Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

TRẦN HOÀI THƯ, NGƯỜI NGỒI VÁ LẠI NHỮNG LINH HỒN




(Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)
Cuối tuần, có bác nhà thơ già đến thăm, ghé mắt vào bài đang viết về nhà văn Trần Hoài Thư của tôi, rồi gật gật, lắc lắc, bảo: Cái tựa, Người ngồi vá lại những linh hồn, thấy rờn rợn thế nào ấy. Vâng! Khi chưa đọc, chưa nghiên cứu Trần Hoài Thư, bác có cảm giác vậy thôi. Đọc rồi, bác sẽ thấy, một Trần Hoài Thư không chỉ đang ngồi vá lại linh hồn mình, đồng đội mình, mà còn đang nhặt nhạnh những linh hồn văn hóa Việt rách nát, vương vãi đâu đó, rồi cặm cụi khâu lại nữa kìa.
Nghe tôi trả lời, bác nhà thơ già gật gù, gật gù lẩm bẩm: Được, tôi sẽ tìm đọc, xem có thật vậy không?
Phải nói thẳng, Trần Hoài Thư không phải là một nhà văn, nhà thơ lớn, lừng lững tên tuổi trên văn đàn của Văn học miền Nam trước 1975, cũng như ở hải ngoại hiện nay. Nhưng ông là một trong những nhà văn tôi yêu mến nhất của nền văn học Việt Nam từ trước đến nay. Bởi, ngoài tài năng, thì nhân cách lòng quả cảm, dám hy sinh, đi đến tận cùng của sự đam mê, cũng đầy trách nhiệm với văn hóa, văn chương nước nhà như ông, không phải ai cũng làm được. Và có lẽ, nhiều người đọc, nghiên cứu ông đồng cảm với tôi về điều này (?).
Nhà văn Trần Hoài Thư tên thật là Trần Qúi Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Dường như, cái tên Qúi Sách này, đã vận thẳng vào cái nghiệp viết, và nâng niu gìn giữ từng trang sách, hồn thơ Việt của ông chăng? Truyện ngắn “Nước Mắt Tuổi Thơ“ in trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn vào năm 1964 là chiếc thẻ thông hành đã đưa Trần Hoài Thư đến với làng văn. Sau khi tốt nghiệp ngành toán học, trường Đại học Sài Gòn, ông về giảng dạy trung học tại Tam Kỳ. Năm 1966 Trần Hoài Thư nhập ngũ khóa 24 Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Và gần mười năm trong quân ngũ, lúc là lính thám kích, khi là phóng viên chiến trường, dường như không lúc nào ông ngừng viết. Nhật ký chiến trường, hoặc những truyện ngắn, tản văn thời kỳ ấy, không chỉ có khói súng, mùi đạn bom quyện với máu thịt ông, đồng đội ông, mà còn thấm đẫm nước mắt của tình yêu, tình người. Sau 30-4-1975, Trần Hoài Thư bị tù cải tạo. Ra tù, năm 1980 ông vượt biển, hiện đang viết và làm chủ cơ sở xuất bản Thư Ấn Quán, cũng như Thư Quán Bản Thảo, một tạp chí văn học tại New Jersey Hoa Kỳ.
Có thể nói, thơ văn cũng như thân phận người lính Trần Hoài Thư gắn chặt với những biến cố thăng trầm của đất nước. Do vậy, cũng như những nhà văn cùng thời, cái sự nghiệt ngã ấy, đã ngắt thơ văn ông thành từng giai đoạn thật rõ ràng.
Tuy bước chân vào làng văn bằng văn xuôi, nhưng thơ đã đóng góp không nhỏ tạo nên một chân dung vạm vỡ Trần Hoài Thư. Với 14 tập truyện, cùng 8 tập thơ (?) đã xuất bản, minh chứng Trần Hoài Thư có sức viết dẻo dai, và khá cân đối. Với tôi Truyện Từ Văn và Truyện Trần Hoài Thư (rút từ các tập san) viết trước 1975, được in lại trong mấy năm gần đây, cùng với thơ, và tập truyện Ra Biển Gọi Thầm, Hành Trình Của Một Cổ Trắng là những tác phẩm tiêu biểu cho bút pháp trong từng giai đoạn sáng tác của ông.
Khi đi sâu vào nghiên cứu, tôi nhận ra, ngoài tính chân thực, thì nghệ thuật miêu tả (diễn biến) nội tâm nhân vật là đặc điểm nổi bật nhất trong truyện của Trần Hoài Thư. Nghệ thuật này là một tài năng, tìm tòi liên tưởng chứ dứt khoát không phải do ông xuất thân từ nhà giáo, đã kinh qua những giáo trình tâm lý học. Bởi, cũng có nhiều nhà văn xuất thân từ nhà giáo, nhưng không có đặc điểm này.
*Chiến tranh, dưới cái nhìn và ngòi bút nhân bản của nhà văn.
Nếu phải đưa ra một câu trả lời, với tôi Trần Hoài Thư, Phan Nhật Nam, Thế Uyên là những nhà văn hàng đầu viết về người lính của văn chương miền Nam ở thời điểm nóng bỏng nhất của cuộc chiến. Và cùng với Cao Xuân Huy và Phạm Tín An Ninh ở giai đoạn sau 1975 cho đến nay, nơi hải ngoại.
Có một điều đặc biệt, Trần Hoài Thư là một người lính chiến thực thụ và viết ngay nơi chiến trường. Hơn thế nữa, nhiều nhà phê bình đánh giá, nhận định ông là nhà văn quân đội. Nhưng đọc ông, cho tôi cảm giác, dường như có những lúc linh hồn ông đã tách ra khỏi cuộc chiến, rời bỏ chiếc áo nhà binh. Bởi, ngoài những người lính, còn có không ít truyện viết về tình yêu, về cái thuở học trò với những cuộc sống thường nhật, hay về cả những khi phản kháng đào ngũ, bỏ đơn vị nó hằn đậm trên trang viết của ông ở cái thời binh đao khói lửa ấy.
Có lẽ, ngay từ buổi ban đầu, Trần Hoài Thư chưa có ý thức rõ ràng về chiến tranh, với những lý tưởng cao đẹp nào đó. Cho nên, bước chân vào quân trường là nghĩa vụ bắt buộc đối với ông. Sự chán chường ấy, ta đã bắt gặp rất nhiều trên những trang viết của Trần Hoài Thư. Giai đoạn đó với ông, dù có đứng ở bên nào, góc độ nào thì cuộc chiến này cũng đều vô nghĩa. Do vậy, không chỉ ở truyện ngắn văn xuôi, mà ngay trong thơ ta thấy tương lai mịt mù với những lời thán ca đau đến nhức nhối lòng người:
“Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân
Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm, không biết về đâu“ (Thế hệ chiến tranh)
Với cái nhãn quan như vậy, cho nên người lính Trần Hoài Thư luôn ước nguyện, hy vọng trở về quê hương, nơi có cuộc sống bình dị, và cũng thật yên bình: “…Anh nghĩ rồi đây chiến tranh sẽ chấm dứt. Miền Nam và miền Bắc sẽ sum họp. Mọi người sẽ ngồi lại và tha thứ lẫn nhau. Rồi em về Nha Trang. Anh cũng trở lại cùng Nha Trang. Anh sẽ xin dạy trở lại. Rồi anh sẽ xin cưới em…” (Nha Trang).
Và cái suy nghĩ đơn giản, vô tư ấy, ông đã trả giá bằng chính những năm tháng ngục tù, rồi buộc phải cùng với con thuyền lá tre kia lao ra biển cả.
Có thể nói, tính nhân đạo là đặc trưng nổi bật nhất, xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Trần Hoài Thư. Cái tình người, và sự cảm thông ấy không chỉ nằm trong tình đồng đội, tình đồng bào, mà nó còn là hơi ấm cho cả những người lính ở bên kia của chiến tuyến. Cái đặc tính này, gần đây dường như nó được tiếp nối một cách rất sâu sắc trong trang văn, truyện ngắn của đồng đội ông, nhà văn Phạm Tín An Ninh.
Ngày Thanh Xuân, một truyện ngắn điển hình như vậy, được Trần Hoài Thư viết vào mùa xuân 1972. Chúng ta hãy đọc lại lời thoại của hai đoạn trích dưới đây giữa một tù binh bị thương miền Bắc với người lính miền Nam, khi ở ngoài chiến trường, cũng như lúc ở quân y viện. Để thấy rõ tài năng miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật, cũng như sự nhân đạo và sự cảm thông ngút trời ấy của Trần Hoài Thư:
“Mong anh hiểu trách nhiệm và bổn phận của chúng tôi, những người lính khác trận tuyến với các anh. Anh hãy để chúng tôi săn sóc. Hy vọng một ngày hòa bình, anh sẽ trở về quê hương và tôi được dịp đáp tàu ra Bắc, như niềm mơ ước của tôi. Mời anh một điếu thuốc thơm, anh vui lòng chứ? Anh uống cà phê nhé. Cà phê tôi mang theo trong bi-đông…
Nếu tôi còn ở miền Bắc, có lẽ bây giờ tôi là đồng chí của anh. Chúng ta đều bị bắt buộc cầm súng. Chúng ta bị chủ nghĩa, ngoại bang, các thế lực quốc tế xô đẩy chúng ta vào hố thẳm của hận thù. Anh đồng ý với ý kiến của tôi không? - Phải, tôi đồng ý – Y thầm thì – Tôi đã hiểu rằng những người tuổi trẻ của Việt Nam là những đứa con tội nghiệp. Chúng ta lỡ sinh vào một thế kỷ bất hạnh nhất. Chúng ta được giao truyền lại một gia tài bi đát nhất…”
Không chỉ đối với những người còn sống, hay người tù binh tàn tật, mà lòng nhân đạo, và tình thương ấy đến với cả người lính đối phương vừa chết trận của Trần Hoài Thư. Và nếu văn là những lời sẻ chia, cảm thông, thì thơ ông như một tiếng ru cho linh hồn của đồng loại đã nằm xuống trong trận chiến này. Tôi đã đọc khá nhiều thơ của những người lính, thuộc cả hai chiến tuyến viết cho đồng đội nằm xuống. Từ đó có thể nói, Khi Chưa Có Mùa Thu là một trong những bài thơ hay nhất của người lính phía Bắc Trần Mạnh Hảo. Và vắt cơm nhòa nước suối, hay nhòa nước mắt để viếng (cúng) đồng đội của Trần Mạnh Hảo làm cho người đọc phải rưng rưng, xúc động: ”Vắt cơm nhòa nước suối/ Viếng bạn mình không ăn”. Nhưng đặc biệt, cao cả hơn thế nữa, người lính phương Nam Trần Hoài Thư đã tiễn đưa hồn người lính Bắc bằng những ly rượu nồng với những câu thơ đẹp và vô cùng lãng mạn, đọc lên ai cũng bùi ngùi, xót xa. Và tôi tin lúc đó, Trần Hoài Thư đã dứt bỏ hoàn toàn mọi áp lực xung quanh, mà chỉ còn trái tim đa cảm, bao dung đang rung lên của người nghệ sĩ, để viết nên bài thơ này. Tôi không dám nghĩ, đây là bài thơ độc nhất vô nhị, dù được viết trong lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt. Nhưng có lẽ, nó là bài thơ lạ lùng nhất đến nay tôi được đọc. Vâng! Và chính nó, bài thơ Một Ngày Không Hành Quân của Trần Hoài Thư đã làm cho những giọt nước mắt của tôi rơi ngay trên bàn phím này:
“…Tôi rót mời một người lính Bắc
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ
Trên đồi cao mây vẫn xanh lơ
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng
Tôi với hắn đâu có gì thống hận
Bài thơ nào cũng viết để yêu em”
Hoàn toàn không có ý so sánh, nhưng như có một sợi dây liên cảm, bởi khi đọc truyện ngắn Chiến Tranh của Trần Hoài Thư, làm cho tôi nghĩ đến những người lính gian khổ chống phát xít trong tiểu thuyết, tập truyện: Họ Đã Chiến Đấu Vì Tổ Quốc, hay Số Phận Con Người… của nhà văn Nga Mikhail Sholokhov. Trong cái không khí mịt mù khói lửa ấy, sự nguy hiểm, gian nan càng tăng lên, thì tình chiến hữu đồng đội của họ càng hòa quyện chặt vào nhau hơn. Và đứng trước thất bại cũng như cái chết, dường như đã cho Trần Hoài Thư nghị lực vượt qua tất cả để sống, để viết trả nợ đồng đội. Lời văn tự sự nhanh và mãnh liệt, với ngôn ngữ, câu thoại mang đậm tính điện ảnh, gần tâm lý độc giả Âu- Mỹ, Trần Hoài Thư đã cho ta thấy rõ điều đó:
“- Mày hãy nghe tao nói. Mày là nhà văn. Tao là độc giả của mày. Mày phải sống. Mày nghe rõ chưa. Mày phải sống để mà viết lại...
Rồi hắn gào lớn:
- Phải viết lại cảnh này. Thằng Trí, thằng Luông đang nằm cạnh tao đây cũng cần mày. Thằng Trí cõng tao, rồi chết vì tao... Mày hãy nói cho mọi người biết về những cái chết chó má như thế này. Chết mà không được bắn một viên đạn như thế này...
- Tư. Tao xin nghe mày. Tôi đau đớn nói.
- Tao dẫu sống cũng vô ích. Hai chân tao, ngực tao, ruột tao... Chỉ còn cái đầu tao là không trúng đạn... Rồi hắn la. Không, hắn mắng tôi.
- Sao lại không chịu chạy. Mày hèn à. Diều hâu mà hèn à…”
Chập chờn ký ức hiện về, cùng những tình tiết hiện thực đan xen, tạo nên hình ảnh so sánh ẩn dụ làm cho người đọc phải ám ảnh rờn rợn, xuyên suốt những tác phẩm của Trần Hoài Thư. Với thủ pháp nghệ thuật này, đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công, cũng như tên tuổi tác phẩm, tác giả Trần Hoài Thư. Nhiều thế hệ các nhà văn trẻ sau ông sử dụng khá thành công thủ pháp nghệ thuật này, đặc biệt cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Và Mắt Đêm là một truyện ngắn điển hình như vậy của Trần Hoài Thư. Tuy khoác áo lính, bước vào cuộc chiến là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng Trần Hoài Thư luôn giữ vững quân kỷ của người trung đội trưởng, và trách nhiệm bảo vệ dân chúng, đồng bào được ông đặt lên hàng đầu. Đọc nó, không chỉ thấy được cái tình của người lính Việt Nam Cộng Hòa đối với người dân nơi chiến trường (dù biết họ có thể là nằm vùng, hay có quan hệ, che chở cho những người lính Bắc) mà Trần Hoài Thư còn đưa ta ngược về ký ức với hình ảnh tuổi thơ xa vời vợi của ông. Có thể nói, đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của Trần Hoài Thư được viết trong thời kỳ này:
“Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mà tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao mày không dùng thứ này?...
Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng… Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu.”
Vẫn những đêm ngủ rừng, hay trên gò mả giữa cánh đồng trắng trơn, hoặc xông vào những trận đánh kinh hồn, nhưng dường như giấc mơ, nỗi nhớ vẫn không thể thiếu trên mỗi chặng đường hành quân của Trần Hoài Thư. Tình yêu và cái thuở ban đầu ấy, như những cơn mưa đầu mùa tưới mát cho tâm hồn chai sạn của người lính chiến. Với tôi, trong các nhà văn quân đội VNCH (trực tiếp cầm súng) nơi chiến trường ác liệt, viết nhiều và hay nhất về tình yêu, và cái thuở học trò, chắc chắn phải là Trần Hoài Thư. Thật vậy, đọc truyện Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình của ông, cho tôi cảm giác như đang đọc một bài thơ. Một bài thơ tự sự đầy hình tượng về sự tiếc nuối một mối tình đầu của thuở hoa niên. Tuy nhiên ông bạn nhà thơ già của tôi, ghé mắt đọc, không cho là như vậy. Vì thế, khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi chưa biết để Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình ở mục truyện ngắn, tùy bút, hay một trang thư…Nếu đây là một lá thư, thì có lẽ, đây lá thư tình hay nhất mà tôi đã được đọc. Và đọc nó, khẳng định thêm một lần nữa tài năng miêu tả tâm lý, nội tâm nhân vật của nhà văn Trần Hoài Thư:
“…Trên mái ngói đỏ của ngôi trường nữ trung học, có đôi chim bồ câu âu yếm tỉa lông cho nhau. Nhưng, riêng anh, cả lòng như một bến ga quạnh quẽ. Đứng bơ vơ, mà nghe trong gió có một cung đàn kỷ niệm. Cung đàn ấy, vọng từ một cõi nào xa xôi lắm, có vỉa hè Đồng Khánh, có cả rừng bướm trắng dập dìu, và có một kẻ tình si đang trồng chân như cây phượng vĩ già nua, nhìn theo một cánh bướm, qua sông vĩnh biệt…”
Trong văn học sử miền Nam có hai ông nhà văn vừa cầm súng vừa viết Phan Nhật Nam và Trần Hoài Thư, cùng chung cảnh cải tạo tù tội sau 1975, nhưng lại có văn phong khác hẳn nhau. Nếu văn Phan Nhật Nam sinh động, sắc sảo, thì văn Trần Hoài Thư trầm lắng, hình tượng. Phan Nhật Nam động thì Trần Hoài Thư tĩnh. Âu đó cũng là sự may mắn làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam.
Và Viễn Thám là một truyên ngắn hay, có lời văn đẹp, tĩnh lặng như vậy của Trần Hoài Thư. Đây là truyện ngắn làm cho người đọc ngạc nhiên, bất ngờ và gây ra nhiều tranh cãi. Nó mở ra tư tưởng cũng như nhân sinh quan của ông. Có lẽ, không riêng tôi, mà còn nhiều người đánh giá cao giá trị nội dung cũng như quan niệm, thay đối tượng thẩm mỹ trong chiến tranh của tác giả trong truyện ngắn này. Hơn thế nữa, nó không chỉ đẹp trong từ ngữ lời văn, mà trong cả tâm hồn và trong cái tình của người lính thám báo, nhà văn Trần Hoài Thư. Và nó khác hẳn hình ảnh người thám kích dã man, tàn bạo trong truyện của Bảo Ninh và Dương Thu Hương. Tôi nghĩ, Bảo Ninh, Dương Thu Hương viết Nỗi Buồn Chiến Tranh và Vô Đề vào những năm cuối thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, khi chưa bốc (hết) được ngôi mộ với con ma xó tuyên truyền bấy lâu ra khỏi linh hồn mình. Nếu những cuốn sách ấy được ra đời vào thời điểm ngày nay, có lẽ sẽ khác đi chăng? Đọc truyện này, có lẽ nhiều người phản bác, cho rằng Trần Hoài Thư hành động bằng cảm tính. Và bằng chứng dường như có những đoạn văn của ông bị xét duyệt cắt bỏ khi in ấn vào thời điểm ấy chăng? Ơ hay! Trần Hoài Thư mang trái tim nghệ sỹ vào chiến tranh cơ mà. Và trong chiến tranh dường như, những người nghệ sỹ cầm súng luôn có tâm hồn, suy nghĩ như vậy. Nhưng dám hành động, và viết thành lời như ông không phải ai cũng đủ dũng khí. Chúng ta đọc lại một đoạn trích trong Viễn Thám (tuy nhiên, có đoạn khi duyệt đã cắt bỏ?) để thấy rõ điều đó:
“Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. "Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (…) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam…. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu"
Có thể nói, chất liệu trong văn thơ Trần Hoài Thư có được từ thực tế bản thân và đồng đội. Ông đã trải nó lên trang văn dưới nhãn quan của riêng mình. Tuy có cái nhìn bi quan về cuộc chiến, nhưng nó lại bật lên tính nhân đạo ngút trời trong từng trang viết của ông.
*Tính bi hài và những nỗi đau.
Có lẽ không ai nghĩ, một thư sinh với sức trói gà Trần Hoài Thư có sức phản kháng mãnh liệt đến vậy. Sự phản kháng ấy, không chỉ có trên trang văn, mà còn mãnh liệt hơn trước những bất công ở ngoài đời. Trần Hoài Thư tự động rời bỏ quân ngũ trước phi lý của số phận đã chứng minh cho điều đó. Và từ đó, cho ta thấy được tính khí khái trong con người ông. Chứ thành thật mà nói, một nhà văn dù có sống ở chế độ nào cũng vậy, cứ cúi mặt xuống viết dưới cái bóng của các đấng ngồi trên, thì không bao giờ có được những tác phẩm ra tấm ra miếng.
Ngay ngày đầu, Trần Hoài Thư đã nhận ra cái bất công và số phận hẩm hưu của những người lính nơi tiền đồn. Do vậy, những cay đắng, khắc khoải đó như nén chặt trong lòng văn nhân. Và rồi, một lúc nào đó, nó sẽ chảy ộc ra bằng văn, bằng thơ, trải dài trên trang giấy, đọc lên ai cũng phải xót xa:
“Khi ra trận ta là thằng chết trước
Tổ quốc ghi ơn, lãnh tụ đẹp lòng
Khi tìm vợ, ta là thằng chạy chót
Nên khó lòng ấp vợ đẹp trong chăn…” (Lính tiền phương)
Vâng! Và người lính ấy chưa chết hẳn, nhưng trở về với đôi nạng gỗ trên tay. Đọc truyện Bệnh Xá Mùa Xuân, ta không chỉ thấy được sự lên án, mỉa mai, mà còn thấy được sự tàn nhẫn của chiến tranh. Và hình ảnh người lính cụt chân ấy, cứ tưởng mình còn nguyên vẹn, nhảy phắt xuống giường, bị ngã úp mặt xuống đất, dường như đẩy tính bi hài, và nỗi đau lên gấp bội. Phải nói thẳng, miền Nam có nhiều nhà văn lớn và tài hoa, nhưng tài năng đưa hình ảnh, hình tượng vào trong văn nhiều và hay như Trần Hoài Thư quả thực không nhiều:
“Nửa đêm, cả lòng đêm bỗng dưng bị dội lên bởi những quả đạn rơi rất gần khu bệnh xá. Những tiếng la thất thanh. Pháo kích! Pháo kích! Tiếp sau là những bóng người vụt chạy ra hầm núp ngoài sân. Tên thương binh cụt chân, trong cơn bấn loạn tột độ ngỡ mình vẫn còn lành lặn như xưa, đã ào nhảy xuống giường. Sau đó, hắn mới biết được sự thật. Hắn ôm khúc đùi rên rỉ và nằm ngay dưới nền. Hắn không còn nhận ra cặp nạng nữa…”
Đọc và nghiên cứu tôi thấy rất có lý, khi nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh nhắc đến cái chất giản dị trong văn của Trần Hoài Thư. Thật vậy, ngoài cái giản dị trong sáng, văn thơ Trần Hoài Thư không hề đao to búa lớn. Chính những đặc điểm ấy, đã giúp tôi đọc hết tất cả những gì ông viết, khi bắt gặp, hoặc tìm thấy, dù bất kể đề tài, thể loại nào. Qủa thật, tôi rất sợ đọc những bài viết lên gân quá mức cần thiết khi viết về người lính Việt Nam Cộng Hòa của một số tác giả gần đây. Thường những bài này, tôi bỏ nửa chừng. Là người, kể cả người lính dù có lý tưởng gì gì đi chăng nữa, trước cái chết ai mà chẳng sợ. “Cái chết nhẹ tựa lông hồng” không phải ai, và hoàn cảnh nào cũng có thể dùng được. Ta đọc lại những câu thoại giữa hai người lính (là thày, trò cũ của nhau) cùng bị thương dưới đây, trong truyện Bệnh Xá Mùa Xuân, để thấy cái day dứt, bi hài đi thẳng vào lòng người, tuy từ ngữ rất mộc mạc:
“- Trời ơi, một người mang cặp kính nặng như thế mà họ vẫn không chịu buông tha sao thầy?
Minh cười:
- Họ nói là điếc thì không sợ súng, còn mang hai cặp mắt mới dễ bắn VC hơn.
- May mà em cụt một chân, nếu mù một con mắt họ vẫn bắt em đi ra đánh giặc trở lại.
- Thầy không buồn đâu. Bởi vì dù sao thầy là sĩ quan, là thiếu úy, thầy vẫn còn sướng hơn những người lính khác. Trung đội thầy có thằng mang đại liên, tên là Nga, Võ hồng Nga, to đen như Mỹ đen, nhưng bị cận thị nặng. Đi hành quân, nó không thấy đường, cứ nhằm chỗ VC mà tiến. Cuối cùng nó chết.
- Thầy biết không, bởi vì nó không cổ cánh….”
Chết hoặc trở thành tàn phế chưa phải là điều đáng sợ của người lính, mà cái đáng sợ nhất nhận lệnh, buộc phải thi hành của những người lãnh đạo quan liêu, và dốt nát. Đọc truyện Thế Hệ Chiến Tranh dường như cho ta một cảm giác, đây là một bản cáo trạng của nhà văn thì đúng hơn:
“Suốt cả một buổi trưa hai thằng chúng tôi mắc nạn không thể bò xuống đồi. Tư bị đạn trúng bã vai và chân. Còn tôi thì bị lựu đạn làm bể cả bắp đùi. Lúc này mạnh ai nấy thoát. Bởi ai cũng biết rằng nếu ở lại thì chết bởi những họng súng đang săn mồi từ cao điểm. Rõ ràng đây là một cuộc thí quân. Họ ra lệnh chúng tôi phải chiếm đồi với M16, và lựu đạn, trong khi địch ẩn núp trong những hang kiên cố, với lợi thế là thấy rõ chúng tôi, còn chúng tôi thì như những kẻ đui mù…”
Không dừng lại nơi chiến sự, Trần Hoài Thư tiếp tục chọc thẳng vào cái ung nhọt thượng tầng của xã hội. Khi ông đã nhận ra, sự hy sinh cả một thế hệ để phục vụ cho những kẻ lãnh đạo không lương thiện, thiếu tài năng này. Nếu gần đây, ta đã đọc bút ký Sau Cơn Binh Lửa của Trung tá, nhà văn Song Vũ, thì thấy được, những con sâu ở giới lãnh đạo thượng tầng này, góp phần không nhỏ dẫn đến sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Có thể nói, tuy miền Nam được tự do viết lách, nhưng ở vào thời điểm đó, Trần Hoài Thư viết thẳng tưng như thế này, quả thật cần lắm một sự dũng cảm. Và đoạn trích dưới đây, chứng minh cho ta thấy sự thối nát cũng như sự can trường của nhà văn:
“Trong khi bạn bè thầy, bạn bè em cứ tiếp tục bị chết, thì ở Sài Gòn người ta vẫn ăn chơi phè phỡn, đô la thuốc phiện và tranh giành quyền lực bằng những thủ đoạn chính trị bẩn thỉu. Ngay tại nơi này, những đồn điền mênh mông, những khu rừng cấm mà bọn mình đem xương máu bảo vệ là tài sản của các tướng tá hay các lãnh tụ ở Sài Gòn. Chúng ta cứ chết, mặc nước mắt của người mẹ, người em, để những mệnh phụ phu nhân, những bà lớn nắm quyền mua quan bán chức. Họ đục khoét tiền viện trợ Mỹ, con cái họ được chạy đi du học để trốn tránh trách nhiệm.”
Nỗi đau, sự trớ trêu trên những trang viết Trần Hoài Thư không dừng lại một gia đình, một tỉnh thành, mà cho toàn dân tộc Việt. Có thể nói, từ ngày lập quốc đến nay chưa có trận chiến nào tang thương, thù hận bằng cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn vừa qua. Trần Hoài Thư chứng kiến những hiện thực bi hài trớ trêu ấy, và tái hiện vào những trang sách, nên đôi lúc tôi cứ nghĩ, ông không dừng lại ở nhà văn, mà còn như một nhà sử học vậy. Nếu truyện Người Anh Hàng Xóm, cuộc đối đầu nhau trên chiến trường giữa hai cha con đều là trung đoàn trưởng ở hai phía, thì truyện Về Làng là nỗi đau của một người lính Việt Nam Cộng Hòa trước người chú và chị ruột theo CS, bị chính đồng đội của mình bắn chết… Đây là hai câu chuyện điển hình nhất trong nỗi bất hạnh của dân tộc trên trang viết của ông. Và nó cứ ám ảnh đeo vào lòng người một sự day dứt, không thể dứt bỏ.
Có một điều đặc biệt nữa, truyện nào của ông cũng mang một nỗi u hoài của sự chia ly, chết chóc với những cái kết bất ngờ bỏ ngỏ, buộc người đọc phải suy nghĩ. Nói Trần Hoài Thư là nhà văn của những nỗi đau, thì quả thật không ngoa tẹo nào.
Khi các nhà văn cùng thời thường khai thác đề tài ít va chạm với quyền lực, xã hội, hoặc viết về những trận đánh, chiến công oai hùng của người lính, thì Trần Hoài Thư đi vào bới móc cái bóng đen của chiến tranh, cũng như xã hội con người. Một đề tài khó nhằn, khó nuốt.
Nói cho cùng, xã hội, quân đội nào cũng vậy, đằng sau cái hào nhoáng đó, nó còn ẩn nấp bao thứ tồi tệ và bệnh hoạn khác. Và rất cần những nhà văn như Trần Hoài Thư bóc trần, rồi cắt bỏ.
*Ba mươi tháng tư, và linh hồn rách nát.
Vậy là chiến tranh đã kết thúc, người lính thám kích Trần Hoài Thư không thể về Nha Trang cưới em, và trở về nghề dạy học của mình, như ước nguyện. Nam- Bắc thống nhất, nhưng không thể tha thứ cho nhau, và người lính thua trận ấy bước vào vòng lao lý. Bốn năm lưu đày ấy như bốn ngọn roi quất vào tâm hồn văn nhân. Cặp bộ đội đứng hát bên bờ suối năm xưa, nay đã thành người quản giáo. Tiếng hát ngày nào đổi thành lời rao giảng, để hành hạ nhau. Đói và rét làm cho người lính, văn nhân mất đi cả lý trí. Mình là ai? Sinh vật hay con người? Có lẽ chỉ có trời mới biết. Sự phản ứng vô ý thức ấy của văn nhân buộc tôi tự hỏi: Nếu bây giờ trở lại hoàn cảnh năm xưa, người thám kích Trần Hoài Thư có bắn cặp bộ đội đang hát bên suối hay vẫn tha? Và trái tim văn nhân có còn sống vĩnh cửu? (như ở truyện Viễn Thám). Ta đọc lại đoạn trích trong truyện ngắn Ra Biển Gọi Thầm, để so sánh tư tưởng, ý thức, hành động trước và sau 30-4-1974 của nhà văn Trần Hoài Thư:
“Nó cũng thâm độc hơn bất cứ một sinh vật nào. Nó đái lên những con cá lóc cá trê nó câu được trước khi nạp phần cho cán bộ quản giáo. Nó thầm lén phạt đứt cọng mạ non thay vì làm cỏ. Nó chửi thề khi hắn ngồi nghe chính trị viên lên lớp. Nhưng nó lại chịu thua trước thiên nhiên. Bởi nước thì quá sâu, và chảy quá mạnh. Bởi bó tràm thì quá ngỗ nghịch, cứng đầu. Nó ngoi ngóp. Nó vùng vẫỵ Hai chân vừa đạp, hai tay vừa kéo. Mưa lạnh làm châu thân nó run như lên cơn sốt rét. Hàm răng nó đánh cầm cập. Nó lại đóị Cái đói ghê gớm. Cái đói tàn bạo quật ngã nó khiến nó cứ thở dốc, thở rống từng hồi từ lồng ngực ngỡ khô cạn. Nó lảo đảo. Nó đang ở bên trời. Nó hay là tôi. Và tôi hay là nó. Tôi cũng chẳng cần biết nữa… »
Với tôi, Ra Biển Gọi Thầm là truyện ngắn hay và cảm động nhất trong tập truyện cùng tên. Truyện này, Trần Hoài Thư viết khi ông đã vượt thoát sang Hoa Kỳ. Vẫn thủ pháp nghệ thuật hồi tưởng, chập chờn của ký ức, ông đã đưa người đọc trở về với những ngày tù tội, nơi có mối tình cao thượng tuyệt đẹp, nhưng cũng tuyệt vọng của mình. Tôi đã đọc khá nhiều truyện, ký của các tù nhân, cải tạo, nhưng đây là lần thứ hai đọc truyện viết về tình yêu trong thời gian tù của họ. Và trước đó, là truyện Nghỉ Hè Ở Mallorca của nhà văn Phạm Tín An Ninh.
Dường như càng lớn tuổi, nhất là từ sau 1975 càng gian nan Trần Hoài Thư kiệm lời hơn, nên đi vào sự cô đọng, sâu lắng của thơ. Hơn bốn năm tù, với một linh hồn rách nát, đủ để cho ông nhìn lại. Dù nhận được lời mời vào hội văn thơ, nhưng ra đi là con đường duy nhất của ông. Và con thuyền lá tre chòng chành giữa biển khơi mênh mông bão tố ấy, chở ông đi tìm tự do, hay tìm về cõi chết? Đọc bài thơ Đêm Ra Biển của Trần Hoài Thư làm cho tôi phải rợn tóc gáy :
«… Đêm nước mặn mà ngọt ngào nỗi chết
Đêm quá dài mà ngắn chớp tử sinh
Đêm ơi đêm, một cõi u minh
Đêm bật khóc nhìn chúng tôi tự sát… »
Vậy là Trần Hoài Thư đã vượt qua được những chớp tử sinh. Đến được bến bờ tự do, nhưng ông cảm thấy mình bất hạnh hơn. Mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm luôn giằng xé văn nhân. Và từ đây, ông như con thuyền không lái, chòng chành hơn, bởi đã mất quê hương :
« Là lúc biết mình như thoát nạn
Sáng chân trời, hồng rực vầng dương
Là lúc, thấy mình như bất hạnh
Sắp làm người không có quê hương » (Đêm tiễn biệt Việt Nam)
Có thể nói, sau 1975 và từ khi định cư ở Hoa Kỳ, Trần Hoài Thư viết nhiều hơn. Ông viết cho mình, viết cho đồng đội, cho quê hương. Mỗi trang sách, bài thơ của ông như những đường kim sợi chỉ, vá lại linh hồn cho bao người đã bị rách nát trong chiến tranh, và trong những ngày trốn chạy lưu vong.
Tuy chưa phải là nhà văn lớn, nhưng Trần Hoài Thư là một trong những nhà văn điển hình nhất trong hai mươi năm nội chiến của nền Văn học Việt Nam.
Viết bài này, khi tài liệu thơ văn của Trần Hoài Thư, tôi có không nhiều, chủ yếu tìm đọc trên Internet, (và cũng chưa một lần gặp gỡ ông). Do vậy, không có hệ thống, có thể còn sai sót và chưa lột tả, đi hết cái tận cùng con người, cũng như thế giới mênh mông văn thơ Trần Hoài Thư. Nhưng đây như một lời tạ ơn của kẻ hậu bối, đến một nhà văn suốt đời hy sinh, tận tụy cho văn chương nước nhà.
Và hình ảnh Trần Hoài Thư, ngồi vá lại những linh hồn in đậm trong lòng, đã thôi thúc cho tôi viết bài này.
Leipzig ngày 22- 5-2017
Đỗ Trường

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhiều bài về xứ Đoài thương nhớ, đây là một:


ĐÔI ĐIỀU VỚI "NGƯỜI HÙNG" NGUYỄN ĐỨC CHUNG
Sáng 07/07/2017 theo dõi sau khi Thanh tra TP công bố dự thảo kết luận về đất đai tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức khẳng định không có diện tích 59 ha đất nông nghiệp xứ đồng Sênh, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã có bài phát biểu dài hùng hồn, đặc biệt khi đề cập đến đất quốc phòng thì hết sức gay gắt. Thậm chí ông còn dằn mặt: có một nhóm người kích động để mong muốn đòi quyền lợi ở Đồng Tâm. Có linh cảm trong thời gian tới những gì đến với người dân Đồng Tâm sẽ “ lành ít, dữ nhiều”. Vì vậy cũng có đôi dòng bộc bạch với ông Chung.
Đối với dân thì ông yêu cầu "tất cả chúng ta phải thượng tôn pháp luật, lấy pháp luật làm trọng" trong khi lực lượng của mình thì các ông chỉ đạo bắt giữ người già trái pháp luật, không cần đọc lệnh, cũng chẳng thèm lập biên bản, dụ người ta ra nơi “đồng không, mông quạnh” để tấn công bắt giữ bất ngờ, rồi cũng không hề thông báo cho gia đình. Việc bẻ gẫy đùi cụ Lê Đình Kình có thể là một âm mưu của các ông nhằm triệt hạ vị “thủ lĩnh” của phong trào đòi đất của Đồng Tâm mà ngành công an gọi đó là “ biện pháp nghiệp vụ”?
Giữa Quyết định số 5383/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 của UBND Thành phố với Quyết định số 113/TTg ngày 14/4/1980 của Thủ tướng Chính phủ theo kết quả đo đạc ngày 21/6/2017 thì thừa ra 28,9 ha thì các ông lại bảo là do trong quá trình giao tỉnh Hà Sơn Bình giao có thừa ra 31,9 ha (sau khi trừ đường giao thông 2,5 ha và sai số do đo đạc 0,5 ha). Rồi cuối cùng lại đổ lỗi cho thiếu sót đó thuộc về Bộ Quốc phòng, thuộc về UBND tỉnh Hà Sơn Bình đã quên báo cáo lại Thủ tướng để Thủ tướng bổ sung quyết định. Nếu thực sự thượng tôn pháp luật, công minh, liêm chính thì giao bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, cớ sao lại GIAO ÍT NHẬN NHIỀU. Đây cũng chính là khởi nguồn của việc tranh chấp đất đai dẫn đến khủng hoảng Đồng Tâm.
Rồi chỉ sau 3 ngày Quyết định 5383/QĐ-UBND ra đời chính Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 28 có ra văn bản Thông báo số 961A/TB-LĐ trả lời đơn thư khiếu nại của bà con thì cũng khẳng định là chỉ có quản lý 208 ha thì bây giờ các ông lại kết luận “khẳng định đồng chí đó là sai và tới đây phải kiểm điểm”.
Cứ chứng cứ gì có lợi cho dân thì các ông lại không chấp nhận và đổ tại “thiếu sót”, “khuyết điểm” của khách quan. Tất cả là “án tại hồ sơ” còn các từ “thiếu sót”, “kiểm điểm” hoàn toàn không phải từ ngữ chuyên môn trong phạm trù tố tụng pháp lý, thế nhưng các ông lúc nào cũng “cả vú lấp miệng em” nói cho lấy dược.
Người dân Đồng Tâm vốn ít học nhưng thật thà, thẳng thắn nhưng ý nguyện của họ muốn yêu cầu các cấp có thẩm quyền cùng với sự chứng kiến của người dân đo đạc tỉ mỉ tất cả khu đất Cẩu Đồn và đất đồng Sênh (Đồng Tâm) lấy diện tích đất sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm hiện tại là 64,11 ha, rồi trừ đi 47,36 ha đất bị thu hồi theo Quyết định 113/TTg nếu còn lại bao nhiêu là của người dân Đồng Tâm được quyền sử dụng, thì các ông tính sao???
Với trình độ tiến sỹ Luật thì chắc ông cũng thừa hiểu rằng dù là Chủ tịch TP ông cũng không có quyền cam kết “ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm”, thế mà ông vẫn ký. Thử hỏi bản thân ông đã " thượng tôn pháp luật" hay chưa? Để bây giờ phá vỡ cam kết thì ông lại cao giọng bảo dân “phải thượng tôn pháp luật, lấy pháp luật làm trọng" là sao? Cái lý đã sai, cái tình cũng chẳng có một tí ti nào cả.
Khi nói về đất quốc phòng để chứng tỏ học vấn uyên bác của mình ông đã lấy dẫn chứng “tại sao nước Mỹ để cả một bang để trống cho quốc phòng?” khiến người dân tin tưởng là đúng. Ý ông nói đến tiểu bang Alaska với vị trí địa chính trị chiến lược (cách Nga bởi eo biển Bering và không xa Trung Quốc), nơi mà nước Mỹ đặt rất nhiều căn cứ quân sự chứ gì?
Xin thưa với ông: Tiểu bang Alaska là một lãnh thổ tách rời của Hoa Kỳ nằm kề cận với bờ biển tây của Bắc Mỹ. Nó là tiểu bang lớn nhất thuộc về Hoa Kỳ với diện tích 1.478.022 km² lớn gấp 4,5 lần Việt Nam nhưng dân số (735.132 người) chỉ gấp xã Đồng Tâm 4,3 lần. Phần lớn diện tích Alaska được băng tuyết phủ quanh năm. Miền đất này do Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Seward đã đề xuất mua lại thuộc địa miền Tây Bắc Bắc Mỹ của Nga. Thượng Nghị viện Hoa Kỳ đã thông qua điều này vào ngày 09/04/1867 và Alaska về tay Hoa Kỳ chỉ với giá 7,2 triệu USD. Vì vậy Chính phủ Mỹ muốn để trống hay làm gì mà chẳng được. Thậm chí có cho đa số dân Mỹ còn không thèm.
Còn đất đồng Sênh (Đồng Tâm) là đất nông nghiệp từ ngàn đời nay nuôi sống con người mà cha ông họ để lại, nay với chế độ “sở hữu đất đai toàn dân” nên khi Nhà nước thu hồi làm đất quốc phòng thì họ đành chịu mất trắng. Làm sao so sánh chuyện Đồng Tâm với chuyện bên Mỹ được hả ông Chung?
Nếu việc thu hồi đất quốc phòng tại Đồng Tâm thảnh công và một nhóm người kích động tại Đồng Tâm sẽ bị vô khám thì có khả năng Nguyễn Đức Chung sẽ lại được tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng lần thứ 2”. Điều đó sẽ là niềm tự hào của riêng ông, nhưng dưới con người dân thì uy tín của ông là "dưới con số 0"!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

SỐNG Ở MỸ DỄ HAY KHÓ?



Phần 5: MUA XE HƠI
Một trong những khoản mua sắm đầu tiên khi đến Mỹ của mỗi gia đình đó là chiếc xe hơi. Nó đơn giản như chiếc xe máy ở VN, đó là “đôi chân” của mỗi nhà. Thậm chí cần thiết hơn thế, bởi ở Mỹ người ta giãn dân rất tốt, khu vực nào cũng có đầy đủ các thiết chế hạ tầng, nên dân không hề muốn ở mấy vùng đô thị tập trung, ồn ào, chật chội. Trung tâm nhiều thành phố lớn ở Mỹ, sau giờ làm việc, bạn có thể… trải chiếu ngủ giữa đường vì chúng vắng hoe. Chính vì giãn dân, nên đi làm, đi gặp bạn bè có thể phải chạy xe rất xa. Không có chiếc xe là… tuyệt vọng! Tuy nhiên, mục đích mua một chiếc xe của mỗi người mới nhập cư còn hơn thế. Bởi như mình đã nói ở phần đầu, mọi khoản chi dụng của người dân Mỹ đều gắn liền với tín dụng và dùng hàng trả góp. Muốn mua gì cũng phải có tín dụng, nhất là nhà cửa. Muốn xây dựng điểm tín dụng thời gian đầu, không gì tốt hơn mua một chiếc xe hơi mới trả góp- xin nhắc lại là mua mới trả góp, chớ mua trả một lần, coi như bạn bỏ qua cơ hội xây tín dụng. Hằng tháng, nếu bạn thanh toán cho ngân hàng đầy đủ, đúng hạn, điểm tín dụng của bạn sẽ được bồi đắp dần, cho đến khi đủ dùng nó để mua nhà. Tuy nhiên, muốn mua một chiếc xe hơi trả góp, bạn… phải có tín dụng, đó là điều cắc cớ, khó khăn với không ít người. Cách thường làm đó là nhờ một người thân, có điểm tín dụng tốt, chịu đứng tên chung với mình để mua chiếc xe ấy. Thực sự, việc nhờ vả này không hề dễ, nếu không phải là người thật thân. Vì chỉ cần bạn… lơ đãng quên trả, điểm tín dụng của họ cũng bị lôi tuột xuống theo, họ cũng phải tiết lộ thu nhập với ngân hàng, cùng nhiều hệ lụy khác. Mà người ở Mỹ lâu năm, mọi rắc rối kiểu này họ luôn có xu hướng… né xa. Thôi thì chỉ còn nước xoay sở đủ mọi cách để tìm một người có thể nhờ cậy chớ sao giờ! Nếu điểm tín dụng cũng như thu nhập của người chịu giúp đỡ càng cao, bạn càng ít phải trả khoản tiền ban đầu và lãi suất hằng tháng càng thấp. Thông thường, để mua một chiếc xe hạng bình dân như Toyota Camry, với giá khoảng 22- 27 ngàn đô, với người giúp đỡ có thu nhập, điểm tín dụng trung bình, bạn phải trả số tiền ban đầu chừng 5- 7 ngàn đô, sau đó góp trong khoảng 5- 6 năm, mỗi tháng trả chừng 300- 400 đô. Đây là số tiền có thể chịu được với đa số.
Bước kế theo, sau khi đã tìm được… nạn nhân chịu đứng mũi chịu sào, bạn bắt đầu… tung tăng ra Dealer (đại lý bán và bảo hành của các hãng xe). Hễ đi dọc các đường cao tốc, các xa lộ lớn, thấy một lá cờ Mỹ bự khổng lồ bay cuồn cuộn trên cao, hoặc ban đêm thấy đèn thắp sáng rực, đó thường là các Dealer. Mỗi Dealer chiếm một khoảng đất rộng bát ngát, với cả ngàn chiếc xe phơi nắng phơi mưa, nhưng được chùi rửa bóng lộn thường xuyên ngoài trời. Bước vô trong các phòng trưng bày của họ, nếu là một tín đồ xe hơi, bạn sẽ biến thành một… con cào cào, nhảy tanh tách, run bần bật. Nếu không phải là một tín đồ xe hơi, ít nhất bạn cũng phải điều nghiên cực kỳ kỹ lưỡng, rành rẽ, về mọi loại xe muốn mua. Mỗi loại xe còn phải biết về các dòng, các đời, các trang thiết bị (options) riêng. Giá từng loại, mức độ tiêu hao nhiên liệu… So sánh cùng các thứ ấy giữa các Dealer khác nhau… Thêm nữa là phải có một tâm lý vững vàng. Bởi các nhân viên bán hàng trong Dealer là những bậc… phù thủy về thuyết phục… dụ khị, “mua chuộc”, “gài độ”, với kinh nghiệm rành rẽ khách hàng từ từng ánh mắt, từng cử động. Mỗi bối rối, hớ hênh, thiếu rành rẽ của bạn có thể phải trả giá nhiều ngàn đô. Sau khi chọn xong xe, thống nhất giá cả, các options, bạn được nhân viên bán hàng chuyển qua bộ phận ngân hàng ngay trong Dealer để làm thủ tục mua xe trả góp. Ở đây, lại là một rừng kinh nghiệm khác, từ lãi suất, tín dụng, đến các gói bảo hiểm… mà mô tả sẽ rất dài dòng. Vì vậy, tốt hơn hết, để cất bước tiến ra một điểm mua xe hơi, rước… niềm mơ ước về nhà, bạn nên có một đôi nhân vật rành rẽ các khoản tháp tùng. Sau thủ tục này, bạn sẽ thấy chiếc xe được chùi rửa bóng lộn đứng lừng lững trước cửa Dealer, nó là của bạn. Và bạn có thể lái nó ngay lập tức về nhà, với một bảng số tạm. Sau khoảng một tháng, hãng xe sẽ gọi bạn lên nhận bảng số chính thức. Cả hai loại bảng số này đều có giá trị lưu thông như nhau, chớ không có kiểu giao xe xong rồi đeo cái bảng “Xe đi xét”, chạy khép nép cả tháng và cảnh sát có thể phạt bất cứ lúc nào.
Trong trường hợp không muốn mua xe hơi mới, bạn có thể chọn một chiếc xe cũ, loại mới lăn bánh khoảng vài chục ngàn miles, với giá thấp hơn hẳn. Bởi khi đã cầm chìa khóa xe ra khỏi một Dealer nào đó, giá xe của bạn đã rớt liền vài ngàn, đến cả chục ngàn đô, tùy loại. Dân Mỹ nhiều người chỉ khoái chơi xe mới, nên kinh tế càng phát triển, thị trường xe cũ lại càng dồi dào, nhiều lựa chọn, bởi dân có thu nhập họ đổi xe liên tục. Các bạn du học sinh, hoặc nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, hay đơn giản là chẳng cần phải chạy một chiếc xe nhiều tiền, bạn có thể kiếm một em cỡ như Toyota Corolla (ở VN mang tên khác là Altis), đời chừng 2012- 2014, giá tầm vài ngàn đô, vẫn chạy mút chỉ. Bạn có thể yên tâm khi mua mấy loại xe này, vì “lịch sử” mỗi chiếc xe đều được lưu lại rất rõ ràng. Nếu bạn bị va quẹt, tai nạn, muốn sửa chữa chiếc xe đều phải thông qua bảo hiểm. Và bên bảo hiểm sẽ lưu lại lần sửa chữa ấy. Nếu bạn bị tai nạn, hư hỏng, không khai qua bảo hiểm mà tự đem chiếc xe đi sửa chui, giá sẽ cao chất ngất, gấp nhiều lần việc thật thà khai báo. Nên thường người ta chọn cách khai báo thiệt cho đỡ hao.
Xe hơi ở Mỹ thì… khỏi nói. Bởi tất cả các hãng xe trên thế giới đều coi thị trường Mỹ là quan trọng số một. Mọi ưu tiên về trang thiết bị, độ an toàn, chất lượng xe… thị trường Mỹ luôn ở hàng cao nhất. Một chiếc xe nhập khẩu từ Mỹ là niềm mơ ước của giới chơi xe ở VN. Bởi cùng một hiệu xe, một dòng đời… thì bản lắp ráp nội địa VN luôn có chất lượng chỉ khoảng 2/3 xe Mỹ. Nhưng giá xe ở VN lại cao trung bình gấp 3 lần một chiếc xe cùng loại ở Mỹ, bởi đủ thứ chi phí gánh kèm. Thậm chí có những bản xe có giá cao gấp gần 4 lần khi nhập khẩu, lăn bánh tại VN, đó là các loại xe được dân VN “mê tín” như Toyota Camry. Ví dụ, hồi mình mua chiếc Toyota Camry XLE đời 2016, với giá 27 ngàn, bèn vô các trang bán hàng ở VN tìm thử thông tin. Một em xe hoàn toàn giống vậy, với các options y chang, được nhập khẩu bán tại VN với giá… 2,2 tỉ đồng. Vâng, một chiếc xe bình dân, về VN có giá bằng hai căn hộ chung cư 100 mét vuông ở Sài Gòn (thời điểm đầu 2016 khi mình mua xe)! Các loại xe hơi phổ biến, bán chạy top đầu ở VN như Innova, Vios, Fortuner, Kia Morning… hoàn toàn không có mặt ở Mỹ, vì… không đạt chuẩn lưu thông tại thị trường này.
Sau khi mua được chiếc xe, việc tiếp theo của người nhập cư là… đi kiếm việc làm, rồi mua nhà… Mình sẽ tiếp tục kể ở những phần sau.
- Ảnh: 1. Gia đình mình ngồi… ăn Popeyes, phía sau là một Dealer của hãng xe Chevrolet; 2. Giá xe (trên kính) trong một Dealer của hãng Toyota tháng 4.2016.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cụ Lê Đình Kình là “thế lực thù địch”?


Cụ Lê Đình Kình (áo thun trắng) chỉ cho khách ảnh chụp xương bị vỡ. Tác giả Nguyễn Đăng Quang (mặc áo đen, bên phải), ngồi cạnh là nhà văn Nguyên Bình.
.


Nguyễn Đăng Quang
11-7-2017 


Nhận lời mời của cụ Lê Đình Kình và gia đình, tôi cùng nhà văn Nguyên Bình, nhà báo Nguyễn Đình Ấm, doanh nhân CCB Phan Trọng Khang và nhà giáo Nguyễn Tiến Dân, là 5 trong trong số hàng triệu người quan tâm và theo dõi sự kiện Đồng Tâm sau biến cố hôm 15/4/2017, cuối tuần qua đã rủ nhau về thôn Hoành, xã Đồng Tâm, thăm sức khỏe và trò chuyện với cụ Lê Đình Kình và đại gia đình, cùng nhiều bà con, người dân ở đây.


Phải có người đỡ, cụ mới ngồi dậy được để tiếp chúng tôi. Từ sau hôm được xuất viện về nhà đến nay đã gần 3 tháng, cụ vẫn chưa thể tự ngồi dậy được. Cụ phải gánh chịu vết thương quá nặng, khó tránh khỏi thương tích suốt đời, vì xương đùi trái cụ bị gẫy thành 4 đoạn, xương hông bị vỡ, được Bệnh viện Việt Đức phẫu thuật, phải nẹp một thanh kim loại dài 27 cm dọc suốt đoạn xương đùi bị dập nát với tổng cộng 11 đinh vít cố định, cộng thêm 2 đinh vít nữa để cố định chỗ xương hông bị vỡ!

Cụ cố gắng tiếp chúng tôi trong tình trạng cơ thể đau và mệt mỏi, nhưng trí lực tỉnh táo và tinh thần minh mẫn. Được biết, ngay sau khi xuất viện về nhà, cụ đã lên tiếng tố cáo 4 sỹ quan LLVT (có họ tên, cấp bậc, chức vụ cụ thể) sáng hôm 15/4/2017, khi được cụ dẫn ra thực địa giáp ranh sân bay Miếu Môn để chỉ ranh giới đất tranh chấp, bất thần họ vây quanh rồi xông vào đạp và đá cụ gẫy xương, quẳng cụ lên xe “như quẳng một con vật”, sau đó còn dùng còng số 8 khóa quặt 2 tay rồi nhét giẻ vào mồm cụ, và cứ thế xe chạy 50km, đưa cụ về nơi tạm giữ để lấy lời cung.


Sau gần 3 ngày rưỡi bất tỉnh và đau đớn, họ mới đưa cụ vào bệnh viện để cấp cứu! Cụ cho biết mục đích chính của họ là “nhằm thủ tiêu để bịt đầu mối, không cho cụ lên tiếng phanh phui sự thật trong vụ cướp đất ở cánh Đồng Sênh.”!
 
Ông Nguyễn Đăng Quang (phải) và người nhà của cụ Kình. Nguồn: tác giả cung cấp.


Tôi hỏi cụ: “Thế từ sau hôm bác xuất viện về nhà đến nay, có ai trong số họ đến thăm bác không?”. Cụ buồn rầu đáp: “Nhiệm vụ thứ nhất được giao, họ đã hoàn thành, nhưng mới được một nửa! Tôi không rõ họ có được giao tiếp nhiệm vụ đến thăm tôi hay không, nhưng có lẽ họ không được giao đâu, cho dù lương tâm họ có muốn chăng nữa!”.

Cụ cho biết, cụ lên tiếng để công luận thấy rõ căn nguyên và bản chất sự việc, chứ cụ không tư thù cá nhân ai, cũng như đòi truy tố 4 kẻ thủ ác kia. Cụ hy vọng việc này sẽ do cơ quan pháp luật của thành phố thực hiện theo đúng nội dung mà Chủ tịch Tp. Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã cam kết với dân Đồng Tâm hôm 22/4/2017.


Về nguồn gốc, lai lịch 59ha đất nông nghiệp ở cánh Đồng Sênh và nội dung dự thảo kết luận của Thanh tra HN hôm 7/7/2017, cụ Kình nói: “Cho dù có bị chặt đầu, tôi vẫn khẳng định đây là đất nông nghiệp. Người dân thôn Hoành xã Đồng Tâm đã canh tác trên mảnh này trong gần 70 năm qua, từ thời Pháp thuộc. Nhưng Dự thảo kết luận của Thanh tra Hà Nội hôm 7/7/2017 lại nói trên cánh Đồng Sênh (Đồng Tâm) không có đất nông nghiệp, mà 59ha này là đất quốc phòng. Đây quả là một kết luận vô lý và phi lý, đổi trắng thay đen, phủ nhận thực tế lịch sử và không dựa trên cơ sở pháp lý! 59ha đất này chưa hề có quyết định thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng của bất kỳ cấp có thẩm quyền nào! Người dân thôn Hoành đã và sẽ luôn đồng thuận, quyết tiếp tục đấu tranh giữ đất. Nếu kết luận chính thức không thay đổi, dân ĐồngTâm sẽ kiến nghị Thanh tra Chính phủ vào cuộc, các bên cùng nhau đo đạc để có kết luận khách quan, đúng theo thực tế lịch sử!”.


Mặc dù đang trong thời gian dưỡng thương, cụ Kình vẫn khẳng khái nói, cho dù có bị chặt đầu ngay tức thì, cụ vẫn khẳng định đấy là đất nông nghiệp của địa phương, chứ không phải là đât quốc phòng như Dự thảo của Thanh tra Hà Nội kết luận hôm qua. Không ai có thể phủ nhận được thực tế và lịch sử.


Cụ Kình là công dân cao tuổi với 82 tuổi đời, đồng thời là một đảng viên lão thành với 55 năm tuổi đảng, được hầu như tuyệt đại đa số người dân Đồng Tâm yêu quý, kính trọng và tín nhiệm! Cụ đã từng có 3 nhiệm kỳ làm Bí thư Đảng ủy xã, 1 nhiệm kỳ làm Chủ tịch và 4 nhiệm kỳ làm Phó Chủ tịch xã, và 4 năm là Huyện ủy viên Huyện ủy Mỹ Đức. Tinh thần đấu tranh chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm trong lòng cụ luôn sục sôi, và được người dân xã Đồng Tâm đồng tình ủng hộ. ĐCSVN cần hãnh diện khi trong đội ngũ của mình có một đảng viên như vậy. Đây là một điều may mắn và, nói một cách mộc mạc dân dã, là ĐCSVN có phúc mới có được những đảng viên như vậy.


Ấy thế mà, không rõ vì căn nguyên và động cơ gì, Đảng bộ huyện Mỹ Đức cùng HĐND, UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Mỹ Đức lại căm ghét cụ, ra sức chống cụ, huy động toàn hệ thống chính trị của huyện “vào cuộc” để xuyên tạc, nói xấu, chống lại cụ và những cán bộ đảng viên đi đầu trong việc chống tiêu cực, tham nhũng tại địa phương. Họ vu cáo cụ và những người này là: “Gây phức tạp tình hình ANTT, cản trở hoạt động của chính quyền, kích động quần chúng nhân dân, tụ tập đông người, gây rối TTCC tại trụ sở các cơ quan Trung ương và Hà Nội, v.v và v.v…”.


Liên tục trong suốt 2 tháng rưỡi: tháng 2, Tháng 3 và nửa đầu tháng 4/2017, chính quyền huyện Mỹ Đức đã phát hành tờ rơi đến tận từng hộ gia đình ở xã Đồng Tâm để “tố cáo bộ mặt thật đối tượng Lê Đình Kình và đồng bọn”, thậm chí tờ rơi này còn được đọc 3 lần/ngày trên Đài truyền thanh của Huyện! Riêng Đài truyền thanh của xã Đồng Tâm thì cứ mỗi 2 tiếng lại nhai đi nhai lại nội dung tờ rơi xuyên tạc này. Đến nỗi người dân Đồng Tâm rất bực bội, cùng rủ nhau kéo đến trụ sở Ủy ban xã yêu cầu họ không được phát thanh tuyên truyền lung tung, phải theo đúng giờ giấc quy định. Chính quyền làm như vậy chẳng khác gì chính quyền là kẻ tuyên truyền bậy bạ, gây rối TTCC. Sau đó Ủy ban xã buộc phải xin lỗi và quay lại các bản tin như thường lệ.


Suốt trên 3 tiếng trò chuyện, tâm sự, kể cả trong bữa cơm thân mật mà gia đình khoản đãi, cụ Kình luôn thể hiện là một người mẫn tiệp, rất điềm đạm, dù trong lòng cụ vô cùng bức xúc. Tuy ở tuổi 82 và cơ thể cụ đang phải gánh chịu một vết thương rất nặng, nhưng tinh thần cụ không hề suy sụp, vẫn vững vàng và tin tưởng vào chính nghĩa, vào người dân! Cụ chỉ buồn là những kẻ thủ ác, cố tình gây thương tích suốt đời cho cụ và còn có ý định thủ tiêu cụ, không phải là kẻ thù giai cấp xa lạ ở đâu, mà chính lại là đồng đội, đồng chí của cụ, cùng đứng trong hàng ngũ ĐCSVN với cụ, mà tuổi đời của họ chỉ đáng tuổi con cháu cụ thôi.


Cụ nói riêng với tôi, đây chính là nỗi đau lớn nhất, khó có thể nguôi ngoai trong lòng cụ cũng như không thể phai mờ trong ký ức của các con, cháu và chắt cụ sau này.


Cụ Lê Đình Kình quả là một con người quý hiếm. Tuy đã cao tuổi, song cụ rất minh mẫn, có trí nhớ tuyệt vời. Cụ trình bày sự việc rất súc tích, mạch lạc và dễ hiểu. Không cần nhìn sách hay đọc tài liệu, cụ trích dẫn số liệu, tư liệu, ngày tháng, nội dung văn bản thật chính xác! Tôi không chỉ cảm nhận được cụ là người mẫn tiệp, thông tuệ, tư duy sắc xảo và trí tuệ trong sáng, mà tôi còn thấy cụ là người có tấm lòng vị tha, luôn vì công bằng và chính nghĩa, và trên hết cụ là người khẳng khái, luôn tôn thờ sự thật và tranh đấu cho công lý!


Dọc đường về, nhà văn Nguyên Bình ước ao: “Mong sao trong số 200 ủy viên của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa XII hiện nay có được vài ba người như cụ Lê Đình Kình thì nhân dân và đất nước Việt Nam ta được nhờ!”. Tôi mạn phép lấy câu nói trên của nhà văn Nguyên Bình làm lời kết cho bài viết này của tôi.


Xin chân thành cảm ơn cụ Lê Đình Kình và đại gia đình đã mở lòng dành cho anh em chúng tôi một sự đón tiếp thân tình, cởi mở và tin cậy.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những "cơn bão” điểm cao và chuyện lạm phát thiên tài


>> Người phán xử
>> Lãnh đạo PVN: "Phá sản Nhà máy đóng tàu Dung Quất là phương án tốt nhất"
>> Điều tra bổ sung nhiều đại án vì lấn cấn tội danh tham ô


Phạm Trung Tuyến


























VNN - Cô bạn tôi có con học tiểu học ở một ngôi trường nổi tiếng với cánh cổng từng bị phụ huynh xô đổ. Kết thúc năm cuối cấp, điểm tổng kết của con là 8,5, không đủ để tiếp tục học THCS của ngôi trường này.

Cô bạn tôi không phàn nàn gì về việc con mình bị rớt lại phía sau những đứa trẻ có điểm số cao hơn. Đứa bé được 8,5 điểm. Đó là điểm số đủ để xếp loại học sinh giỏi. Song, giỏi là chưa đủ cho đứa bé tiếp tục tồn tại trong môi trường quen thuộc của nó. Để không rơi vào mặc cảm của một kẻ thua cuộc, nó cần phải đạt những điểm số tuyệt đối.

Đạt điểm số tuyệt đối khó hay dễ? Sẽ là rất khó cho những đứa trẻ như đứa bé 8,5 điểm kia, những đứa bé đến lớp, cố gắng tiếp thu bài giảng nhưng vẫn hồn nhiên sống như một đứa trẻ, có những niềm vui của tuổi thơ. Nhưng chắc chắn có một yếu tố nào đó khiến việc đạt điểm số tuyệt đối không hề khó khăn. Bởi hồi cuối năm học 2016, trường Lương Thế Vinh (HN) có 4000 hồ sơ tuyển sinh vào lớp 6, trong đó có ¼ hồ sơ đạt điểm tuyệt đối cả hai môn Toán, và Tiếng Việt trong suốt 5 năm tiểu học.

Câu chuyện điểm cao không chỉ phổ biến ở học bạ của học sinh tiểu học. Việc có quá nhiều điểm số tuyệt đối có thể đáng mừng vì số lượng học sinh xuất chúng cho thấy chất lượng giáo dục đã có những bước tiến vượt bậc, cũng có thể đáng lo vì nó phản ánh chương trình học phổ thông đang được xây dựng phải chăng quá thấp so với khả năng của học trò?

Nhưng rất có thể, những điểm số tuyệt đối đó chẳng có ý nghĩa gì vì chỉ đơn giản là sự lạm phát. Tuy nhiên, cho dù số lượng điểm cao phản ánh bất cứ khía cạnh nào thì việc có quá nhiều điểm cao cũng tạo nên một thứ ảo giác có hại cho chính những đứa trẻ, và phụ huynh của chúng.

Với kết quả học tập không tỳ vết, với những điểm số tuyệt đối, một thế hệ con trẻ đang bị cuốn vào một cuộc đua vô tiền khoáng hậu mà chỉ điểm số là quan trọng, mọi thứ kỹ năng sống khác, có hay không không còn quan trọng nữa.

Với sự phổ cập điểm cao trên diện rộng, bất cứ sơ sảy nào của đứa trẻ cũng sẽ trở thành bi kịch khi nó bị tụt lại trong một cộng đồng tuyệt đối hoàn hảo.

Và cuối cùng, khi mà chưa lạm phát điểm cao thì đất nước này cũng đã lạm phát tiến sĩ rồi. Giờ đây, với một thế hệ người Việt dễ dàng đạt điểm số tuyệt đối mỗi kỳ thi, chúng ta sẽ có một đất nước lạm phát thiên tài. Làm người bình thường sẽ vô cùng khó khăn!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGẠC NHIÊN



Dân đen
Hôm qua đọc Vietnam net thấy bác Vũ Khoan , nguyên phó thủ tướng cổ vũ nhiệt tình cho quân đội làm kinh tế mình hơi ngạc nhiên.
Đành rằng có những thứ đặc thù như chế tạo buôn bán vũ khí thì không thể là dân sự. Nhưng còn những thứ như sân gôn ở sân bay là đặc thù thù ư, rồi viễn thông như Việt teo đặc thù ư? Doanh nghiệp ngoài quân đội thừa sức làm. Hãy nhìn cha con ông Phùng Quang Thanh, ông con giai làm kinh tế thế nào. Những cái người dân thấy và kêu ca có nhẽ chỉ khoác áo quân đội cho lợi ích của một số người, chứ quân đội nào được hưởng? Rồi lấy nê đất quốc phòng xảy ra tranh chấp với dân như chuyện ở Đồng Tâm thì quân đội còn mặt mũi nào đẻ hãnh diện “ Từ nhân dân mà ra/ vì nhân dân mà chiến đấu? Thực tế là mất nhiều hơn được. Cái áo giáp ‘ quốc phòng’ khi bị làm dụng thì ai dám chọc thủng? Chẵng nhẽ những chuyện đó bác Khoan không biết?
Trong nghề vẽ chúng tôi thường đùa nhau, nó thích khen thì khen cho nó chết. Phải chăng sự ủng hộ này là ủng hộ cho nó tối mắt mở mang kinh doanh cho nhanh chết?
Người Tàu đủ hiểu biết tai họa của quân đội làm kinh tế họ đã dẹp bỏ hoàn toàn mà sao ta không thấy còn dấn thân theo.
Bác Vũ Khoan là người thông thái có tầm nhìn, nay nghe bác nói mình thấy lạ quá, chả nhẽ bác lại lẫn sớm thế sao?8/7/2017

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Indios do brasil seus costumes tradições ,Danças rituais para um bom cas...( Thổ dân vui vẻ )

Phần nhận xét hiển thị trên trang