Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017

Những Nghịch lý và Ngộ nhận về Việt Nam


Nguyễn Quang Dy - “Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể sắp xếp lại tương lai” “We cannot change the past, but we can reshape the future” (Dalai Lama).
Chiến tranh Viêt Nam đã đi vào lịch sử lâu rồi. Đã 42 năm kể từ khi cuộc chiến đó chấm dứt, nhưng người ta vẫn còn tranh luận về Chiến Tranh Việt Nam (hay còn gọi là cuộc “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai”). Tại sao “bóng ma Việt Nam” đến giờ vẫn còn ám ảnh người Mỹ và người Việt, nhất là thế hệ những người đã trực tiếp dính líu vào Việt Nam, dù là quân nhân hay dân sự và nhà báo. Tại sao người ta vẫn tiếp tục viết sách và làm phim về Việt Nam? Phải chăng vì Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều nghịch lý và ngộ nhận?

Hệ quả chiến tranh

Chiến tranh Việt Nam đã làm 58.000 người Mỹ và hàng triệu người Viêt (cả hai phía) bị thiệt mạng, và làm cho hai quốc gia bị tổn thất nặng nề và chia rẽ sâu sắc. Sau chiến tranh, hầu hết các trường hợp người Mỹ mất tích (MIA) đã được kiểm chứng, nhưng hàng vạn người Việt mất tích (cả hai phía) vẫn chưa được kiểm chứng. Ngay lúc này, tại khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, người ta vẫn đang tìm kiếm mộ tập thể của hàng trăm liệt sỹ thiệt mạng trong “Tết Mậu Thân” (1968) mà đến nay vẫn coi như “mất tích”. Người ta vẫn đang phải chi nhiều triệu USD để rà soát bom mìn và tẩy độc dioxin tại nhiều nơi ở Việt Nam.

Ngoài 257 nhà báo quốc tế sống sót sau Chiến tranh Viêt Nam, tham gia câu lạc bộ “Vietnam Old Hacks”, 73 đồng nghiệp xấu số của họ bị mất tích trong chiến tranh, đến nay vẫn chưa được kiểm chứng. Sau nhiều năm tìm kiếm vô vọng, phóng viên ảnh Tim Page và thân hữu vẫn chưa chịu bỏ cuộc, tuy Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam vẫn chưa làm gì để giúp họ tìm kiếm. Trong khi những người Mỹ mất tích trong chiến tranh đã được kiểm chứng, tại sao các nhà báo quốc tế mất tích trong chiến tranh lại bị Mỹ và Việt Nam “bỏ quên”? Thật là bất công và bất nhẫn khi số phận người sống lẫn người chết vẫn chưa hóa giải.

Trong bộ phim tài liệu mới “The Vietnam War” (gồm 10 tập, dài 18 giờ, sẽ chiếu trên PBS từ 17/9/2017) Ken Burns và Lynn Novick đã chọn cựu binh Mỹ John Musgrave để nói lên một sự thật đau lòng (ngay từ đầu bộ phim): “Có lẽ chúng tôi là những đứa trẻ cuối cùng của một thế hệ tin rằng chính phủ của mình không bao giờ nói dối chúng tôi” (We were probably the last kids of any generation that actually believed our government would never lie to us). Câu nói đó chắc sẽ ám ảnh khán giả, và tiếp tục ám ảnh người Mỹ và Việt Nam.

Bộ phim “The Vietnam War” làm tôi nhớ lại một kỷ niệm vào năm 1985 khi chúng tôi đứng trên đỉnh đèo Hải Vân nhìn xuống bãi biển Non Nước (còn gọi là “China Beach”). Thomas Vallely (một cựu binh ở Massachusetts) đứng trước ống kính máy quay phim để làm một “stand-up” giữa trời nắng chang chang, đã phải lặp lại nhiều lần một câu nói làm tôi bị ám ảnh, nên đã thuộc đến tận bây giờ: “Hai mươi năm trước tôi đã đổ bộ vào Đà Nẵng khi còn là một thanh niên 19 tuổi. Chính tại Việt Nam tôi đã hiểu về cuộc chiến tranh, về bản thân, và về đất nước của mình… Chúng ta không nên đưa thanh niên vào chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy ông già”. (Twenty years ago, I landed here in Da Nang as a nineteen years old. It was here in Vietnam that I had learned about the War, about myself and about my country… We should not be in the businees of sending young men to die for the old men’s pride).

Lịch sử thường lặp lại với nhiều nghịch lý. Nước Mỹ đã lặp lại một sai lầm mà tướng Omar Bradley đã từng cảnh báo (15/5/1951): Chiến tranh Việt Nam đã trở thành “một cuộc chiến sai lầm, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, và chống một kẻ thù sai” (The wrong war, in the wrong place, at the wrong time, and with the wrong enemy). Tại sao một chính quyền có nhiều người tài giỏi như vậy, mà vẫn mắc sai lầm? Phải chăng là do “ngạo mạn về quyền lực”, nên họ đã ngộ nhận về “quyền năng tuyệt đối”? Phải chăng do cực đoan và tự phụ nên họ không chịu lắng nghe lời khuyên, mà còn lừa dối Quốc hội và Nhân dân.

Tại sao Việt Nam

Năm 1990, tôi có dịp gặp ông Archimedes Patti tại Bangkok trong khi ông ấy chờ máy bay đi Việt Nam để dự kỷ niệm sinh nhật cụ Hồ. Ông đã ký tặng tôi cuốn sách “Tại sao Việt Nam” (“Why Vietnam: Prelude to America’s Albatross”, University of California Press, 1980) và kể lại nhiều kỷ niệm với cụ Hồ và OSS. Tuy ông Patti và cuốn sách đã đi vào lịch sử, nhưng câu hỏi Why Vietnam vẫn còn ám ảnh nhiều người Mỹ và người Việt Nam.

Khi tôi hỏi ông Patti là người Mỹ có đọc cuốn sách của ông không, ông buồn rầu trả lời là rất ít người đọc. Mãi sau này người ta mới đưa nó vào danh mục sách tham khảo của các trường đại học. Trong một lần trả lời phỏng vấn (1981), ông Patti nói:“Theo tôi, chiến tranh Viêt Nam là một sự lãng phí khồng lồ. Trước hết, nó không cần phải xảy ra. Hoàn toàn không. Không đáng tí nào cả. Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, không ai đến gặp tôi để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra năm 1945 hoặc 1944. Trong suốt những năm tôi làm việc ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng, không một ai có quyền hành đến gặp tôi cả…”

Năm 1995, nhân kỷ niệm 20 năm kết thúc chiến tranh, ông Robert McNamara đã viêt cuốn sách “Hồi tưởng: Bi kịch và Bài học Việt Nam” (Robert McNamara, “In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam”, Vintage books, 1995). Cuối cùng ông McNamara đã thừa nhận sai lầm. Nhiều người đặt câu hỏi tại sao một người thông minh tài giỏi như vậy, phải mất tới 20 năm mới nhận ra hay thừa nhận sai lầm. Phải chăng nghịch lý quá khó để nhận ra, hay sai lầm quá lớn để thừa nhận? Trong khi sử gia Arthur Schlesinger khen ngợi ông McNamara là dũng cảm và chân thành thừa nhận sai lầm, thì nhiều người khác lại cho rằng ông McNamara thừa nhận sai lầm quá chậm trễ như vậy là thiếu tử tế (indecent). Những người trong cuộc phải hiểu cái giá của sự chậm trễ trước mỗi bước ngoặt của lịch sử. Theo Đại tá Andre Sauvageot, “Đáng lẽ Tổng thống Nixon phải rút quân khỏi Việt Nam sớm hơn…”

Năm 1997, ông H.R. McMaster đã viết cuốn “Bỏ rơi Nhiệm vụ” (H.R. McMaster, “Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs, and the Lies that led to the War”, Harper, 1997). Đó là nhận xét thẳng thắn của một sỹ quan dũng cảm dám nói ra sự thật, dù là sự thật đau lòng. Chắc lúc đó ông McMaster không biết rằng sau này mình sẽ trở thành Chủ tịch Hội đồng An Ninh Quốc gia. Liệu ông có thể làm gì để sửa chữa sai lầm khi có cơ hội, vì sau Việt Nam, Chính quyền Mỹ tiếp tục nói dối và mắc sai lầm tại Iraq.

Trong cuốn sách đó, McMaster đã nói rõ không chỉ có Chính quyền Johnson lừa dối Quốc Hội trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mà các tướng lĩnh cầm đầu cũng tham gia sự “đồng thuận dối trá” (Contriving consensus). Tướng Earle Wheeler và các tham mưu trưởng liên quân, được gọi là “năm người đàn ông im lặng” (five silent men) đã giúp Tổng thống lừa dối Quốc Hội, leo thang chiến tranh tại Việt Nam, bằng gia tăng ném bom và tăng quân để gây sức ép (graduated pressure). McMaster gọi đó là “bãi lầy dối trá” (quicksand of lies).

Nhà báo Peter Arnett (CNN) gọi đó là“sự bất tài, dối trá, và ngạo mạn của những quan chức Mỹ cao cấp nhất” (the ineptness, duplicity and arrogance among the most senior officials of the US). Còn nhà báo Joe Galloway (US News & World Reports) đã nhận xét:“Những người có quyền lực và trách nhiệm đã gây ra thảm họa chiến tranh và để lại dấu vết khắp nơi…McMaster đã làm sáng tỏ hơn và biết rõ hơn về ‘những người tài giỏi và thông minh nhất’ đã dùng dối trá và bí mật để che đậy cho họ như thế nào, nhằm khuynh đảo và thao túng đất nước này, xô đẩy Mỹ trượt theo con đường chiến tranh và thất bại cay đắng” (men of power and responsibility caused that disastrous war and left their fingerprints all over it. He sheds fresh light and understanding on how ‘the best and the brightest’ shielded by lies and top secret, maneuvered and manipulated our country down the road to war and bitter defeat).

Bất đồng chính kiến

Khác với Robert McNamara (cựu Bộ trưởng Quốc phòng) và McGeorge Bundy (cựu Cố vấn An ninh Quốc gia), George Ball (cựu Thứ trưởng Ngoại giao, 1961-1966) lúc đó đã nhận ra sai lầm và cố khuyên can Tổng thống Kennedy và Johnson đừng can thiệp vào Việt Nam: “Tôi nhìn thấy trước một cuộc phiêu lưu rất nguy hiểm…Chúng ta sẽ sa vào một cuộc xung đột kéo dài, còn nguy hiểm hơn cả Triều Tiên”. Trong số những nhân vật mà David Hamberstam gọi là the Best and the Brightest trong Chính quyền Kennedy, George Ball là thiểu số đơn độc giữa sự đồng thuận ngạo mạn và tự phụ về quyền lực. Tuy lập luận của George Ball rất thuyết phục, nhưng họ không buồn nghe, nên ông đã từ chức (năm 1966).

George Ball là một nhân vật đóng vai phản biện (devil’s advocate) có uy tín trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ trong thập niên 1960. Ông đã cố thuyết phục Tổng thống Kennedy đừng gửi quân sang Việt Nam và đã cảnh báo từ rất sớm là cuối cùng Mỹ phải đưa tới đó hàng trăm ngàn quân: “Việt Nam như một cái vòng luẩn quẩn với những khe sâu và bãi lầy khó thoát” (Vietnamese detour with its deep ruts and treacherous quicksands). Ông dự đoán chiến tranh sẽ kéo dài, quân Mỹ sẽ mắc kẹt vào một cuộc chiến tranh trong rừng rậm, Trung Cộng sẽ can thiệp, sự ủng hộ của dân chúng Mỹ sẽ mất dần khi thương vong tăng lên, dư luận quốc tế sẽ phản đối chiến tranh, và cuối cùng Mỹ sẽ thất bại.

Ngay từ đầu thập niên 1960, George Ball đã nhấn mạnh giá trị của ngoại giao, và khuyến nghị “rút quân chiến thuật” để tránh thảm họa. Ông kêu gọi ngừng bắn, có ủy ban quốc tế giám sát, tiếp theo là bầu cử tại Miền Nam, cho Việt Cộng tham gia, tiến tới thống nhất Việt Nam. Ông khuyến nghị tìm kiếm một giải pháp ngoại giao, vì nếu thiếu thì Mỹ sẽ khó tránh được thảm họa, dẫn tới thất bại nhục nhã. Lịch sử đã chứng minh George Ball có tầm nhìn sáng suốt, tuy lúc đầu ông không phản đối quyết liệt. Chính ông George Ball và TNS William Fulbright đã ủng hộ “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” (mà George Ball cùng soạn thảo).

Nhưng có lẽ chính họ cũng đã bị lừa dối. Sau đó, George Ball ngày càng bất đồng chính kiến, với những khuyến nghị ngày càng quyết liệt. TNS Fulbright đã viết cuốn “Sự Ngạo mạn của Quyền lực” (William Fulbright, “The Arrogance of Power”, Random House, 1966). Ông cho rằng khi “quyền lực bị lẫn lộn với đạo đức thì nó thường bị ngộ ngận là quyền năng tuyệt đối” (omnipotence). Ông lập luận “trong một nền dân chủ, bất đồng chính kiến là từ lòng tin, giống như tin vào thuốc chữa bệnh, mà giá trị của nó không phải vị đắng ta nếm, mà là công hiệu của thuốc”. Không phải chỉ có George Ball và William Fulbright bất đồng chính kiến, mà còn một số người khác như TNS Earnest Gruening và TNS Wayne Morse, là hai người dũng cảm trong Thượng viện đã bỏ phiếu chống “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” (1964). Sau TNS Fulbright, TNS Gruening đã viết cuốn Vietnam Folly, làm thay đổi nhận thức nhiều người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam (Earnest Gruening, “Vietnam Folly”, National Press, 1968).

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Ngày 2/8/1964, ba tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tàu khu trục USS Maddox trong vịnh Bắc Bộ (cuộc “tấn công lần thứ nhất”). Hai ngày sau (4/8/1964) tàu USS Maddox và USS Tuner Joy tiếp tục tuần tra trinh sát tại vịnh Bắc Bộ. Trong đêm tối mịt mù, sóng to gió lớn làm mất tầm nhìn, thủy thủ hai tàu phát hiện trên màn hình radar những đốm sáng và hơn 20 vật thể di chuyển giống ngư lôi của đối phương, nên tàu phải tăng tốc để tránh, thả thủy lôi và bắn trả 650 quả pháo xuống biển (tưởng là cuộc “tấn công lần thứ hai”).

Nhưng sau đó, họ không tìm thấy dấu vết ngư lôi hay tàu của đối phương bị phá hủy hay tháo chạy trước hỏa lực cực mạnh của hai tàu Mỹ. Trong vòng mấy giờ sau đó, thuyền trưởng tàu USS Maddox John Herrick đã gửi điện khẩn về Honolulu báo cáo không phát hiện thấy địch bằng mắt thường, và báo động bị địch tấn công bằng ngư lôi có thể là do thời tiết xấu và phản ứng hồ đồ của các kỹ sư sonar. Ông khuyến nghị “cần đánh giá lại toàn bộ trước khi có hành động tiếp theo” (complete evaluation before any further action taken). Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã lập tức khuyến nghị ném bom Bắc Việt Nam, và Tổng thống Johnson đã nghe lời khuyên của McNamara, vội vã tuyên bố Mỹ bị “tấn công vô cớ” (unprovoked attack) trên hải phận quốc tế. Ba ngày sau, hai viện Quốc Hội thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” cho phép Tổng thống toàn quyền hành động, triển khai quân đội Mỹ tại Đông Nam Á. Đó là bước ngoặt để Chính quyền Johnson quyết định leo thang chiến tranh.

Năm 2003, trong bộ phim tài liệu “Sương mù Chiến tranh” (Fog of War) ông McNamara đã thừa nhận “không có cuộc tấn công lần thứ hai, ngày 4/8/1964”. Tổng thống Johnson cũng nói “Theo tôi biết, hải quân của chúng ta đã bắn cá voi ở đó” (For all I know, our navy was shooting at whales out there). Phi công James Stockdale, lúc đó đang lái máy bay hải quân F-8 Crusader bay trên vùng “có chiến sự” đã báo cáo về như sau: “Tôi đang ngồi ở vị trí tốt nhất để quan sát “các tàu khu trục của chúng ta đang bắn vào các mục tiêu bóng ma…Chẳng có cái gì ở đó ngoài nước biển tối đen và hỏa lực của Mỹ” (our destroyers were shooting at phantom targets ... There was nothing there but black water and American firepower).

Năm 2005, Cục An ninh Quốc gia (NSA) đã giải mật nhiều tài liệu bao gồm các bức điện trao đổi xung quanh “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nên các sử gia có cơ sở để kết luận là “không có cuộc tấn công lần thứ hai” (ngày 4/8/1964). Sử gia Edwin Moise tin rằng do thời tiết xấu, các đàn cá bơi gần mặt nước, hoặc sự cố cảm biến của radar đã làm các kỹ sư sonar hiểu lầm các tín hiệu trên màn hình. Biển cả đầy rẫy các hiện tượng lạ mà thủy thủ có thể hiểu lầm là mối đe dọa. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh thủ phạm trong “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” là một loài cá họ mực có tên là pyrosomes, thường đi ăn ban đêm hàng đàn gần mặt nước, với đội hình trông giống quả ngư lôi, tuy tốc độ di chuyển chậm hơn, nhưng cũng phát sáng và tạo vệt sóng, nên hình ảnh trên màn hình radar trông giống ngư lôi.

Giáo sư Todd Newberry (University of California, Santa Cruz) cho rằng hình ảnh và tập quán di chuyển của loài cá pyrosomes khớp với sự cố Vịnh Bắc Bộ. Newberry cho biết vào mùa hè 1966 ông đã gặp một kỹ sư sonar của tàu USS Turner Joy tại Monterey Bay. Anh ta kể lại sự cố đêm hôm đó với ông Newberry (một giáo sư sinh vật biển). Theo lời anh ta, trên màn hình radar của tàu USS Turner Joy xuất hiện những vật thể trông giống như ngư lôi, nhưng cách nó di chuyển không giống những quả ngư lôi mà từ trước tới nay anh ta đã thấy. Câu chuyện của Newberry về loài cá pyrosomes phát sáng là một ví dụ về những ngộ nhận cực đoan của con người về thế giới tự nhiên đa dạng, nhưng có thể làm thay đổi cục diện chiến tranh.


Thực ra hơn nửa thế kỷ qua, các nhà hải dương học đã nghiên cứu và kể lại nhiều mẩu chuyện về loài cá pyrosomes trong các bài giảng ở trường đại học, nhưng ít người để ý (ví dụ trong sự cố Vịnh Bắc Bộ). Trong bộ phim the Fog of War, ông McNamara nói “Chiến tranh quá phức tạp để đầu óc con người có thể hiểu được tất cả các biến số. Nhận định và hiểu biết của chúng ta không đủ, và chúng ta giết người một cách không cần thiết” (War is so complex it’s beyond the ability of the human mind to comprehend all the variables. Our judgment, our understanding, are not adequate. And we kill people unnecessarily).

Bóng ma Việt Nam và Iraq

Sau Việt Nam, người ta tưởng Mỹ sẽ không bao giờ mắc lại sai lầm nữa. Nhưng Iraq đã làm sống lại bóng ma Việt Nam. Chính quyền Bush đã mắc lại sai lầm cũ, làm mất lòng dân, không chỉ người Mỹ mà còn nhiều dân tộc khác trên thế giới. Tuy Mỹ chống chủ nghĩa khủng bố là đúng, nhưng đã sai khi ngộ nhận và ngạo mạn về quyền lực. Mỹ đã sai khi Washington đi theo chủ nghĩa đơn phương (unilateralism), chỉ dựa vào sức mạnh cứng (hard power) mà quên mất sức mạnh mềm (soft power) làm vũ khí chống khủng bố. Mỹ đã sai lầm khi Chính quyền Bush đã nói dối Quốc hội và nhân dân Mỹ về lý do tấn công Iraq.

Hình như người ta không chịu học bài học Việt Nam: Bắt đầu một cuộc chiến mà không có tầm nhìn rõ ràng, không biết giới hạn của quyền lực, nên cuối cùng không thắng được và không thu phục được lòng dân địa phương. Iraq một lần nữa lại chia rẽ nước Mỹ khi chiến tranh kéo dài với tổn thất quá lớn, nhưng không có lối thoát. Có thể nói, bóng ma Việt Nam được phục sinh bởi Iraq, và lịch sử đã lặp lại một lần nữa. Mỹ lại đứng trước thế “tiến thoái lưỡng nan” (như Catch-22): hoặc mất Iraq hoặc phải “Iraq hóa” chiến tranh để Mỹ có thể rút quân nhằm tránh những rắc rối lớn hơn trong nước. Đó không chỉ là thất bại của bộ máy chiến tranh với “sự ngạo mạn của quyền lực”, mà còn là thất bại của một triết lý chiến tranh dược dẫn dắt bởi một tầm nhìn thiển cận, dựa trên chủ nghĩa đơn phương và sức mạnh cứng.

Bài học Việt Nam là một trường hợp điển hình về sức mạnh cứng được sử dụng tối đa, nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Ông McNamara đã mất hơn 2 thập kỷ mới nhận ra sai lầm chết người đã xô đẩy nước Mỹ vào một cuộc chiến tàn khốc, không chỉ đem lại thương vong và tổn thất to lớn cho nước Mỹ, mà còn tàn phá Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá” (lời tướng Curtis LeMay), khó tái thiết sau chiến tranh. Kết cục cả Mỹ và Việt Nam đều bị tổn thương và chia rẽ nghiêm trọng, cả về vật chất lẫn tinh thần, đến tận bây giờ vẫn chưa lành vết thương.

Vì vậy mà hai thập kỷ sau chiến tranh, cuốn sách “Hồi tưởng” của ông McNamara lại mở ra vết thương lòng với vết sẹo Chiến tranh Việt Nam vẫn chưa lành. Ba thập kỷ sau chiến tranh, bóng ma Việt Nam vẫn ám ảnh John Kerry và George Bush trong cuộc vận động tranh cử tổng thống (2004). Đến tận bây giờ, bóng ma Việt Nam vẫn tiếp tục ám ảnh hai quốc gia và và chia rẽ hai cộng đồng người Việt, làm cho hòa giải vẫn vô cùng khó khăn. Nhiều người Việt và người Mỹ vẫn như là “tù binh của quá khứ”, không thể kiến tạo được tương lai.

Hình như có một nghịch lý “yêu-ghét” (love-hate paradox) giữa hai quốc gia, do ám ảnh của quá khứ với mặc cảm tội lỗi (như trường hợp ông Bob Kerrey). Nó nuôi dưỡng những ẩn ức và ngộ nhận do “tư duy cũ” (mindset) bị “bất cập” trước thực tế mới với “khác biệt lớn” (big gaps). Chỉ khi nào những “bất cập” đó được tháo gỡ, mở đường cho thiện chí hợp tác dựa trên những giá trị nhân bản của con người, thì mới có thể hàn gắn được vết thương lòng và vết sẹo chiến tranh. Quá trình này chỉ có thể thực hiện được khi quan hệ con người được xây dựng trên nền tảng “sức mạnh mềm” để khai thác được tiềm năng con người qua giao lưu và kết nối, như “hệ quả không định trước” của chiến tranh, với một tầm nhìn mới về tương lai.

Nhà báo David Lamb (Nieman Fellow, LA Times, mất năm 2016) nhận xét: “Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng ta là không hiểu người Việt Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của họ. Đối với thắng thua trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người. Tôi ước rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam, nhưng đáng tiếc là chúng ta lại sa vào cuộc chiến tại Iraq, một thảm họa không khác cuộc chiến tranh Việt Nam”.

Thoát Trung và Biển Đông

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã từng đánh Bắc Việt Nam để bảo vệ Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Nhưng sau khi Mỹ bắt tay với Trung Quốc, họ đã bỏ rơi Nam Việt Nam (năm 1975). Trong mấy thập kỷ tiếp theo, Mỹ đã hợp tác và giúp Trung Quốc trỗi dậy bằng chính sách “tham dự tích cực” (Constructive Engagement), với hy vọng Trung Quốc sẽ “trỗi dậy hòa bình”. Nhưng đáng tiếc, Trung Quốc đã bộc lộ bộ mặt thật hung hăng như con quái vật Frankeinstein (lời cố Tổng thống Nixon). Trung Quốc bắt nạt các nước láng giềng, quân sự hóa Biển Đông để độc chiếm nó như cái ao riêng của mình, đồng thời thách thức vai trò và lợi ích cơ bản của Mỹ và các đồng minh / đối tác tại Châu Á.

Năm 1964-1965, tàu chiến Mỹ thuộc Hạm đội 7 (như tàu khu trục USS Maddox) đến Vịnh Bắc Bộ để chống Việt Nam. Còn bây giờ tàu khu trục USS John McCain đến Cam Ranh để hợp tác với Việt Nam nhằm ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông. Lịch sử đang lặp lại “Trò chơi Vương quyền” (Game of Thrones), nhưng đổi chỗ diễn viên theo luật chơi mới với kịch bản mới. Lịch sử Việt Nam có nhiều nghịch lý và uẩn khúc bất thường. Làm thế nào người Việt Nam có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, mà không để các nước lớn lợi dụng biến mình thành quân cờ của họ trong bàn cờ nước lớn?

Bàn cờ Biển Đông đầy cạm bẫy, nhất là từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD981vào Biển Đông, như một bước ngoặt bất ngờ gây ra cuộc khủng hoảng Viêt-Trung (5/2014). Việt Nam đã phải trả giá quá nhiều và quá lâu, bởi những sai lầm của kẻ khác, cũng như của chính mình, trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, cũng như suốt thời hậu chiến (sau 1975), với cuộc chiến “bạn thù” với Campuchia và Trung Quốc. Sau bài học đẫm máu xung đột Viêt-Trung (2/1979), là bài học xương máu Thành Đô (9/1990). Đã đến lúc người Việt phải quyết tâm đổi mới tư duy, vượt qua ý thức hệ đã lỗi thời, để đổi mới thể chế và kiến tạo lại tương lai.

Có thể nói “thoát Trung” không phải là “bài Trung” (chống Trung Quốc) mà thực chất là đổi mới tư duy và ý thức hệ đã lỗi thời để đổi mới thể chế, nhằm kiến tạo một nước Việt Nam độc lập và tự cường, có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc của mình. Nói cách khác, muốn “tái cân bằng tích cực” (active rebalance) với Trung Quốc, Việt Nam cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước lớn (như Mỹ, Nhật, Ấn) trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì an ninh tập thể, nhưng không nên quá phụ thuộc vào các nước lớn (như hiện nay đang phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc). Đã đến lúc Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, bao gồm đổi mới những nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại, trong bối cảnh mới.


Thay lời kết


Trong một bài diễn văn để vinh danh TNS John McCain và TNS John Kerry vì đã đóng góp cho hòa giải Mỹ-Việt (Boston, 2001), Đại sứ Mỹ Pete Peterson nói: “Chiến tranh không chấm dứt khi ngừng tiếng súng…Chiến tranh chỉ thực sự chấm dứt khi hai bên hòa giải với nhau”. Nhưng hòa giải không chỉ diễn ra trên bàn đàm phán giữa hai chính phủ, mà còn diễn ra trên chiến trường xưa, giữa những người cựu chiến binh đã từng bắn giết lẫn nhau, và trong lòng những người thân của họ (ở cả hai phía). Nó đòi hỏi phải vươt qua thù hận.


Cách đây không lâu, cựu ngoại trưởng John Kerry đã nói tại một cuộc hội thảo tại California (10/10/2016): “Tôi đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Chúng tôi tưởng là đến đây để ngăn chặn nơi này biến thành cộng sản… Nhưng nay chỉ có chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt tại Việt Nam”. Dù đúng hay sai, ông Kerry phản ánh một nghịch lý trớ trêu tại Việt Nam. Thực ra, đó cũng là “hệ quả không định trước” (unintended consequences). Nhưng đáng buồn là Việt Nam đang bị nhầm lẫn chạy theo những gì tồi tệ nhất của CNXH và CNTB. Đó là “CNXH thân hữu” để bảo kê cho thế lực “Tư bản Đỏ” (còn gọi là “các nhóm lợi ích”), lợi dụng “định hướng XHCN” để thao túng chế độ và cướp đoạt thành quả cách mạng của thế hệ trước.

Ông Phạm Xuân Ẩn, (“Điệp viên Hoàn hảo”) có kể với tôi một câu chuyện vui đầy nghịch lý. Khi ông đến gặp một quan chức CIA vừa mới tới Sài Gòn (khoảng năm 1961-1962), ông bạn Mỹ đã khuyên ông Ẩn phải cẩn thận với ông Ngô Đình Nhu. Khi ông Ẩn hỏi tại sao thì được ông ấy “bật mí” rằng ông Ngô Đình Nhu “có thể là cộng sản”. Ông Ẩn về kể lại câu chuyện đó với ông Nhu. Sau mấy giây ngỡ ngàng, ông Nhu phá ra cười. Khi ông Ẩn hỏi “tại sao toi lại cười?” ông Nhu đã trả lời (không biết đùa hay thật) “có lẽ nó nói đúng đấy…”. Việt Nam đầy nghịch lý. Nhưng có một nguyên lý cần phải nhớ là trên đời này “không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn” (Winston Churchill).

Tham khảo
1. William Fulbright, “The Arrogance of Power”, Paperback, 1966)
2. Robert McNamara, “In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam”, Vintage, 1995
3. H.R. McMaster, “Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs, and the Lies that led to the War”, Harper, 1997).
4. Errol Morris, “The Fog of War: Eleven Lessons from the Life of Robert McNamara”, Sony Pictures Classics (documentary), May 2003.
5. Nguyen Quang Dy, “Iraq has revived the ghosts of Vietnam, Nieman Watchdog Discussion, May 31, 2006
6. Chris Reeves, “Did a Glowing Sea Creature Help Push the US Into the Vietnam War?”, Atlantic, July 11, 2017
7. Ken Burns & Lynn Novick, “The Vietnam War”, Florentine Films & WETA (documentary), September 2017

Nguyễn Quang Dy.18/7/2017
(Viet-studies)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

3 VIDEO PHỎNG VẤN CỤ LÊ ĐÌNH KÌNH PHẢN BÁC DỰ THẢO KẾT LUẬN THANH TRA ĐẤT ĐAI ĐỒNG TÂM


Nguyễn Anh Tuấn (16 Tháng 7) 07.07.2017, UBND Hà Nội công bố dự thảo kết luận thanh tra đất đai Đồng Tâm. Điểm mấu chốt trong tranh chấp hiện nay là diện tích thực sự của dự án sân bay Miếu Môn, khi UBND Hà Nội cho rằng lên đến 236,9 ha còn dân Đồng Tâm nói chỉ 208 ha. Phần chênh lệch 28,9 ha này không hề nhỏ, và phía UBND Hà Nội đã có lý giải của họ trong dự thảo kết luận thanh tra, còn đây là phản bác từ phía Đồng Tâm.



Video 2: 


CỤ KÌNH NÓI VỀ VIỆC TRUY TỐ 14 CÁN BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC VÀ XÃ ĐỒNG TÂM 
Ngày 04/07/2017, ba ngày trước khi chính quyền Hà Nội công bố dự thảo kết luận thanh tra đất đai ở Đồng Tâm, Viện Kiểm sát huyện Mỹ Đức đã truy tố 14 cán bộ xã, huyện ở địa phương này. 

Việc truy tố tạo cảm giác chính quyền Hà Nội đang thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Phúc là phải "xử quan trước khi xử dân" trong vụ Đồng Tâm. 

Tuy nhiên, liệu việc truy tố nói trên có liên quan đến tranh chấp chính giữa dân làng Đồng Tâm và chính quyền Hà Nội hiện nay không? Mời mọi người nghe ý kiến của cụ Kình về vấn đề này.


Video 3:
NGUYỆN VỌNG CỦA CỤ KÌNH VÀ DÂN LÀNG ĐỒNG TÂM 

Tranh chấp đất đai kéo dài ở Đồng Tâm chứa đựng nhiều tình tiết phức tạp, với những lý giải khác nhau từ các bên về bản chất sự việc. Mức độ căng thẳng của tranh chấp còn được đẩy lên cao trào với biến cố ngày 15/4 và một tuần bắt giữ con tin là cán bộ, công an sau đó. 

Tuy nhiên, trái ngược với sự phức tạp này, nguyện vọng của dân làng Đồng Tâm kỳ thực lại rất đơn giản: Minh bạch đất nào của quân đội, đất nào của dân một cách rõ ràng và có căn cứ. Của dân thì trả lại cho dân, rồi sau đó nếu muốn thu hồi thì phải thương thảo, bàn bạc với dân. 

Cùng chờ xem chính quyền Hà Nội hồi đáp lại nguyện vọng này thế nào?


Nguyễn Anh Tuấn thực hiện
https://xuandienhannom.blogspot.com/2017/07/ac-biet-cong-bo-3-video-phong-van-cu-le.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà văn Trần Chiến và cuốn sách về sử gia Trần Huy Liệu


17/07/2017 - Là con trai của nhà cách mạng, nhà sử học nổi tiếng Trần Huy Liệu, Trần Chiến là người con duy nhất trong gia đình theo nghiệp văn chương của cha ông. Ông ngoại anh là nhà văn, học giả lừng lẫy Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, người chuyên soạn sách khảo cứu văn hóa dân tộc, dân gian như các cuốn: “Tục ngữ Phong giao”, “Nam thi hợp tuyển”, “Truyện cổ nước Nam” và nổi tiếng nhất là “Cổ học tinh hoa”. Nhà văn Trần Chiến: Người Hà Nội…
Image result for Trần Huy Liệu
Sinh trưởng trong một gia đình có bề dày văn hóa như vậy thì cái “gien” văn chương di truyền không thể là chuyện “ngẫu hứng”. Từ nhỏ đến khi trưởng thành, Trần Chiến sống trong sự chăm sóc chủ yếu của người mẹ, thỉnh thoảng người cha về thăm và đem anh đi theo trong các chuyến đi công tác những năm kháng chiến.

Có lần Trần Chiến nói vui: “Có lẽ cha tôi để lại cho tôi cái tính bướng bỉnh, cứng đầu nhiều hơn là những cái khác”. Và số đêm cha con nằm trò chuyện với nhau chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Năm 1969, cụ Trần Huy Liệu mất, để lại trong đống bản thảo của mình 26 cuốn nhật ký ghi chép về những sự kiện và con người lịch sử, chủ yếu trong 50 năm đầu của thế kỷ XX ở Việt Nam. Với cách nhìn uyên bác và nghiêm túc của một nhà sử học có nhãn quan riêng, di cảo của cụ Trần Huy Liệu là cả một kho sử liệu quý giá.

Sử gia Trần Huy Liệu sinh năm 1901, quê Nam Định, thời trẻ tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam. Ông từng bị thực dân Pháp bắt tù ở Côn Đảo, Sơn La. Chức vụ cao nhất của ông những ngày đầu Cách mạng 1945 là Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng (sau thành Chính phủ lâm thời). Sau này, ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học. Ông mất năm 1969.

Là người trải qua nhiều sự kiện quan trọng của đất nước trong thế kỷ trước, Trần Huy Liệu có mối quan hệ với nhiều nhân vật quan trọng của những sự kiện nổi bật như: Cụ Phan Bội Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Hải Triều, Trần Đình Long, Nguyễn Bình, Tô Hiệu… thời đầu cách mạng. Trần Huy Liệu là người viết Dự thảo Quân lệnh tổng khởi nghĩa số 1 ở Chiến khu Tân Trào, Việt Bắc để Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trước toàn quốc dân năm 1945. Ông cũng là Trưởng phái đoàn Chính phủ lâm thời vào Huế tước ấn kiếm của Bảo Đại (vua cuối cùng của triều Nguyễn).

Sau này, khi chuyển sang nghiên cứu khoa học, ông là người đặt nền móng cho cơ quan nghiên cứu lịch sử của cách mạng Việt Nam, là Viện trưởng Viện Sử học đầu tiên. Cuộc đời của Trần Huy Liệu có nhiều đoạn thăng, đoạn trầm, từ một nhà chính trị chuyển thành nhà khoa học. Trước đó, cuộc đời hoạt động xã hội của Trần Huy Liệu có nhiều biến đổi, từ chỗ tham gia phong trào thanh niên yêu nước, ông gia nhập Việt Nam quốc dân Đảng, rồi từ bỏ, chuyển sang Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông bị thực dân Pháp bỏ tù Côn Đảo từ năm 1929-1934, rồi tù ở Sơn La. Trước sau thì ông vẫn là một người theo chủ nghĩa dân tộc đáng để chúng ta ngắm nghía, suy ngẫm.

Trần Huy Liệu là Bộ trưởng Thông tin - Tuyên truyền đầu tiên trong Chính phủ cách mạng lâm thời năm 1945-1946. Sau này, khi cảm thấy không thích hợp với chính trường nữa thì ông chuyển sang làm nghiên cứu khoa học với khả năng tập hợp, đoàn kết giới trí thức nước nhà.

Mới đây, khi cuốn sách về nhà sử học Trần Huy Liệu “Cõi người” của nhà văn Trần Chiến được ấn hành, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhau về cuốn sách này. Điều trăn trở nhất của nhà văn Trần Chiến hôm nay là phải từ các nguồn tư liệu lịch sử quý giá và hồi ký mà cha mình để lại, để dựng lên chân dung đời sống chân thực của danh nhân văn hoá này. Cuốn sách “Trần Huy Liệu - Cõi người” đã công bố một phần tư liệu quý giá từ hồi ký, nhật ký của Trần Huy Liệu với các yếu nhân trong giai đoạn đầu cách mạng.

Trần Chiến cho rằng: “Tuy nổi tiếng về nhiều phương diện, nhưng Trần Huy Liệu lại là con người không dễ tìm hiểu, hiểu rồi không dễ viết ra, viết ra rồi vẫn khó xuất hiện ở dạng toàn vẹn. Về phương diện nhà thơ, ông là người sung mãn tình cảm hay vẫn chỉ là anh nói chí kiểu nhà nho? Về phương diện chính trị, ông bồng bột nông cạn hay là nhìn thấy nhiều vấn đề quá sớm? Về sử học, ông có đóng góp gì cho phương pháp, hay chỉ là người tập hợp tư liệu đơn thuần?

Về phương diện người tình, ông có là một kẻ phiêu lưu “đi không đến nơi, về không đến chốn”, chẳng thể đem lại hạnh phúc cho người mình yêu? Tất cả những câu hỏi đó khó bề giải quyết cặn kẽ, nếu không thấy cái ý nghĩa chủ yếu, nét trội bật nhất trong con người Trần Huy Liệu, rằng đó là một con - người - tìm - kiếm. Vì vậy, tìm kiếm con người Trần Huy Liệu là việc không dễ, thấy rồi không dễ viết ra, viết ra rồi vẫn khó…”

Ở phố Lãn Ông, Hà Nội trước đây có ba người nổi tiếng về văn chương: nhà thơ Lê Đạt, nhà văn Trần Chiến và nhà thơ Vũ Đình Văn. Họ đều ở nhà bên dãy số lẻ. Nhà thơ trẻ tài hoa Vũ Đình Văn đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Còn “Trưởng lão” thơ Hai-câu Lê Đạt cũng đã qua đời năm 2008. Giờ chỉ còn lại Trần Chiến, người từng 2 lần đoạt giải thưởng uy tín của Hội Nhà văn Hà Nội.

Trần Chiến sinh năm 1950, đi bộ đội năm 1968, sau đó chuyển về Đại học quân sự, nhưng hình như cái năng khiếu văn chương trong anh bật dậy, khiến anh quyết định chuyển sang học Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, anh về làm biên tập ở Nhà xuất bản Quân đội, rồi sau chuyển về làm biên tập ở Báo Hà Nội mới.

Đến gặp Trần Chiến ở phố Lãn Ông, cái phố bán thuốc bắc lâu đời của Hà Nội cổ xưa này, tôi đi qua những câu thơ tinh tế, được chạm khắc tới độ tinh diệu của nhà thơ Lê Đạt, ông cũng ở phố Lãn Ông. Tôi lại đi qua một Vũ Đình Văn với “Nửa sau khoảng đời” cùng những câu thơ tài hoa, trữ tình say đắm đầy xúc động của nhà thơ trẻ này, khi anh nằm lại vĩnh viễn cùng tuổi thanh xuân của mình ở phía bên này cuộc chiến tranh.

Vậy là ta đi qua hai nhà thơ thì gặp một nhà văn. Nghĩ vơ vẩn thế vì cái chất phóng sự trong tôi lại bắt đầu trỗi dậy. Tôi lẩm nhẩm tính đếm, trong số anh em văn chương mình quen biết, thì có tới 4/5-hay 80% các thi sĩ, văn sĩ tài danh đều ở nhà “số lẻ”. Ấy là tôi bạo phổi đoán vui như thế mà không sợ các “đấng bậc” văn chương nổi tiếng hiện đang ở nhà số chẵn phàn nàn.

Tôi “vòng vo tam quốc” như thế bởi Trần Chiến cũng là cây bút phóng sự có hạng của 36 phố cổ, người từng viết “Hà Thành cái bang”, “Hà Thành ẩm thực” và “Phố chợ Hà Nội” cùng với “Truyền kỳ Hồ Gươm” mà cái nào cũng khiến cho bạn đọc đều thấy “đã” tới độ “khoái cái nhĩ tai”.

Tính điềm đạm, ít nói, với mái tóc lốm đốm khói sương, với cái nhìn nửa hài, nửa ngắm nghía, Trần Chiến luôn có vẻ “ngẫm ngợi” nhiều hơn tôi tưởng. Ngoài công việc làm báo, viết kịch, Trần Chiến chủ yếu thành đạt ở mảng văn xuôi. Tập truyện ngắn “Con bụi” và tập tiểu thuyết “Đèn vàng” của anh đã 2 lần giành giải thưởng của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật và Hội Nhà văn Hà Nội. “Con bụi” là tập truyện ngắn khá nổi tiếng của Trần Chiến, được anh viết trong khoảng 10 năm trước khi phi lộ chóng mặt của báo chí cuốn anh vào guồng quay sà sã của một tờ báo ngày. Hai tập tiểu thuyết gần đây của anh (“49 chưa qua” và “Cậu ấm”) cũng gây sự chú ý của dư luận.

Trần Chiến tâm sự: “Làm báo được tiếp xúc nhiều nhưng đấy cũng là điều không ổn, vì người viết hằng ngày phải dành hết thời gian cho công việc báo chí mà không còn thời gian cho văn chương để viết cho thật tâm trạng, thật sâu sắc…”.

Tập truyện “Con bụi” của Trần Chiến cũng “vạn sự khởi đầu nan”, anh gửi đến mấy nhà xuất bản đều không có hồi âm. Chỉ đến khi bản thảo “Con bụi” lọt vào mắt xanh của một nhà phát hành tư nhân, thấy có thể kinh doanh được, thế là cuốn sách được in ra ở dạng sách liên kết giữa đơn vị phát hành sách và NXB Tác phẩm mới. Sách in 2.500 cuốn, bán hết veo, lại nối bản in tiếp.

Sách ban đầu lấy tên truyện ngắn “Vũ điệu ngoạn mục”, nhưng sau nhà phát hành yêu cầu lấy tên “Con bụi” (cũng là tên một truyện ngắn trong tập) cho “ăn khách”. Chưa xong, truyện ngắn mở đầu tập “Bạch đàn trắng” được đổi thành “Gã thất tình lang thang” cũng nhằm mục đích “gọi khách”. Nhuận bút tập truyện ngắn “Con bụi” viết trong 10 năm chỉ đủ tiền mua một chiếc cátxét “còm”.

Tôi an ủi Trần Chiến: “Anh em văn chương bọn mình ở dãy nhà bên số lẻ, còn các bác “ngân hàng” chi trả nhuận bút đều nằm bên dãy số chẵn, tuy cách nhau có một lòng đường, nhưng đúng vào giờ tan tầm, xe cộ, người ngợm chen vai thích cánh nhau thế kia làm sao mà sang nổi. Chưa biết chừng, có sang được tới nơi thì cũng hết giờ làm việc”. Trần Chiến nheo mắt cười nhìn tôi, vẫn cái nhìn nửa hài, nửa ngắm nghía.

Giờ thì Trần Chiến không còn ở phố Lãn Ông nữa, nhưng anh vẫn thi thoảng đi về căn nhà cũ - di sản của ông bà, để được lang thang đi bộ dọc dãy phố cổ, thưởng ngoạn mùi thuốc bắc nồng nàn bay lên từ những mái phố rêu phong cũ kỹ, để được nhớ lại bạn bè văn chương từng ở dãy nhà số lẻ những năm bao cấp gian khổ… 

Nguyễn Việt Chiến
http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Nha-van-Tran-Chien-va-cuon-sach-ve-su-gia-Tran-Huy-Lieu-449637/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giáo dục Việt Nam với quá trình “vứt bút lông đi, giắt bút chì”


LÊ TIÊN LONG, 19/07/2017 - Chữ Hán (chữ Nho) đã được sử dụng trong các triều đình phong kiến Việt Nam, trong thi cử cũng như trong đời sống nhân dân cả nghìn năm, rồi mất dần vị thế ở đầu thế kỷ 20. Sau sức ép của súng trường, đại bác hồi thế kỷ 18, những sức ép về văn hóa và nhu cầu từ chính cuộc sống của người dân trong thời gian đầu thế kỷ 20 cho đến những năm 1930, đã khiến những dấu ấn cuối cùng của nền văn hóa chữ Nho tại Việt Nam đã dần tàn lụi và đi vào quá khứ.

“Ông đồ” viết chữ đầu xuân - nét đẹp vốn 
có từ ngàn đời của nước ta (ảnh TTXVN).
Sức ép từ họng súng
Từ những tiếng súng đầu tiên trên bán đảo Đà Nẵng năm 1858, đến việc chiếm các tỉnh miền Đông Nam Bộ 1862, miền Tây năm 1867, đánh Hà Nội năm 1873, 1882… thực dân Pháp đã dùng mũi súng ép triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước năm 1883, 1884, áp đặt chế độ bảo hộ lên cả 3 kỳ ở Việt Nam.

Ngay sau khi chiếm được các tỉnh Nam Kỳ, chữ Hán cũng như nền giáo dục Nho học đã bị người Pháp đã khai tử ngay lập tức. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ được tổ chức năm 1864 ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm. Từ năm 1878, tại miền Nam, các giấy tờ công văn của các cơ quan hành chính đã được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Chữ Hán chính thức bị xóa bỏ khỏi cuộc sống của người dân.
Ở miền Trung, sau cuộc phản kháng của vua Hàm Nghi năm 1885 bị ghìm dưới họng súng, vua Đồng Khánh được người Pháp đặt lên ngai vàng, quyền lực của triều đình cũng bị tòa Khâm sứ thâu tóm gần hết.


Sự khai tử của một nền khoa cử

Bên cạnh sức ép từ hệ thống bảo hộ, có lẽ chính triều đình nhà Nguyễn cũng nhận thấy nền khoa cử Nho học đã quá lỗi thời, lạc hậu, không đem lại những hiệu quả thực chất trong việc tuyển chọn và đào tạo quan lại nên đã dần dần tiến đến khai tử nó.

Kỳ thi Hương cuối cùng ở miền Bắc là năm 1915 (kỳ thi này đã có phần thi viết luận bằng tiếng Pháp và quốc ngữ), và ở Huế là năm 1918 (đã bổ sung vào chương trình một bài dịch quốc ngữ ra tiếng Pháp, và một bài luận chữ Hán, một bài luận quốc ngữ, một bài luận Pháp văn).

Người ra chỉ dụ bãi bỏ chế độ khoa cử ở Việt Nam là vua Khải Định. Sau khoa thi Hội cuối cùng ngày 1.4.1919, theo quyết định của Khâm sứ Trung kỳ, những người đỗ tiến sĩ, phó bảng tại khoa thi này, tuy vẫn còn giữ được danh hiệu, học vị cũ, nhưng sẽ không có giá trị trong việc bổ nhiệm vào quan trường
.

Học chữ Nho không còn là con đường tiến thân

Với quyết định không sử dụng các học vị của chế độ khoa cử Hán học cũ cho việc bổ nhiệm quan chức, những người nuôi mộng “dùi mài kinh sử” để đi thi nhằm kiếm một học vị để kiếm một chức quan hoàn toàn vỡ mộng.

Đây là thời mà nhà thơ, tú tài Trần Tế Xương cảm thấy chán ngán cho cuộc đời “đánh vật” với chữ Nho trên con đường thi cử dài đằng đẵng mà chưa thu được thành tựu, đã cảm thán qua các câu thơ:

Nào có nghĩa gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò
(Chữ nho)

Hoặc:
Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì!
(Đổi thi)

Trong khi đó, nhiều “thầy khóa” thức thời hơn đã chuyển sang học tiếng Pháp hoặc xin vào hệ thống các trường thuộc địa để học lại từ đầu.

Sự lớn mạnh của chữ Quốc ngữ

Trong đời sống, thực dân Pháp đã đưa chữ Pháp và chữ quốc ngữ vào sách báo và mở trường dạy học. Năm 1865 soái phủ Sài Gòn cho ra đời tờ Gia Định báo là tờ công báo đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Sau đó, tờ báo tư nhân đầu tiên do ông Trương Vĩnh Ký, mang tên Thông loại khóa trình, xuất bản lần đầu năm 1888, cũng được in bằng chữ quốc ngữ.

Tờ báo kinh tế đầu tiên, Nông cổ mín đàm, do ông chủ người đảo Corse thuộc Pháp Paul Canavaggio xuất bản năm 1901, cũng như các tờ báo khác như Phan Yên báo, Lục tỉnh tân văn... đều dùng chữ quốc ngữ, chứng tỏ sự phổ cập và tính hữu ích của chữ quốc ngữ tại vùng Nam kỳ thời gian đó.

Qua các tờ báo đầu tiên ở Nam kỳ, có thể thấy chữ quốc ngữ vào giai đoạn này đã phát triển đến trình độ có thể sử dụng để diễn tả được gần như tất cả mọi ý niệm cũng như mọi hình thức văn chương. Các loại sách, truyện cũng đã được dịch và in bằng chữ quốc ngữ từ những năm đầu thế kỷ 20.

Trong triều đình Huế, từ năm 1932 cũng đã hoàn toàn bỏ hẳn việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ cho việc ban hành các chỉ, dụ... của nhà vua.
Học chữ Pháp nuôi được thân và làm quan
Theo chân đoàn quân viễn chinh Pháp, một nhu cầu cấp thiết là đào tạo nghề phiên dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt. Trường đào tạo thông ngôn đầu tiên được thành lập năm 1861 tại Sài Gòn, mang tên trường Collège d’Adran (tên vị Giám mục mà người Việt phiên âm là Bá Đa Lộc) để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt. Sau đó, Trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) chính thức được thiết lập ở Sài Gòn năm 1864, ở Hà Nội năm 1905.

Học giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, tác giả bộ sách Cổ học tinh hoa, chính người đã tốt nghiệp trường Thông ngôn ở Hà Nội, sau đó dạy các trường trung học Bưởi, Sỹ hoạn…
Bên cạnh đó, để đào tạo quan lại dùng trong chính quyền Nam triều thay thế hệ thống khoa cử, thực dân Pháp đã thiết lập các Trường Hậu bổ (chuẩn bị bổ ra làm quan - Apprenti Mandarin) ở Hà Nội (sau đổi tên là trường Sỹ hoạn - Ecole des Mandarins) năm 1897 và ở Huế năm 1911. Trường tuyển chọn con của các quan lại trung cao cấp vào học, chương trình học vẫn có phần đào tạo chữ Hán, dạy quốc ngữ, nhưng chủ yếu bằng tiếng Pháp. Trường đã đào tạo ra nhiều quan lại nổi tiếng.

Chí sĩ Phan Châu Trinh, sau khi đỗ phó bảng năm 1901, đến năm 1902 vào học trường Hậu bổ trước khi được bổ nhiệm làm quan tại Bộ Lễ. Thượng thư Bộ Hình Bùi Bằng Đoàn, sau khi đỗ cử nhân năm 1906, cũng vào học trường Hậu bổ Hà Nội năm 1907, tốt nghiệp năm 1910, được bổ làm tri huyện. Thượng thư Bộ Hộ Hồ Đắc Khải, đỗ cử nhân năm 1915, cũng vào học trường Hậu bổ rồi được bổ nhiệm làm tri huyện, sau thăng đến Tổng đốc.
Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền đào tạo quan lại kiểu mới của Pháp.
Nhà thơ Tản Đà đã cố thi vào trường Hậu bổ hai lần nhưng hỏng thi nên đã làm bài thơ thất ngôn bát cú than thở như sau:

Mỗi năm Hậu-bổ một lần thi
Năm ngoái, năm xưa tớ cũng đi
Cử, tú, ấm-sinh vài chục kẻ
Tây, Ta, Quốc-ngữ bốn năm kỳ.
Đĩa nghiên, lọ mực, bìa bao sách
Thước kẻ, đanh ghim, ngọn bút chì.
Lại đến O-ran là bước khó (Oral: thi vấn đáp)
Mình ơi, ta bảo: “Có thi thì...”
Sau Khoa thi Hương cuối năm 1918, chính quyền Pháp cũng tiến hành cải cách hai trường Hậu bổ, thay thế hai trường này bằng Trường Pháp chính Đông Dương (École de Droit et d’Administration). Sau năm đó, cả Bắc và Trung Kỳ hoàn toàn theo ngạch Tây để tuyển công chức làm nhân viên hành chính.

Chữ Pháp và quốc ngữ được đào tạo rộng rãi
Nòng cốt cho việc tuyên truyền và áp đặt văn hóa chính là hệ thống giáo dục phổ thông. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ, Pháp đã thiết lập các trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông như trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879) trường Quốc học Huế (1896), trường Trung học Bảo hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908, nay là trường trung học Chu Văn An).
Trước tiên ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học, mấy chục năm sau mới giảng dạy đến các bậc cao hơn. Hệ thống giáo dục tiểu học được mở rộng khắp nơi vào cuối thế kỷ 19. Các trường vẫn còn đào tạo chữ Hán, nhưng chương trình chính hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Như học giả Trần Trọng Kim được học tại tiểu học Pháp - Việt ở Nam Định từ năm 1897, trước khi thi vào trường Thông ngôn năm 1900. Học giả Phạm Quỳnh cũng học trường Bưởi, trước khi vào làm tại Viện Viễn Đông bác cổ năm 1908.

Từ 1910 đến 1930 hệ thống giáo dục thuộc địa đã hình thành có tính cách hệ thống. Từ 1930 đến 1945 là thời kỳ tổ chức hệ thống giáo dục cho người bản xứ của Pháp ở Việt Nam đã được hoàn chỉnh.
Đến năm 1945, nhân sự kiện Nhật lật đổ Pháp, vua Bảo Đại giao cho nhà giáo Trần Trọng Kim thành lập chính phủ, với Bộ trưởng Giáo dục và Giáo dục là Thạc sĩ Toán học Hoàng Xuân Hãn. Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đã ban hành chương trình giáo dục bằng chữ quốc ngữ trên toàn quốc. Sau cuộc cách mạng tháng Tám, chính sách phổ cập giáo dục bằng tiếng Việt tiếp tục được chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và CHXHCN Việt Nam duy trì cho đến ngày nay.

Như vậy, sau sức ép của súng trường, đại bác hồi thế kỷ 18, những sức ép về văn hóa và nhu cầu từ chính cuộc sống của người dân trong thời gian đầu thế kỷ 20 cho đến những năm 1930, đã khiến những dấu ấn cuối cùng của nền văn hóa chữ Nho tại Việt Nam đã dần tàn lụi và đi vào quá khứ.
Tuy nhiên, với một nền văn hóa tồn tại trên một nghìn năm, những dấu ấn bằng chữ Hán được lưu giữ lại trên đất nước Việt Nam là vô cùng đồ sộ. Dù trải qua hàng trăm năm biến động của lịch sử với những cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng những di sản của nền văn hóa ấy còn để lại khắp nơi, và nếu không có vốn kiến thức chữ Nho đủ sâu rộng, sẽ không thể nào hiểu và khai thác hết được.

http://laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/giao-duc-viet-nam-voi-qua-trinh-vut-but-long-di-giat-but-chi-683770.bld


Phần nhận xét hiển thị trên trang

BẢN TIN THỨ 22/2017 TỪ 13/7 ĐẾN 20/7/2017



1.- Thượng viện Mỹ ngày 10-7, với 100% phiếu thuận, đã thông qua nghị quyết mã số S.RES.412 về an ninh hàng hải biển Đông và yêu cầu Trung Quốc thiết lập lại nguyên trạng biển Đông như trước ngày 1-5-2014.
Nghị quyết này có tên đầy đủ “Nghị quyết xác định lại sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ Mỹ với tự do hàng hải và việc sử dụng vùng biển và vùng trời quốc tế một cách hợp pháp ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và tìm kiếm giải pháp ngoại giao hòa bình cho các tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải”.
Xin ngả mũ bái phục Thượng viện Mỹ. Dân chỉ mong Quốc hội Việt Nam có một lần ra tuyên bố về Biển Đông vì chúng ta có liên quan trực tiếp đến chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Mong lắm!
2.- Các cơ quan báo chí đến làm việc tại Trung tâm Báo chí - Toà nhà Quốc hội, đã nhận được thông tin cho hay "báo chí chỉ được tham dự 5 phút đầu của mỗi cuộc họp". Vào cuối ngày, sẽ có thông cáo báo chí gửi đến phóng viên.
Đây là một thay đổi. UBTVQH muốn tất cả các cuộc họp đều phải kín để đại biểu phát biểu hết ý của mình hơn. Có báo chí, đại biểu run, không dám nói hết, dễ bị soi. Cuối ngày, thông cáo báo chí đã được biên tập qua bộ phận chuyên môn nên các vấn đề nghe xuôi hơn, màu hồng hơn. Cần phải giữ bí mật quốc gia.
Chế độ ta vốn như thế mà. Mọi vấn đề không nên công khai, minh bạch dễ bị các thế lực thù địch xuyên tạc, nói xấu. Xu hướng từ nay mọi thứ sẽ kín. Cứ nghe và nói theo Ban Tuyên giáo TW và Bộ 4 T là ổn nhất.
3.- “Việc thiếu vắng bóng dáng các DN Trung Quốc trong danh sách các DN muốn làm đường sắt đô thị là “một điều đáng tiếc” vì tiềm năng của Trung Quốc về tài chính cũng như kỹ thuật đang đứng nhất nhì thế giới”- Chủ tịch Hiệp hội Vận tải Hà Nội ông Bùi Danh Liên nhận xét.
Ông Bùi Danh Liên nói đúng. Đường sắt Cát Linh - Hà Đông hiện đại bậc nhất thế giới với đường cong mấp mô đặc trưng, phù hợp với đường Trường Chinh có “đường cong mềm mại” nổi tiếng ở Hà Nội. Giao hết cho doanh nghiệp TQ điều hành nền kinh tế VN lại càng tốt hơn ông Liên nhỉ?
4.- Cho phép đổ ra biển 1 triệu m3 bùn thải của Nhà máy nhiệt điện than Vĩnh Tân (Bình Thuận) chắc chắn là tai hại cho môi trường biển trước mắt và lâu dài, chẳng những tại chỗ mà còn lan rộng. Nguy hiểm hơn đó là một tiền lệ. Đã có một công ty khác thuộc Tập đoàn EVN đang xúc tiến xin phép đổ xuống biển xã Vĩnh Tân 2,4 triệu m3 chất thải. Có thể rồi đây Nhà máy nhiệt điện than Duyên Hải (Trà Vinh), Thái Thụy (Thái Bình) và 62 nhà máy nhiệt điện than khác cũng sẽ làm như thế vì cùng lý do không đủ chỗ chứa chất thải trong đất liền. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường Nguyễn Linh Ngọc (Ảnh) khẳng định nơi đổ chất thải ở Bình Thuận chỉ có cát. Nhưng VTC 14 đã trưng cho công chúng thấy đáy biển nơi Bộ cho xả thải có hệ sinh thái rất phong phú (Ảnh). Có lẽ vì thế mà hội nghị sơ kết 6 tháng của Bộ phải họp “Kín”. Báo chí lề Đảng bị cấm cửa. Báo lề Dân đừng có mơ. Một FORMOSA đã khủng khiếp lắm rồi. Hình như các quan chức Bộ Tài – Môi toàn là những người nói lấy được và không vì lợi ích của dân tộc?
5.- Dư luận đang đặt câu hỏi: “42 năm quản lý sân bay Tân Sơn Nhất, 49 năm đồng đội ta vẫn nằm trong hố chôn tập thể ở giữa lòng thành phố? Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng và của Chính phủ đến đâu?”
Xin thưa, các vị lãnh đạo còn bận nhiều việc. Chính phủ còn lo phát triển các dự án kinh tế lớn, Quân đội đang phải làm kinh tế, một nhiệm vụ chiến lược quan trọng. Đồng đội cứ yên trí nằm ở đó, có sao đâu?
6.- Truyền thông nước ngoài kinh ngạc khi quan sát Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nghe nhạc bên lề Hội nghị G20. Thủ tướng cầm tờ chương trình quạt xoành xoạch thay chiếc quạt giấy khi nghe nhạc giao hưởng cùng Thủ tướng Đức.
Hành vi này ở Việt Nam thì quá đỗi bình thường. Truyền thông nước ngoài quả thật là hơi rách việc. Chắc lại ăn tiền của bọn Việt Tân nhằm bôi nhọ lãnh đạo VN đây? Đả đảo bọn Việt Tân!
7.- Qua thông tin từ ICOM của tàu QNg 95001 báo về, khi tàu QNg 90479 đang đánh bắt tại tọa độ 16,06 vĩ độ Bắc - 113, 06 độ kinh Đông (cách đảo Lin Côn, quần đảo Hoàng Sa khoảng 35 hải lý về hướng Đông Đông Nam) thì bị 02 ca nô Trung Quốc (chưa rõ số hiệu) truy đuổi, sau đó tiếp tục bị 02 tàu Trung Quốc, số hiệu 46102 và 56103 chạy tới rượt đuổi và đâm chìm vào lúc 11 giờ ngày 9.7.
Nhận được thông tin cấp cứu khẩn cấp từ tàu QNg 90479, tàu QNg 95001 đang đánh trong khu vực đã chạy tới ứng cứu nhưng bị các tàu Trung Quốc ngăn cản, xua đuổi. Phải đến 19 giờ 20 phút ngày 9.7, tàu cá QNg 95001 mới tiếp cận và vớt được 05 ngư dân của tàu QNg 90497 lên thuyền.
Chúng ta lại hết sức quan ngại, quan ngại, quan ngại….
8.- Hội đồng Nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng (gọi tắt là hội đồng nghiệm thu) vừa chỉ ra hàng loạt sai sót kỹ thuật ở dự án đường ô tô vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện (TP Hải Phòng). Đây là cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay, với tổng mức đầu tư gần 12.000 tỉ đồng.
Chuyện này đã trở thành…Chuyện thường ngày ở Việt Nam. Thiết kế, thi công, giám sát…đều cùng một duộc. Tất cả đều ký rẹt…rẹt…rẹt nhanh như chớp và thiệt hại bao giờ cũng thuộc về…Nhân Dân!
9.- Ngày 14/7, Trưởng đoàn thể thao Việt Nam Trần Đức Phấn cho biết sẽ chỉ có 2 phó đoàn tham dự SEA Games 29 thay vì 10 người như danh sách ban đầu.
SEA Games là vùng trũng của thể thao thế giới. Việc lâu nay Việt Nam tham dự học tập kinh nghiệm là chính, nên thành phần đoàn không chú trọng lắm về vận động viên mà chủ yếu là quan chức nằm ở văn phòng Bộ, văn phòng Tổng cục, các trung tâm huấn luyện, các đồng chí về hưu…Học tập, rút kinh nghiệm mà. Cũng giống như các đơn vị Sổ số kiến thiết cử lãnh đạo sắp về hưu, đã nghỉ hưu, cán bộ các ngành có liên quan…đi Mỹ, Canada, Châu Âu…học tập kinh nghiệm làm sổ số vậy. Đó là cách làm của Việt Nam và vì vậy chúng ta mới phát triển.
10.- Dư luận xôn sao về vị Phó chủ tịch quận Thanh Xuân, Hà Nội Lê Mai Trang, đi ăn trưa, đậu xe sai quy định, còn gọi chủ tịch phường, Trưởng CA phường đến coi xe. Người dân cho rằng thái độ của bà Phó chủ tịch quận Thanh Xuân là chưa chuẩn mực. Ông chủ tịch phường đi xe máy đến không đội mũ bảo hiểm cũng sai. Bây giờ bà Trang lại đổ cho dân nói xấu chính quyền cần phải giao cho công an điều tra.
Làm quan bây giờ là thế. Chỉ có dân sai chứ quan không sai, nhất là quan Hà Nội.
11.- Bị lực lượng CSGT Cần Thơ bắn tốc độ, người đàn ông ngồi trong xe ô tô chẳng những không chấp hành mà còn liên tục dùng lời lẽ thô tục chửi bới; thậm chí ông này còn nói rằng: “Cỡ giám đốc tụi mày tao còn cách chức được”…
Người đàn ông ngồi trong xe văng tục trong clip là Trung tướng Võ Văn Liêm (còn gọi là Bảy Liêm), nguyên Phó chính ủy Quân khu 9, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương (Bộ Quốc phòng) và hiện đã nghỉ hưu. Xem clip thấy buồn cho vị cựu trung tướng này. Thái độ hùng hổ nói lên bản chất khi tại ngũ chắc ông này rất hống hách.
12.- Mới đây trên mạng xã hội chia sẻ 1 số đoạn clip liên quan đến cảnh 1 người phụ nữ nói giọng Bắc có hành vi thóa mạ, chửi thề tục tĩu, giằng co, xô đẩy đối với 1 chiến sĩ CSGT đang làm nhiệm vụ tại giao lộ Ung Văn Khiêm - Nguyễn Xí, P.25, Q.Bình Thạnh, TP.HCM sau khi xe ô tô của bà này đi ngược chiều.
Người phụ nữ tên là Trịnh Thị Thùy Dương, con gái của đại gia Việt kiều Nga, chủ Resort Côn Đảo trị giá 800 tỷ sắp khai trương tháng 9/2017.
Xã hội ngày càng loạn.
13.- Tiến sĩ Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế, phân tích: “Nên phát hành chứng chỉ vàng. Chứng chỉ này sẽ thay cho vàng thật và người dân có thể cầm chứng chỉ này để đi vay vốn của ngân hàng, hoặc để cầm cố, thế chấp”.
Ý kiến rất hay. Khi chưa gom được 500 tấn vàng trong dân thì nhà nước thấy còn thiếu thiếu. Cần phải có qui định lấy được số vàng này. Các chuyên gia đang tìm mọi cách giúp chính phủ. Thêm đề xuất thu hút ngoại tệ trong dân. Thủ tướng yêu cầu thu hút ngoại tệ của số cán bộ kê khai tài sản vừa qua. Ý kiến hay.
14.- Theo nguồn tin từ báo lề Dân, Thiếu tướng Huỳnh Hương (Huỳnh Đắc Hương) một sĩ quan cấp cao trong QĐND Việt Nam, từng là Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Bức thư gửi tới Bộ Chính trị và ba người đứng đầu đảng và nhà nước là ông Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang và Nguyễn Xuân Phúc, tố cáo những vụ bê bối của Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch.
Nội dung nêu rất rõ những sai phạm của ông Ngô Xuân Lịch. Do thông tin chưa kiểm chứng nên tôi không dám nói bừa. Xin nhường cho các bạn tự tìm hiểu. Bức thư của tướng Huỳnh Hương được đăng nguyên văn trên trang “Tin Tức Hàng Ngày”.
15.- Cuối cùng thì Google Map cũng in lên bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đó là sự cải chính hết sức ngoạn mục và chuẩn xác. Xin cảm ơn Google.
16.- Trong tuần có 02 khẩu hiệu rất ấn tượng: 1.- NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH, LIỆT SỸ!
2.- KHÔNG KẾT HÔN, ĐẺ ÍT, ĐẺ THƯA ĐỂ NUÔI DẠY CON TỐT HƠN.
Các bạn tự bình luận.
-----

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

GỬI MẤY BẠN BÁN HÀNG TRÊN FACEBOOK



[GỬI MẤY BẠN BÁN HÀNG TRÊN FACEBOOK] Tôi có điều này muốn nói với mấy bạn đang kinh doanh bán hàng online trên Facebook. Tôi nghĩ là tôi không phải là người duy nhất muốn nói lên những điều này. Giờ viết văn quá dở nên tôi sẽ point form cho dễ nhé.
  1. Bạn có quyền bán hàng trên Facebook cá nhân của bạn, đó là quyền của bạn. Nhưng theo tôi, bạn không nên quá lạm dụng nó.
  2. Thế nào là quá lạm dụng? Là khi bạn đăng tải cả chục bài viết bán hàng liên tiếp, rồi tag nhiều người vào. Điều này rất phản cảm vì nó rất phiền.
  3. Nếu bạn muốn bán hàng trên Facebook thì hãy sáng tạo và chủ động hơn. Bạn có thể mở một trang fanpage để chuyên bán hàng thôi.
  4. Trong fanpage có chức năng lập cái shop/tiệm. Bạn có thể để hết mấy mặt hàng bạn bán trong đó. Kèm với giá cả, chi tiết và điều kiện mua.
  5. Hãy làm quen với việc nhận thanh toán điện tử như Paypal, MOMO hay VIMO. Vì sao? Nó nó rất rẻ, nhanh chóng và an toàn. Còn chuyển khoản thì phí rất cao và mất 1-2 ngày thì mới nhận được.
  6. Khi bán hãy công khai giá cả. Đừng chơi kiểu “Inbox để biết giá.” Cái này rất phiền, phiền chết mẹ ra. Không hiểu sao nhiều người lại chơi kiểu này. Để giá cả và thông tin đầu đủ coi. Tôi thích thì tôi sẽ mua. Nhiều lúc muốn mua, inbox người bán mà vài tiếng sau mới nhận lại được phản hồi. Mất hứng rồi.
  7. Bạn có thể bán bất cứ điều gì bạn muốn, nhưng đừng lợi dụng người theo dõi của bạn để làm điều đó. Nếu có thì hãy quảng bá khéo khéo chứ đừng lộ liễu quá, rất phản cảm.
  8. Khi viết quảng cáo thì hãy sáng tạo để viết ra một nội dung gì đó cho bớt nhàm chán. Lướt qua nhiều bài bán hàng chỉ muốn tắt và bỏ theo dõi.
Đó là những gì tôi muốn nói. Tôi ủng hộ các bạn bán hàng online nhưng bán phải có văn hóa một chút. Chứ buôn bán như cái chợ kiểu này rất phản cảm và phản tác dụng. Cảm ơn các bạn rất nhiều nhé. Mấy bạn dễ thương quá à. Nhất là mấy em gái.
Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phạt Mường Thanh 483 tỉ đồng




















VNN - Thanh tra Chính phủ đã đề nghị Chủ tịch UBND TP Hà Nội thu hồi về ngân sách tiền sử dụng đất hơn 483 tỉ đồng do chủ đầu tư dự án lô CT2 thuộc dự án khu đô thị Kim Văn – Kim Lũ chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Chiều 18/7, tại buổi giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức, ông Mai Sơn – Phó Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội thông tin cụ thể những sai phạm liên quan đến doanh nghiệp của đại gia “điếu cày” Lê Thanh Thản, sau khi có kết luận của Thanh tra Chính phủ.

Kết luận của Thanh tra Chính phủ vừa ban hành xác định hàng loạt vi phạm trong xây dựng do DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên (Tập đoàn Mường Thanh) làm chủ đầu tư như: Dự án khu nhà ở Xa La tại phường Phúc La (quận Hà Đông, TP Hà Nội) và dự án khu đô thị mới Kim Văn – Kim Lũ tại phường Đại Kim (quận Hoàng Mai, TP Hà Nội).

Dự án nào cũng sai phạm

Dự án khu nhà ở Xa La có diện tích đất sử dụng 202.480m2, tổng mức đầu tư gần 600 tỉ đồng, thực hiện trong 5 năm. Chủ đầu tư đã xây dựng sai so với quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 được phê duyệt.

Cụ thể, xây dựng tòa nhà 3 tầng diện tích 200m2, sử dụng làm chi nhánh dịch vụ nhà ở và quản lý khu đô thị Mường Thanh tại lô cây xanh diện tích 3.664m2; xây khách sạn 15 tầng, vượt quy hoạch xây dựng chi tiết đã được phê duyệt 6 tầng và tầng hầm tại lô cây xanh kết hợp dịch vụ diện tích 2.994m2. Chủ đầu tư đã xây dựng các tòa nhà chung cư thêm tầng áp mái với tổng diện tích sàn vượt hơn 11.931m2. Trong đó, việc xây dựng các tầng hầm cũng sai quy hoạch gồm: CT2, CT3 sai 1 tầng; tòa nhà CT4 xây dựng sai 2 tầng hầm.

Thanh tra Chính phủ cũng xác định tiền sử dụng đất phải nộp ở khu đô thị này cũng có nhiều vấn đề. UBND tỉnh Hà Tây (cũ) đã phê duyệt tiền sử dụng đất từ ngày 16/7/2007 theo phương pháp thặng dư, trong đó một số khoản chi phí được đưa vào tổng chi phí phát triển như thuế GTGT, chi phí dự phòng không đúng quy định gây thất thu ngân sách nhà nước.

Đối với các chung cư xây dựng sai quy hoạch nêu trên, đoàn thanh tra xác định tiền sử dụng đất phải nộp bổ sung theo phương pháp thặng dư là hơn 20,7 tỉ đồng. Đáng chú ý, trong thời gian đoàn thanh tra đang thanh tra tại Hà Nội, tòa nhà chung cư CT4 thuộc dự án đã có sự cố cháy nổ nghiêm trọng.

Vi phạm nghĩa vụ tài chính

Khu đô thị mới Kim Văn – Kim Lũ do Công ty CP Xây dựng số 2 (Vinaconex 2) làm chủ đầu tư. Vinaconex 2 ký hợp đồng hợp tác đầu tư hạ tầng kỹ thuật với DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên trên diện tích 13.802m2. Đến thời điểm thanh tra, 2 doanh nghiệp này chưa có hợp đồng chuyển nhượng cho nhà đầu tư thứ cấp để xây dựng nhà chung cư trên diện tích này và chưa được cấp có thẩm quyền của TP cho phép.

Theo Thanh tra Chính phủ, chủ đầu tư Vinaconex 2 chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính. Căn cứ hợp đồng hợp tác đầu tư, DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên đã đầu tư xây dựng tòa nhà và đứng tên bán toàn bộ 2.177 căn hộ cho khách hàng.

Tại lô đất CT2, được UBND TP Hà Nội bàn giao từ ngày 25-5-2010 cho Công ty Vinaconex 2 nhưng đến nay (5 năm), UBND TP vẫn chưa xác định tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định, vi phạm Luật Đất đai. Đoàn thanh tra tạm xác định tiền sử dụng đất phải nộp với lô đất này là hơn 733 tỉ đồng, trong đó Vinaconex 2 và DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên phải nộp 392 tỉ đồng.

Ngày 3/2/2016, Thanh tra Chính phủ đã ban hành quyết định về việc tạm thu hồi về tài khoản tạm giữ 250 tỉ đồng của DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên. Ngày 8-3-2016, đơn vị này đã nộp 200 tỉ đồng.

Cũng theo kết luận Thanh tra Chính phủ, việc UBND TP Hà Nội phê duyệt điều chỉnh tổng thể quy hoạch chi tiết khu đô thị Kim Văn – Kim Lũ, trong đó với lô đất CT2: tòa nhà A cao 45 tầng, tòa B cao 45 tầng, tòa C cao 36 tầng và D1 cao 36 tầng, D2 cao 40 tầng là không phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2.000.

Theo quy hoạch 1/2.000, lô đất có tầng cao trung bình là 13 tầng, còn tại bản đồ không gian kiến trúc và cảnh quan có tầng cao trung bình là 20 tầng.

Chủ đầu tư Vinaconex 2 và DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên đã tự chia cắt thành 2 nhà (D1 và D2) riêng biệt, không xây dựng chung khối đế cao 5 tầng theo quy hoạch phê duyệt, xây dựng thêm tầng kỹ thuật tại tòa nhà D1 với diện tích 1.073m2, xây dựng thêm tầng hầm 10.457m2.

Đoàn thanh tra xác định số tiền sử dụng đất phải nộp thêm do xây dựng sai quy hoạch tại tòa nhà này là hơn 6,2 tỉ đồng.

Thanh tra Chính phủ đã đề nghị Chủ tịch UBND TP Hà Nội thu hồi về ngân sách tiền sử dụng đất hơn 483 tỉ đồng do chủ đầu tư dự án lô CT2 thuộc dự án khu đô thị Kim Văn – Kim Lũ chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trong đó, Vinaconex 2 phải nộp khoảng 340 tỉ đồng và DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên phải nộp khoảng 142 tỉ đồng.

Theo Nhaquanly.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang