Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Sự suy thoái và biến dạng các giá trị nhân văn ở Việt Nam


ĐỖ MINH TUẤN, 4 Tháng 8 2017 - Sự suy thoái các giá trị nhân văn trong kỷ nguyên phát triển công nghệ và kinh tế đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, có những xu hướng chung của toàn thế giới. Nhưng trong xã hội cụ thể như Việt Nam các xu hướng lớn này được thể hiện ra trong những dạng thức riêng. Cụ thể:
Image result for suy thoái và biến dạng
· Xu hướng thu hẹp các giá trị nhân văn, sự thay thế các giá trị cộng đồng bằng giá trị cá nhân: Nếu như trước đây, trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm, con người Việt Nam coi LÀNG, NƯỚC là những giá trị thiêng liêng nhất, có thể hy sinh tất cả để bảo vệ. Đó là những giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc, được bao thế hệ cha ông xây dựng và bảo vệ, thì ngày nay, con người Việt Nam thời đổi mới và hội nhập có xu hướng coi quyền lợi cá nhân và phần nào đó cuộc sống gia đình là giá trị lớn nhất, mục tiêu sống quan trọng nhất.

· Xu hướng phá vỡ ranh giới nhân bản của con người: Những giá trị nhân văn hằng bắt rễ trong mảnh đất nhân bản, khiến cho người Việt Nam bao đời nay coi trọng các giá trị tinh thần và các hành vi trực tiếp của con người hơn tiền bạc và những hành vi tổ chức hay công nghệ. Một bà mẹ trực tiếp bón cơm cho con ăn, tự tay bế con và hát ru con ngủ được người Việt đánh giá cao hơn các bà mẹ bật nhạc ru con và dùng tiền thuê Osin bón cơm, chăm sóc con. Nhưng ngày nay, việc phó mặc con cho nhà trẻ hay Osin chăm sóc là chuyện phổ biến của các bà mẹ thời @. Ngay cả khi đón con về, các bà mẹ cũng nhiều khi vừa cho bú vừa dúi mắt vào điện thoại để nhắn tin hay xem FB. Ngôn ngữ giao tiếp trong thư từ cũng mang nhiều tính mệnh lệnh công nghệ, đơn giản, khô khan. Các giá trị tổ chức và giá trị công nghệ đã làm mai một và hời hợt dần tình cảm mẹ con, gia đình, bè bạn vốn là những tình cảm phong phú sâu nặng nhất của con người Việt Nam bao đời nay. Tình cảm gia đình và xã hội sẽ phai nhạt khi con người hình thành thói quen ủy thác cho tổ chức hay cho công nghệ làm những việc liên quan đến tình người, trách nhiệm, sứ mệnh và các hành vi gắn với bản chất người. Suy kiệt tình người, vô cảm trước những nỗi đau, nỗi sợ và lo lắng của người thân, bạn bè và đồng bào là dấu hiệu suy thoái của nền tảng văn hóa Việt.

· Sự lên ngôi của giá trị ngắn hạn, vô cảm, nhất thời: Các giá trị nhân văn luôn là giá trị bền vững, mang tính vĩnh cửu. Các tôn giáo, các tác phẩm nghệ thuật giàu tính nhân văn đều xây dựng trên một nhịp độ chậm rãi của sự sống, cái chậm rãi có sức mạnh cải biến sâu sắc cấu trúc tâm lý, làm con người có khả năng thấu cảm với thiên nhiên và với người. Nhà Thiền học Suzzuki (Nhật Bản) đã viết: “Những bông hoa dại ngoài đồng nhỏ bé và bình dị biết bao. Nhưng nếu ta chăm chú nhìn vào chúng, ta se thấy chúng lộng lẫy hơn cả Vua Salomon lúc Ngài còn sống”. Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế, con người Việt nam cũng như con người ở các nước Châu Á khác bị mất đi nhu cầu nhìn kỹ nhìn lâu nhìn sâu vào con người và sự vật để khám phá những điều kỳ diệu của thế giới quanh mình và trong mình, mà ngày càng ảnh hưởng lối sống thực dụng, gắn với những nhịp sống nhanh và các giá trị ngắn hạn, “nóng ruột kiếm tiền và cắm đầu hưởng thụ” (Nguyễn Thái Hợp, 2000). Không chỉ làm việc nhanh, làm ăn nhanh mang tính vụ việc chộp giật, mà còn xử lý các vấn đề của con người với con người trong công việc và cuộc sống bằng các phương tiện và giải pháp nhanh gọn (bằng tiền, bằng pháp lý, bằng sự thay đổi tình yêu, nghề nghiệp và doanh nghiệp như chong chóng…). Những động cơ ích kỷ thực dụng hướng tới những mục tiêu trước mắt, ngắn hạn sẽ tạo ra tệ nạn tham nhũng, các nhóm lợi ích và các chuyển động hỗn loạn của các nhóm này trong đời sống dân tộc.

· Cảm hứng vì lợi nhuận thay thế cảm hứng về giá trị nhân văn: Cảm hứng sống nhân văn vì con người, vì dân tộc, vì đại nghĩa là cảm hứng xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam đến nay đã bị phai nhạt, thay thế bằng cảm hứng vì lợi nhuận có nguồn gốc phương Tây, gắn liền với quá trình thế tục hoá diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Sử thay đổi cảm hứng sống đó đã gây ra sự suy thoái các giá trị nhân văn, gây ra những vấn nạn và bức xúc về văn hoá. Đó là bắt văn hoá phải lệ thuộc vào những tiêu chuẩn của thị trường, vào những bất trắc của cung và cầu, vào những cạm bẫy của tính thực dụng và tính khẩn trương có nghĩa là cắt đứt nguồn dưỡng khí của văn hoá, thay thế tính sáng tạo bằng những stress của thị trường, như Eduardo Portela, nhà triết học Brazin, đã chỉ ra. Khi không còn tính sáng tạo bắt nguồn trong vô thức nhân văn của cộng đồng, văn hoá dân tộc bị tiêu diệt, trở thành bản sao của các nền văn hoá mạnh.

Hậu quả là cảm hứng vì lợi nhuận đã tạo ra một nền tảng ngày càng rộng lớn và vững chắc cho sự lớn lên của văn hoá suy đồi, lối sống hưởng thụ, thái độ hư vô, sẵn sàng tách rời danh nghĩa và thực chất để đạt đến các mục tiêu mang tính thực dụng về văn hoá, chính trị và kinh tế.

· Nguy cơ mất ký ức lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam truyền thống

Khi đã sống nhanh sống vội, hướng tới những giá trị vật chất nhất thời và thế giới quảng cáo chớp nhoáng thì con người bị teo dần đi cảm hứng lịch sử, cảm hứng cội nguồn. Mất cảm hứng nhân văn lịch sử, con người Việt Nam hôm nay dạy và học lịch sử một cách miễn cưỡng và hời hợt chưa từng thấy. Trong khi đó, sự tiếp xúc thiếu ý thức tự trọng văn hoá và đề kháng văn hoá với phim ảnh lịch sử của Trung Quốc chiếu tràn lan mỗi ngày vài chục bộ phim trên hệ thống hơn 60 Đài TH trong cả nước đã dẫn đến việc trẻ em Việt Nam thuộc sử Tàu hơn sử Việt Nam.

Thiếu cảm hứng về nguồn, thiếu tri thức lịch sử tổ tiên, lớp trẻ hôm nay có nguy cơ bị nhiễm dần mặc cảm tư ty dân tộc trước Trung Quốc và phương Tây. Hiện nay ngành giáo dục nói chung và ngành văn hoá nói riêng chưa ý thức được vai trò khoa học cơ bản của môn lịch sử giúp cho các em hình thành và phát triển cảm hứng cội nguồn có bản chất nhân vănđể nhìn nhận và thấu hiểu tiến trình hình thành phát triển của giống nòi, thấy trong tiến trình đó một động lực sống, động lực tồn tại và phát triển của con người Việt Nam. Cho nên cảm hứng lịch sử, cảm hứng phát triển và cảm hứng về tương lai trong lớp trẻ vẫn là vay mượn từ các nền văn hoá khác.

Khi nói đến sự thiếu hụt cảm hứng lịch sử như một chiều kích nhân văn trong con người Việt Nam hôm nay ta không chỉ dừng lại ở sự tự tôn dân tộc để nghĩ đơn giản rằng lớp trẻ cũng đã biết tự hào về lịch sử dân tộc, về truyền thống cha ông. Cần phải hướng đến một mục tiêu nhân văn hơn là giáo dục trong con người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng SỰ THẤU CẢM LỊCH SỬ để mỗi con người hôm nay biết trân trọng, chia sẻ và thậm chí thương cảm với tất cả những nỗ lực, gian khổ, hy sinh của cha ông để giữ cho dân tộc được trường tồn và phát triển đến hôm nay.

Trong khi ta chưa ý thức được tầm quan trọng của mục tiêu xây dựng cảm quan về những giá trị nhân văn trong con người Việt nam hôm nay, thì phim ảnh ngoại nhập đã chiếm mất chỗ của những cảm xúc lịch sử, những niềm tin vào các giá trị nhân văn và những day dứt về thân phận con người Việt trong lịch sử. Các giá trị của những nền văn hoá khác đã ám thị lớp trẻ từ khi đi nhà trẻ đến khi cắp sách đến trường, lớn lên lại say mê phim Tàu, phim chưởng, phim bạo lực.

· Quyền lực đồng tiền và sự bùng phát của bạo lực gia đình và xã hội

Hàng ngàn năm đô hộ phương Bắc không đồng hóa nổi Việt Nam, nền văn hóa nhân văn nhân ái hòa đồng “nhìn nhau mà sống”, “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”, “giấy rách giữ lấy lề”...vẫn tiếp tục phát huy sức mạnh trong lịch sử trong bao hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn và gian khổ để làm nên bao kỳ tích, và tiếp tục gắn kết dân tộc Việt Nam trong một gia đình trong đó cháu con các đời luôn kính thờ Tổ tiên, cha mẹ. Vậy mà mấy chục năm nay, xã hội này đã để cho đồng tiền lên lỏi vào khắp hang cùng ngõ hẻm, khắp ngõ ngách tâm hồn và suy nghĩ, thao túng con người, đày đọa người nghèo, đưa người kém năng lực và thiếu đạo đức giữ các trọng trách, dân tộc Việt Nam đã đứng trước một tình thế sống còn, với nguy cơ đánh đổi cả nền văn hiến mấy ngàn năm và tương lai dân tộc chỉ để lấy hạ tầng, tham nhũng, nợ xấu, sự suy thoái phẩm giá con người và sự lên ngôi của lòng tham và thói hung bạo.

Chưa bao giờ con người Việt Nam hung bạo như hôm nay. Mỗi ngày mở báo ra đều thấy tin tức về tội phạm xã hội, giết người hàng loạt để cướp của, thậm chí giết ông, bà, cha mẹ và những người thân trong gia đình để chiếm đoạt tài sản.Đau đớn hơn, có những vụ cha mẹ giết hết con cái rồi tự tử chỉ vì bế tắc, vỡ nợ trong làm ăn, buôn bán. Hầu như tất cả những vụ trọng án giết người hàng loạt đều chỉ vì tiền. Trong quá khứ, con người Việt Nam nghèo khổ hơn nhiều sao không xảy ra những vụ án mạng thương tâm như thế? Vì các giá trị nhân văn trong con người Việt Nam trước đây chưa bị mai một đã hướng đạo cho con người biết ứng xử với nhau một cách ân tình, nghĩa cả, khoan dung. Ngày nay, văn hoá Việt trong chiều hướng suy kiệt, bản năng lấn áp lý trí, sự tính toán lấn áp tình cảm, vật chất lấn áp tình người, sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội lại quá lớn, bất công xã hội ngày càng nhiều và hầu như không được giải quyết thoả đáng. Bên cạnh đó, sự hỗn tạp thiếu kiểm soát của truyền thông vừa tác động xấu vào xã hội theo hướng kích thích thói suy tôn vật chất, chạy theo viễn cảnh giàu có xa hoa, vừa ám thị con người bằng phim bạo lực ngoại nhập, đào luyện nhân cách, tạo nên những hành xử hung bạo, độc ác.Đó là những căn nguyên trực tiếp từ xã hội đang làm mai một dần các giá trị nhân văn./.

http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/khach-moi-cua-tap-chi45/su-suy-thoai-va-bien-dang-cac-gia-tri-nhan-van-o-viet-nam


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Hữu Đang: một bi kịch lớn


Nhà báo Lê Thọ Bình
"...Tại sao trường hợp ông Nguyễn Hữu Đang lại được quan tâm nhiều như vậy? Bởi vì ông có một số phận đặc biệt. Còn rất trẻ, ông đã là Thứ trưởng trong chính quyền, ông là nhà truyền giáo cách mạng hùng hồn bậc nhất mặc dù không để lại nhiều trước tác. Sau nữa, ông là người được Hồ Chí Minh giao trách nhiệm dựng lễ đài đọc Tuyên ngôn độc lập 2.9.1945. Nhưng cái làm cho nhiều người “mê” ông chính vì ông là một nhà cách mạng nhiệt thành và hơi… cuồng tín.

Cho đến chết ông vẫn coi cách mạng là một thứ gì đó vô cùng đẹp đẽ, kỳ vĩ. Dao sắc không gọt được chuôi, vị đại diện thông minh, tài giỏi, hào hùng và trung thành của cách mạng đã không tự cứu được mình khi dám cả gan đòi cho giới văn nghệ một không gian sống và không gian nghệ thuật dễ thở hơn, tự do hơn. Kết quả là đứa con cưng của cách mạng đã bị cách mạng xóa sổ: kết án 15 năm tù. Ra tù phải ăn cả cóc nhái rắn rết để tồn tại và cùng quẫn đến mức phải lo tìm một chỗ bờ bụi nằm chết một mình cho yên thân...."

Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhảy tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn Giai phẩm”.

Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”.

Hành trình bài bút ký

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc tại Thái Bình, quê ông.

Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai, đầu đội chiếc mũ lá tuềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn Giai phẩm” đây sao!

Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang. Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.

Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (nay là Tuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí như Đại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM, tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.

Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được "phục hồi", năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.

Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy, cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.

6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thôn ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.

Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được. Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng. Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông.

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô

Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa. Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc. Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa – kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?

Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.

Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.

Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đày, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc - nhái - chuột - rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.

Thấy mấy cuốn sách, vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường, tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chậm chạp, run rẩy đứng dậy khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông. Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoa Petit Larousse in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hở bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe: “Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.

Câu cuối ông nói ra vừa có gì giễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác – kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ!

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai?

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản "Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang" do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học Trường Sư phạm Hà Nội.

Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo (cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay (cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu).

Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên Ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, Trưởng ban Dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.

Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và Thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.

Năm 1943-46 ông tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá Cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 8-1945 ông tham dự Đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng ban Tổ chức Ngày lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.

Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.

Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.
Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.

Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha Bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4-1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân văn, giúp đỡ tập san Giai phẩm.

Phong trào “Nhân văn Giai phẩm”

Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân văn Giai phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).

Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận "nảy lửa" chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là "sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết". Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.

Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: "Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn nghệ – VN) rằng: "Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai phẩm Mùa xuân nó làm".

Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: "Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang". Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong Ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân văn, nhưng vô hiệu”.

Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, "đầu sỏ". Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo. Thông qua tờ báo Nhân văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị... ".

Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân văn Giai phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiếu Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.

Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân văn là hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu, v.v. Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.

Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1). Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2). Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (3). Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi”.

Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.

Sau này có lần Nguyễn Hữu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!”.

Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam?

Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài – tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?” – “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… – phiên tòa bao gồm những người ủng hộ Chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn – họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.

Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”.

Mối tình bi thương

Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.

Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.

Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngả màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị... không thích đua đòi”.
Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?... Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”... Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.

Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời... Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.

Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.

Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm Chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được một vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.

Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.

Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của mình như sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “Xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “Tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “Vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”...

Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”...

Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.

Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.

Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau.

Trường Sa/Tháng 4 năm 2014


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trăm kiểu xưng hô trong tiếng Việt



Nguyễn Xuân Hưng
























MTG - Một thời ở cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, nơi công cộng người ta nhất loạt gọi nhau là đồng chí, cũng buồn cười. Trẻ già đồng chí tuốt. Rồi đến thời, công sở cũng như họ hàng, cứ chú bác, cô dì loạn cả lên, khi kiểm điểm sắp choảng nhau mới gọi nhau đồng chí.

Xưng hô, tiếng Việt của người Việt

Người phương Tây khi học tiếng Việt, hầu hết đều nói khó nhất là các đại từ nhân xưng. Ngôi thứ phù hợp với tôn ti trật tự. Biểu hiện rõ nhất của việc ngôn ngữ phản ánh đặc tính xã hội, chính là cách thức xưng hô. Một nước ảnh hưởng Nho giáo nặng nề, thì không thể có một từ “I” như của tiếng Anh dùng cho ngôi thứ nhất, một từ “you” dành cho ngôi thứ 2. Không những thế, còn rất nhiều từ địa phương nữa chứ.

Từ khi ra đời, đứa bé gọi “mẹ” rồi gọi “bố”. Từ “bố” có lẽ là từ cổ. “Bố” có từ thời Phùng Hưng. “Bố cái đại vương” có thể là một tổ hợp ghép từ Nôm và Nôm gốc Hán. “Bố cái”, có thể là người bố lớn, chứ không phải là “bố mẹ”, và là nhà vua lớn (đại vương). Có nhiều người cho rằng “cái” là mẹ, rất có thể nhầm, vì “cái” là “to lớn” mới đúng. Nhưng chuyện “cái” không phải chủ đề của bài này.

Các địa phương từ Bắc vào Nam, nhiều bộ phận cư dân dùng từ có nghĩa như “bố, mẹ” khác nhau. Miền Trung có “bọ, mạ”, miền Nam có “ba, má”, “tía, má”. Nông thôn miền Bắc phần nhiều gọi “thày, u” hoặc “thày, bu”. Trung du gọi mẹ là bầm, bủ. Có một số địa phương miền núi phía bắc gọi bố là “bác”. Bố mẹ tôi hồi kháng chiến chống Pháp tản cư lên một huyện ở Thái Nguyên, kể rằng người địa phương thì con gọi bố là bác. Có thể câu ca dao này xuất phát từ vùng gần xứ Lạng: “Ai lên xứ Lạng cùng anh, bõ công bác mẹ sinh thành ra em”. Tôi biết “bác” ở đây là “bố”. Nhưng chắc rất nhiều người không biết điều ấy, mà cho là câu ca dao nói về ông anh của bố và mẹ, ngẫm ra rất vô duyên.

Thời Pháp thuộc, các thành phố miền Bắc gọi bố, mẹ là “cậu, mợ”. Con nhà giàu thì người ở cũng gọi luôn là “cậu nhỏ”. Chả hiểu gốc tích chuyện xưng hô này ở đâu.

Tôi đọc tư liệu về Võ Nguyên Giáp, thấy nói quê ông Giáp gọi bố, mẹ là “thày, thím”. Đến khi viết kịch bản liên quan đến ông Giáp, quá nhiều người phản đối, sau lại đọc có tư liệu bảo vùng đó gọi là “thày, đẻ”. Bây giờ người già chắc còn nhớ, còn lớp trẻ chắc gọi khác đi rồi.

Nhà tôi, có bà mẹ già (vợ cả của bố) thì chúng tôi gọi là “mẹ”, còn mẹ mình thì gọi là “đẻ”. Người lớn ngày xưa quy định thế, gọi lên thấy thân thương, nhưng người khác không quen thì thấy buồn cười.

Các từ chỉ họ hàng ở vùng đồng bằng sông Hồng từ xưa cũng phản ánh thiết chế xã hội. Họ hàng nhà bố thì con trai phân biệt chú, bác, nhưng con gái thì chị hay em bố cũng gọi là cô. Đó là vì xã hội phụ quyền. Ghi gia phả chỉ ghi con trai, còn con gái là theo nhà chồng. Phân biệt chị hay em bố phải gọi kèm theo chồng mới biết. Cô - bác là cô chị bố, cô - chú là cô em bố. Cũng là một kiểu phản ánh xã hội lấy người đàn ông làm chuẩn mực, đàn bà chỉ ăn theo.

Phía họ mẹ thì rất rành rọt: anh em trai mẹ gọi là bác (giống gọi anh của bố), cậu, nhưng chị em gái mẹ gọi là bá, dì. Những vùng Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội), chị mẹ không gọi “bá” mà gọi là “già” (hay “dà”?). Gọi thế hơi bất tiện khi người còn trẻ mà gọi là “già”.

Nông thôn miền Bắc truyền thống có tục người đối thoại thay con hay cháu. Khi chưa có vợ, chồng thì gọi nhau anh chị, mày tao chi tớ. Khi có con, có cháu thì tùy con mình gọi người đó là gì, mình gọi thế. Ví dụ có bạn, khi trẻ thì mày tao, anh chị; khi có con phải gọi người đó là bác, chú, cô, tùy theo tuổi, khi có cháu thì gọi nhau là ông, bà. Tương tự, với người già cũng vậy, cứ có con hay cháu thì trong xưng hô gọi nhau lại nâng cấp một bậc, còn về phía mình thì có thể xưng thay con cháu, hay vẫn xưng ở ngôi mình. Ví dụ, gọi bạn bè là ông, không cần xưng cháu, mà vẫn xưng tôi, xưng em… Hồi xưa xưng hô rất đúng tôn ty và thứ bậc. Ngày nay không nhất thiết như vậy, nên khi nghe hai người xưng hô, không thể đoán được vai bậc của họ trong xã hội.

Khi người ta đến trường học, thời Pháp thuộc còn có vai trò của các cụ đồ dạy chữ nho, nhất nhất học trò gọi thày và xưng con. Rồi đến thời kỳ, ở nhà trường gọi là thày cô, học sinh xưng em. Tôi đã lớn lên trong thời kỳ nhà trường xưng em với thày cô giáo, bây giờ vẫn không sao quen được cách mà con cháu xưng hô ở trường. Bây giờ học mẫu giáo, các cô nhất loạt xưng là mẹ, gọi học trò là con, cũng không phải là hay. Mục tiêu của nhà trường chắc là muốn tỏ ra các cô giáo như mẹ hiền.”Như” thì nên gọi là cô cũng được. Một đứa trẻ dù có nhiều người xưng là mẹ, nó vẫn biết không phải mẹ nó, mà người lớn khó xưng hô. Đứa trẻ mẫu giáo xưng con cũng được, còn đến tiểu học cũng có thể chấp nhận khiên cưỡng, nhưng từ phổ thông cơ sở, lớp 6-7 đến lớn 12 mà các thày cô U30 gọi bọn 15-16 là con, có vẻ không hợp cho lắm. Mà gọi thế chỉ có tăng khoảng cách xa xôi, dễ áp dụng biện pháp trại lính, bố mẹ nói là con cấm cãi. Cải cách giáo dục, có lẽ phải cải cách chính cách xưng hô trong nhà trường.

Một thời ở cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, nơi công cộng người ta nhất loạt gọi nhau là đồng chí, cũng buồn cười. Trẻ già đồng chí tuốt. Rồi đến thời, công sở cũng như họ hàng, cứ chú bác, cô dì loạn cả lên, khi kiểm điểm sắp choảng nhau mới gọi nhau đồng chí. Cũng là một kiểu tự do vô lối. Công sở nên xưng ngôi thứ nhất là tôi. Chỉ có tôi mà thôi. Còn người đối thoại chỉ có 2 từ: trẻ thì anh-chị, già thì ông-bà. Thế là chuẩn mực mà sao không thể áp dụng được? Mới thấy cái sự xưng hô tưởng dễ mà khó.

Nói về chuyện cung đình phong kiến thời xưa, chuyện xưng hô được quy ước chặt chẽ, xưng hô nhầm có thể bị tội đánh roi hoặc phạt tiền, như kiểu phạt vi phạm giao thông. Chức gì tước gì thì xưng thế nào. Ví dụ Luật Hồng Đức quy định: “Thân vương xưng hô là điện hạ; tự thân vương xưng là phủ hạ; tước công, tước hầu, tước bá, phò mã và viên quan hàm nhất phẩm xưng là các hạ; viên quan hàm nhị tam phẩm xưng là môn hạ; viên quan hàm tứ, ngũ và lục phẩm xưng là đại phu; viên quan hàm thất, bát và cửu phẩm xưng là quan trưởng. Nếu người nào dám xưng hô tiếm lạm càn rỡ cùng người nhận lời xưng hô không chính đáng ấy, đều sẽ phải phạt 50 roi và 10 quan tiền”. Bây giờ có các nhà văn hẳn hoi, viết truyện lịch sử thời kỳ nhà Lê, cho nhân vật xưng hô lung tung beng, độc giả không biết, người viết cũng tưởng thế là hay.

Xưng hô thời hiện đại của Việt Nam bắt đầu đang có sự thay đổi, ngay trên tivi, ở đâu cũng gọi “quý vị”, lại còn kêu rõ to “quý vị ơi, xyz… có phải không ạ?” Thế thì “quý vị” chỉ có nghĩa như… trẻ nhỏ.

Tôi vẫn tin rằng, xưng hô là một biểu hiện văn hóa xã hội. Nếu có bề dày truyền thống, có sự đa đạng văn hóa địa phương, sao không thể kế thừa?  Chính quyền có cơ quan văn hóa làm gì, nếu không làm luật xưng hô. Vua Lê Thánh Tôn không rỗi hơi quy định xưng hô trong một bộ luật của vương quốc thịnh vượng thời đó. Hoặc là vì thế mà nước cường thịnh?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Triều Tiên hoãn tấn công Guam: Đức tung hô Trung Quốc, ông Trump khen ông Kim Jong Un


Triều Tiên hoãn tấn công Guam: Đức tung hô Trung Quốc, ông Trump khen ông Kim Jong Un
Ảnh minh họa (Getty Images)
Bình luận về diễn biến này, Ngoại trưởng Đức Sigmar Gabriel cho rằng, sức ép từ Trung Quốc đã mang lại hiệu quả.
Reuters ngày 16/8 đưa tin, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khen ngợi lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un "sáng suốt" khi quyết định hoãn kế hoạch phóng tên lửa nhằm vào đảo Guam.
"Ông Kim Jong Un của Triều Tiên đã đưa ra một quyết định vô cùng sáng suốt và hợp lý", đăng tải trên Twitter, ông Trump nhấn mạnh, "Phương án còn lại vừa thảm khốc, vừa không thể chấp nhận nổi ".
Tweet này được đăng sau khi truyền thông Triều Tiên hôm 15/8 tuyên bố, lãnh đạo Kim Jong Un đã tạm hoãn kế hoạch và chờ đợi xem Mỹ sẽ làm gì tiếp theo.
Bình luận về diễn biến này, Ngoại trưởng Đức Sigmar Gabriel cho rằng, sức ép từ Trung Quốc đã mang lại hiệu quả.
"Từ hôm qua, chúng tôi đã cảm thấy lạc quan. Tôi nghĩ rằng, sức ép của Trung Quốc đã góp phần dẫn tới quyết định hoãn phóng tên lửa nhằm vào Guam của Triều Tiên", ông Gabriel nói, "Ông ấy [Kim Jong Un] nói rằng ông ấy sẽ suy nghĩ thêm nhưng có vẻ như áp lực mà Trung Quốc tạo ra đã đem lại hiệu quả".
-------------------------------------
1 đêm vội vã với 2 cuộc điện đàm, Ngoại trưởng TQ muốn "phanh gấp" khủng hoảng Triều Tiên
1 đêm vội vã với 2 cuộc điện đàm, Ngoại trưởng TQ muốn "phanh gấp" khủng hoảng Triều Tiên
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị. Ảnh: Reuters
Mới đây, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã điện đàm với hai người đồng cấp Nga, Đức thảo luận về tình hình bán đảo Triều Tiên.
Tối ngày 15/8, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã có cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov nhằm trao đổi quan điểm về tình hình hiện nay tại bán đảo Triều Tiên.
Ông Vương Nghị kêu gọi, "trước cục diện hiện tại, Trung-Nga cần tiếp tục tăng cường trao đổi chiến lược, phối hợp kiểm soát tình hình và không cho phép bất cứ ai quấy rối trước cửa nhà Trung-Nga".
"Nhiệm vụ cấp bách trước mắt chính là "phanh gấp" những phát ngôn, hành động khiêu khích lẫn nhau của Triều Tiên và Mỹ nhằm hạ nhiệt căng thẳng, ngăn chặn sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng tháng 8'", Vương Nghị nhấn mạnh.
Cùng ngày trước cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Nga, ông Vương Nghị đã thảo luận qua điện thoại với Ngoại trưởng Đức Sigmar Gabriel về vấn đề Triều Tiên. Qua cuộc điện đàm, Vương Nghị cho biết, Bắc Kinh mong muốn chứng kiến vai trò tích cực của Berlin trong vấn đề bán đảo Triều Tiên.
Giới phân tích nhận định, do nhiều cuộc xung đột thường bắt nguồn từ những phát ngôn và kết thúc bằng hành động quân sự nên Bắc Kinh lần này đã rất lo lắng sau tuyên bố dọa tấn công đảo Guam (Mỹ) của Triều Tiên. Bởi nếu chiến tranh Triều Tiên thực sự nổ ra thì Trung Quốc - nước láng giềng của Bình Nhưỡng - cũng sẽ chịu ảnh hưởng gián tiếp không hề nhỏ.
Hôm thứ 2 (14/8), nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã đến thị sát Bộ tư lệnh Lực lượng chiến lược và cho biết hoãn kế hoạch tấn công Guam bằng tên lửa, "chờ xem thêm" các hành động của Mỹ trước khi có quyết định "quan trọng".
Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố, Bình Nhưỡng sẽ phải gánh chịu "lửa và giận dữ khủng khiếp" chưa từng có nếu tiếp tục đe dọa Mỹ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Đuổi Mỹ đi, lại đón Mỹ về”

Năm 1995, trong buổi học cuối cùng của môn chính trị, tôi được nghe ông thầy (cũng là bí thư đảng ủy) nói với giọng tức giận “đánh Mỹ chạy đi, giờ lại trải thảm đỏ đón Mỹ về”.
Ghi chép, nhân một bản tin của báo chí Nhà nước – về Mỹ và Việt Nam
Ông nói vậy, bởi Việt Nam và Mỹ mở lại bang giao vào tháng 7-1995. Lúc đó, đại diện nước Mỹ là tổng thống Bill Clinton, còn Việt Nam là thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Tâm trạng hoang mang và tức giận đó của ông bí thư đảng ủy, là điều mà tôi vẫn nhìn thấy ở những người bỏ một đời đi theo chủ nghĩa cộng sản, rồi bất chợt một ngày cảm thấy bị hụt hẩng vì cảm giác như mình bị phản bội – đồng thời mơ hồ mình có thể bị bỏ rơi vào lúc nào đó.
20 năm sau, với những nỗ lực không ngừng từ phía Mỹ, Việt Nam đã có những cuộc phối hợp đầu tiên giữa quân đội hai nước. Mặc dù đó chỉ là khởi đầu các hoạt động cứu trợ nhân đạo và cứu trợ thảm hoạ trong khuôn khổ chương trình Thiên thần Thái Bình Dương.
Vào tháng 8/2015, hải quân Việt Nam dè dặt bước vào cộng tác trong chương trình Đối tác Thái Bình Dương, là bước đi gấp rút sau sự kiện giàn khoan dầu HD 981 của Trung Quốc tiến vào vùng của Việt Nam trong năm 2014. Vai trò của một cựu thù lúc này ở VN thật đầy tính “ấm áp”.
Đến thời điểm đó, rất nhiều người già đã bỏ một đời đi theo lý tưởng cộng sản mà tôi gặp lại, đều thay đổi. “Trung Quốc mới chính là kẻ thù”, tôi nghe những câu nói như vậy thường xuyên và lớn giọng hơn. Thậm chí, có những người đã cùng tham gia xuống đường chống Trung Quốc rồi bị đánh đập hay tù đày.
Hơn vậy, tôi nghe khắp trên các con đường mình đi qua, từ Nam chí Bắc, là những lời bàn không chỉ về kẻ thù của Việt Nam mà còn bàn về những kẻ sẵn sàng bán mình cho kẻ thù của Việt Nam. Nghe như một cuộc chuyển mình rầm rộ mà thinh lặng.
Hôm nay, hàng không mẫu hạm của Mỹ nói sẽ ghé vào Cam Ranh với cuộc “bảo trì” đầy ý nghĩa, nhất là sau khi Bắc Kinh ép Hà Nội phải ngừng khoan dầu trên biển, và Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch vừa sang Mỹ. Tôi lại nhớ về ông bí thư đảng ủy đó.
Lịch sử đang đổi thay. Con người cũng đang đổi thay. Thậm chí con cái các quan chức cấp cao đã rùng rùng chọn học, sống và mua nhà ở Mỹ cũng như ở các nước phương Tây “thù địch”. Nhiều gia đình quan chức chỉ quyết chọn đến định cư ở những nước mà lý tưởng cộng sản được sách giáo khoa nơi đó dạy rằng, là tội ác của nhân loại. Bất chấp trong đất nước này, các đại học VN vẫn ép sinh viên phải lèn chặt chủ nghĩa Marx-Lenin như công cụ tư tưởng sống còn của chế độ.
Hôm nay, chỉ còn lại rơi rớt những lời ngợi ca Trung Quốc bạn vàng công khai từ một ít tướng lĩnh, hay luận điệu hằn học được huấn luyện của lớp thanh niên bị nhồi sọ phục vụ. Nhưng mỗi lúc, những âm thanh đó càng ngày càng tẻ nhạt và vô ích. Đôi khi, có thể đó là thành phần phải bị hy sinh để giữ lại thể diện hữu nghị trước những khúc quanh lịch sử khó lường sẽ đến.
Vài năm sau nữa, lớp người rơi rớt ấy có đập bàn hằn học cho số phận của mình, như ông bí thư đảng ủy mà tôi nhìn thấy không?
Tất cả như một sân khấu vĩ đại mà nhân dân là khán giả xuyên suốt. Sân khấu lúc có tiếng súng và nhà tù, lúc có hoan hô và đả đảo. Trò diễn cứ liên hồi, nỗi niềm rồi chỉ còn lại nhân dân im lặng cảm nhận.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái phao màu đỏ

Kết quả hình ảnh cho Ảnh cái phao tín hiệu đường sông?


                      Cái phao màu đỏ
                      Truyện ngắn của Hồng Giang

Anh Cu Tài vừa chợp mắt được một lúc, nghe có tiếng kêu vọng thất thanh ngoài mặt sông. Anh vội vàng với cái đèn pin, choàng dậy. Từ ngày vợ và con gái đi làm xa, anh thường ít ngủ. Giấc ngủ đêm nào cũng chập chờn. Nhất là quãng thời gian cả tháng qua, mưa kéo dài, đêm nào cũng trằn trọc mãi mới vào giấc được. Anh lần ra đầu nhà bè, lắng tai nghe. Tiếng kêu nghe chập chờn không rõ chìm trong tiếng nước cồn lên phía ngoài gềnh, chỗ cái phao tín hiệu cuối bãi Sản. “Anh.. T..à.i.. ơ.i.. c..ứ..u ..e..m..” Tiếng kêu như từ cõi nào xa lắm vọng lại, rờn rợn. Cu Tài thoáng rùng mình. Không kịp nghĩ nhiều, anh cởi dây buộc chiếc thuyền sắt vẫn dùng đánh cá đêm, lao ra nơi có tiếng kêu cứu vừa rồi. Chỉ một nhoáng, ánh đèn buộc trên đầu của anh Cu Tài đã soi rõ hình dáng nửa con thuyền sắt sơn màu lá cây quen thuộc. Đúng là thuyền nhà Bình Liên, bạn chài lưới với mình!
 Trong chớp mắt con thuyền ấy chìm mất tăm. Chỉ kịp nhìn thấy hai cái đầu người đen đen nổi trên mặt nước, bốn cánh tay đang cố sức vung vẫy giữa sông.
Vợ chồng nhà này là dân hàng chài có nghề, biết bơi lội từ tấm bé, sao lại phải kêu cứu? Chắc là sợ mất con thuyền, nguồn sống duy nhất của mình chăng?
Chả nghĩ nhiều. Cứu người như cứu hỏa. Thuyền chìm rồi thì cứu người, Cu Tài vội nắm tóc kéo người vợ lên trước. Để cô ta nằm lên khoang thuyền, Anh quay mũi thuyền, để quay sang cứu người chồng, thì anh chồng đã không thấy đâu!
Cu Tài soi đèn tìm trước, tìm sau.. Mặt sông lại yên tĩnh, như chưa xảy ra chuyện gì. Xục cả các bụi rậm hai bên bờ, cũng không! Một hồi lâu, vẫn không dấu tích, Cu Tài thất vọng quay vào bờ. Khi này người vợ đã tỉnh lại, đầu tóc ủ rũ, tay bám vào mạn thuyền, thở không ra hơi, mắt hốt hoảng nhìn ra mặt sông. Cứ tình trạng này sẽ bất lợi, cô ấy chắc uống nước đã khá nhiều, cần đưa lên trạm cấp cứu ngay. Rất có thể cô ấy rất muốn nhảy xuống sông, tìm kiếm người chồng. Anh chồng vừa qua trận ốm, mới tỉnh lại sau thời gian đi trại về. Nếu anh ta mạnh khỏe, sông nước này chả là cái gì. Nhìn qua kiểu cách ấy, anh Cu Tài thấy không nên chần chừ. Cứ tạm đưa chị vợ lên nhà bè đã, rồi hô hoán dân làng ra trợ giúp, tìm kiếm người chồng sau vậy.
Anh không ngờ vụ tai nạn lại có kết cục bi thảm đến như thế. Chị vợ chỉ kịp nói: “Nhà em định ngủ luôn trên thuyền, không về nhà, định sáng sớm đi xem lờ tôm đỡ phải leo lên leo xuống..chẳng may nước cuốn tuột dây neo, mắc vào cái phao nên thuyền bị lật..” chưa dứt lời chị ta ngất đi, bất tỉnh. Có lẽ do chấn động kinh hoàng vừa xảy ra..
Cái phao vốn là báo tín hiệu an toàn, không ai ngờ nó lại là nguyên nhân gây tai họa..                                                                 
                                                    **
Lâu rồi, làng tôi mới có một đám ma  lạ lùng như thế. Rạp đã bắc từ chiều hôm trước mà nhang án, bài vị chưa bày, linh cữu vẫn không thấy đâu. Trống kèn chưa nổi. Gian ngoài ngôi nhà hẹp, kiểu nhà ống của hiếu chủ vẫn nhìn thông từ ngoài vào trong. Bên ngoài bãi đất trống sát ngay cạnh đó căng chiếc bạt dài, kê bàn ghế.Một số bàn vẫn bỏ trống. Khách thăm viếng sau mấy lời thăm hỏi tang quyến lặng lẽ ra đây ngồi. Dãy bàn đầu anh Cu Tài ngồi cùng mấy người trung trung tuổi. Anh Ất, anh Giáp, anh Bích gù đang thì thầm. Không ai nói to, làm xao động không khí tang tóc đang trùm lên không gian chật chội, u buồn. Ai mà cười nói vui vẻ được trong lúc này?
Nghĩa tử là nghĩa tận. Ai mà không cảm thương ái ngại cho người xấu số không may gặp nạn, bở lại vợ dại con thơ, đường đột ra đi trong đêm mưa gió trên khúc sông này?
Cho đến giờ đã hơn hai ngày tìm kiếm, hơn chục chiếc thuyền sục xạo khắp mặt sông, không kể ngày đêm vẫn chưa thấy dấu vết, thi thể nạn nhân.
Bài vị vẫn chưa được làm, kèn trống chưa được nổi. Quả phụ mới ngoài ba mươi, nét mặt thất thần, đôi mắt trũng sâu, tóc rối bời, ngồi giữa đám người lặng lẽ vây quanh chị.
Người ta nhìn ra sông. Sau cả tháng trời mưa như mưa dầm tháng bảy, nước sông đục ngầu. Nơi ngày xưa rộn dịp tàu thuyền qua lại, giờ vắng hoe vắng hắt.
May mà từ ngày có đập thủy điện ở thượng nguồn, dòng sông không còn hung dữ quá như những năm trước, sôi réo ầm ầm như động đất, lở núi. Kể cả mùa lũ, lòng sông bây giờ cũng chỉ  còn đầy hơn ngày thường. Nước to vài hôm rồi rút. Có chỗ có thể lội bộ từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Những vụ đuối nước  như hôm nay chỉ xảy ra hãn hữu. Thường thì có tai nạn xảy ra, nghe tiếng hô hoán, người ta đã kịp tiếp ứng, cứu được nạn nhân. Ít khi xảy ra điều đáng tiếc như lần này.
Anh Ất đang chỉ ra khúc sông trước mặt, nơi đang có cái phao lập lờ màu đỏ:
- Tai vạ là từ cái phao ấy mà ra.
Anh Giáp bấm vào cạnh sườn anh Ất:
- Ai mà không biết, nhưng ông cẩn thận cái mồm cho tôi nhờ. Lời nói đọi máu. Có lời nói nên vợ nên chồng, có lời mất nhà mất cửa, có khi làm người ta tù tội cũng nên!
Anh Cu Tài chưa hiểu anh Giáp vì sao lại nói vậy? Hỏi lại. Bích gù từ nãy ngồi yên, không nói gì, vất mẩu thuốc lá Thủ Đô xuống gầm bàn, bảo:
- Mày cứ làm như người trên trời rơi xuống ấy! Có bao giờ người ta đặt phao giữa luồng chảy không? Ban ngày nhìn thấy còn tránh được chứ đêm hôm lũ cuốn xiết như thế, vướng vào cái phao, lật thuyền có khác gì vướng vào cãi bẫy chết người không?
Thì ra thế. Anh Tài hỏi là sao anh Giáp lại có câu: “..Lời nói đọi máu” chứ nguyên nhân vì sao xảy ra chuyện đắm thuyền, ở đây anh rõ hơn ai hết.
Lão Phiến “hòn” ghé tai anh nói nhỏ:
- Làm rõ ra mọi chuyện có anh mất nghiệp, không khéo còn ngồi tù nữa, nên người ta mới nói thế. Nghe thì phải hiểu, chả nhẽ phải nói trắng ra à. Ai chứ người này vai vế to lắm, nói ra không cần thận là lôi thôi to!
Cu Tài ngồi im không nói gì. Anh nhìn lên khúc sông phía thượng nguồn đổ về. Nơi ấy có bến phà, tàu dắt xà lan đang từ từ qua sông..Anh đã từng có thời làm thuê trên con phà đó. Chủ phà là ông Lân tướng đô vật, đôi mắt vằn đỏ như mắt trâu rừng, lông mày rậm, tướng đi đĩnh đạc, dáng con nhà võ. Chỉ nhìn thấy thân hình chắc nịch của ông ấy, đôi vai hộ pháp, những ngón tay chuối mắn người ta đã thấy ngài ngại. Chỉ cần ông ấy hượm khẽ, đụng khẽ một cái là người yếu sức có thể lăn quay. Ông này cực kỳ nóng tính, cái gì không vừa ý là đôi lông mày dựng ngược, hai bên má giật búi thịt liên hồi.
Người ta nhiều khi nhầm khi nghĩ người nóng nảy tính tình thẳng thắn. Ông  Lân này lại khác. Một con người cực kỳ thủ đoạn, từng làm cai, làm bưởng ở bãi vàng năm nào. Nghe đồn dạo trước ông ta còn kinh doanh thứ hàng cấm dễ chết người, bị công an bắt về đồn mấy ngày. Không biết làm cách nào đó, ông ấy chỉ ăn cơm cân mấy bữa rồi ra,không bị truy cứu gì cả. Câu chuyện mà mấy người kia đang thì thầm có liên quan đến ông ta. Người ta không dám nói lớn tiếng vì sợ bức vách có tai. Trong số người đang ngồi ở đây nhỡ có người nhà ông ấy nghe thấy thì sao?
**
Hai chục năm trước, khúc sông này nằm trên thủy lộ quan trọng của cả vùng. Thời bấy giờ chưa có đường tỉnh lộ, sau đổi thành quốc lộ như bây giờ. Giao thông chủ yếu bằng đường thủy. Từ sớm tinh mơ đến tận đêm khuya, trên sông lúc nào cũng vang vọng tiếng thuyền máy, tiếng tàu chạy. Trên bến dưới thuyền, dọc sông không mấy lúc vắng người.
Cái phao đặt đầu bãi Sản được đặt vào thời điểm ấy. Đó là khối bê tông nặng cả tấn đặt chìm dưới nước. Nó được nối với sợ cáp bắt chặt vào chốt của cái phao hàn bằng tôn dày, không gỉ, sơn màu đỏ. Cách xa cả nửa cây số, bằng mắt thường người ta vẫn nhận ra nó khi ngồi trên thuyền hay bè xuôi ngược trên sông. Nhờ có nó những bè đi xuôi, thuyền tàu chạy ngược không bị đâm vào gềnh Ông, hay mắc cạn vào đầu bãi Sản. Những vụ tai nạn đáng tiếc nhờ thế mà ít xảy ra ở khúc sông thơ mộng và cũng có nhiều câu chuyện hãi hùng.
Khi bến phà của nhà Lân mở, cái phao lại vướng lối ra vào của ca nô dắt phà. Không rõ có xin phép nhà chức trách hay không, cái phao được rời ra chỗ khác, trôi mãi sát bến đò nhà Thịnh Mậu. Nhà Thịnh Mậu cằn nhằn vì nó làm cản lối ra vào của thuyền nhà ông ta. Đôi bên lời qua tiếng lại. Cuối cùng nhà Lân phải thuê tàu cẩu kéo nó ra phía đầu bãi sản, chỗ có mấy hòn đá nổi lập lờ. Nếu ở chỗ đủ sâu, khi có thuyền vướng vào chiếc phao sẽ chìm xuống cho thuyền bè trượt qua. Chỗ này vướng hòn đá bên dưới nó ì ra đấy ..và xảy ra chuyện. Thêm một giai thoại bi thương trên khúc sông này chỉ vì cái phao đặt không đúng chỗ!

Không nhớ bao nhiêu lần tôi được nghe những chuyện kỳ quái. Vậy mà khi anh Cu Tài kể lại vẫn muốn nghe vì nó kỳ dị khác thường. Nào là đêm sáng trăng suông có người nhìn thấy đôi thuồng luồng vờn nhau dưới nước. Chúng có cái mào trên đầu màu đỏ rực to bằng cái quạt nan. Nào ông cụ Chuối kéo vó đêm quãng dưới gềnh ông thấy điều lạ lùng. Khi ông cụ kéo vó bè lên, cái vó nặng trĩu không sao kéo lên được. Trong vó có tiếng quẫy đạp, tiếng cười sằng sặc ghê rợn. Ông cụ hoảng hồn phải bỏ vó bè nhảy lên bờ, chạy về nhà. Lần ấy ông cụ về ốm nằm liệt nửa năm giời, khám không biết bệnh gì, chỉ thấy mắt trợn ngược, miệng xùi bọt mép, hai tai khua khua trước mặt. Mãi sau phải nhờ thầy cao tay ở Đồng Rôm về cúng tạ mới khỏi. Toàn những vụ đắm nước rất lạ, xảy ra cực kỳ vô lý. Chuyện anh Hai Hùng, cán bộ văn hóa tỉnh đi về tìm hiểu phong tục, văn hóa người Dao, giỏi bơi lội. Không hiểu tại sao, giữa mùa nước lặng, sông vơi, khi anh bơi mảng ngang qua chỗ gềnh Ông giữa trưa nắng tỏ, đột nhiên mất hút. Cô người yêu đi cùng ngồi bờ bên này thấy vậy kêu thất thanh, dân làng chạy ra thì đã không kịp nữa rồi.
Lạ ở chỗ nạn nhân toàn là người giỏi bơi lội, đi sông nước đối với họ quen như đi trên bờ.
Từ ngày có cái phao tín hiệu, người ta qua sông thường tránh chỗ này. Vì thế lâu lắm rồi tai nạn không xảy ra.
Khi có đường trải nhựa trên bờ, đường thủy đi lại bằng tàu thuyền bớt hẳn. Có chăng chỉ vài ba con thuyền nho nhỏ chạy máy xăng của thuyền chài, đánh cá vào buổi tối, đêm khuya.
Cái phao chỉ còn tác dụng với ít người có công việc trên sông, không mấy ai để ý đến.
Cho đến lúc này mới có thêm những câu chuyện xì xầm về nó..

Tôi được cử làm chân ghi sổ sách giúp nhà đám.
Đến chiều, có tin báo đã tìm thấy xác nạn nhân. Người ta tìm thấy anh mắc kẹt giữa hai chiếc xà lan chở cát mãi phía dưới sông, cách đây hơn chục cây số. Chính vì thế mà hai ngày kiếm tìm người ta không tìm thấy. Chỉ khi chiếc xà lan mé ngoài được kéo ra, thi thể nạn nhân mới lộ ra.
Lễ viếng vẫn chưa bắt đầu vì còn phải chờ đưa thi thể đi đài hóa thân, sau đấy mới đưa về. Vì thế công việc hiện giờ của tôi là ghi danh sách những người hảo tâm quyên góp giúp đỡ gia đình nạn nhân theo ý kiến đề nghị của ông trưởng thôn nêu ra.
Làng tôi chưa phải là đã giàu có gì, thậm chí có người còn rất “hoàn cảnh”, nhưng tinh thần lá lành đùm lá rách thật chả kém nơi nào. Người năm chục, kẻ một, hai trăm ai có lòng nào giúp lòng ấy. Kể như nhà anh Quế điếc còn trong diện hộ nghèo nhà nước vẫn phải hỗ trợ, cũng ủng hộ một trăm ngàn.. Tôi ghi gần đặc hai trang giấy.
Đã van vãn người, định quay ra làm vê thuốc lào thì thấy Lân, không biết đến đứng sau lưng tôi từ lúc nào, lên tiếng:
- Thầy ghi cho em..
Lân ngày trước vốn là học sinh cũ của tôi hồi tôi dạy cấp hai. Tôi hỏi: “Anh định giúp hiếu chủ bao nhiêu”. Anh ta bảo “Em chỉ có năm triệu.” Tôi hơi giật mình. Từ đầu đến giờ chưa có ai ra một số tiền to như thế. Lân còn ghé tai tôi dặn thêm: “Tý nữa có lên loa, xin thầy bảo đừng đưa tên em lên. Thầy nhớ nhé”. Tôi gật đầu, nghĩ bụng anh ta lo hơi xa. Không ai lên loa trường hợp như này. Thỉ dụ như quyên góp ủng hộ đội bóng hay lo tết trung thu  cho thiếu nhi lại là một nhẽ khác. Người ta thường hay lên loa để biểu dương, ghi nhận công đức của các nhà tài trợ hay hảo tâm. Việc hôm nay lại khác. Ai lại oang biểu dương công đức trong lúc tang gia bối rối của nhà hiếu chủ vào lúc này? Chắc là Lân có ẩn ý gì mới dặn tôi như vậy. Nhìn nét mặt anh ta khác hẳn thường ngày, như có điều lo lắng, tôi im lặng, không nói gì.

***
Sau đám tang mấy ngày, làng tôi lại ai vào việc nấy. Không khí tang tóc cũng dần nguôi ngoai. Đi qua nhà vừa có đám, đã thấy chị Liên dọn dẹp quanh nhà. Người làng cũng không ai nhắc chuyện buồn, thì Lân chạy xe xuống nhà tôi năn nỉ:
- Hôm nay em có chuyện muốn thưa với thầy.
- Lại chuyện cái phao à? – Tôi hỏi.
- Vâng. Em suốt mấy ngày qua chả đêm nào ngủ được. Chợp mắt được một lúc là gặp ác mộng.Thấy thằng Bình mặt trắng toát, tay cầm cái dùi, đến đòi nợ. Mà em có nợ tiền nợ bạc anh ta hoặc với ai bao giờ đâu? Lại nghe nói nhà ấy đang chuẩn bị phát đơn kiện, em lo quá mới đến thỉnh ý thầy..
- Người ta có kiện hay không thì tôi chưa nghe ai nói. Nhưng anh có cảm thấy bứt dứt trong lòng không? Tôi nghĩ chả tòa án nào hơn tòa án lương tâm con người. Mình cư xử làm sao cho phải hơn là lo đối phó kiện cáo.
- Dạ, em có phải tim làm bằng gỗ đâu? Nhưng nếu họ kiện, em phải làm sao hả thầy?
- Cái này tôi cũng không biết phải nói với anh thế nào. Cái phao đáng lẽ nó màu đỏ, anh đã làm nó thành ra đen mất rồi.. Để tôi tính xem đã..
Tôi biết nhà Bình Liên vốn thật thà, chất phác lại hiền lành, chả bao giờ khúc mắc với ai. Hơn nữa chị vợ văn hóa ít, việc kiện tụng rất có thể không xảy ra. Nhưng biết đâu “Nó lú thì chú nó khôn” nhỡ có người bày vẽ cho thì sao?
Nhưng mà, một trăm cái lý, không bằng một tý cái tình. Suy tính một lúc, tôi nói:
- Theo tôi anh nên chủ động đến nhà người ta nói chuyện trước đi. Người mất thì đã mất rồi. Có đi kiện, anh ngồi tù, người ta cũng chẳng được gì. Người chết cũng không thể sống lại. Chi bằng thương lượng với nhau, bồi thường thỏa đáng cho người ta. Tôi chắc nhà chị ấy cũng nghe, mà chính quyền cũng không can thiệp.. Bây giờ người ta khuyến khích hòa giải các vụ khúc mắc trong dân. Bần cùng lắm mới phải đưa ra chỗ công quyền.
Đôi lông mày rậm của Lân đang nhíu lại, nghe đến đây rãn ra, nét mặt mừng rỡ:
- Vậy mà em rối ruột quá, không nghĩ ra. Để em về thu xếp. Năm triệu bạc em đưa hôm ở đám tang đúng là chả bõ bèn gì so với lỗi của em, cho dù mình không chủ ý..Nhưng bồi thường rồi mà bên chính quyền người ta vẫn hỏi thì sao ạ?
- Cái này tôi cũng chịu, không biết tham gia với anh thế nào.. Nhưng chủ quan mà nói, nếu không có người khiếu kiện, chắc người ta cũng không hỏi đến đâu. Nhà nước thiếu gì việc để làm? Việc này ai chứ anh tôi tin là biết cách giải quyết, còn hỏi tôi làm gì?
Lân có vẻ bẽn lẽn. Cái vẻ như hồi nào còn là học sinh của tôi, lần tôi phân xử anh ta đánh bạn cùng học trong lớp:
- Có gì nhờ thầy giúp em một tiếng. Thấy hoàn cảnh nhà ấy tuy chưa có ai có dấu hiệu gì, em vẫn cứ thấy áy náy trong lòng..
Tôi chỉ còn biết ừ hữ, chứ không dám quả quyết nhận lời. Đường đời muôn ngả, bách nhân bách tính, ai lường trước hết được cả mọi sự ở đời? Nhận giúp mà không thành, chả nhẽ mình hứa suông?
Lân chào tôi ra về, vẻ mặt có phần bớt căng thẳng. Đúng là tình thương và lòng chân thành luôn là cái phao cứu rỗi con người mỗi khi bấn loạn. Đó phải là chiếc phao màu đỏ, không thể là màu đen..
Anh ta không quên chỉ cho tôi thấy ngoài mặt sông, nơi có chiếc tàu kéo đang dìu chiếc phao về chỗ cũ. Dưới ánh nắng mặt trời, cái phao đỏ sáng lên trên mặt nước như cục than hồng.  Anh Cu Tài đang bơi thuyền phía trước, làm xi nhan..

==========

Đà Nẵng trả lương gấp 280 lần mức cơ sở để hút người tài


Nguyễn Đông 





























VNExp - Chính quyền Đà Nẵng sẽ hỗ trợ kinh phí từ 80 đến 280 lần mức lương cơ sở để thu hút người tài đến thành phố làm việc lâu dài.

HĐND TP Đà Nẵng vừa thông qua Nghị quyết ban hành quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công thành phố, hiệu lực từ đầu tháng tám.

Theo đó, để thu hút chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người đã tốt nghiệp đại học hệ chính quy tập trung loại giỏi, thạc sĩ, tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục đào tạo uy tín trong nước và nước ngoài, thành phố hỗ trợ mức kinh phí từ 80 đến 280 lần mức lương cơ sở; tùy thuộc vào trình độ và cơ sở đào tạo.

Những nhân tài được hưởng mức lương này phải là người có nguyện vọng đến làm việc lâu dài tại cơ quan, đơn vị thuộc TP Đà Nẵng quản lý; những chuyên gia có uy tín trên các lĩnh vực mà thành phố có nhu cầu nhằm phục vụ kinh tế- xã hội.

Riêng một số vị trí công việc đặc thù khó thu hút, ngoài khoản hỗ trợ như trên, nhân tài còn được hỗ trợ thêm kinh phí không quá 200 lần mức lương cơ sở; ưu tiên xem xét việc tuyển dụng công chức hoặc tham gia tuyển dụng viên chức theo quy định hiện hành.

Những trường hợp khó khăn và có nhu cầu thực sự về nhà ở, thành phố sẽ xem xét cho thuê nhà chung cư của thành phố hoặc hỗ trợ vay vốn ưu đãi 10 đến 15 năm để mua nhà ở xã hội.

Đà Nẵng là địa phương có nhiều chính sách thu hút, trải thảm đón nhân tài về làm việc. Thành phố đã thực hiện đề án đưa học viên đi học đại học và sau đại học ở nước ngoài, với số tiền đầu tư cho mỗi học viên lên đến hàng tỷ đồng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang