùi Bích Phương



Dương Kỳ Anh
VNN - Bùi Bích Phương, hoa hậu đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất lên thăm tôi ở nhà vườn Sóc Sơn. Gần 30 năm, từ ngày đội lên đầu chiếc vương miện trông Phương vẫn trẻ, đẹp, một vẻ đẹp mặn mà đằm thắm.

Bùi Bích Phương cùng tôi hồi tưởng lại những kỷ niêm một thời. Phương nhớ lại giây phút đăng quang... chiếc xe đạp Mipha giải thưởng của hoa hậu lúc đó được dắt ra sân khấu mầu sơn sáng loáng, nhãn mác vẫn còn nguyên...

Dạo đó, nhà Phương còn ở phố Bà Triệu, chỉ có một phòng rộng ở gác hai. Chiếc xe đạp bấy giờ là cả một gia tài. Mấy tháng đầu chỉ để ngắm. Chiếc xe được vác lên, để ở một góc phòng. Mọi người trong nhà, bạn bè, khách khứa đến chơi ai cũng muốn sờ lên yên xe, ghi đông, lốp xe thích thú.

Bùi Bích Phương đi học (trường ĐH Tổng hợp Hà Nội - khoa Anh) bằng tầu điện. Sau ba tháng “ngắm”, mọi người bảo Phương mang xe ra tập... đi. Lần đầu tiên ngồi lên chiếc xe đạp Mipha "Em sướng... run người" - Phương nhớ lại.

Ai cũng muốn "đi thử một cái". Người trong gia đình cũng như bạn bè, Phương đều vui vẻ cho đi thử... "Nhớ lại những ngày đó, em vẫn thấy như hiện ra trước mắt. Ngồi trên xe đạp, lâng lâng như đi trên mây... Mỗi lần đi đâu về, em đều lau sạch bóng, vác lên tầng hai, dựng ở góc phòng, khóa lại...

Một hôm đi học về muộn, trong người lại thấy mệt, em để xe ở chân cầu thang dù cẩn thận, khóa, rồi xích vào... Nhưng, sáng hôm sau ngủ dậy, chạy vội xuống, chiếc xe đã không cánh mà... bay'' - Bùi Bích Phương hồi tưởng.

Còn nhớ khi tòa soạn hay tin hoa hậu mất giải thưởng... Tôi nhờ một người bạn cùng quê, lúc đó làm công an ở quận Hai Bà Trưng tìm giúp. Khoảng ba tuần, anh bạn đến tòa soạn, mặt mày hớn hở thông báo đã tìm được xe. Tôi liền theo anh ta đi nhận dạng xe.

Xe đạp thời bấy giờ được đăng ký, có biển số hẳn hoi, như xe máy, xe ô tô bây giờ.Tôi không thông báo, muốn giành cho Bùi Bích Phương một sự bất ngờ... Khi chúng tôi đến nhà để xe (xe mất cắp) của đồn công an, một chiếc xe đạp Mipha vẫn còn mới, bị tróc một ít sơn ở càng xe.

Khi chúng tôi đang làm thủ tục để gọi Hoa hậu Bùi Bích Phương ra nhận thì có tiếng ồn ào ngoài sân, có người đến nhận xe mất cắp. Công an phường đang kiểm tra giấy tờ. Tôi nhìn ra cửa, thấy một người đàn ông to cao cầm ghi đông chiếc xe đạp kêu lên: "Xe của tôi đây rồi, cảm ơn các đồng chí... tôi đã mang nó từ Đức về...".

Đúng chiếc xe mà chúng tôi cứ nghĩ là... xe giải thưởng của Hoa hậu Bùi Bích Phương. Tôi và anh bạn kiểm tra giấy đăng ký, số hiệu chiếc xe của người đàn ông to cao kia, hoàn toàn trùng khớp với chiếc Mipha...

Thì ra, chúng tôi nhầm. Hóa đơn của ban tổ chức chuyển cho tôi ghi số khung xe thiếu một con số... Mừng hụt. Anh bạn tôi đỏ mặt bảo: "May mà... chưa mời hoa hậu ra, không thì xấu hổ đến... độn thổ!".


Một sáng Chủ Nhật, tôi đến nhà Phương ở phố Bà Triệu định kể cho hoa hậu nghe chuyện mừng hụt ấy... Thấy Phương đang giặt quần áo ở bể nước công cộng, dùng chung cho các khu nhà. Phương mặc bộ đồ ngủ bằng vải hoa.

Trong buổi sáng tinh khôi của mùa hè, hình như con người cũng trở về thủa nguyên sơ. Gương mặt trái xoan, đôi mắt mơ màng, nụ cười bỡ ngỡ... Cổ tay, bờ vai, thân hình tròn lẳn, trẻ trung... tất cả toát lên một vẻ đẹp cũng tinh khôi. Tôi đứng nhìn Phương, không khỏi ngỡ ngàng...

Những ngày luyện tập, cả những lúc Phương biểu diễn trên sân khấu, giây phút trao vương miện... vẻ đẹp của Phương hình như không hiện ra cụ thể, tôi hoàn toàn không cảm nhận hết được... Lúc này một Bùi Bích Phương hoàn toàn khác... Nguyên sơ, chân thật, hồn nhiên...

Có thể, tôi là một nhà thơ, cảm nhận về cái đẹp lúc đó là vẻ đẹp của thi ca... không phải là vẻ đẹp của một thiếu nữ trong con mắt trưởng ban giám khảo Hoa hậu Việt Nam! Tôi lặng lẽ bước ra đường, muốn giữ nguyên hình ảnh nên thơ ấy, không muốn Phương biết chuyện được mất gì cả...

Sau khi tốt nghiệp đại học trong nước Bùi Bích Phương sang Hàn Quốc làm luận văn thạc sĩ. Bây giờ Phương đã có thể dùng thành thạo nhiều thứ tiếng như tiếng Anh, tiếng Hàn… "Chính gia đình, bố mẹ, anh chị đã động viên, giúp sức cho em vượt lên những khó khăn, gian khổ" - Bùi Bích Phương nói.

Tôi đã dự đám cưới của hoa hậu Bùi Bích Phương với tiến sỹ toán học Vũ Thiệu Giang. Bây giờ chồng Phương đang điều hành một công ty liên doanh với Nhật. Hoa hậu Bùi Bích Phương đã có hai con: Gia Hiển (con trai sinh năm 2001) và Phương Anh (con gái – sinh năm 2004). Phương nói giáo dục gia đình rất quan trọng.

Tiếp nối truyền thồng gia đình, tiếp nối tuyền thống gắn kết, hoa hậu Bùi Bích Phương luôn dạy các con biết lắng nghe, quan sát, để tự học, tự làm mọi việc, không ỷ lại, biết quan tâm giúp đỡ mọi người, biết yêu lao động và trân trọng sức lao động của người khác…

Người ta nói Bùi Bích Phương là hoa hậu thấp nhất Việt Nam, tôi lại nghĩ khác. Tai cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở nước Việt Nam thống nhất, có nhiều cô gái đẹp có chiều cao hơn Phương như Á hậu Thu Mai (cao 1.70), nhưng chúng tôi không chọn mà chọn Bùi Bích Phương có chiều cao khiêm tốn hơn nhưng, qua thời gian, thử thách hoa hậu Bùi Bích Phương trở thành hoa hậu có tầm cao nhất về nhiều mặt

Nhiều lần, báo chí, đài truyền hình phỏng vấn tôi với câu hỏi: "Hoa hậu nào mà anh cho là tiểu biểu cho các hoa hậu Việt Nam?, tôi đều nói: hoa hậu Bùi Bích Phương.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

8 tính cách của người có giáo dục



Nam Nguyễn sưu tầm, bổ sung lời dịch của Đoàn Tử Huyến – Theo: Chungta
Thế nào là người có giáo dục? Nhiều khi “vô học” lại là những kẻ chữ nghĩa đầy mình, cũng như những người nông dân ít học lại vô cùng sáng suốt và tinh tế… Liệu người ngày xưa và ngày nay có hiểu khái niệm “con người có giáo dục” khác nhau không, hãy xem qua câu chuyện cách đây gần một thế kỷ rưỡi này…

Anton Chekhov (1860-1904) –nhà văn và tác giả kịch vĩ đại người Nga-đã để lại 900 tác phẩm đủ các thể loại, nhưng trong cuộc sống ông còn dạy chúng ta nhiều điều hơn trong các tác phẩm của mình.

Ông có người em ruột Nicolai là một họa sỹ đầy tài năng, nhưng tiếc thay lại không có bản lĩnh và suốt đời say rượu. Ông rất hiểu, rất thương và buồn cho cách người em coi thường chính khả năng trời phú của mình. Và ông không có cách nào hơn, là viết cho Nicolai một bức thư, mà đến nay chúng ta đọc lại cũng sẽ tìm được cho mình khá nhiều điều bổ ích…

“Matxcơva 1886

“Em thường than thở với anh là “Người ta chẳng hiểu em!” Đến Niutơn và Gớt còn chẳng than thở về điều đó…Người ta hiểu em rất rõ! Nếu người khác không hiểu em, thì đó không phải lỗi của mọi người…

Là một người thân và gần gũi với em, anh có thể khẳng định rằng anh rất hiểu và đồng cảm với em…Anh biết tất cả mọi tính tốt của em, như năm ngón tay của bàn tay mình vậy, đánh giá rất cao và kính nể chúng. Nếu để chứng minh rằng anh hiểu và đánh giá cao chúng thì anh thậm chí có thể liệt kê chúng ra đây. Theo anh thì em tốt bụng đến mức quá đà, rất rộng lượng, dễ tính, thương người, thương yêu súc vật, không đểu giả, không thù dai, tin người…Em gặp may hơn rất nhiều người: trời cho em tài năng! Tài năng đặt em lên trên hàng triệu người, vì cứ hai triệu người mới có một họa sỹ tài năng…

Tài năng đặt em vào một vị thế đặc biệt: em có là con cóc hay con nhện độc, thì mọi người vẫn tôn sùng em, vì tài năng được bỏ qua, tha thứ tất cả. Em chỉ có một điểm yếu duy nhất. Nó là nguyên lý sai lầm của em, của nỗi khổ của em, của chứng viêm loét dạ dày của em. Đó chính là tính vô giáo dục đến cực điểm của em! Xin tha lỗi cho anh, nhưng veritas magis amicitiae (chân lý cao hơn tình bạn)…Bởi vì cuộc sống có những điều kiện của nó…Muốn cảm thấy thoải mái trong môi trường trí thức, không trở nên lạc lõng ở đó và không cảm thấy nặng nề thì cần phải được giáo dục một cách căn bản…Tài năng đưa em vào môi trường đó, em thuộc về đẳng cấp đó, thế nhưng…em bị lôi kéo khỏi nó, và em cứ phải tìm cách cân bằng giữa tầng lớp văn minh và những người vis-a-vis (đối nghịch). Dễ thấy ảnh hưởng của thói tiểu tư sản thành thị, rượu chè, bố thí…Thật khó mà vượt qua được điều đó, quả thật rất khó!

Những người có giáo dục cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:

Họ trân trọng cá tính con người, vì vậy luôn độ lượng, nhẹ nhàng, lịch thiệp, nhường nhịn… Họ không nổi đóa lên vì một cái búa hay chiếc tẩy bị mất; sống với ai họ chẳng lấy đó là sự làm ơn, còn khi ra đi không nói rằng: tôi không thể sống với cô (anh) được! Họ bỏ qua những chuyện ầm ĩ, lúc lạnh lùng, miếng thịt rán quá lửa, những câu châm chọc, sự có mặt của người lạ trong căn nhà mình…

Họ có lòng trắc ẩn không chỉ với những người ăn mày hay những con mèo. Tâm hồn họ đau đáu cả với những điều mắt thường không trông thấy được…

Họ tôn trọng tài sản của người khác, và vì vậy luôn trả hết các khoản nợ.

Họ trung thực và sợ sự dối trá như sợ lửa. Họ không nói sai cả trong những điều vặt vãnh. Nói dối là xúc phạm người nghe và hạ thấp người nói trong con mắt người nghe. Họ không phô trương, hành xử ở nơi công cộng cũng như ở nhà, không phỉnh phờ lớp người trẻ tuổi… Họ không ba hoa, không giãi bày tâm sự những khi không được hỏi đến. Vì tôn trọng những lỗ tai người khác, họ thường im lặng.

Họ không tự hủy diệt mình với mục địch để gợi dậy nơi kẻ khác sự thương cảm và giúp đỡ. Họ không khơi gợi lòng trắc ẩn của người khác để nhận lại sự cảm thông và chăm sóc. Họ chẳng nói: Người ta không hiểu tôi!…

Họ không phù phiếm. Họ chẳng quan tâm đến những trò hư vinh, như việc quen biết các nhân vật danh tiếng, lời thán phục của đám người gặp ở salon, sự nổi tiếng nơi quán rượu…

Nếu họ có tài năng, thì họ biết trân trọng nó. Vì nó, họ hi sinh thời gian, đàn bà, rượu chè, những việc lăng nhăng…

Họ phát triển nơi mình khả năng thẩm mĩ. Họ không thể mặc nguyên áo quần mà ngủ, không thể nhìn thấy những khe nứt đầy rệp trên tường, hít thở không khí nặng mùi, bước trên sàn nhà toàn vết nhổ, ăn uống ngay từ trên bếp dầu. Họ cố gắng có thể chế ngự và hoàn thiện bản năng tính dục. Những người có giáo dục trong vấn đề này không nặng về bếp núc. Họ cần ở đàn bà không phải chuyện giường chiếu, không phải mồ hôi ngựa, không phải đầu óc thể hiện khả năng gạt gẫm giả vờ có thai và nói dối không biết mệt… Họ, đặc biệt là những họa sĩ, cần sự tươi mới, tao nhã, tính người. Họ không tham lam bạ đâu uống đấy, không đánh hơi các loại tủ, vì họ biết rằng họ không phải là những con heo. Họ chỉ uống những khi rảnh rỗi, gặp dịp… Bởi vì họ cần mens sana in corpore sano (một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khỏe mạnh).

Để giáo dục bản thân và không đứng thấp hơn môi trường xung quanh…cần phải làm việc cả sáng cả chiều, đọc luôn luôn, lòng hiếu học, lý trí…Từng giờ khắc đều quý…Em hãy đến đây, đập vỡ cái bình rượu vođka ấy đi, nằm xuống và đọc, hãy đọc chẳng hạn Turgeniev, tác giả mà em còn chưa đọc ấy…!”


P.S. Nhà văn Chekhov còn là một bác sỹ tâm lý giỏi, thế nên ông là hình mẫu của việc “nói được-làm được”. Cũng như đa số các nhà văn, nhà thơ kinh điển của Nga (hình như có một “truyền thống” như vậy) ngoài vợ ra ông còn có hàng chục nhân tình và luôn tìm được cách thoát ra khỏi họ mà không quá làm họ tổn thương. Ông cũng rời khỏi cõi đời theo một cách rất “có giáo dục” và phải nói là rất ngoạn mục. Bị lao phổi đã lâu, khi đang nghỉ dưỡng ở Đức, thấy mệt lúc nửa đêm, lần đầu tiên ông cho mời bác sỹ tới khám. Khi bác sỹ tới rồi, ông gọi một chai sâm-panh, rót đầy một cốc, sau đó nói “Tôi chết đây” bằng tiếng Đức và tiếng Nga. Thế rồi ông uống hết cốc rượu, cười bằng nụ cười luôn quyến rũ của mình, chỉ nói thêm “Tôi lâu lắm chưa uống sâm-panh…”, nằm xuống giường và ra đi mãi mãi!

Đọc lại, để tự răn mình…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoang tàn khu du lịch ngàn tỉ


Bài và ảnh: Lê Trường 






























NLĐO - Dự án Khu Du lịch Bình Tiên (xã Công Hải, huyện Thuận Bắc) do Công ty CP Đầu tư và Du lịch Bình Tiên (Công ty Bình Tiên) làm chủ đầu tư được đánh giá là… hoành tráng nhất từ trước đến nay ở tỉnh Ninh Thuận. Thế nhưng, sau 12 năm, kể từ ngày được cấp phép đầu tư, dự án vẫn trong tình trạng dở dang.

Giẫm chân tại chỗ

Khu Du lịch Bình Tiên được UBND tỉnh Ninh Thuận cấp phép vào tháng 8-2005 với tổng vốn 550 tỉ đồng. Sau đó, Công ty Bình Tiên nâng mức đầu tư lên 2.579 tỉ đồng.

Tại thời điểm Công ty Bình Tiên được chấp thuận chủ trương đầu tư, khu du lịch này được xem là dự án trọng điểm của Ninh Thuận. Dự án có quy mô rất lớn, gồm nhiều hạng mục chính như hệ thống khách sạn cao cấp 500 phòng, trung tâm hội nghị quốc tế 1.000 chỗ ngồi, 200 căn biệt thự và hàng loạt cơ sở hạ tầng phục vụ vui chơi, giải trí (bến du thuyền, sân golf, nhà thi đấu thể thao)...

"Hoành tráng" là vậy nhưng hơn 10 năm qua, từ ngày được khởi động, tiến độ xây dựng Khu Du lịch Bình Tiên gần như giẫm chân tại chỗ. Đầu tháng 9 này, khu vực triển khai dự án vẫn vắng lặng. Nhà điều hành của ban quản lý dự án không một bóng người, rải rác những trụ bê tông bị vứt lăn lóc, một vài nhà đơn lập chỉ mới xây phần thô, rêu phong bám đầy, xung quanh cỏ dại um tùm...

Nhiều người ở Bình Tiên cho biết vài năm qua, họ không thấy công nhân đến xây dựng ở khu du lịch, cũng chẳng thấy chủ đầu tư đến kiểm tra, cắt cử người bảo vệ. "Tiến độ xây dựng như thế thì cả chục năm nữa cũng không xong" - ông Lê Năm, một người dân địa phương, nhận xét.

Quá nhiều cái "nhất"

Dự án Khu Du lịch Bình Tiên từng thuộc "top" của tỉnh Ninh Thuận do vốn lớn nhất, diện tích rộng nhất (trên 190 ha) nhưng lại ì ạch nhất, gia hạn nhiều nhất (4 lần), qua nhiều đời chủ tịch UBND tỉnh nhất (5 đời).

Theo tìm hiểu của phóng viên, cuối tháng 8-2013, khi được UBND tỉnh yêu cầu giải trình về sự quá chậm trễ tiến độ xây dựng khu du lịch, Công ty Bình Tiên nại nhiều lý do như công tác giải phóng mặt bằng gặp trở ngại, kéo dài; nguồn nước cung cấp cho hoạt động của khu du lịch (do UBND tỉnh giao cho một doanh nghiệp địa phương thực hiện) chưa xây dựng, tỉnh chưa kéo đường điện cao thế cho khu vực này… Tuy nhiên, đại diện chủ đầu tư vẫn thừa nhận dự án kéo dài còn do công ty không chủ động được nguồn vốn; thiết kế dự án phải chỉnh sửa nhiều lần, hợp đồng thi công kéo dài.

Sau đó, Công ty Bình Tiên cam kết đến cuối năm 2014 sẽ hoàn thành ít nhất 3 hạng mục: hệ thống giao thông, cấp thoát nước, sân golf; cuối năm 2015 sẽ xây xong khách sạn 5 sao 200 phòng và 80 biệt thự - nhà đơn lập; năm 2016 triển khai xây dựng trung tâm hội nghị quốc tế, hệ thống khách sạn, biệt thự, khu thủy cung vui chơi…

Ngày 10-9, ông Bùi Anh Tuấn, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận, cho biết đầu năm 2017, khi kiểm tra thực tế tiến độ thực hiện dự án Khu Du lịch Bình Tiên, chủ đầu tư chỉ mới hoàn thành một số hạng mục của giai đoạn 1 như: kè chắn sóng, nhà của ban điều hành, hồ chứa nước sinh hoạt chung và khu tái định cư cho dân bị thu hồi đất để thực hiện dự án.

Theo ông Tuấn, Khu Du lịch Bình Tiên ì ạch đã quá rõ nhưng căn cứ Nghị định 01/2017 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, tháng 7-2017 vừa qua, UBND tỉnh tiếp tục gia hạn 24 tháng cho dự án này. "Nếu sau 24 tháng mà chủ đầu tư không triển khai xây dựng đúng tiến độ thì tỉnh sẽ thu hồi" - ông Tuấn khẳng định.
***

Sung túc... trong mơ!

Để thực hiện dự án, UBND tỉnh Ninh Thuận đã thu hồi đất sản xuất, đất ở của 72 hộ dân thôn Bình Tiên, với lời hứa không chỉ của nhà đầu tư mà cả chính quyền địa phương là chỉ trong vài năm, khi khu du lịch hình thành, đời sống của bà con sẽ khá hơn nhờ kinh doanh, dịch vụ.

Tuy nhiên, viễn cảnh tươi đẹp ấy của người dân Bình Tiên chỉ là... trong mơ. Sau khi nhận tiền đền bù, xây lại nhà ở khu tái định cư, rất nhiều gia đình không còn đất sản xuất, chăn nuôi, lại thiếu tiền làm vốn nên phải đi nơi khác mưu sinh. "Cứ nằm vùi trong khu tái định cư chật chội, bà con không biết xoay xở thế nào cho cuộc sống" - nhiều người dân thôn Bình Tiên bức xúc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CẢM NHẬN VỀ CUỐN TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY CỦA TRƯƠNG VĂN DÂN



Đọc sách

Ý nghĩa của cuốn tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”
thông qua hình ảnh của những bàn tay

Nguyễn Đăng Hưng 
Tiểu thuyết đầu tay của tác giả Trương Văn Dân có tựa đề là “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, một tựa đề khá độc đáo. Nhìn qua ta có cảm giác một cái gì lãng mạn nhưng mong manh dễ vỡ.
 

Tác giả đã viết về hình ảnh này: “Trong cuộc sống, tôi biết từ đây và mãi mãi về sau, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể giật nẩy mình về những cơn hồi tỉnh bất ngờ của ký ức, và tôi lại thấy bóng dáng người đàn bà mảnh mai, một tay dắt con đi dưới cơn mưa lất phất, bàn tay còn lại đưa lên che những giọt nước từ trời rơi xuống. Những bàn tay quá bé nhỏ nên không sao ngăn nổi định mệnh của đất trời.”

Đây là câu chuyên về một cuộc tình, về một phụ nữ trẻ đẹp có cái tên là Gấm, sống ở Sài Gòn thời hiện đại. Mưa ở đây là định mệnh của trời, của dòng đời nghiệt ngã, của bối cảnh xã hội đương đại với biết bao ngang trái, bất công, vùi dập, là thế giới chạy theo tăng trưởng với vô số hậu quả cho môi trường sinh thái, cho sức khỏe, cuộc sống con người. 

Gấm đã trải qua hai cuộc hôn nhân bất hạnh, phải tự mình chăm nuôi một đứa con. Nhưng rồi Gấm gặp một nhà báo, một người đàn ông, một tâm hồn đồng điệu làm cô nhanh chóng thăng hoa trong một cuộc tình mới, chia sẻ đồng đều cho cả hai. Gấm đã tìm thấy hạnh phúc trong cuộc đời tưởng chừng như một phép lạ.

Bàn tay lãng mạn dưới mưa của nàng đã đem lại cho chàng những giây phút tuyệt vời của tình ái: 


“Bàn tay nàng vuốt dọc từ bàn chân lên đùi, làm tôi có cảm giác là những sợi thần kinh xúc giác đang đê mê chuyển động” [393-394]

Nhưng hạnh phúc lứa đôi sẽ không dài. Sau ba năm mặn nồng, bác sỹ phát hiện Gấm bị ung thư phổi, “tình trạng không thể dùng phẫu thuật để cắt bỏ”. 

Bàn tay lãng mạn kia đã đổi khác một cách phũ phàng:

“Tôi cúi nhìn mấy ngón tay khô khốc của mình. Bàn tay tôi cầm bàn tay mình khô héo. Tôi nhận thấy chiếc nhẫn hôm nào anh cẩn trọng đeo vào bây giờ lỏng le trong ngón tay gầy ốm!” (298).

Cốt truyện của “Bàn tay nhỏ dưới mưa” giản dị chỉ có thế.

Nhưng đó không phải là chủ đích của tác giả. 

Thật vậy, tuy là tiểu thuyết đầu tay, Trương Văn Dân muốn “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, là một cuốn tiểu thuyết đặc biệt, chất chứa những thông điệp sâu sắc hơn nhiều.

I. Trước hết, tác giả muốn gửi gắm đến độc giả một quan niệm tuyệt đối về tình yêu: 

“Lúc thức dậy, tôi thấy mình nằm trong vòng tay anh.Tôi có cảm giác mình sẽ không thể chết. Bởi tình yêu mầu nhiệm có thể chữa lành mọi thứ, có thể cản ngăn những tế bào phát triển. Kể cả ung thư.”

Hay đoạn văn hoành tráng về tình yêu thân xác sau đây:

“Anh quàng lấy thân người tôi đang run rẩy “Em hãy bay đi!” rồi siết mạnh và tình tứ nhìn tôi. Cái nhìn vuốt ve, đắm đuối, cái nhìn như cơn bão xoáy, cuốn hút rồi lốc tôi rơi vào giữa đại dương êm ái. Tôi miên man ngụp lặn. Bờ môi tôi cuống quít áp lên cổ rồi trườn xuống lồng ngực đầy nam tính của anh đang phập phồng. Tôi hôn anh nhẹ nhàng. “Anh ơi, em si mê anh…lúc nào em cũng khao khát thèm muốn anh” “…Anh ơi ôm chặt em đi, mau đi anh…”. Rồi…Những tiếng rên rỉ làm không gian rung lên. Đất trời vần vũ, chuyển mình trong lôi cuốn huyền hoặc của tình yêu. Ngọn lửa đam mê trong lòng như đốt tôi thành hơi nước, thăng hoa trong tiếng rên rỉ và giãy đạp của cảm xúc…Tôi không còn biết gì, toàn thân ngây dại, chỉ nghe tiếng trái tim mình đập liên hồi, theo cái nhịp gấp gáp của anh đang bóp thắt trong tôi”.

Bởi thế, Gấm không muốn chết vì ung thư. Nàng đã chọn cái chết trong lúc đang yêu, đang nằm trong vòng tay người yêu, trong giây phút tuyệt đỉnh nhất:

“Tôi bất chợt ưu tư khi thấy bàn tay nàng lạnh giá. Tôi ôm nàng, hốt hoảng khi thấy hòn than trước đó bây giờ tắt ngúm, Tôi chưa kịp nói gì thì nàng đã tiếp: “ Em mãi mãi yêu anh”. Rồi hai tay nới lỏng vòng ôm. Buông xuôi. Như cành cây bị gãy”. “Nàng đã ra đi. Đã đoạn tuyệt vòng đời chật hẹp. Gấm đã chết!”

Thật ra quan niệm về sự hiện hữu bất diệt của tình yêu không mới. Nhưng dưới ngòi bút Trương Văn Dân, tình yêu đã thành một thực thể vĩnh cửu, vẫn mãi tồn tại sau khi Gấm đã từ giã cõi đời, tồn tại trong tâm khảm người yêu còn sống sót và ngay cả sau này, chan hòa cùng trời đất cỏ cây, vũ trụ..

Trong văn chương Việt Nam hiện dại, rất khó tìm được những lời ca tụng thân xác, da thịt người phụ nữ ngọt ngào và nồng nàn như sau đây: 


“Ánh trăng như một làn sóng xanh tràn qua song, thả xuống nửa giường một vầng sáng. Những luồng sáng uốn lượn theo từng đường cong trên người Gấm. Thân thể nàng hiện lên như một vũ trụ, có đủ thảo nguyên bát ngát. Đồi núi ngút ngàn. Hương cỏ thơm tho. Trong khung cảnh mơ màng đó, dường như tất cả hương nồng của trái đất đang trải rộng ra. Mùi hương nhài Gấm trồng ngoài cửa sổ toả ra thơm ngát, hoà với mùi thoang thoảng của những chiếc lá non mới nhú. Tất cả trộn lẫn, ướp vào hơi thở sâu của những chiếc hôn ngọt ngào. Cảm giác sắp được hiến dâng, tiếp nhận làm chúng tôi thấy vô cùng khăng khít. Có một lúc tôi nhìn thấy ánh trăng. Hình như còn có một luồng sáng của nó phản chiếu từ chiếc gương trên tủ áo hắt lên tường một thứ ánh sáng mờ nhạt, ve vuốt hai thân hình trần trụi đang ôm chặt lấy nhau, bất động. Gió ngoài cửa sổ mà tôi tưởng như gió đang thổi vào tai mình, rúng động toàn thân, làm bật lên những tia lửa đam mê cháy bỏng. Người tôi như bềnh bồng trôi giữa ánh trăng. Tôi ngậm lấy bầu vú của nàng theo bản năng của đứa bé thời thơ ấu vẫn thạo vú mẹ mình. Tôi chiêm ngưỡng thân thể trắng ngần, ngà ngọc của Gấm như nhìn thấy một nửa thân thể của mình”.

Hay lúc họ cùng nhau ân ái trong giai đoạn nàng đang bị chứng nan y:

”Nỗi đau biến mất..
Rồi mặt trời mặt trăng chuẩn bị nuốt chửng nhau
Chuẩn bị che lấp, chuẩn bị chồng lên nhau.
Rồi nhập vào nhau thành một cơ thể 

 
Cảm xúc vở òa. Rồi như có tiếng sấm trong tai và những tia chớp ngoằn ngoèo dọc theo sương sống. Rồi cảm giác nóng lạnh, rùng mình từ cột sống xốc lên đỉnh nảo, lan tỏa khắp toàn thân”.

Bàn tay của Gấm vẫn sống mãi với anh về sau, ngay cả khi đã qua đời:

“Trong một thoáng đột ngột, tôi không còn nghe bàn tay, đôi vai, gò má... những phần thân thể của mình mà Gấm mới chạm vào. Thế nhưng hơi ấm của bàn tay nàng như còn đọng lại. Tôi giật mình. Tỉnh giấc giữa mênh mông”...

II. Sau đó và có lẽ quan trọng hơn, tác giả muốn trong cuốn tiểu thuyết này gửi gắm những quan điểm, suy tư, lo ngại của tác giả về những tổn thất của xã hội loài người vì những nguy cơ hiện hữu, như tình trạng chạy đua theo lợi nhuận, về sự tàn phá của môi trường sinh thái, về những tinh vi mới trong giao thương, trao đổi hàng hóa, chất chứa hóa chất độc hại, nông sản biến đổi gien, về sự thống trị ngày càng trầm trọng của giới tài phiệt quốc tế...

Đọc những thông điệp này, ta có cảm giác tuy không nhắc đến Việt Nam, nhưng tác giả gợi ý cho bạn đọc Việt Nam về những nguy cơ trên, với cường độ trầm trọng bội phần!

Tác giả đã không ngần ngại hư cấu ra những nhân vật chẳng dự phần nào vào cốt truyện như bác Thuận, nhà văn Nguyễn Quang, chị Kim Ngân, anh Tú, anh Hưng, họa sỹ Lâm, nhờ họ chuyển tải cho bạn đọc những chuyên đề mà mình tha thiết. Vì vậy, ”Bàn tay nhỏ dưới mưa” có dáng dấp của một cuốn tiểu thuyết luận đề thời hiện đại. Đây là cái mới ít thấy trong văn chương Việt Nam ngày nay. Trong những phần này, tác giả đã không giấu được gốc gác mình là một người Việt sống lâu năm ở nước ngoài, hấp thụ được nền văn hóa Châu Âu đa dạng đa chiều, thật sự có tự do ngôn luận, tự do phản biện với tinh thần trách nhiệm của một trí thức dấn thân.

Tôi hoàn toàn đồng ý với Gấm khi nói về anh: ”Anh viết như dâng tặng tấm lòng mình cho người đọc, như chia sẻ tâm tư, như giãi bày tâm sự, mời gọi mọi người cùng suy ngẫm. ..anh không hề có ý định thuyết phục mà chỉ bày tỏ lòng mình. .. Cái đẹp của văn anh là nội dung, cảm xúc, những trăn trở nhân sinh...”

Tôi cũng xin nói thêm là có lẽ vì những luận đề này mà ”Bàn tay nhỏ dưới mưa” có lúc làm người đọc phải ngừng lại, gấp sách chờ mai đọc tiếp. Cái lạ của tình cảm đôi lứa chỉ cần cảm nhận nhưng cái lạ của kiến thức khoa học và xã hội làm người đọc phải động não, suy ngẫm!

Đọc mà ”Bàn tay nhỏ dưới mưa” cần thời gian là vì vậy!

Tôi cũng có liên tưởng là tác giả đã lấy cảm hứng cho cuốn tiểu thuyết này từ một người phụ nữ đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời mình:

Thoáng nhìn một sợi tóc rơi
Nợ em một đời thiếu nữ
Đường đời em đi ngược gió
Anh nợ một lần dìu em
Anh ngồi xâu chuỗi bình yên
Bão giông cuộc đời nghiệt ngã
Nợ ngày anh lại nợ đêm


”Bàn tay nhỏ dưới mưa” đích thực là một cuốn tiểu thuyết đầy tính nhân văn, nhưng đa sắc thái, chứa đựng khía cạnh lý trí nhuần nhuyễn của Tây phương và tình cảm tinh tế của Á đông. Tuy sống ở trời Âu cả mấy chục năm, Trương Văn Dân vẫn giữ được giọng văn Việt mượt mà, tha thướt nhiều lúc đầy chất thơ...

Một cuốn tiểu thuyết nên đọc, những động tác đầy quyến rũ của một bàn tay dưới mưa, trên đường đời và trong không gian tri thức, với nhiều bất trắc trái ngang của con người, của thời đại hôm hay...

Nguyễn Đăng Hưng,
Sài Gòn ngày 10/9/2017
______
.
ĐÃ ĐĂNG TẢI TRÊN VĂN HÓA NGHỆ AN
http://vanhoanghean.com.vn/…/nhung…/doc-ban-tay-nho-duoi-mua


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiểm họa nguyên tử và dân tộc chủ nghĩa tại châu Á


Kim Jong Un trong buổi lễ mừng thành công của các nhà khoa học Bắc Triều Tiên về chế tạo bom H. Ảnh của KCNA ngày 10/09/2017.

Nhà chính trị học Bruno Tertrais, phó giám đốc Quỹ Nghiên cứu Chiến lược khi trả lời phỏng vấn của Le Monde số ra ngày 11/09/2017, đã nhận định có hai khu vực trên thế giới phải đối phó với hiểm họa nguyên tử, đó là châu Âu và châu Á. Tuy nhiên tình hình tại châu Á là nguy hiểm nhất.
Thưa ông, có nên nhìn nhận rằng Bắc Triều Tiên đã trở thành một cường quốc nguyên tử hay không ? Như vậy đây sẽ là nước thứ 9 - sau năm nước đã được Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) công nhận là Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc – cùng với Israel, Ấn Độ, Pakistan ?

Vụ thử nguyên tử lần thứ sáu hôm 3/9 và các hỏa tiễn được bắn đi trước đó, là những tiến bộ quan trọng của Bắc Triều Tiên, và nhìn chung, đây là một bước ngoặt. Bình Nhưỡng nay đã chế tạo được hỏa tiễn liên lục địa, và nắm được công nghệ nguyên tử - có thể là bom H cho dù chưa khẳng định được về vụ nổ có sức mạnh 150.000 tấn này. Dưới thời Kim Jong Un, các chương trình này đã được đẩy nhanh, tuy cần nhắc lại rằng đó là công nghệ của thập niên 50, và Bắc Triều Tiên đã mất nửa thế kỷ mới đạt được !

Câu hỏi đặt ra là thái độ của Bình Nhưỡng phía sau chương trình nguyên tử, có thể là họ đang say men chiến thắng. Một quân nhân Mỹ tại khu phi quân sự chia đôi hai nước Triều Tiên, từng nhận xét về những người lính phía bắc sau vụ thử hạt nhân đầu tiên năm 2006: « Sáng nay, họ có vẻ oai vệ hơn… »

Trường hợp của Bình Nhưỡng chứng tỏ hai quy luật. Thứ nhất, một quốc gia cảm thấy bị đe dọa và không có được một sự bảo đảm an ninh chắc chắn, sẽ làm mọi cách để sở hữu vũ khí nguyên tử. Thứ hai, khi một quốc gia quyết tâm vượt qua một cái ngưỡng nào đó, thì rốt cuộc cũng sẽ vượt được. Chỉ có hai ngoại lệ : đó là thay đổi chế độ chính trị như trường hợp Nam Phi và Brazil, hay một hành động quân sự : Irak, nếu không có cuộc chiến năm 1991, chắc là sẽ có được bom nguyên tử vào cuối thập niên. Nhưng việc nhìn nhận năng lực nguyên tử không có nghĩa là công nhận.
Còn có thể chận đứng được Bình Nhưỡng hay không ?

Từ nhiều năm qua, chương trình hạt nhân Bắc Triều Tiên là không thể đảo ngược. Đây là vấn đề cốt tử của chế độ, hơn nữa đã được ghi vào Hiến pháp. Trước hết, đó là phương tiện để tự vệ, để bảo đảm sự tồn tại : đối với Bình Nhưỡng, « mối đe dọa » Mỹ được định nghĩa là đe dọa hạt nhân. 

Vũ khí nguyên tử cũng mang lại cho Bắc Triều Tiên vị thế về mặt chính trị. Bình Nhưỡng nay tự cho là đã đứng vào hàng ngũ hiếm hoi các Nhà nước nguyên tử, sánh vai với Washington. Chương trình này cũng mang lại niềm tự hào dân tộc, năng lực răn đe là ưu thế của một chế độ tự cho là bảo vệ nhân dân…Như vậy nếu tin rằng sẽ tiến đến hủy bỏ chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng, thì chỉ là ảo tưởng. Nhưng niềm tin này cần được bênh vực, và đối với Seoul cũng như Tokyo, không thể đòi hỏi ít hơn.

Thế thì phải đáp trả như thế nào ?

Cần nhìn nhận thực tế ấy trong chính sách răn đe, bắt đầu là với Hoa Kỳ. Đối với người Mỹ, bảo vệ cũng là một cách đáp trả, ví dụ hệ thống lá chắn ở California và Alaska. Tiếp theo, cần phải duy trì, áp dụng toàn diện các biện pháp trừng phạt - nhất là phía Trung Quốc. Lợi ích của chúng là khiến cuộc sống ở Bắc Triều Tiên thêm khó khăn, vì nước này chưa thể tự cung tự cấp hoàn toàn, đồng thời chứng tỏ hậu quả của việc phổ biến vũ khí hạt nhân bất hợp pháp. Nếu không trừng phạt, Bắc Triều Tiên sẽ còn đẩy nhanh hơn để đạt được mục tiêu. 

Bên cạnh đó là đánh trả. Mỹ có những chương trình phá hoại, kể cả bằng tin học, để chống lại Bình Nhưỡng, cho dù đến nay chưa có kết quả.

Và việc thương lượng nữa, sẽ giúp tranh thủ được thời gian, mà thời gian thì rất quý giá. Đó là những gì đã thực hiện qua hiệp định nguyên tử Iran 2015: cho đóng băng khoảng hơn một chục năm, với hy vọng từ đây đến lúc đó chế độ sẽ có những thay đổi. Có thể đề nghị Bình Nhưỡng chậm bớt một số hoạt động nguyên tử hay đạn đạo, đổi lấy việc Mỹ giới hạn các hoạt động quân sự. Ý tưởng này được ủng hộ nhiều, cho dù cũng không ổn lắm khi đánh đồng một chương trình hạt nhân bất hợp pháp với các hoạt động quân sự hợp pháp.

Can thiệp quân sự phải chăng là phương án ít rủi ro nhất - như đồng nghiệp Valérie Niquet đã đề nghị - nếu Seoul và Tokyo coi việc thương lượng là biểu hiện cho sự thiếu quyết đoán của đồng minh Mỹ ?

Không, rủi ro rất lớn, hơn nữa những nước bị ảnh hưởng đầu tiên là Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ phản đối. Dưới thời Barack Obama, Mỹ đã tăng cường bảo đảm an ninh cho hai nước này. Còn Donald Trump đã gây ngạc nhiên lớn khi nhanh chóng trấn an người Nhật trong chuyến thăm Washington của ông Shinzo Abe hồi tháng Hai. Tôi không nhìn thấy sự quan ngại nơi Nhật, mà ngược lại, một cuộc tranh luận : sự bảo đảm của Mỹ sẽ phải tiến triển như thế nào ? Cần có thêm nhiều lá chắn tên lửa, hay nên bố trí vũ khí nguyên tử tại Hàn Quốc ?
Bình Nhưỡng cũng đe dọa cả châu Âu ?

Tất cả chúng ta nay đều liên quan không khác gì người Mỹ, với những hỏa tiễn liên lục địa mà tầm bắn đã vượt quá 10.000 km. Đó không phải là mối đe dọa trực tiếp, nhưng nếu có xung đột tại bán đảo Triều Tiên thì chúng ta vẫn liên quan, vì Pháp là một trong những nước đứng ra bảo đảm việc ngưng bắn năm 1953. Với năng lực răn đe của Pháp, đó là vấn đề chiến lược thứ ba cần phải tính đến, ngoài Nga và Trung Quốc. 

Cũng có thể nghĩ tới hệ thống phòng vệ tên lửa. Nhưng tôi không cho rằng đây là lời đáp hữu hiệu của châu Âu hay NATO trước những hỏa tiễn liên lục địa từ châu Á : phí tổn sẽ rất khủng khiếp, còn hiệu quả thì không chắc chắn.

Ông cho rằng có nguy cơ chạy đua vũ khí nguyên tử không ?

Cần phải giám sát mọi mưu toan phát triển công nghệ hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Việc kiểm soát đã hiệu quả hơn so với cách đây 15 năm, nhưng đừng quên năm 2007 người ta đã phát hiện một lò phản ứng nguyên tử Bắc Triều Tiên tại Syria, sau đó Israel đã phá hủy lò này…

Có nghĩa là, trừ trường hợp bất ngờ, tôi cho rằng việc phổ biến hạt nhân ngày nay không còn là vấn đề chính. Với Bắc Triều Tiên, bây giờ là khả năng răn đe. Chương trình của Iran thì đã đóng băng, và tôi không biết Nhà nước nào vừa có ý định lẫn khả năng vượt qua ngưỡng cửa nguyên tử. Đây là sự thực, chừng nào mà Iran vẫn còn trong vòng kiểm soát và Seoul, Tokyo hay Riyad vẫn tin tưởng vào việc bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ.

Nhưng châu Á vẫn đang chạy đua về nguyên tử ?

Lục địa này đã phát triển nguyên tử từ 20 năm qua. Có sáu nước ở châu lục sở hữu vũ khí hạt nhân : Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bắc Triều Tiên, Nga, Hoa Kỳ. Hiện nay có hai lãnh địa nguyên tử lớn trên thế giới : châu Âu, vì thái độ khiêu khích của Nga; và châu Á, nơi mà số vũ khí đang tăng lên tối đa. Những nước sở hữu vũ khí nguyên tử lo mở rộng tầm bắn hỏa tiễn, đa dạng hóa cách thức phóng, và quan tâm đến năng lực tàu ngầm.

Cũng chính tại châu Á mà tình hình hiện nay nguy hiểm nhất. Nói một cách nào đó, Đệ nhị Thế chiến vẫn chưa kết thúc : số lãnh thổ tranh chấp từ thập niên 40 vẫn tồn tại. Ấn Độ và Pakistan, Trung Quốc và Đài Loan, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đều không công nhận sự hiện diện hợp pháp của đối thủ. Chưa kể bất đồng giữa các láng giềng : Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc…Chúng ta đang sống trong một thế giới của « chủ nghĩa dân tộc nguyên tử ». Vũ khí hạt nhân, hơn bao giờ hết là chìa khóa của tương quan lực lượng quốc tế.

Phải chăng đây là một đòn mới đánh vào Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT ?

Không, vì Bắc Triều Tiên đã loan báo rút khỏi NPT từ năm 2003. Cú đòn thực sự đánh vào Hiệp ước này, là cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc hôm 7/7, về hiệp ước cấm toàn bộ vũ khí nguyên tử. Đó là sự chia rẽ : các tổ chức và quốc gia bực tức trước công cuộc giải trừ hạt nhân không có tiến triển gì đã đứng sang một phía khác, đòi hỏi giải trừ thông qua các công cụ mới. Tuy vậy, liệu có thể tin rằng một hiệp ước cấm đoán sẽ gây được tác động nào đó lên Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, Nga ? Trên thực tế, những người chủ trương « hủy bỏ » vũ khí nguyên tử đã thua cuộc.

Năm quốc gia có vũ khí hạt nhân có thể có cùng một tiếng nói ? Tại sao lại không có được sự đồng thuận về Bắc Triều Tiên, như đối với Iran ?

Sự đồng thuận của năm nước này về vấn đề hạt nhân là khá mong manh. Đã có những nỗ lực thực sự trong thương lượng với Bắc Triều Tiên, tương tự như với Iran, nhưng hai tình huống rất khác nhau. Quyết tâm của Bình Nhưỡng có thể đã bị đánh giá thấp. Hơn nữa, giữa một nước có tham vọng hòa nhập vào tiến trình toàn cầu hóa, muốn trở thành nhân tố hàng đầu trong khu vực ; và một nước đóng cửa với bên ngoài, ít lệ thuộc với thế giới, thì đòn bẩy kinh tế rất khác nhau. Iran cũng luôn tuyên bố muốn ở trong khuôn khổ hợp pháp. Những ai ấp ủ hy vọng làm được những gì như với Iran chỉ là ảo mộng.

Phải chăng hiện nay nguy cơ sử dụng đến vũ khí nguyên tử đã cao hơn ?

Không. Tôi phản đối giả thiết thảm họa hạt nhân. Tất cả các Nhà nước nguyên tử đều nhằm răn đe chứ không phải « sử dụng », kể cả Nga, Pakistan hay…Bắc Triều Tiên. Đã hẳn là có nguy cơ một sự khiêu khích biến thành một cuộc khủng hoảng, và thực hiện răn đe trong thế kỷ 21 khó khăn hơn nhiều so với thế kỷ 20. Nhưng điều rất đáng chú ý là vũ khí nguyên tử chưa hề được sử dụng kể từ năm 1945 đến nay, ngược với dự đoán của nhiều nhà phân tích. Còn về khủng bố nguyên tử, đó là một nguy cơ bị thổi phồng.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170911-hiem-hoa-nguyen-tu-va-dan-toc-chu-nghia-tai-chau-a


Phần nhận xét hiển thị trên trang