Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

MÁY PHÁT ĐIỆN CHẠY BẰNG NƯỚC LÃ: THẬT HAY BỊP?



   Các dạng năng lượng có thể chuyển đổi nhau: Thủy điện, điện sinh ra từ cơ năng chảy của dòng nước; Nhiệt điện, điện sinh ra do nguồn nhiệt từ đốt cháy hóa thạch (than, dầu…)…
   Gần đây, đọc sáng chế của TS Nguyễn Chánh Khê: “Máy phát điện chạy bằng nước”, thấy rất “mù mờ”  vì 2 lẽ:
    1/. Nhiên liệu để cái máy này chạy là nước lã? 
    1/. Có trò “ma thuật” đánh lận định nghĩa gì ở đây không
Trong khi người tiêu dùng đang “choáng” vì giá nhiên liệu: gas, xăng dầu, điện…tăng nhanh, phát minh này, nếu “không bịp”  thật sự không thua gì lý thuyết hạt nhân của nhà bác học A. Einstein. Rồi đây các nước OPEC sẽ chết vì cứ ra múc nước đổ vào xe “điện” là chạy êm ru: khỏi tốn tiền mua xăng và cũng rất “xanh, sạch” cho môi trường sống.
 Xin cám ơn, hoan hô TS Khê ! Ngược lại, nếu bịp ông sẽ bị “chửi” đấy!
Trần Bá Thoại
      Ghi lại một số ý kiến của các khoa học đăng trên báo chí:
 * TS Huỳnh Quyền (giám đốc Trung tâm Nghiên cứu công nghệ lọc hóa dầu Trường ĐH Bách khoa, ĐHQG TP.HCM) :

Công trình máy phát điện chạy bằng nước của TS Nguyễn Chánh Khê có thể dựa trên nguyên lý phản ứng phân hủy nước tạo hydro, sau đó dùng hydro chạy pin nhiêu liệu.
Như chúng ta đã biết, điều kiện để xảy ra phản ứng phân hủy nước là phải có năng lượng lớn (135kcal/mol) để phá hủy liên kết hydro và oxy trong phân tử nước, vì phân tử nước bền và đây là phản ứng thu nhiệt nên không thể sinh ra lượng nhiệt lớn để có thể xem như phản ứng “nội sinh” mà tác giả máy phát điện chạy bằng nước đề cập đến.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, có một số loại xúc tác có thể giảm bớt năng lượng cho phản ứng phân hủy nước để tạo thành hydro. Tuy nhiên, phản ứng phân hủy nước để tạo thành hydro luôn cần phải có năng lượng.
Một điều lưu ý khi đề cập đến từ ngữ “xúc tác” và vật liệu nano, tác giả cần phải phân biệt rõ ràng về “xúc tác và vật liệu nano”. Thực chất đa số xúc tác rắn đều có thể là vật liệu nano, nhưng vật liệu nano chưa phải là xúc tác.
Khái niệm về xúc tác chúng ta có thể hiểu đó là chất tham gia vào phản ứng và sau khi phản ứng hoàn thành, bản thân chất xúc tác sẽ trở về trạng thái ban đầu. Nếu một chất đưa vào mà sau khi phản ứng không ra thành chất ban đầu mà thành sản phẩm khác để mang về tái chế thì nó gọi là chất tham gia phản ứng chứ không thể xem là xúc tác được. Do vậy, trong nghiên cứu của TS Khê, nếu tác giả sử dụng “xúc tác” thì không thể dùng từ nano lẫn lộn với xúc tác được, bên cạnh đó vấn đề đặt ra ở đây là sự cân bằng năng lượng, hay nói cách khác hơn là hiệu quả thu hồi năng lượng, từ hydro sinh ra so với năng lượng cung cấp cho phản ứng sinh hydro có hiệu quả hay không.
Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phản ứng phân hủy nước để tạo thành hydro đơn thuần (không phải phương pháp điện phân) cho thấy phản ứng phân hủy nước để tạo hydro là khó khăn khi đưa vào sử dụng vì quá trình tiêu thụ năng lượng quá lớn, không hiệu quả. Hiện nay, tôi vẫn chưa đọc được công bố nào hoặc chưa tận mắt thấy được kết quả nghiên cứu của TS Khê, nhưng tôi nghĩ nguyên lý thực hiện nghiên cứu tạo hydro của TS Khê không mới nhưng cái mới có thể nằm trong việc tìm ra xúc tác mới.
Tuy nhiên, vấn đề này cần phải làm rõ ràng hơn trên cơ sở khoa học, tránh hiểu nhầm trong sự công bố kết quả. “Động cơ vĩnh cửu” đã được chứng minh không thể tồn tại bởi các kết quả nghiên cứu khoa học thông qua định luật bảo toàn về năng lượng. Theo tôi, TS Khê nên có những công bố bằng các bài báo khoa học hoặc báo cáo tại các hội thảo để có thể sáng tỏ hơn về kết quả nghiên cứu của mình, sự góp ý của các nhà khoa học có thể làm kết quả nghiên cứu của ông hoàn thiện hơn.
Bên cạnh đó, cần tránh hiện tượng quá cường điệu về kết quả nghiên cứu khoa học vì sẽ làm giảm niềm tin của mọi người đến các nhà khoa học, đặc biệt tại VN và sẽ đi ngược lại với chủ trương, mục tiêu nghiên cứu khoa học để phục vụ cuộc sống.
Còn đối với vấn đề bí mật công nghệ, tôi nghĩ quá dễ dàng đối với các nhà khoa học trong các báo cáo tại các hội thảo. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu, trong trường hợp tác giả muốn, sẽ được bảo đảm bằng đăng ký bản quyền sáng chế mà hiện nay VN chúng ta đang thực hiện. Ngay cả công trình đoạt giải Nobel quốc tế cũng trải qua các hội thảo công bố trước khi được công nhận. Nếu nghiên cứu khoa học mà không dám công bố một cách có khoa học thì chúng ta cần suy nghĩ lại. 
TS Nguyễn Hữu Lương (phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chế biến dầu khí, Viện Dầu khí VN):Nước không thể tự phản ứng với xúc tácTrên cơ sở khoa học, việc tách hydro từ nước để tạo ra năng lượng hoàn toàn thực hiện được nhưng chi phí rất đắt. Nước có thể phân tách ra thành hydro và oxy bằng nhiều phương pháp như điện năng, nhiệt năng, quang năng và sử dụng xúc tác. Nếu chỉ có nước và xúc tác thôi sẽ không có tác dụng.Về cơ bản khi một phản ứng xảy ra với tốc độ rất chậm thì người ta cho xúc tác vào để thúc đẩy phản ứng nhanh hơn. Nước rất bền vững và không phân ly ở điều kiện bình thường, nên trong điều kiện thường có cho xúc tác gì vào thì nước cũng không thể phân ly. Nếu có thể tách hydro từ nước mà không cần năng lượng tham gia phản ứng thì ở góc độ khoa học hơi vô lý. Mặt khác, về nguyên tắc xúc tác là chất không tiêu tốn đi và trở lại ban đầu sau phản ứng nên phải xem chất TS Khê bỏ vào nước là chất gì, đóng vai trò thế nào trong phản ứng. Nếu nói phản ứng nội sinh của nước tương tự phản ứng nhiệt hạch thì cũng vẫn phải có năng lượng khơi mào cho phản ứng.Pin nhiên liệu là một hệ thống tạo điện bằng cách biến năng lượng hóa học thành điện năng do phản ứng đốt cháy một chất nào đó với oxy. Về nguyên tắc đã có pin nhiên liệu thì đổ methanol (hợp chất giống nước) vào sẽ tạo ra năng lượng và pin hoạt động, vì bản thân pin nhiên liệu đã được phủ sẵn một lớp xúc tác trên màng nano của pin. Mặt khác, có thể cho natri vào nước sẽ tạo ra hydro rất mãnh liệt và có thể ra nhiên liệu. Tuy nhiên, khi pha natri vào nước sẽ thấy nước sủi bọt. Bất kỳ nước nào như nước biển, nước bẩn khi cho natri vào cũng sẽ ra hydro, nhưng nước này sẽ làm hỏng màng nano của pin và pin không hoạt động được. Đây là những kiến thức khoa học cơ bản.
 HỒNG NHUNG ghi
TP – Sáng chế máy phát điện chạy bằng nước lã của TS Nguyễn Chánh Khê (công bố ngày 14-1 tại Khu Công nghệ cao TPHCM) bị một nhà khoa học phủ nhận tính xác thực.
Trước thềm hội thảo ngày 9-3 về sáng chế này, Tiền Phong có cuộc trao đổi với TS Giáp Văn Dương, Đại học Quốc gia Singapore.
 Sản xuất điện từ nước lã gặp những rào cản gì?
Muốn sản xuất điện từ nước, việc đầu tiên là phải phân hủy nước để thu được khí hydro. Khi đã có hydro rồi, cho qua pin nhiên liệu thì sẽ thu được điện. Công nghệ pin nhiên liệu hydro đã được thương mại hóa. Vì thế, rào cản chính nằm ở việc phân hủy nước.
Rào cản thứ nhất là rào cản nhiệt động học. Phản ứng phân hủy nước không thể tự xảy ra. Nếu nó tự xảy ra được thì nước trong các ao hồ, đại dương đã bị phân hủy hết từ lâu, sự sống cũng không tồn tại.
Phân tử nước, được tạo bởi hai nguyên tử hydro và một nguyên tử oxy, ở trạng thái bền hơn trạng thái hai nguyên tử hydro và một nguyên tử oxy ở riêng biệt. Ai cũng biết, tự nhiên sẽ tự diễn biến theo xu hướng nào có độ bền vững cao nhất.
Có nghĩa là, trong điều kiện bình thường, khi các nguyên tử hydro và oxy gặp nhau, chúng sẽ kết hợp với nhau để tạo ra nước chứ không có chiều ngược lại mà không có tác động nào từ bên ngoài. Đó là nguyên lý không thể vi phạm.
Để nước phân hủy thành hydro và oxy, do đó, có khả năng tạo ra điện nhờ việc oxy hóa hydro, không còn cách nào khác là phải cưỡng chế nó. Phải cung cấp một năng lượng bên ngoài để buộc cho phản ứng phân hủy nước xảy ra.
Giống như muốn cho nước chảy ngược lên chỗ cao, không còn cách nào khác là phải bơm nó lên, tức phải tốn một năng lượng để đưa nước từ nơi thấp chảy ngược lên chỗ cao. Như vậy, muốn một quá trình từ chỗ không thể tự xảy ra được, trở thành có thể xảy ra, phải cung cấp một năng lượng bên ngoài đủ lớn. Đó cũng là nguyên lý, không thể tránh được.
Với phản ứng phân hủy nước, nguồn năng lượng bên ngoài có thể là điện năng, nhiệt năng, quang năng. Nếu dùng điện năng thì đó là quá trình điện phân. Nếu dùng nhiệt năng thì đó là quá trình phân hủy nhiệt, thường xảy ra ở nhiệt độ rất cao. Nhưng cả hai quá trình này đều không kinh tế.
Dùng điện để phân hủy nước, rồi lại tạo ra điện thì nhất định có thất thoát hao hụt. Còn dùng nhiệt thì phải đốt lên ở nhiệt độ rất cao, sự thất thoát còn lớn hơn nữa. Do đó, kinh tế nhất là dùng quang năng, tức năng lượng của ánh sáng mặt trời.
Đến đây thì gặp rào cản thứ hai. Đó là rào cản về vật liệu xúc tác. Hiện giờ chưa ai tìm được chất xúc tác nào đủ tốt để có thể phân hủy nước với hiệu suất đủ cao, có thể cạnh tranh được với các quá trình sản xuất điện đã được thương mại hóa.
Công trình của TS Khê đã vượt qua được rào cản nào?
Tôi e là không vượt qua được rào cản nào. Rào cản thứ nhất, nhiệt động hóa học, không thể vượt qua như phân tích ở trên. Còn rào cản thứ hai, vật liệu xúc tác, rất khó. Đến nay vẫn chưa có nhóm nghiên cứu nào trên thế giới vượt qua rào cản thứ hai một cách hiệu quả.
Vì sao ông nhận định như vậy?
Sự sắp đặt hệ thống thực nghiệm của TS Khê cho thấy ông không có ý định vượt qua các rào cản ấy. Chẳng hạn, để thu thập quang năng, bình phản ứng ít nhất phải trong suốt để cho ánh sáng truyền qua được hiệu quả.
Nhưng TS Khê lại dùng bình nhựa màu xanh và không trong suốt. Điều này cho thấy ông không có ý định thu thập năng lượng ánh sáng để tiến hành phản ứng quang hóa phân hủy nước.
Nhưng rõ ràng TS Khê cùng cộng sự đã trình diễn một mô hình trước mặt nhiều nhà khoa học danh tiếng và kết quả đúng là điện đã được phát ra từ nước lã?
Tôi không nghĩ TS Khê đã trình diễn mô hình máy phát điện chạy nước trước mặt các nhà khoa học, mà chỉ trước mặt các phóng viên. Vì sao trong các bài báo đưa tin, hóa chất được sử dụng khi thì là chất phụ gia, khi lại là xúc tác nano, khi lại là chất khử nano? Nhìn bề ngoài thì đó chỉ là sự nhầm lẫn về ngôn ngữ nhưng bản chất khoa học lại khác nhau một trời một vực.
Nếu đó là chất xúc tác thì nhiên liệu là nước. Còn nếu là chất khử thì nhiên liệu chính là chất khử đó vì nó là chất tham gia, bị tiêu tốn trong phản ứng tạo hydro.
Trong thuyết trình của mình, TS Khê đã gọi hóa chất đó là “chất khử nano”. Vậy thì nhiên liệu phải là chính chất khử đó, chứ không phải là nước. Giống như với động cơ xăng, nhiên liệu phải là xăng chứ không phải là không khí, dù không khí cần dùng để đốt xăng.
Tôi tin lập luận của mình đúng vì tôi tin vào các định luật đã được kiểm chứng của khoa học. Không dùng bất cứ nguồn năng lượng nào để biến một quá trình không tự xảy ra thành có thể xảy ra được là vi phạm Nguyên lý II của Nhiệt Động học. Còn dùng nước để sinh năng lượng, rồi lại tạo ra nước để có thể quay vòng mãi là vi phạm Định luật Bảo toàn Năng lượng.
Ông có tin, một ngày kia, nhân loại có thể sản xuất điện từ nước lã?
Thực tế thì nhân loại đã sản xuất được điện từ nước rồi, thông qua việc sử dụng xúc tác quang để thu thập năng lượng ánh sáng mặt trời để phân hủy nước thành hydro và oxy.
Vấn đề là hiệu suất còn quá nhỏ và giá thành quá đắt để có thể cạnh tranh với các quá trình hiện có. Tôi tin một ngày nào đó, hiệu suất này sẽ được nâng lên đáng kể. Nhiều nhà khoa học khác cũng tin như thế.
Việt Nam đã tham gia cuộc đua này rồi. Theo tôi được biết, đã có một vài nhóm đang làm nghiên cứu về đề tài này từ vài năm nay. Tuy nhiên, đến nay chưa có kết quả nào đáng kể.
Cám ơn ông.
Quốc Dũng (thực hiện)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HÍ HỌA: BỤT GIẢI CỨU DƯA HẤU



Ngày xưa, ông bụt gọi bầy chim tới nhặt thóc, để Tấm kịp giờ đi chơi.

 

 
 
Ngày nay, ông Bụt giúp anh nông dân bán dưa hấu bị ế ngoài đồng…
 
Anh nông dân trồng dưa được mùa mà không ai mua, ngồi khóc hu hu.
 
Bụt lại hiện lên…
 
Bụt gọi các đội nhóm tình nguyện đánh xe thu mua dưa ra thủ đô, bán ủng hộ cứu trợ cho anh nông dân.
 Đến mùa thu hoạch, người mua lại vắng bóng và dưa phải đem làm thức ăn cho bò.
 
Anh nông dân lại ngồi khóc và cầu khấn Bụt. Nhưng lần này Bụt gãi đầu, gãi tai…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GDP vẫn phải “cậy nhờ” giá dầu


Đề xuất “múc” thêm 1 triệu tấn dầu lên bán để “cứu vãn” GDP chứng tỏ nền kinh tế vẫn chưa thay đổi về chất. Tăng trưởng GDP quý I/2017 chỉ đạt 5,1%, thấp nhất trong 3 năm trở lại đây. Một trong những nguyên nhân được nêu ra là do sụt giảm của ngành khai khoáng. Trước bối cảnh này, đại diện Chính phủ cho biết nhiều khả năng năm nay có thể tăng khai thác 1 triệu tấn dầu nữa.
Công nhân làm việc trên mỏ Thỏ Trắng
ngoài khơi biển Vũng Tàu - Ảnh: BÍCH NGỌC
Trái với kỳ vọng
TS Cấn Văn Lực cho rằng tuy công nghiệp khai khoáng quý I vừa qua giảm mạnh nhưng đó là do chủ định của chúng ta. 
Cụ thể, Chính phủ đặt kế hoạch khai thác 12,28 triệu tấn dầu trong năm nay, giảm 3,1 triệu tấn so với năm 2016. Riêng quý I/2017, sản lượng dầu khai thác giảm 600.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Chưa kể, nhiều lý do có thể tác động đến GDP như giải ngân đầu tư công quá chậm, chỉ đạt 12,4% kế hoạch; bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ tăng 6,2% - thấp hơn mức 7% của năm ngoái.

Theo TS Đặng Đức Anh, Trưởng Ban Phân tích và Dự báo Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF - Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong quý II/2017, nếu như niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (DN) tiếp tục ổn định, bất chấp những suy giảm và khó khăn trong quý I vừa qua và mức sụt giảm công nghiệp khai khoáng thấp hơn thì GDP có thể tăng khoảng 5,6%. Trong đó, công nghiệp có mức tăng mạnh nhất, đạt 6,3%; nông nghiệp và dịch vụ chuyển biến tích cực với mức tăng lần lượt là 2,3% và 6,8%.

Điều đáng lưu ý, dự báo kịch bản tăng trưởng như trên cho quý thứ 2 trong năm chỉ có thể thành sự thật khi công nghiệp khai khoáng không sụt giảm mạnh như quý I vừa qua. “Nền kinh tế về chất chưa thay đổi nhiều nên chưa bù đắp được bao nhiêu. Năm 2015-2016, chúng ta vẫn phải khai thác thêm dầu thô để duy trì tăng trưởng. Cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào DN nhà nước, mà DN nhà nước thì ì ạch, còn DN tư nhân lại nhỏ. Các dấu hiệu của quý I/2017 cho thấy tình hình càng trở nên sâu sắc, quá trình tái cơ cấu kinh tế từ năm 2013 chuyển biến mới chủ yếu là chiều rộng” - TS Đặng Đức Anh phân tích.

Như vậy, dù luôn đặt mục tiêu giảm khai khoáng để hướng tới nền kinh tế “chất lượng” hơn nhưng thực tế, chỉ cần giảm khai khoáng là tăng trưởng GDP sẽ giảm ngay. Bởi theo tính toán từ cơ quan chuyên ngành, nếu như khai thác dầubằng năm ngoái thì tăng trưởng của 3 tháng đầu năm nay sẽ là 5,95%, cao hơn cùng kỳ. Do đó, không thể chối cãi việc giảm “múc” dầu là nguyên nhân trực diện ảnh hưởng tới tăng trưởng và nền kinh tế vẫn phải dựa vào khai thác dầu thô để mang đi bán, trái với kỳ vọng của chúng ta.

Có dấu hiệu “tăng trưởng ảo”

Ở khía cạnh khác, TS Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng tuy giá dầu ảnh hưởng tới tăng trưởng, thu ngân sách và lạm phát của Việt Nam nhưng không đáng lo lắng bằng việc nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước. Điều này cho thấy nền kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công.

“Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương có khả năng sẽ sụp đổ nhưng Việt Nam nên tiến hành đàm phán với Mỹ bằng một hiệp định thương mại tự do khác để được hưởng chế độ bảo hộ toàn diện, từ công nghiệp hỗ trợ cho tới DN. Có thế, chúng ta mới lột xác khỏi “kiếp” gia công” - ông Sang nhìn nhận.

Theo chuyên gia kinh tế - TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, tăng trưởng GDP quý I/2017 thấp nhất trong 3 năm trở lại đây trong khi lạm phát có khả năng tăng trở lại chứng tỏ có dấu hiệu của “tăng trưởng ảo”. “Thời gian qua, mối quan hệ này rất tốt, tức là lạm phát thấp nên tăng trưởng thấp nhưng từ quý I năm nay, lạm phát tăng cao ngoài dự báo mà tăng trưởng lại chùng xuống. Nếu cứ để tình trạng này xảy ra trong cả năm thì có nguy cơ vòng xoáy khủng hoảng kinh tế những năm 2010-2012 sẽ trở lại, phải mất 5-7 năm sau mới tạo được bức tranh kinh tế như vừa qua” - TS Hồ cảnh báo.

Một mối lo ngại khác về nền kinh tế Việt Nam được TS Cấn Văn Lực chỉ ra là số lượng DN tăng nhưng GDP lại giảm. “Phải chăng con số tăng DN là ảo? Quý I cũng chứng kiến số lượng DN giải thể không hề nhỏ. Phải chăng cạnh tranh, năng lực quản trị kém hay do sức ép hành chính giết chết DN?” - ông Lực đặt câu hỏi.

Vị chuyên gia ngân hàng này cũng lưu ý tăng trưởng dự đoán cao nhưng các nút thắt còn nhiều, ví dụ: chất lượng tăng trưởng đa số thiên về lượng; trụ cột cho nền kinh tế là tái cơ cấu chưa đạt thành tựu khi không có DN lớn nào được cổ phần hóa trong quý I vừa qua...

Sẽ tăng khai thác khi giá dầu hồi phục

Theo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), kế hoạch sản lượng khai thác dầu thô năm 2017 của PVN được trình Chính phủ từ tháng 8-2016 và đã được các bộ, ngành tổng hợp để đưa vào tính toán khi xây dựng chỉ số tăng trưởng GDP.

Thực tế, trong quý I/2017, PVN đã khai thác vượt mức 5,5% so với kế hoạch đề ra. Tập đoàn cũng đã nộp ngân sách nhà nước 20.800 tỉ đồng, vượt 12,2% so với kế hoạch. Những yếu tố này cũng có phần tác động tích cực đến GDP và chỉ số sản xuất công nghiệp cả nước.

PVN cho biết giá dầu đang ở mức thấp nên tập đoàn sẽ tập trung phát triển các mỏ tiềm năng để chuẩn bị sản lượng khi giá cao trở lại.

Thùy Dương

http://nld.com.vn/kinh-te/gdp-van-phai-cay-nho-gia-dau-20170409211947677.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dân chủ hóa Việt Nam: Một cách nhìn không định kiến


Tác giả: Lê Vĩnh Triển
Môi trường chính trị Việt Nam tương đối khó nắm bắt. Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCS) nắm quyền kiểm soát chính trị một cách tuyệt đối như đã nêu trong hiến pháp của nước này. Điều đó thường dẫn đến việc đàn áp những người hoạt động chính trị và bất đồng chính kiến. Thành phần chính trị này có khuynh hướng chung là chống đảng cộng sản, họ tuy có thể khác nhau về cách thức hoạt động cũng như mục tiêu, nhưng thường chia sẻ quan điểm chung là ĐCS không hiệu quả trong việc quản lý kinh tế đất nước cũng như trong việc đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông. Hầu hết những người này tin rằng ĐCS nên nhường bước và thậm chí cần được loại bỏ trong tương lai dân chủ của đất nước.
Tuy nhiên, cả phía “đối lập” lẫn ĐCS đều đánh giá sai lẫn nhau ở khía cạnh trấn áp và khả năng dân chủ hóa. Sự đánh giá sai này làm cản trở tiềm năng dân chủ của Việt Nam. Tác giả bài viết đưa ra một số ý kiến nhằm thuyết phục cả hai phía rằng một mô hình dân chủ mà trong đó ĐCS nắm vai trò chủ đạo là khả thi.
Sự thật là ĐCS duy trì một bộ máy an ninh lớn, hiệu quả trong việc trấn áp đối kháng. Tuy nhiên, có thể nói sự trấn áp là tương đối mềm. Trong nhiều trường hợp, khi xử lý những nhà hoạt động và đối lập chính trị, chính quyền cộng sản đã tỏ ra tương đối nhân nhượng.
Mức độ trấn áp, vốn được mô tả một cách không thống nhất trong các nghiên cứu về Việt Nam, cho thấy sự lưỡng nan của ĐCS. Một số lãnh đạo thủ cựu cứng rắn với đối lập chính trị trong khi số khác có thể nhân nhượng hơn vì thừa nhận lý lẽ đằng sau những chỉ trích của phía đối lập. Kết quả là những quan điểm khác biệt này dẫn đến những chính sách trấn áp không nhất quán. Ngoài ra, nỗi sợ về một sự trả thù trong tương lai đối với việc đàn áp tàn nhẫn cùng với việc nhận ra ít nhiều giá trị của các chỉ trích đã có tác động hai mặt đối với ĐCS. Chính quyền vừa đầu tư nhiều hơn cho hệ thống trấn áp vừa lưỡng lự trong việc thể hiện chuyên chế.
Còn về phía đối lập, các nạn nhân của việc đối kháng với ĐCS không cho rằng chính quyền có sự nhượng bộ. Thay vào đó, họ liên tục kêu gọi sự quan tâm đến sự đàn áp mạnh tay của chính quyền cộng sản. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu chỉ trích sự khắc nghiệt của sự đàn áp của ĐCS mà không so sánh nó với các chính quyền cộng sản hay chuyên chế khác. Kết quả là, phía chỉ trích càng tin rằng những người cộng sản không nên có mặt trong hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam trong tương lai. Hơn nữa, phía đối lập còn nhấn mạnh sự thất bại của ĐCS khi xử lý tham nhũng như một lý do cho việc ĐCS không thể can dự vào một hệ thống bầu cử dân chủ.
Như vậy, hai vấn đề của một cái vòng luẩn quẩn có thể nhận ra: Sự lưỡng nan của ĐCS (trong việc ra tay đàn áp) xuất phát từ nỗi lo sợ bị lật đổ và trả thù, và sự nhấn mạnh (thái quá) của phía đối lập vào sự đàn áp của đảng. Nếu hai điểm này được hóa giải, việc hiểu sai về nhau của cả hai bên sẽ giảm bớt.
Khi so sánh với Trung Quốc (dưới sự cai trị của cả Mao lẫn Tưởng) và Bắc Hàn, nhà nước cộng sản Việt Nam được cho là yếu hơn và kém ổn định hơn, bởi vì Việt Nam đeo đuổi một cách thức chung sống mà trong đó giới tinh hoa (lãnh đạo) được cho là ít nhiều thỏa hiệp với nhau, trong khi các lãnh đạo ở Trung Quốc và ở Bắc Hàn cạnh tranh một mất một còn với nhau. Nếu so sánh, sẽ thấy ngay từ lúc thành lập, nhà nước cộng sản ở Việt Nam tương đối mong manh hơn xét ở khía cạnh thiếu nhất quán về ý thức hệ và không chặt chẽ trong tổ chức hệ thống chính trị.
Trong quá trình cải cách kinh tế, các nhà nghiên cứu đã cho thấy những khác biệt quan trọng của quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam và Trung Quốc. Mặt dù hai quốc gia đều cải cách kinh tế mà không thay đổi chính trị, sự nhượng bộ của giới lãnh đạo Việt Nam dẫn đến một hệ thống ít tập trung quyền lực về trung ương hơn, “phá rào” trong kinh tế và cởi mở hơn trong chính trị. Hiện tượng thỏa hiệp này ít thấy ở Trung Quốc.
Đó có thể là một đặc điểm của văn hóa Việt hay không? Tính cách thiếu quả quyết, dễ nhân nhượng và có khuynh hướng thỏa hiệp có thể đã được củng cố kể từ sau chiến tranh Việt Nam khi mà người dân từ hai phía (bắc và nam) đã từng là đồng hương ở các tỉnh, làng quê, hay thậm chí là người cùng gia đình. Rõ ràng, sự tàn bạo trong chính sách đàn áp cần được lưu ý và lên án là kém văn minh. Tuy nhiên, nếu đánh giá lý thuyết cộng sản ở khía cạnh triệt tiêu tàn bạo các quan điểm chính trị khác, thì chính sách đàn áp được thực thi ở Việt Nam từ sau thống nhất có thể được xem là mang tính nhân nhượng hơn so với Trung Quốc và Bắc Hàn.
Mặc dù Việt Nam là một nhà nước cộng sản, Việt Nam thiếu một sức mạnh chuyên chế và sự nhất quán ý thức hệ đủ tàn bạo để trấn áp hoàn toàn đối lập. Tóm lại, thế lưỡng nan (hay lưỡng lự) của nhà nước cộng sản Việt Nam trong việc đàn áp có thể có nguồn gốc từ quá trình phát triển riêng của mình, được củng cố bởi sự thống nhất nam và bắc, cũng như bởi tiến trình cải cách kinh tế sau đó. Mức độ tàn bạo ở Việt Nam ít hơn nhiều và các chính sách trấn áp nhân nhượng hơn khi so với các nước Đông Á khác như Trung Quốc và Bắc Hàn. Từ đó, có thể cho rằng sự lo sợ trả thù của lãnh đạo cộng sản Việt Nam nếu họ chia sẻ quyền lực là không hoàn toàn thuyết phục.
Vì vậy, việc Việt Nam thiếu một đảng nhất quán về ý thức hệ, đủ tàn bạo để trấn áp đối lập trong hoàn cảnh văn hóa Việt có thể được xem là một nhân tố tích cực và thuận lợi cho một hệ thống dân chủ về lâu dài. Hơn nữa, nếu sự bao dung về chính trị của nhà nước được đánh giá một cách công bằng, khách quan, thì có thể tạo điều kiện để các bên đối lập chấp nhận ĐCS trong việc hình thành một hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam. Với việc các chính sách có phần nhân nhượng lâu nay của ĐCS được công chúng thừa nhận, ĐCS có thể tin rằng họ không phải đối phó với việc trả thù từ phía công chúng và đối lập.
Một cách nhìn vượt trên định kiến thông thường như trên là cần thiết để lý giải những góc khuất trong nhận thức của ĐCS về hệ quả của việc chia sẻ quyền lực cũng như của bên đối lập về khả năng hợp tác với ĐCS. Trên cơ sở này, chấp nhận một hệ thống chính trị dân chủ đa đảng mà trong đó ĐCS giữ vai trò chủ yếu, có thể được xem như là một mô hình tuy lý tưởng hóa nhưng phù hợp, trong hoàn cảnh mà việc chuyển đổi từ nhà nước một đảng sang một nhà nước đa đảng dân chủ thực thụ là hiếm hoi trên thế giới.
Lê Vĩnh Triển là học giả khách mời tại Trung tâm Sigur về Nghiên cứu châu Á, Đại học George Washington, Hoa Kỳ.
Một phiên bản bằng tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên CogitAsia.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/04/10/dan-chu-hoa-viet-nam-mot-cach-nhin-khong-dinh-kien/#sthash.d3MbwsOM.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ma đi ăn cỗ tối thứ Tư



Nhiều nhà báo vì tự trọng nghề nghiệp đã im lặng lánh mặt bữa tiệc tối thứ 4 ngày 05/4 do Công ty The Sunrise Bay tổ chức. Tuy nhiên, có đến hơn 100 nhà báo, ngồi kín 10 bàn tiệc. Đại diện của các cơ quan báo chí có văn phòng tại Đà Nẵng đã đến Memory Lounge và có một đêm “thật tuyệt vời” với whisky và âm nhạc, ra về mỗi người nhận phong bì 5 triệu đồng.
Memory Lounge đêm 5/4. Nguồn: Đặng Hoàng Dũng
The Sunrise Bay tổ chức buổi gặp mặt thân mật báo chí trong bối cảnh dự án này vừa bị chính quyền Đà Nẵng tuýt còi vì chưa đầy đủ thủ tục pháp lý và dính đến nghi án san lấp dự án bằng cát hút trộm ở Cửa Đại. Ông chủ dự án, đại gia Phan Văn Anh Vũ còn gọi là Vũ Nhôm nói: Mong báo chí ủng hộ The Sunrise Bay phát triển! Nói rất ngắn gọn. Tiền và rượu đã thay lời!

Ai cũng biết, nhận tiền công khai của doanh nghiệp là vi phạm đạo đức nghề nghiệp, nhưng trong hoàn cảnh các toà soạn không nuôi nổi phóng viên, bộ quy tắc ứng xử đạo đức nghề báo của Hội nhà báo viễn vông, cơ quan quản lý báo chí không quản lý nổi nên mạnh ai nấy ứng xử tuỳ biến. Rốt cuộc, độc giả sẽ là người “ăn” những tin tức giả tạo, được viết từ những cơn say whisky.

Không những đánh mất lòng tự trọng, nhiều nhà báo cảm thấy vinh dự trong những bữa tiệc sang trọng như vậy. Trong đêm thứ tư, nhiều nhà báo không kiềm chế được cảm xúc, đã nhảy lên sân khấu Memory Lounge song ca cùng Quang Linh và Đàm Vĩnh Hưng. Bữa tiệc này được chủ trì bởi ông Phan Văn Anh Vũ, Novaland phối hợp với nhà báo Tường Minh, thuộc báo Người Tiêu Dùng, văn phòng khu vực miền Nam đứng ra tổ chức.

Còn nhớ tháng 6/2015, ông Võ Kim Cự còn được vào thẳng cuộc họp giao ban báo chí của Ban tuyên giáo và Bộ TTTT tổ chức để phát biểu, bênh vực cho dự án nhà máy thép 700 tỷ ở Vũng Áng bỏ hoang. Hôm đấy mỗi lãnh đạo báo được nhận phong bì 2 triệu đồng và nghe ông Cự mời: Mời các nhà báo vào tận Fomorsa kiểm chứng để ủng hộ chúng tôi. Hà Tĩnh nghèo nhưng mến khách. Hà Tĩnh chỉ có ba đặc sản quê là rượu quê, gà quê và… gái quê! Hahaha…

Mấy hôm nay báo chí đưa tin ông Cự có khả năng sớm bị cách chức. Không biết sau cuộc gặp tháng 6/2015 có lãnh đạo báo nào vào Hà Tĩnh thưởng thức đặc sản quê và đàm đạo với ông Cự chưa, nhưng chỉ mới mấy tháng sau thì xảy ra vụ Fomorsa.

“Ủng hộ” là từ ngữ rất dễ nghe của người miền Nam, được các đương sự đem ra phủ dụ lúc gặp sự cố. Không phải ngẫu nhiên mà ông Võ Kim Cự, The Sunrise Bay hoặc những nhóm lợi ích gặp mặt báo chí và phát chẩn như vậy!

Việt Hương
(Ba Sàm)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bộ Tư pháp: Người dân có quyền quay phim CSGT!


22/08/2013, Xuân Hải - Nhà báo hay người dân quay phim, chụp ảnh CSGT đang làm nhiệm vụ công khai, không phải ở khu vực cấm thì không vi phạm pháp luật, đại diện đến từ Bộ Tư pháp khẳng định.
Nữ CSGT tạo hình ảnh đẹp trong mắt người dân
Trả lời Infonet, ông Lê Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cho biết: Với chỉ đạo này của Công văn số 1042, chúng tôi thấy việc nêu 2 nhóm hành vi “có lời nói đe dọa, lăng mạ”, “hành vi chống đối cảnh sát giao thông” với hành vi “quay phim, chụp ảnh hoạt động TTKS, XLVP khi chưa được phép đồng ý của Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ” đã thể hiện sự thiếu thận trọng khi kết nối các nhóm hành vi có bản chất, mức độ khác nhau.

Có thể hiểu, khi bất kỳ người nào quay phim, chụp ảnh hoạt động TTKS, XLVP buộc phải “được phép đồng ý” của CSGT đang làm nhiệm vụ. Và CSGT có quyền yêu cầu xuất trình giấy tờ để xác định là “được phép” hay chưa, và xác định “đúng là nhà báo hay giả danh nhà báo” đã không phù hợp với các quy định hiện hành về quyền của nhà báo (hoặc người dân) khi quay phim, chụp ảnh, bởi vì pháp luật hiện hành chỉ quy định trường hợp vì bí mật nhà nước, các khu vực an ninh, quốc phòng mà có quy định cấm hoặc hạn chế người dân hoặc phóng viên quay phim chụp ảnh thì mới buộc công dân phải tuân thủ khi quay phim, chụp ảnh.

Về nguyên tắc, cán bộ, chiến sỹ CAND trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ duy trì trật tự ATGT đường bộ được giao phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Qua rà soát, Cục KTVB chưa thấy có quy định nào của pháp luật cấm công dân quay phim, chụp ảnh cán bộ, công chức và chiến sỹ công an đang thi hành công vụ (nếu không thuộc các trường hợp cấm, hạn chế).

"Như vậy, việc công dân thực hiện quay phim, chụp ảnh lực lượng CSGT TTKS, XLVP không phải là hành vi bị pháp luật cấm. Hơn nữa, cán bộ, chiến sỹ CAND CSGT không được quyền truy hỏi người đang quay phim, chụp ảnh là được phép hay không được phép, cũng không được quyền truy xét về giấy tờ để xác định là nhà báo hay giả danh nhà báo", ông Sơn khẳng định.

Việc Công văn số 1042 quy định nội dung “Nếu đúng là nhà báo thì tập hợp thông báo cho cơ quan chủ quản”, theo chúng tôi càng thể hiện rõ hơn việc trao quyền cho CSGT truy hỏi, truy xét về giấy tờ, danh tính của người quay phim, chụp ảnh để xác định “đúng là nhà báo” hay “giả danh nhà báo”.

Văn bản 1042/C67 - P3 ngày 26/4 của Cục CSGT do Đại tá Trần Sơn Hà ký gây tranh cãi trong mấy ngày vừa qua

Nội dung “tập hợp thông báo cho cơ quan chủ quản” còn giao quyền tập hợp thông tin để thông báo cho cơ quan chủ quản cũng không phù hợp với nhiệm vụ của CSGT khi TTKS, XLVP.

Mặt khác, quay phim, chụp ảnh CSGT khi đang TTKS, XLVP không phải là ghi hình riêng tư của một hay một vài cá nhân cụ thể (không thuộc phạm trù bí mật đời tư theo quy định tại Điều 31 BLDS), mà là ghi hình ảnh thi hành công vụ của cơ quan, cá nhân đại diện cho Nhà nước tại nơi công cộng (công khai) là bình thường khồng cần phải được CSGT (hay bất cứ cá nhân nào) có mặt ở nơi công cộng này “cho phép”.

Đó là việc giám sát hoạt động lực lượng thực thi công vụ hết sức bình thường của mỗi công dân. Nhờ những hoạt động này mà những hình ảnh đẹp của lực lượng CSGT được tôn vinh, những sai phạm được kịp thời phát hiện, xử lý.

Theo quy định của Luật Báo chí hiện hành thì một trong những nhiệm vụ của báo chí là: “Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác” (khoản 4 Điều 6); Nhà báo có quyền: “Khai thác và được cung cấp thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật” (điểm b khoản 1 Điều 15) và nhà báo có nghĩa vụ: “Bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm” (điểm b khoản 2 Điều 15). Khi nhà báo tác nghiệp đúng Luật Báo chí thì không ai có quyền ngăn cản, truy xét.

Đối với mọi công dân khác (ngoài nhà báo) quay phim, chụp ảnh trong các trường hợp đã nêu, theo chúng tôi cũng không phải là hành vi sai trái. Người dân hoàn toàn có quyền thực hiện việc này nếu không thuộc trường hợp pháp luật cấm hoặc hạn chế. Cũng không phải vì người đang quy phim, chụp ảnh “không phải là nhà báo” mà dễ dàng quy kết là giả danh nhà báo”.

Theo ông Sơn, việc xác định một công dân quay phim, chụp ảnh là “nhà báo” hay “giả danh nhà báo” tại nội dung Công văn số 1042 là điều không phù hợp với chức năng, thẩm quyền của cán bộ, chiến sỹ CSGT khi tuần tra kiểm soát, xư lý vi phạm.


http://infonet.vn/bo-tu-phap-nguoi-dan-co-quyen-quay-phim-csgt-post95824.info

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chỉ béo CHND Tầu!

Ban hành sắc lệnh mới, Nga Mỹ bên miệng hố chiến tranh
Các lực lượng của Nga đã nhận được sắc lệnh “Tấn công theo tình hình thực tế”, Cụ thể họ được phép tấn công vào bất kỳ mục tiêu trên không hoặc trên mặt đất (không loại trừ cả của Mỹ và NATO) mà không cần sự có sự đồng ý của chỉ huy cấp cao khi họ cảm thấy mục tiêu này đang đe dọa họ. Các phương tiện truyền thông Mỹ coi Nga kêu gọi chiến tranh. Rõ ràng đây là phản ứng cứng rắn của Nga nhằm chống lại quyết định tấn công của Mỹ. Đồng thời quyết định mới này sẽ đẩy cuộc chiến tranh giữa Nga và Mỹ tới gần.

Lực lượng Hàng không vũ trụ Nga được phép tấn công mà không cần xin phép chỉ huy nếu cảm thấy mình bị đe dọa. Trong báo cáo mới nhất dẫn lời Thiếu tướng Igor Konashenkov đã cho biết rằng, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ra lệnh:“Tạm dừng ngay lập tức tất cả các cuộc tiếp xúc với Mỹ.

Đồng thời Bộ Quốc phòng Nga đã hạ lệnh triệu tập các tùy viên quân sự trong Đại sứ quán Mỹ ở Moscow để chính thức gửi đến thông điệp về việc tạm dừng hoạt động từ 0 giờ ngày 8/4.

Tuyên bố cũng cho biết thêm các hoạt động sẽ được nối lại khi hai bên “hiểu nhau hơn” theo biên bản ghi nhớ giữa hai nước”.


Như vậy, sau sự kiện tấn công vào căn cứ không quân của quân đội Syria, Bộ Quốc Nga đã chính thức cắt đứt các kênh thông tin liên lạc qua đường dây nóng giữa các lực lượng quân sự của hai nước trong quá trình hoạt động quân sự ở Syria cũng như Trung Đông.

Nội dung bản thông báo nêu rõ: Các thỏa thuận trong biên bản ghi nhớ giữa Nga và Mỹ chính thức tạm dừng.

Lực lượng Hàng không vũ trụ cùng các lực lượng của Nga hoạt động ở Syria được tăng cường thêm quyền hạn, quyền tự quyết.

Cụ thể họ được phép tấn công vào bất kỳ mục tiêu trên không hoặc trên mặt đất (không loại trừ cả của Mỹ và NATO) mà không cần sự có sự đồng ý của chỉ huy cấp cao khi họ cảm thấy mục tiêu này đang đe dọa họ.

Trước đó Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đã cảnh báo rằng, chiến tranh giữa Nga và Mỹ chỉ còn cách một bước chân trên trang mạng xã hội chính thức của mình.

Thủ tướng Medvedev cũng chia sẻ thẳng thắn rằng, nhiều người đều cho rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump không phải là “Lãnh dạo thế giới”, tuy nhiên ngay sau đó ông lại hành động theo con đường của Hillary Clinton.

Ông thể hiện quyền độc đoán của mình bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ để chống lại bất kỳ quốc gia nào không đồng ý với chương trình toàn cầu của Mỹ.

Ông Medvedev cũng cho biết thêm rằng, ngay sau khi cuộc bầu cử kết thúc, ông đã nhận ra rằng Tổng thống Mỹ cũng như bao người khác sẽ lệ thuộc và đi vào lối mòn cũ, đồng thời nhanh chóng thiết lập lại các vị trí của họ ở các điểm nóng, phá vỡ mối quan hệ giữa hai nước.

Mặc dù bề ngoài Tổng thống Donald Trump có vẻ thân mật với Nga, muốn tạo mối quan hệ tốt với Nga. Tuy nhiên bên trong ông chuẩn bị mọi kế hoạch chuẩn bị cho cuộc chiến toàn diện với Nga.

Ngoài ra các phương tiện truyền thông của Mỹ cũng liên tục cáo buộc, đưa tin sai sự thật, vô căn cứ về Nga, đồng thời đổ lỗi cho Nga trong cuộc chiến ở Syria.

Với sắc lệnh mới này, Lực lượng Hàng không vũ trụ của Nga cùng với các hệ thống phòng thủ tên lửa ở Syria được quyền tiêu diệt bất kỳ các mục tiêu có thể đe dọa đến các lực lượng của Nga.

Rõ ràng đây là phản ứng cứng rắn của Nga nhằm chống lại quyết định tấn công của Mỹ. Đồng thời quyết định mới này sẽ đẩy cuộc chiến tranh giữa Nga và Mỹ tới gần.

Nguyễn Đông

http://baodatviet.vn/the-gioi/tin-tuc-24h/ban-hanh-sac-lenh-moi-nga--my-ben-mieng-ho-chien-tranh-3332880/

Phần nhận xét hiển thị trên trang